ĐỀ CƯƠNG THẢO LUẬN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC
VIỆT NAM VỀ LĨNH VỰC KINH TẾ - CHÍNH TRỊ
LẦN 2
Bài 1: PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
(SGK từ trang 7 đến trang 28)
Câu 1: những nội dung cơ bản trong lý luận về kinh tế thị trường?
Câu 2: Tính tất yếu và những đặc thù của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam?
Liên hệ thực tiễn?
Câu 3: Giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng XHXN ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay?
Bài 2: MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH, LĨNH VỰC KINH
TẾ Ở VIỆT NAM (SGK Trang 30 –66)
Câu 4: Nêu những nội dung cơ bản của mô hình tăng trưởng kinh tế?
Câu 5: Nêu những yêu cầu, mục tiêu, nội dung và nguyên tắc của đổi mới mô hình tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2020?
Câu 6: Nêu những quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực
kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay?
Bài 3: ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN
KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM (SGK trang 67 – 95)
Câu 7: Phân biệt công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế tri thức?
Câu 8: Nêu những nhiệm vụ cơ bản nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển tri thức ở Việt Nam?
Câu 9: Đánh giá thực trạng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế
tri thức ở Việt Nam
Câu 1: những nội dung cơ bản trong lý luận về kinh tế thị trường?
Trả lời:
1.Các khái niệm:
a. Quản lý kinh tế
+ Quản lý kinh tế là sự tác động của các cơ quan có thẩm quyền thông qua chính
sách, biện pháp, công cụ tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đảm bảo tốc độ và
tăng trưởng bền vững.
+ Là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với tính chất là một hệ thống lớn phức
tạp, đó là tổng thể các nghành kinh tế, các vùng, các địa phương cùng với các sở kinh
tế của chúng.
+ Là sự tác động có tổ chức, bằng pháp quyền và thông qua một hệ thống một hệ
thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tế nhằm đạt được
mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra trên cơ sở sử dụng có hiệu quả các nguồn
lực kinh tế trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế.
b. Khái niệm kinh tế thị trường: (SGK trang 7)
Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hóa, khi các yếu tố đầu
vào và đầu ra của sản xuất đều thông qua thị trường. Các chủ thể kinh tế tham gia trên
thị trường đều chịu sự tác động của các quy luật thị trường và thái độ ứng xử của họ
đều hướng vào tìm kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả thị trường.
2. Đặc điểm cơ bản của kinh tế thị trường: (trg 8-10)
Có 5 đặc điểm cơ bản:
Một là:Các chủ thể trong nền kinh tế thị trường:
Hai là:Thị trường của nền kinh tế thị trường
Ở Việt Nam
hiện nay có
những loại thị
trường nào?:
Thị trường hàng
hóa dịch vụ
Thị trường lao
động
Thị trường tài
chính tiền tệ
Thị trường bất
động sản
Thị trường khoa
học công nghệ.
Các khuyết tật
của nền kinh tế
thị trường:
- Khuyết tật về
kinh tế: (gây suy
thoái kinh tế do
sự cạnh tranh
khốc liệt)
- Khuyết tật về
xã hội: (suy
thoái đạo đức lối
sống)
Ba là:Cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường
Bốn là:Giá cả của nền kinh tế thị trường
+ Sự điều tiết của cơ chế trong nền kinh tế thị trường được thể hiện trực tiếp thông
qua giá cả. Giá cả vừa có chức năng thông tin về cung cầu thị trường, vừa có chức
năng phân bổ các nguồn lực và là một trong những công cụ cạnh tranh của các chủ
thể kinh tế, nên nó điều tiết hoạt động sản xuất kinh doanh, kích thích đẩy mạnh ứng
dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại và phân hóa những người sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường.
Năm là:Vai trò điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
- Nhà nước thông qua các công cụ pháp luật, kế hoạch, chính sách, lực lượng vật
chất do Nhà nước nắm giữ, sử dụng quyền năng chi phối của nhà nước lên các hành vi
kinh tế của chủ thể trong nền kinh tế, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình
hoạt động kinh tế, ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy định đã có sẵn, nhằm bảo
đảm sự phát triển bình thường của nền kinh tế.
Khi điều tiết, Nhà nước phải tuân thủ theo quy luật khách quan, phù hợp với thông
lệ quốc tế.
3. Chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế:
* Ưu thế của cơ chế thị trường là động cơ lợi nhuận thúc đẩy tạo cho mọi người có
được sự năng động, nhạy bén trong kinh doanh; đảm bảo cho cả người sản xuất lẫn
người tiêu dùng được tự do lựa chọn các quyết định có lợi nhất cho mình; có sự sang
lọc tự nhiên đối với sản phẩm. doanh nghiệp và người lao động, nhờ đó nền sản xuất
xã hội không ngừng phát triển.
* Bên cạnh những ưu thế mà cơ chế thị trường mang lại, nó còn có khuyết tật như: do
sự điều tiết mang tính tự phát và mù quáng nên cơ chế thị trường thường gây ra mất
cân đối kinh tế; vì mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu nên các hoạt động kinh
doanh thường không chú ý đến hiệu quả về mặt xã hội; gây ra nhiều hậu quả xấu: cạnh
tranh và phân hóa giàu - nghèo gay gắt, tệ nạn xã hội phát triển, tâm lý chạy theo đồng
tiền… do cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường tồn tại cả những mặt ưu và
khuyết tật nên rất cần có sự tham gia quản lý của Nhà nước điều tiết nền kinh tế nhằm
phát huy mặt tích cực và hạn chế các mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Để thực
hiện mục tiêu đó, Nhà nước thực hiện các chức năng sau:
Một là, định hướng , tạo môi trường, kiểm soát và điều tiết sự phát triển của
nền kinh tế bằng cách xây dựng quy hoạch, chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Mặt khác, Nhà nước tạo môi trường pháp lý
thuận lợi như: hệ thống pháp luật đồng bộ, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế,
hệ thống các văn bản hướng dẫn, các chính sách phát triển kinh tế, … để các chủ thể
kinh tế có “sân chơi” bình đẳng, an toàn, giảm thiểu rủi ro, tranh chấp.
Hai là, Phân bổ các nguồn lực và phân phối lại thu nhập. Do đặc trưng của
kinh tế thị trường các chủ thể được tự chủ sản xuất kinh doanh và mục tiêu hướng tới
là tối đa hóa lợi nhuận nên dễ dẫn tới sự cạnh tranh giành giật lợi thế trong việc khai
thác các nguồn lực quốc gia, làm tổn hại hoặc sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực đó,
đặc biệt tài nguyên dễ bị khai thác cạn kiệt. Đồng thời, khi những nhà sản xuất kinh
doanh gặp cản trở, khó khăn và thất bại trong cạnh tranh sẽ bị thua lỗ, phá sản từ đó
dẫn tới phân hóa giàu nghèo gay gắt, phân hóa xã hội thành những nhóm người đối lập
nhau và làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc hơn.Vì vậy, sự điều tiết của Nhà
nước là cần thiết để đảm bảo cho các nguồn lực sử dụng có hiệu quả và đảm bảo hơn
sự cân đối, ổn định, giảm thiểu khủng hoảng kinh tế trong nền kinh tế quốc dân.
Ba là,giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường để bảo đảm sự phát triển
bền vững cho nền kinh tế. Do mục tiêu của các nhà sản xuất là lợi nhuận nên họ không
quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội như thiên tai, bệnh dịch, ô nhiễm môi trường,
thậm chí phá hủy sinh thái. Nhà nước là lực lượng chủ lực để tổ chức thực hiện giải
quyết các vấn đề trên, đảm bảo sự ổn định của xã hội.
2
- Khuyết tật về
môi trường (gây
ảnh hưởng môi
trường do chạy
theo lợi nhuận
khai thác cạn
kiện
nguồn
TNTN)
3. Các mô hình kinh tế thị trường:
Nhằm làm rõ những nét khái quát chung của quá trình phát triển kinh tế thị trường, có
thể trừu tượng hoá một số đặc điểm cụ thể, phản ánh sự giao thoa, chuyển tiếp và đan
xen giữa các mô hình để quy về ba mô hình chủ yếu sau:
Mô hình kinh tế thị trường tự do;
Mô hình kinh tế thị trường - xã hội;
Mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN (ở Việt Nam) hay kinh tế thị
trường XHCN (ở Trung Quốc).
Có thể nói ba mô hình kinh tế thị trường nói trên đang bao trùm tất cả các nền
kinh tế trên thế giới, trừ một vài ngoại lệ như Bắc Triều tiên. Điều này xác nhận kết
luận của Mác: kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển tất yếu; là hình thức phổ
biến của mọi nền kinh tế ở một trình độ xác định.
Trong khuôn khổ CNTB, kinh tế thị trường phát triển trong 2 mô hình là kinh
tế thị trường tự do và kinh tế thị trường xã hội.
* Mô hình kinh tế thị trường tự do
Kinh tế thị trường trong khuôn khổ CNTB chủ yếu phát triển theo mô hình thị
trường tự do, được thực hiện ở hầu hết các nền kinh tế TBCN ở Tây Âu và Bắc Mỹ.
Mô hình này đề cao vai trò của chế độ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và cạnh tranh
tự do. Trong mô hình kinh tế thị trường tự do, sự can thiệp điều tiết của nhà nước vào
các quá trình kinh tế được hạn chế ở mức thấp. Quá trình phát triển kinh tế chủ yếu do
khu vực tư nhân vận hành dưới sự điều tiết của “bàn tay vô hình” (tức cơ chế cạnh
tranh tự do). Chức năng chính của nhà nước là bảo vệ chế độ sở hữu tư nhân và các
quyền tự do cá nhân, bảo đảm ổn định vĩ mô, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân và cơ
chế thị trường tự do vận hành thuận lợi nhất. Sự tham gia của nhà nước vào quá trình
phân phối lại, vào hệ thống phúc lợi xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng,
tạo lập công bằng xã hội, ngăn chặn và xử lý các thất bại thị trường tuy vẫn được coi
trọng nhưng không nhiều như ở các mô hình khác. Trong mô hình này, trong khi vai
trò động lực phát triển của lợi ích tư nhân, lợi ích cá nhân (lợi nhuận) được đề cao thì
vai trò "bánh lái" của sự điều tiết, định hướng phát triển của nhà nước (bàn tay hữu
hình) lại tương đối bị xem nhẹ so với các mô hình khác.
* Mô hình kinh tế thị trường - xã hội
Mô hình này được thực hiện thành công ở khá nhiều nước Tây - Bắc Âu, điển
hình là Đức (quê hương của mô hình kinh tế thị trường - xã hội), Thuỵ Điển, Na Uy và
Phần Lan. Xét theo tính chất đặc trưng, mô hình này còn có mặt ở một số nước khác
như Đan Mạch, Hà Lan, Pháp và Bỉ với những mức độ khác nhau.
Về nguyên tắc, mô hình kinh tế thị trường - xã hội thừa nhận các yếu tố cơ bản
phổ biến của kinh tế thị trường. Tuy nhiên, so sánh với mô hình kinh tế thị trường tự
do, mô hình này có hai đặc trưng nổi bật.
- Coi các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi
cho người nghèo và cho người lao động, quyền tự do phát triển của mọi người dân,
v.v.) là mục tiêu của chính quá trình phát triển kinh tế thị trường;
- Nhà nước dẫn dắt nền kinh tế thị trường phát triển không chỉ nhằm mục tiêu
tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mà cả mục tiêu phát triển và hiệu quả xã hội.
Với những đặc trưng trên, tuy mô hình kinh tế thị trường - xã hội là một biến
thể của nền kinh tế TBCN, song nó phản ánh một xu thế tất yếu của sự phát triển. Đó
là: đến một trình độ phát triển nhất định, trong những điều kiện cụ thể, tự kinh tế thị
trường không thể giải quyết có hiệu quả tất cả các vấn đề phát triển, nhất là các mục
tiêu phát triển xã hội và con người. Để đạt được điều đó, trong cơ chế vận hành của
nền kinh tế thị trường, cần có thêm “bánh lái” để định hướng “động cơ” thúc đẩy phát
triển đi đúng quỹ đạo nhằm phục vụ tốt không chỉ nhiệm vụ tăng trưởng và hiệu quả
kinh tế mà cả nhiệm vụ phát triển xã hội và con người.
3
Có thể khái quát rằng quá trình phát triển kinh tế thị trường, để đạt hiệu quả,
cần hướng tới các mục tiêu xã hội và phát triển con người. Cách thức để đạt mục tiêu
đó không phải là phủ nhận thị trường, xoá bỏ cơ chế thị trường mà là đặt nhà nước
vào vai trò tham gia điều hành và định hướng sự phát triển của kinh tế thị trường với
tư cách là yếu tố cấu thành của cơ chế kinh tế.
Việc triển khai mô hình kinh tế thị trường - xã hội trên thực tế đã mang lại
những kết quả phát triển tích cực, không chỉ ở một vài nước, tại một vài thời điểm
riêng lẻ mà ở hàng loạt nước và kéo dài trong nhiều thập niên. Điều này xác nhận tính
tất yếu của xu hướng phát triển mô hình kinh tế thị trường - xã hội. Tính tất yếu đó
cũng được thể hiện ở mô hình kinh tế thị trường đang được triển khai ở Trung Quốc và
Việt Nam.
* Mô hình kinh tế thị trường XHCN (hay định hướng XHCN)
Loại mô hình kinh tế thị trường này hiện đang được thực thi chỉ ở hai nước
(Việt Nam - kinh tế thị trường định hướng XHCN; và Trung Quốc - kinh tế thị trường
XHCN). Thời gian tồn tại của nó cũng chỉ mới hơn 1/4 thế kỷ thử nghiệm. Tuy vậy,
các kết quả thực tế đã chứng tỏ đây là mô hình có sức sống mạnh mẽ và có triển vọng
lịch sử to lớn.
Sự ra đời của mô hình này gắn liền với sự sụp đổ của CNXH hiện thực, vốn
phủ nhận vai trò của kinh tế thị trường trong quá trình phát triển ở các nước nghèo, lạc
hậu tiến lên CNXH. Sự xuất hiện của mô hình này chứng minh sức sống mãnh liệt của
xu hướng tiến lên CNCS như một tất yếu khách quan của thời đại; đồng thời, khẳng
định tính tất yếu và phổ biến của kinh tế thị trường với tư cách là một giai đoạn bắt
buộc trong lịch sử phát triển của mọi nền kinh tế.
Tuy nhiên, khác với hai mô hình kinh tế thị trường nói trên, tồn tại trong khung
khổ CNTB, mô hình này mới được xác lập chưa lâu và vẫn đang trong quá trình thử
nghiệm, định hình cấu trúc và bản chất. Do vậy, chưa có căn cứ thực tiễn để xác lập
một hệ thống lý luận về nó với nội dung hoàn chỉnh và logic chặt chẽ.
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa
tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH.
Câu 2: Tính tất yếu và những đặc thù của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam? Liên
hệ thực tiễn?
Trả lời:
1. Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những
quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi các
nguyên tắc và bản chất của CNXH.
Khái niệm theo văn kiện DH XII (trang 112)
2. Tính tất yếu của việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
- Do xu thế phát triển của nền sản xuất hàng hoá: những yếu tố cơ bản của quan
hệ thị trường được hình thành và phát triển, vì vậy tất yếu nền kinh tế thị trường xuất
hiện. Đại hội Đảng lần thứ VI đột phá mạnh và căn bản trong tư duy lý luận bằng việc
đề ra đường lối đổi mới, trong đó, phê phán và từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung
4
bao cấp, coi sản xuất hàng hoá và kinh tế hàng hoá không phải là sản phẩm riêng có
của chủ nghĩa tư bản, thừa nhận sự tồn tại khách quan của “nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước” trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
- Xuất phát từ yêu cầu cần tiếp tục phát triển những thành tựu mới về kinh tế, xã
hội
- Sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân về những quyết sách đổi mới của Đảng
và Nhà nước:
- Mô hình KTTT hiện đang là mô hình kinh tế đạt hiệu quả tốt nhất trong hoạt
động kinh tế toàn cầu
Sự hình thành tư duy của Đảng ta về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là cả một quá trình tìm tòi thể nghiệm, phát triển từ thấp lên cao, từ chưa đầy đủ,
hoàn thiện tới ngày càng đầy đủ, sâu sắc và hoàn thiện hơn . Theo chúng tôi, có những
khía cạnh đáng lưu ý, quy định tính tất yếu của việc lựa chọn mô hình kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
Thứ nhất, mô hình chủ nghĩa xã hội cổ điển, đặc trưng bởi hệ thống kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, sau gần 70 năm tồn tại với tất cả những ưu thế và nhược điểm, rốt cuộc
đã tỏ ra không còn sức sống và khả năng tự phát triển nội sinh về mặt kinh tế, bị va
vấp nặng nề trong thực tiễn. Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản với mục tiêu tìm kiếm lợi
nhuận đã lợi dụng tối đa những mặt mạnh của kinh tế thị trường để tạo ra động cơ về
lợi ích và sự cạnh tranh mạnh mẽ, phát triển các lực lượng sản xuất cũng như tiềm
năng kinh doanh. Chủ nghĩa tư bản đã sử dụng vai trò nhà nước như một chủ thể xã
hội sáng tạo và hùng mạnh để can thiệp – quản lý các quá trình kinh tế vĩ mô, nhằm
hạn chế những khuyết tật của thị trường, đáp ứng yêu cầu phát triển, xã hội hoá các
lực lượng sản xuất.
Thứ hai, mặc dù chủ nghĩa tư bản đã có những thành công nhất định trong phát triển
kinh tế thị trường, nhưng cần nhận thức sâu sắc rằng, phát triển kinh tế thị trường theo
con đường tư bản chủ nghĩa không phải là duy nhất đúng mà trong nó cũng ẩn chứa
đầy rẫy những cạm bẫy, rủi ro. Thực tế phát triển ngày càng cho thấy rõ mặt trái cũng
như nguy cơ thất bại ngay chính trong quá trình phát triển kinh tế thị trường. Ngày
nay, nhân loại đã nhận thức được rằng, mô hình phát triển kinh tế thị trường theo kiểu
phương Tây hay đi theo con đường phương Tây hoá không phải là cách tối ưu. Những
mô hình phát triển theo kiểu này đã tỏ ra mâu thuẫn sâu sắc với các giá trị truyền
thống, làm tăng tính bất ổn của xã hội và khoét sâu hố ngăn cách giầu - nghèo. Hơn
nữa, nó còn có nguy cơ ràng buộc các nước chậm phát triển hơn, đẩy các nước đó vào
tình trạng bị lệ thuộc và bóc lột theo kiểu quan hệ "trung tâm - ngoại vi".
Thứ ba, trong thực tế không có một mô hình kinh tế thị trường chung cho mọi quốc
gia, mà trái lại, mỗi quốc gia - dân tộc tùy theo trình độ phát triển, đặc điểm cơ cấu tổ
chức và thể chế chính trị, kể cả các yếu tố văn hoá - xã hội truyền thống, mà xây dựng
những mô hình kinh tế thị trường đặc thù của riêng mình. Không thể phủ nhận những
hạn chế và mâu thuẫn cố hữu của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ngay tại quê
hương của nó và việc khắc phục những mâu thuẫn đó vẫn đang là vấn đề cực kỳ nan
giải. Một số nước Tây Âu và Bắc Âu với mong muốn tìm kiếm con đường riêng của
mình, nhằm khắc phục hạn chế của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã chủ trương
đi theo "con đường thứ ba" hay nhấn mạnh "Nhà nước phúc lợi": nhà nước tư bản chủ
nghĩa ở đây được gắn thêm chức năng "sáng tạo" khi tham gia giải quyết các vấn đề xã
hội và phân phối lại thu nhập mang tính định hướng xã hội, tạo ra cái gọi là "nền kinh
tế cho mọi người" hay "chủ nghĩa tư bản nhân dân". Nhưng trong phạm vi của quan hệ
tư bản chủ nghĩa thì những nỗ lực trên rõ ràng đã không mang lại kết quả như mong
muốn.
5
Thứ tư, nền kinh tế thị trường hiện đại ngày càng thể hiện xu hướng tự phủ định và
tiến hoá tất yếu để chuyển sang giai đoạn mới cao hơn - hậu thị trường, hậu công
nghiệp và kinh tế tri thức. Trong những điều kiện hiện đại, con đường phát triển rút
ngắn như C.Mác đã từng dự báo, trở thành một khả năng hiện thực xét cả về hai
phương diện: tính tất yếu kinh tế - xã hội và tính tất yếu công nghệ - kỹ thuật. Nếu như
nền văn minh công nghiệp ra đời trên cơ sở phủ định nền văn minh nông nghiệp thì
trái lại, nền văn minh hậu công nghiệp - kết quả của làn sóng cách mạng khoa học –
công nghệ lần thứ ba lại có thể hàm chứa và gần gũi với nền văn minh nông nghiệp.
Thực tế cho thấy, công nghệ cao có khả năng áp dụng trong hoàn cảnh nông nghiệp và
tương ứng, một nền nông nghiệp truyền thống có thể đi tắt sang hậu công nghiệp mà
không bắt buộc phải trải qua tất cả các giai đoạn của quá trình công nghiệp hoá tư bản
chủ nghĩa nặng nề, tốn kém. Ví dụ, sản phẩm công nghệ cao vi điện tử và sinh học, do
tính nhiều vẻ lại có thể phù hợp với nhu cầu xã hội, với nguồn nguyên liệu sẵn có và
điều kiện sản xuất phân tán của những nước lạc hậu.
Thứ năm, xét về mặt lịch sử thì quan hệ hàng hoá - thị trường chỉ là hình thái đặc biệt,
là nấc thang trung gian cần thiết để chuyển xã hội từ trình độ xã hội nông nghiệp, phi
thị trường, lên trình độ xã hội hậu công nghiệp, hậu thị trường. Nếu xét kỹ, ngay ở giai
đoạn phát triển phồn thịnh, sung mãn của các quan hệ thị trường thì sự xuất hiện của
chúng cũng không có nghĩa là đồng nhất với chủ nghĩa tư bản. Chính sở hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa đã ra đời trên cơ sở tách rời các yếu tố người và vật của sản xuất, các
yếu tố này vốn gắn bó hữu cơ trong sở hữu tư nhân của kinh tế hàng hoá giản đơn.
Thứ sáu, sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam là một tất yếu nếu đặt trong bối cảnh toàn cầu hoá; thế giới đang bước vào giai
đoạn quá độ sang trình độ xã hội hậu công nghiệp, hậu thị trường và kinh tế tri thức;
yêu cầu phát triển rút ngắn và hội nhập. Đây không phải là sự gán ghép khiên cưỡng,
chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là trên cơ sở nhận thức sâu
sắc tính quy luật tất yếu của thời đại, sự khái quát hoá, đúc rút từ kinh nghiệm phát
triển kinh tế thị trường thế giới, và đặc biệt, từ tổng kết thực tiễn mấy chục năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội và gần hai thập kỷ đổi mới của Việt Nam.
3. Bản chất và đặc thù của nền KTTT ĐH XHCN tại Việt Nam
3.1 Bản chất của nền KTTT ĐH XHCN tại Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; vừa vận động theo những quy luật của KTTT, vừa
được dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH; trong đó cơ chế thị
trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả mọi nguồn
lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, khuyến khích làm giàu hợp pháp
đi đôi với xoá đói giảm nghèo, thực hiện mực tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”
3.2 Đặc thù của nền KTTT ĐH XHCN tại Việt Nam
- Về mục tiêu phát triển:
Khai thác các lợi thế của quốc gia nhằm phát triển LLSX, giải phóng sức sản
xuất của XH nhằm thu lợi nhuận, từng bước tạo lập tiền đề vật chất cho CNXH, nâng
cao đời sống đại bộ phận nhân dân. (khác với với TBCN là phục vụ cho số ít các nhà
tư bản)
- Về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế:
Tồn tại đa dạng các hình thức sở hữu về TLSX, tồn tại nhiều thành phần kinh
tế. Các thành phần kinh tế, các chủ thể kinh tế tự do tham gia hoạt động kinh tế trong
môi trường cạnh tranh lành mạnh và cùng có những đóng góp tích cực vào sự phát
triển kinh tế - xã hội.
6
Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Khác với TBCN: đề cao sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hình thức sở hữu tư
nhân giữ vai trò chủ đạo.
- Về chế độ phân phối:
Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận và sử dụng các cơ hội,
điều kiện phát triển. Phân phối kết quả làm ra chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối
thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Đề cao phân phối theo lao động
(làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít). Khác với TBCN đề cao phân phối theo tư
bản (phân phối theo vốn góp).
- Về chế độ quản lý:
Nhà nước điều tiết nền kinh tế thị trường nhằm bảo vệ lơi ích quốc gia, khai
thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, bảo vệ tài nguyên môi trường, phát
triển kinh tế bền vững, bảo vệ lợi ích nhân dân, lơi ích người lao động, thực hiện các
chính sách XH.
Khác về bản chất của nhà nước: TBCN bảo hộ cho các nhà tư bản; XHCN: là
nhà nước do dân, vì dân …
So sánh sự khác nhau giữa KTTT định hướng XHCN và KTTT TBCN theo 4 đặc
trưng trên.
Liên hệ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
ở nước ta:
Những chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xóa bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập
trung bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã được các nhà
đầu tư trong, ngoài nước và người tiêu dùng hưởng ứng nhiệt tình. Kế hoạch pháp lệnh
được dỡ bỏ, các doanh nghiệp tư nhân trong nước và doanh nghiệp có vốn nước ngoài
xuất hiện ngày càng nhiều, hộ nông dân chuyển sang kinh doanh hàng hóa, hộ tư
thương phát triển mạnh, thị trường hàng hóa và dịch vụ phát triển với quy mô ngày
càng lớn, chủng loại phong phú hơn. Thị trường tài chính phát triển khá nhanh, nhất là
thị trường tín dụng, thị trường chứng khoán. Thị trường bất động sản đã hình thành.
Thị trường lao động và thị trường khoa học - công nghệ, dù còn chưa phát triển một
cách chuẩn tắc, nhưng cũng đã hình thành. Xuất, nhập khẩu phát triển mạnh, nước ta
trở thành nước có nền kinh tế mở ở mức độ cao. Tuy nhiên, các yếu tố xã hội chủ
nghĩa, hoặc xuất hiện nhưng không có hiệu quả, hoặc chưa rõ nét. Cụ thể là thành
phần kinh tế nhà nước, nếu hiểu là tổ hợp của ngân sách nhà nước, tài sản công và
doanh nghiệp nhà nước, thì đúng là chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, nhưng hiệu
quả rất thấp, nhất là xét theo hệ số ICOR của đầu tư công (khoảng 5-6), hay xét theo
hiệu quả cá biệt của doanh nghiệp nhà nước. Thậm chí một số tập đoàn kinh tế nhà
nước lớn lâm vào tình trạng mất vốn, phá sản, nợ nần (nợ của doanh nghiệp nhà nước
đến năm 2013 đạt con số hơn 1 triệu tỷ đồng). Hợp tác xã còn yếu kém hơn nữa, đặc
biệt là không hấp dẫn nông dân. Nhà nước quản lý nền kinh tế chủ yếu theo chính sách
ngắn hạn, hiệu lực và hiệu quả thấp, các vấn đề về lũng đoạn thị trường, gian lận, hàng
giả... diễn ra phổ biến. Nhà nước bị mất dần niềm tin ở nhân dân do quản lý nền kinh
tế chưa thực sự hiệu quả và công bằng, do lợi ích nhóm chi phối nên nhiều chính sách
kinh tế chưa thực sự xuất phát từ lợi ích chung của quảng đại nhân dân lao động.
Trong khả năng nguồn lực hiện có, chưa có cơ chế điều tiết phân phối nguồn lực xã
hội và của cải làm ra hợp lý, nên phân hóa giàu - nghèo có khoảng cách ngày càng lớn,
chưa xử lý thật tốt quan hệ giữa sự tự điều tiết của cơ chế thị trường với sự quản lý,
điều tiết của Nhà nước, thủ tục quản lý quan liêu, lãng phí và tham nhũng chưa được
ngăn ngừa hiệu quả,... Những biến động của kinh tế thế giới đã làm cho số đông người
dân làm nông nghiệp có thu nhập thấp, hầu như rất khó thoát nghèo. Tất cả những vấn
đề đó một lần nữa lại đặt ra câu hỏi: tính xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở
đâu? Mặc dù Đại hội XI nhấn mạnh vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại
7
nền kinh tế, coi hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là
một trong ba đột phá chiến lược..., nhưng thực tế ba năm qua cho thấy những chủ
trương này vẫn chưa đem lại thành quả như mong muốn:
- Kinh tế vĩ mô đã ổn định nhưng chưa thật bền vững, còn phải đối mặt với nhiều khó
khăn, thách thức;
- Sản xuất, kinh doanh còn nhiều khó khăn;
- Việc thực hiện tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng gặp
nhiều khó khăn và chưa đáp ứng được yêu cầu;
- Những kết quả bước đầu của việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đủ để tạo ra
sự chuyển biến về chất trong đổi mới mô hình tăng trưởng, chất lượng tăng trưởng
chưa thật sự được nâng cao và duy trì một cách bền vững;
- Các lĩnh vực văn hóa, xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém;
- Công tác quản lý tài nguyên, môi trường còn nhiều bất cập;
- Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu, mục tiêu đề ra là
ngăn chặn, từng bước đẩy lùi;
- An ninh chính trị vẫn còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất ổn định; bảo vệ chủ
quyền quốc gia còn nhiều thách thức; trật tự, an toàn xã hội vẫn còn nhiều bức xúc.
Tóm lại, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là con
đường hiện thực và tối ưu đối với dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, những thiết kế cụ
thể để mô hình đó hoạt động hiệu quả còn là thách thức đối với Đảng, Nhà nước
và nhân dân ta. Song, trên giác độ nhận thức luận, không còn nghi ngờ gì về con
đường đã chọn. Vấn đề là kiên định mục đích, linh hoạt trong phương thức thực
hiện, coi mục tiêu phát triển bền vững và ưu tiên lợi ích của nhân dân lao động là
những tiêu chuẩn tối cao cho các lựa chọn chính sách của mình./.
Câu 3: Giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng XHXN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay?
1. Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN :
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản. Đây là hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của
kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi các nguyên tắc và bản
chất của CNXH.
Khái niệm theo văn kiện DH XII (trang 112)
2. Thực trạng nền kinh tế thị trường ĐH XHCN ở nước ta hiện nay
- Đang ở trình độ thấp do còn tồn tại nhiều hạn chế về vốn, nguồn nhân lực, khoa học và
công nghệ, trình độ tổ chức quản lý, hạ tầng kinh tế – xã hội…
- Các yếu tố của thị trường yếu và thiếu đồng bộ làm cho hệ thống các thị trường bộ
phận chậm phát triển, chưa tạo được sự liên kết tập trung sức mạnh của nền kinh tế.
- Hiệu lực, hiệu quả quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước chưa thật cao do vẫn còn tồn tại
tư tưởng, lề lối làm việc trì trệ của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp trước đây.
- Loại hình sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa chưa thực sự tỏ ra ưu
việt trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay.
3. Giải pháp phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay:
a. Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,
phát huy vai trò của kinh tế nhà nước:
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần là giải phóng sức sản xuất của xã hội, nhằm huy
8
động các nguồn lực phát triển kinh tế thị trường; đồng thời tạo môi trường cạnh tranh
trong nền kinh tế và đó là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững.
- Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà
nước. Đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động của các đơn vị dịch vụ công phù hợp kinh tế thị
trường định hướng XHCN.
- Phát triển kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các lĩnh vực
kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật.
- Thu hút mạnh đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và các ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với
chiến lược phát triển kinh tế của đất nước.
b. Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri
thức và bảo vệ tài nguyên môi trường :
- Chuyển lao động thủ công thành lao động sử dụng máy móc, ứng dụng những thành
tựu về khoa học và công nghệ gắn với nền kinh tế tri thức ở các ngành, các lĩnh vực
trong nền kinh tế quốc dân.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí, hiện đại trên cơ sở khai thác lợi thế của các vùng, miền,
các ngành, các lĩnh vực; đồng thời phải phù hợp với xu thế phát triển của thế giới.
c. Phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường :
- Tạo môi trường (môi trường pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội) đề các yếu tố của thị
trường phát triển lành mạnh, hiệu quả. Đồng thời đổi mới và hoàn thiện thể chế về giá,
cạnh tranh, kiểm soát độc quyền, giải quyết tranh chấp; xây dựng và thực hiện các quy
định về trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp đối với người tiêu dùng, đối với bảo vệ
môi trường.
- Phát triển đa dạng, đồng bộ và hiện đại các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ, cả thị
trường trong nước và ngoài nước.
d. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, năng lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước
đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN :
- Cải cách bộ máy và cơ chế điều tiết nền kinh tế của Nhà nước theo hướng tinh gọn, có
hiệu quả.
- Hoàn thiện và sử dụng có hiệu lực các công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nước như:
Luật pháp, chính sách, các công cụ khác.
- Tăng cường kiềm tra, kiểm soát để điều chỉnh kịp thời sự vận hành của nền kinh tế khi
cần thiết.
e. Mở rộng kinh tế đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế :
- Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là tiền đề, điều kiện quan trọng đề nền
kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển.
- Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường.
- Khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực bên ngoài.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
- Tìm kiếm và mở rộng các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác lớn.
* Bổ sung thêm thành tựu về phát triển kinh tế thị trường trong thời gian qua:
1. Lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điều hành
chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt hơn với chính sách tài khóa. Đã cơ
bản bảo đảm được các cân đối lớn của nền kinh tế. Tốc độ tăng giá tiêu dùng giảm mạnh,
từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,6% vào năm 2015. Mặt bằng lãi suất giảm, năm 2015
chỉ bằng 40% so với năm 2011. Tỉ giá, thị trường ngoại hối ổn định. Khắc phục được cơ
bản tình trạng sử dụng đô la, vàng trong giao dịch thanh toán. Niềm tin vào đồng tiền
Việt Nam tăng lên. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khá cao, đạt bình quân 17,5%/năm; tỉ
trọng sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng xuất khẩu tăng mạnh. Cán cân thương mại
được cải thiện; cán cân thanh toán quốc tế thặng dư khá cao. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt
mức cao nhất từ trước đến nay.
Quản lý ngân sách nhà nước được tăng cường; chính sách thu được điều chỉnh linh hoạt,
9
phù hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu cầu hội
nhập; đẩy mạnh chống thất thu, chống chuyển giá, xử lý nợ đọng thuế, thu ngân sách tăng gần
2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Chi ngân sách được quản lý chặt chẽ hơn, tiết kiệm và
ưu tiên cho bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người. Huy động các nguồn lực cho
đầu tư phát triển, tập trung vốn hoàn thành các công trình quan trọng, cấp bách và đầu tư
phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia được cơ cấu lại
một bước và trong giới hạn theo quy định của pháp luật [2]. Tăng cường quản lý thị
trường, giá cả, bảo đảm cân đối cung - cầu các mặt hàng thiết yếu và đẩy mạnhphòng,
chống buôn lậu, gian lận thương mại.
2. Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao
hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được nâng lên
Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm [3].
Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ USD,
bình quân đầu người khoảng 2.109 USD[4].
Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng
tăng bình quân 6,9%/năm[5]; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công
nghiệp tăng. Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng bình
quân 3,0%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 40,7% vào năm 2015.Giá trị gia tăng khu
vực dịch vụ tăng khá, bình quân 6,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừ yếu tố giá tăng
khoảng 5,6%). Tổng doanh thu từ khách du lịch tăng bình quân 21%/năm; khách quốc
tế đạt 7,9 triệu lượt vào năm 2015.
Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ
tăng; năng suất lao động tăng bình quân 4,2%/năm, cao hơn giai đoạn trước[6]; vốn đầu
tư được sử dụng hiệu quả hơn [7]; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào
tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 29%.
3. Ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực
3.1. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện;
môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh có bước được cải thiện
3.2. Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực
3.3. Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
đạt kết quả quan trọng
4. Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được kết quả bước
đầu
Câu 4: Nêu những nội dung cơ bản của mô hình tăng trưởng kinh tế?
1. Khái niệm:
Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng hàng hóa và dịch vụ
trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Mô hình tăng trưởng kinh tế là cách diễn đạt quan điểm cơ bản nhất về sự tăng
trưởng kinh tế thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng.
2. Các thước đo tăng trưởng kinh tế:
Tổng sản phẩm quốc dân (GNP): là tổng giá trị gia tăng (hay cuối
Tổng sản phẩm trong nước (GDP): là tổng giá trị gia tăng (hay cuối cùng) của
hàng hóa và dịch vụ được tạo ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong một thời kỳ
nhất định (thường là một năm).
cùng) do dân một nước tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm).
Thu nhập quốc dân bình quân đầu người (GNI/người): là tỷ số giữa GNP và số
dân của một quốc gia.
10
3. Các yếu tố tăng trưởng kinh tế
Các yếu tố kinh tế
- Vốn: gồm những tư liệu sản xuất được đưa vào hoạt động kinh tế như nhà
xưởng, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…
- Lao đông: nguồn lực con người được huy động vào quá trình hoạt động kinh tế.
- Tài nguyên thiên nhiên: là những yếu tố tự nhiên được sử dụng làm yếu tố đầu
vào cho tư liệu sản xuất.
- Khoa học – công nghệ: là tri thức của con người thể hiện qua những phương
pháp, phương tiện mà con người vận dụng trong quá trình hoạt động kinh tế.
Các yếu tố phi kinh tế
- Thể chế chính trị xã hội: gồm các kế hoạch, chiến lược, mục tiêu hoạt động, các
quy định pháp lý do Đảng cầm quyền và Nhà nước hiện hành khởi xướng.
- Đặc điểm văn hoá – xã hội: thường thể hiện thông qua lối sống, phong tục, tập
quán, thói quen, tâm lý người dân…
- Đặc điểm dân tộc, tôn giáo: truyền thống, tín ngưỡng.
4. Các mô hình tăng trưởng kinh tế
4.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng: SGK tr35
Là sự tăng trưởng kinh tế dựa trên việc gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào như
vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động làm chủ yếu. Mô hình tăng trưởng theo chiều rộng
thường gắn với những nền kinh tế có công nghệ lạc hậu, lực lượng lao động có trình độ
thấp là chủ yếu, khai thác tài nguyên thô và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp.
Chỉ diễn ra trong một thời gian nhất định cho đến khi các yếu tố không thể tăng
được nữa.
4.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu (SGK tr 36)
Là sự tăng trưởng kinh tế dựa trên việc vận dụng khoa học – công nghệ để nâng
cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu
thường gắn với những nền kinh tế có công nghệ hiện đại, lực lượng lao động trình độ cao
chiếm tỷ trọng lớn và có năng lực thiết kế, chế tạo những sản phẩm có giá trị gia tăng
cao, hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cao.
Hạn chế: dẫn tới tình trạng đào thải lao động do ưu tiên ứng dụng phát triển khoa
học công nghệ. Dẫn tới lãng phí khi ứng dụng khoa học công nghệ chưa phù với trình độ
với người lao động của nước ta hiện nay.
----------------------------------------Câu 5: Nêu những yêu cầu, mục tiêu, nội dung và nguyên tắc của đổi mới mô hình tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam đến năm 2020?
Trả lời:
Nêu khái niệm
mô hình tăng
Yêu cầu của đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:
trưởng kinh tế:
Sự cần thiết tất yếu của việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nêu tại sao VN
Nam hiện nay:
phải đổi mới
Do nền kinh tế Việt Nam vận dụng quá lâu mô hình tăng trưởng kinh tế theo mô hình tăng
chiều rộng dẫn đến nhiều hạn chế, yếu kém về hiệu quả kinh tế và năng lực cạnh tranh, trưởng kinh tế
(SGK trang 37
mất cân đối vĩ mô trầm trọng, bất ổn xã hội và ô nhiễm môi trường như:
– 46)
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào gia tăng các nhân tố truyển thống. Hiện Nêu mục tiêu,
nay đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam thấp hơn so với các nước nguyên tắc, giải
trong khu vực.
pháp
(SGK
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các ngành nông nghiệp và công nghiệp. trang 47 – 48).
khảo
Hai ngành này luôn chiếm tới trên 60% GDP, còn phần đóng góp của khu vực thương Tham
mại, dịch vụ chỉ ở mức 37 – 38% cả gần 10 năm gần đây. Từ thực trạng trên có thể thêm văn kiện
thấy, hệ quả của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng ở Việt Nam làm cho nền ĐH XII.
kinh tế kém hiệu quả; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế yếu; mất cân đối vĩ mô trầm
trọng, mất cân đối giữa thu và chi, thâm hụt ngân sách lên nợ của Chính phủ; tăng
trưởng kinh tế chưa đi cùng với giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường, thành
tựu xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, số người có mức thu nhập cận trên của chuẩn
11
nghèo còn khá cao, khả năng tái nghèo lớn.
Do yêu cầu của việc cần chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, các
doan nghiệp Việt Nam càng phải chịu sức ép tăng lên từ các doanh nghiệp và hàng hóa
nước ngoài. Chẳng hạn, khi Việt Nam tham gia vào TPP, giày dép Việt Nam xuất khẩu
vào Mỹ sẽ được hưởng thuế suất nhập khẩu 0% thay vì mức 13 – 14% như trước đây,
nhưng ngược lại các thương hiệu giày lớn của Mỹ hay của Châu Âu cũng nhập khẩu
về Việt Nam với mức thuế nhập khẩu còn 0% mà tâm lý người Việt Nam chuộng hàng
xuất xứ từ nước ngoài.
Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020:
Về mục tiêu
Khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng cũ, thoát khỏi “bẫy thu nhập trung
bình”, tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu, hội nhập quốc tế thành công. Phấn
đấu nâng tỷ trọng đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) lên 31 – 32% vào
năm 2015 và 35% vào năm 2020.
Về nguyên tắc
Chuyển dần tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng sang tăng trưởng kinh tế theo
chiều sâu.
Lấy hiện đại hoá làm nền tảng để đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và
dài hạn.
Đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và phát triển đồng bộ các
vùng.
Hài hoà vai trò Nhà nước và thị trường trong phân phối các nguồn lực tăng
trưởng.
Gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ tài
nguyên, môi trường.
Đổi mới mô hình tăng trưởng một cách toàn diện, đồng bộ và có hệ thống.
Về giải pháp
Chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây được coi là chìa khóa
của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế của đất nước ta trong thời gian tới.
Xây dựng tiềm lực khoa học – công nghệ.
Tái cấu trúc nền kinh tế, trước hết là hệ thống ngân sách, đầu tư công và hệ
thống doanh nghiệp nhà nước.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
Phát huy vai trò động lực của thành phần kinh tế tư nhân.
Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước, tách bạch chức
năng hành pháp chính trị và hành chính công vụ, cải cách thể chế, cải cách cách làm
kế hoạch…
Câu 6: Nêu những quan điểm, định hướng và giải pháp chủ yếu phát triển các ngành, lĩnh vực kinh
tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay?
Trả lời:
1. Mối quan hệ giữa các ngành, lĩnh vực kinh tế với tăng trưởng kinh tế
Các ngành, lĩnh vực kinh tế gồm nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ không
chỉ có mối liên hệ với nhau mà còn có mối liên hệ với tăng trưởng kinh tế. Chính các
ngành, lĩnh vực kinh tế thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là cơ sở để thực hiện các mục
tiêu tăng trưởng và tăng trưởng kinh tế tạo nguồn lực cho sự phát triển các ngành, lĩnh
vực kinh tế.
2. Thực trạng và giải pháp phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế ở Việt
12
Viết rút gọn lại
phần phương
hướng (ghi mấy
cái tiêu đề thôi)
Nam
2.1 Thực trạng
2.1.1 Kết quả đạt được
+ Nông nghiệp:
. Nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất lương thực đã đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia.
.Trong nội bộ cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có sự chuyển dịch
ngày càng tích cực theo hướng CNH, HĐH.
.Kinh tế nông thôn và đời sống của nông dân được cải thiện hơn trứơc.
.Việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển
giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề,
tiểu thủ công nghiệp,… đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa
đói, giảm nghèo.
.Tỷ lệ hộ nông nghiệp giảm, tỷ lệ hộ công nghiệp, dịch vụ tăng
+ Công nghiệp:
. Sản phẩm công nghiệp phát triển ngày càng đa dạng, phong phú về chủng
loại, chất lượng được cải thiện, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh, đảm bảo
cung cầu của nền kinh tế, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng thị trường xuất
khẩu.
. Cơ cấu ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng phát huy được
lợi thế của ngành, hình thành được một số khu công nghiệp, khu chế xuất có công
nghệ cao, đồng thời phát triển mạnh một số ngành chế biến nông sản.
. Đã đầu tư phát triển một số ngành công nghiệp mới, công nghệ cao.
+ Dịch vụ:
. Khu vực dịch vụ có tốc độ tăng trưởng ổn định
. Các ngành dịch vụ truyền thống như thương nghiệp, vận tải, bưu chính viễn
thông, khách sạn, nhà hàng phát triển khá.
. Các ngành dịch vụ có tỷ lệ phí trung gian thấp: ngân hàng, bảo hiểm phát
triển khá nhanh.
2.1.2 Tồn tại, khuyết điểm
. Tăng trưởng kinh tế chủ yếu theo chiều rộng dựa vào tăng đầu tư, khai thác
tài nguyên; các cân đối vĩ mô chưa vững chắc.
. Công nghiệp chế tạo, chế biến phát triển chậm, gia công, lắp ráp còn chiếm tỉ
trọng lớn.
. Cơ cấu kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực chuyển dịch theo hướng tích cực
nhưng còn chậm. Cơ cấu trong nội bộ từng ngành cũng chưa thật hợp lý.
. Năng suất lao động xã hội thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Năng lực cạnh tranh quốc gia chậm được cải thiện.
. Đầu tư vẫn dàn trải. Hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư còn thấp, còn
thất thoát, lãng phí, nhất là nguồn vốn đầu tư của Nhà nước.
. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt đối với khu
vực đồng bào dân tộc thiểu số. Chất lượng nhiều công trình xây dựng cơ bản còn thấp.
. Quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả chưa cao, còn
lãng phí. Tình trạng khai thác rừng, khai thác khoáng sản bất hợp pháp vẫn còn xảy ra
ở nhiều nơi, nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu, ngăn chặn kịp thời.
. Trình độ phát triển giữa các vùng cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng.
. Các chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
không đạt kế hoạch đề ra.
Những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường
chưa được chú ý đúng mức. Một số tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp nhà nước kinh
doanh thua lỗ, gây bức xúc trong xã hội. Chỉ đạo đổi mới, phát triển kinh tế tập thể,
các nông, lâm trường quốc doanh chậm, lúng túng.
. Chất lượng xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển một số
ngành, vùng, nhất là quy hoạch sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng sản còn yếu, gây
lãng phí, thất thoát lớn.
. Quản lý thị trường, nhất là thị trường bất động sản, thị trường tài chính, có lúc
còn lúng túng, sơ hở, thiếu chặt chẽ dẫn đến tình trạng đầu cơ, làm giàu bất chính cho
13
một số người; chính sách phân phối còn nhiều bất hợp lý.
3. Phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế của Việt Nam hiện
nay(VKĐH XII)
3.1 Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững,
xây dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống của nông dân.
Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao,
hàng hóalớn; tăng cường ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh; bảo đảm phát triển bền vững, an ninh lương thực quốc gia
và vệ sinh an toàn thực phẩm. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng khu vực
nông nghiệp bình quân khoảng 2,5 - 3,0%/năm.
Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế
so sánh, giá trị gia tăng cao, bảo đảm các tiêu chuẩn theo yêu cầu xuất khẩu, có khả
năng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu. Bảo vệ và sử dụng linh hoạt, hiệu
quả đất trồng lúa. Khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất, phát triển các vùng sản
xuất quy mô lớn với hình thức đa dạng, phù hợp với quy hoạch và điều kiện của từng
vùng, đặc điểm của từng sản phẩm. Coi bảo vệ và phát triển rừng là một giải pháp quan
trọng tạo việc làm và nâng cao thu nhập.
Tổ chức lại sản xuất, tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị. Gắn sản xuất với chế biến,
tiêu thụ nông sản trên cơ sở phát triển các hình thức hợp tác, liên kết đa dạng giữa hộ
gia đình với các tổ chức hợp tác và doanh nghiệp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh và bảo đảm hài hoà lợi ích của các chủ thể tham gia. Khuyến khích liên kết giữa
hộ nông dân sản xuất với tổ chức tín dụng, tổ chức khoa học, công nghệ và doanh
nghiệp. Tiếp tục sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty và các
nông, lâm trường quốc doanh1,góp phần thúc đẩy phát triển nông, lâm nghiệp và hỗ
trợ nông dân ở các vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn. Phát huy vai trò của Mặt trận
Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, nhất là Hội Nông dân và các hiệp hội ngành
hàng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn.
Có cơ chế, chính sách khuyến khíchnghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ,
nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất và quản lý. Áp dụng
rộng rãi các loại giống mới và kỹ thuật nuôi trồng có năng suất, chất lượng, hiệu quả
cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu sản
phẩm, nông dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp.
Tập trung thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến
năm 2020 khoảng 40 -50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Rà soát, hoàn thiện cơ chế,
chính sách và tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc thù từng vùng. Quy
hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn miền núi, đồng bào dân tộc. Ưu tiên bố
trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để
đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội.Có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế
hộ gia đình, kinh tế trang trại và thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ tại địa bàn nông thôn. Đồng thời đẩy
mạnh đào tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn.
Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di cư tự do.
Thực hiện tốt các chính sách phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và
nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn nông thôn. Tập trung làm tốt công tác
nâng cao dân trí, chăm sóc sức khoẻ, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững, bảo
đảm an sinh xã hội, an ninh, trật tự và bảo vệ môi trường. Xây dựng hệ thống chính trị
vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền
thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.
3.2 Đẩy mạnh cơ cấu lại công nghiệp, tạo nền tảng cho CNH, HĐH
Nghiên cứu hoàn thiện tiêu chí để xác định các chỉ tiêu thực hiện mục tiêu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Rà soát, bổ sung chiến lược phát triển công nghiệp; phân bố
1
14
công nghiệp hợp lý hơn trên toàn lãnh thổ. Phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp.
Đẩy nhanh phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học, công nghệ, có tỉ
trọng giá trị quốc gia và giá trị gia tăng cao; có lợi thế cạnh tranh, tham gia mạng sản
xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp, xây dựng
bình quân khoảng 8,0 - 8,5%/năm; đến năm 2020 tỉ trọng công nghiệp, xây dựng trong
GDP khoảng 40%; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP khoảng 25%, trong
đó công nghiệp chế tạo khoảng 15%.
Phát triển các ngành công nghiệp nền tảng đáp ứng nhu cầu về tư liệu sản xuất cơ bản
của nền kinh tế. Phát triển công nghiệp năng lượng, luyện kim, hóa dầu, hóa chất với
công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm có khả năng cạnh
tranh. Khuyến khích phát triển doanh nghiệp cơ khí chế tạo mạnh và sản phẩm cơ khí
trọng điểm. Có chính sách phát triển công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ
thông tin, công nghiệp phần mềm. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông
nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông sản, sản xuất vật tư và máy nông nghiệp.
Tậptrung phát triển công nghiệp hỗ trợ, tăng cường liên kết giữa các tập đoàn đa quốc
gia và doanh nghiệp trong nước, hình thành các khu công nghiệp hỗ trợ theo cụm liên
kết ngành. Hỗ trợ phát triển các nguồn năng lượng tái tạo, nhất là năng lượng gió, mặt
trời.
Phát triển vững chắc, hiệu quả công nghiệp quốc phòng, an ninh. Phát triển phù hợp
doanh nghiệp có khả năng sản xuất sản phẩm lưỡng dụng. Từng bước hình thành tổ
hợp công nghiệp quốc phòng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp.
Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ tiên tiến. Tiếp cận và làm chủ các công nghệ
hiện đại, nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp, đáp ứng yêu cầu xây dựng trong
nước và có khả năng cạnh tranh quốc tế. Phát triển mạnh công nghiệp vật liệu xây
dựng, nhất là vật liệu mới, vật liệu chất lượng cao.
3.3 Phát triển các ngành dịch vụ
Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 6,6
-7,1%/năm. Tỉ trọng khu vực dịch vụ trong GDP khoảng 45% vào năm 2020. Ưu tiên
phát triển những ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị
gia tăng cao.
Phát triển vận tải với cơ cấu hợp lý, hiệu quả. Tăng thị phần vận tải đường sắt, đường
biển và đường thuỷ nội địa. Nâng cao chất lượng vận tải đường bộ và đường hàng
không. Tăng cường kết nối giữa các phương thức vận tải, khuyến khích phát triển vận
tải đa phương thức và logistics. Tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao chất lượng dịch
vụ và giảm chi phí vận tải.
Phát triển mạnh dịch vụ thông tin truyền thông đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Thực hiện cơ chế thuê dịch vụ công nghệ thông
tin trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.
Phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ. Chú trọng phát triển thương
mại điện tử và xây dựng thương hiệu hàng hóa Việt Nam. Tăng cường kết nối giữa
doanh nghiệp sản xuất, phân phối, các hiệp hội và cơ quan quản lý để phát triển mạnh
thị trường trong và ngoài nước. Chủ động tham gia vào mạng phân phối toàn cầu.
Phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo
hiểm và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh.
Có chính sách phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư phát triển du lịch với hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại, sản
phẩm đa dạng và tính chuyên nghiệp cao. Tạo mọi thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh,
đi lại và bảo đảm an toàn, an ninh. Đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương
hiệu du lịch Việt Nam. Khai thác hiệu quả, bền vững các di sản văn hóa, thiên nhiên,
di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và giữgìn vệ sinh môi trường. Phát triển các khu
dịch vụ du lịch phức hợp, có quy mô lớn và chất lượng cao.
Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển mạnh các dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa,
nghệ thuật, thể thao..., nhất là dịch vụ chất lượng cao về đào tạo nguồn nhân lực và
15
chăm sóc sức khoẻ.
3.4 Phát triển kinh tế biển
Phát triển mạnh các ngành kinh tế biển gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia
và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu
tư phát triển các ngành khaithác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển,
vận tải biển; khai thác và chế biến hải sản, các dịch vụ hậu cần nghề cá; du lịch biển,
đảo. Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển
gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
phục vụ sản xuất và đời sống vùng biển, đảo. Đẩy nhanh điều tra cơ bản về tài nguyên,
môi trường biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, đẩy
mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển.
Xây dựng các cơ sở hậu cần nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa
bờ và hoạt động dài ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợivà khuyến khích người dân
định cư lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh,
an toàn trên biển, đảo
3.5 Phát triển các vùng và khu kinh tế
Hoàn thiện quy hoạch vùng, lấy quy hoạch làm cơ sở quản lý phát triển vùng. Nâng
cao chất lượng lập và quản lý quy hoạch, nhất là quy hoạch kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, quy hoạch đô thị và quy hoạch sử dụng tài nguyên, bảo đảm công khai, minh
bạch. Chú trọng phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, vùng động lực, các khu kinh
tế, các khu công nghiệp. Tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng, giữa
các vùng để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương và ứng phó
hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu; tạo không gian phát triển thống nhất trong
vùng và cả nước; khắc phục tình trạng phát triển trùng dẫm, manh mún, kém hiệu quả.
Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư liên kết hình thành các vùng kinh tế chuyên ngành
quy mô lớn với các nhóm sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Nghiên cứu cơ chế quản lý
liên kết, hợp tác phát triển vùng phù hợp. Tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn
còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây
Nam Bộ và phía tây các tỉnh miền Trung. Rà soát quy hoạch, hoàn thiện cơ chế, chính
sách để phát huy hiệu quả các khu kinh tế hiện có. Lựa chọn một số khu có lợi thế đặc
biệt để xây dựng đặc khu kinh tế với thể chế có tính đột phá, có khả năng cạnh tranh
quốc tế. Phát triển các hành lang, vành đai kinh tế, kết nối hiệu quả với các nước trong
khu vực. Phát triển các khu kinh tế cửa khẩu. Nghiên cứu việc hình thành một số khu
kinh tế xuyên biên giới.
3.6. Phát triển đô thị
Đổi mới cơ chế, chính sách, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị theo quy
hoạch và kế hoạch. Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ,
hiện đại, thân thiện với môi trường, gồm một số đô thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ
liên kết và phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị miền núi, phát
triển mạnh các đô thị ven biển. Nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng lực cạnh
tranh của các đô thị; chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của các đô thị động
lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng, đô thị di sản, đô thị sinh thái, đô thị du
lịch, đô thị khoa học.
3.7. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Đẩy mạnh huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội để tiếp tục tập trung đầu tư
hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ với một số
công trình hiện đại. Ưu tiên và đa dạng hóa hình thức đầu tư cho các lĩnh vực trọng
tâm là: Hạ tầng giao thông đồng bộ, có trọng điểm, kết nối giữa các trung tâm kinh tế
lớn và giữa các trục giao thông đầu mối; hạ tầng ngành điện bảo đảm cung cấp đủ điện
cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hạ tầng thủy lợi
đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển
dâng; hạ tầng đô thị lớn hiện đại, đồng bộ, từng bước đáp ứng chuẩn mực đô thị xanh
16
của một nước công nghiệp.
4. Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế ở Việt Nam
hiện nay:
- Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển KT-XH.
- Bảo đảm phát triển nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô và không
ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.
- Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế,
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, bền
vững.
Câu 7: Phân biệt công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nền kinh tế tri thức?
1. Các khái niệm:
Công nghiệp hóa
Có thể hiểu một cách chung nhất công nghiệp hóa là quá trình chuyển dịch từ nền kinh
tế nông nghiệp ( hay tiền công nghiệp ) lên kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp
lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp.
CNH không chỉ đơn thuần là biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả biến đổi về xã hội từ
trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức là trình độ văn minh cao hơn.
Hiện đại hóa
HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, là
quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời
đại ngày nay.
HĐH cũng là quá trình tăng tốc rút ngắn lộ trình phát triển để đuổi kịp các nước đi
trước và phát triển hơn
CNH – HĐH
Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ
và quản lí KT – XH , từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách
phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa
trên sự phát triển CN và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động XH
cao.
Kinh tế tri thức
Là nền KT trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của
sự tăng trưởng , của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành KT.
Nến KT tri thức dựa vào việc phát minh, truyền bá và sử dụng tri thức được phát triển
dựa trên 4 trụ cột chính :
Môi trường kinh tế và thể chế XH
Giáo dục và đào tạo
Hệ thống cách tân
Hạ tầng cơ sở thông tin
Nền kinh tế tri thức có các đặc điểm chủ yếu như sau:
Tri thức là nguồn vốn vô hình to lớn, quan trọng trong đầu tư phát triển, nền kinh tế
dựa chủ yêu vào tri thức.
Sáng tạo là động lực của sự phát triển.
Nền kinh tế có tính chất toàn cầu hóa, trong đó mạng thông tin trở thành kết cấu hạ
tầng quan trọng nhất của xã hội.
Sự di chuyển cơ cấu lao động theo hướng giảm số lao động trực tiếp làm ra của cải,
tăng số lao động xử lý thông tin, làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm và làm văn phòng.
Học suốt đời, đào tạo liên tục, giáo dục thường xuyên để không ngừng phát triển tri
17
Làm theo SGK
trang 67 - 77
thức, sáng tạo công nghệ mới, làm chủ công nghệ cao, hoàn thiện các kỹ năng, thích
nghi nhanh với sự phát triển là một yêu cầu nghiêm ngặt; xã hội học tập là nền tảng
của kinh tế tri thức.
Tri thức hóa các quyết sách kinh tế.
Khác với nền kinh tế công nghiệp, chủ thể là công nhân với các công cụ cơ khí, cho
năng suất lao động cao; còn nền kinh tế tri thức, chủ thể là công nhân trí thức với công
cụ là tạo ra tri thức, quảng bá tri thức và sử dụng tri thức.
Như vậy, nền kinh tế tri thức là một nền kinh tế tiếp nối nền kinh tế công nghiệp,
phát triển ở trình độ cao hơn nền kinh tế công nghiệp, là nền kinh tế mà nhân loại đang
hướng tới. Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ
cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của
cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.
2.Quan điểm CNH – HĐH gắn với kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay ( trang 79)
Một là CNH phải gắn với HĐH và CNH , HĐH phải gắn với phát triển KT tri thức
Hai là CNH – HĐH gắn với phát triển KTTT định hướng XHCN và hội nhập kinh tế
quốc tế
Ba là lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và
bền vững
Bốn là coi phát triển KH và CN là nền tảng , là động lực CNH – HĐH đất nước
Năm là phát triển nhanh hiệu quả và bền vững; tăng trưởng KT đi đôi với thực hiện
tiến bộ và công bằng XH , bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.
• Phân biệt 3 nền kinh tế Nông nghiệp – Công nghiệp – Kt trí thức:
Về nguồn lực:
Về sản phẩm:
Câu 8: Nêu những nhiệm vụ cơ bản nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát
triển tri thức ở Việt Nam?
SGK trang 77 –
89.
1. Một số quan niệm cơ bản
Nên lấy theo bài
- CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh giảng của thầy
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế -xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang Vũ.
sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là
động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất
cả các ngành kinh tế.
2. Mục tiêu và quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức của Việt Nam:
a. Mục tiêu:
Mục tiêu lâu dài: biến nước ta thành một nước công nghiệp có Cơ sở vật chất – kỹ
thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
18
Mục tiêu trước mắt: Phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại. Tại Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta
đề ra mục tiêu từ nay đến giữa thế kỷ XXI: toàn Đảng, toàn dân ta ra sức phấn đấu xây
dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa.
b. Quan điểm
- Công nghiệp hóa phải gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải
gắn với phát triển kinh tế tri thức.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững.
- Coi phát triển khoa học và công nghệ là nền tảng, là động lực công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tư nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học.
3. Nội dung và định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh
tế tri thức ở Việt Nam
a. Nội dung:
- Phát triển mạnh các ngành và sản phẩm có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri
thức; kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của con người Việt Nam với tri thức
mới nhất của nhân loại.
- Coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng kinh tế trong mỗi bước phát triển
của đất nước, ở từng vùng, từng địa phương, từng dự án kinh tế xã hội.
- Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại và hợp lý theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ.
- Nâng cao năng suất lao động của tất cả các ngành, lĩnh vực, nhất là các ngành, lĩnh
vực có sức cạnh tranh cao.
b. Định hướng phát triển các ngành và lĩnh vực kinh tế trong quá tình đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
- Phát triển công nghiệp:
Xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu công nghiệp quốc gia với tầm nhìn trung,
dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn phát triển.
Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương và có chính sách phù hợp để xây dựng, phát triển các
ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, tăng hàm lượng khoa học - công nghệ và tỉ
trọng giá trị nội địa trong sản phẩm, tập trung vào những ngành có tính nền tảng, có
lợi thế so sánh và có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng
cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế; có khả năng tham gia sâu, có hiệu quả vào
mạng sản xuất và phân phối toàn cầu.
Phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công
19
nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công
nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh. Chú trọng phát triển các
ngành có lợi thế cạnh tranh; công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp phục vụ nông nghiệp,
nông thôn; năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và sản xuất vật liệu mới; từng bước
phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp môi trường và công nghiệp văn hóa. Tiếp
tục phát triển hợp lý một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Phân bố công nghiệp hợp lý hơn trên toàn lãnh thổ; nâng cao hiệu quả các khu kinh tế,
khu công nghiệp, khu chế xuất; sớm đưa một số khu công nghiệp công nghệ cao vào
hoạt động.
- Phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ
cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá
trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu.
Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát
triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở
phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông
nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng
năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương
thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân.
Chú trọng đầu tư vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp. Có chính sách phù hợp để
tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút mạnh các nguồn lực đầu tư phát triển nông nghiệp;
từng bước hình thành các tổ hợp nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao.
Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới và quá trình đô
thị hóa một cách hợp lý, nâng cao chất lượng dịch vụ và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội, thu hẹp khoảng cách về phát triển giữa đô thị và nông thôn, tăng cường kết nối
nông thôn - đô thị, phối hợp các chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn với
phát triển công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Phát huy vai trò chủ thể của hộ nông dân và
kinh tế hộ; xác định vai trò hạt nhân của doanh nghiệp trong nông nghiệp, đẩy mạnh
sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nông, lâm, ngư
nghiệp nhà nước; phát triển hợp tác xã kiểu mới và các hình thức hợp tác, liên kết đa
dạng; hình thành các vùng nguyên liệu gắn với chế biến và tiêu thụ.
- Phát triển khu vực dịch vụ
Đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ theo hướng hiện đại, đạt tốc độ tăng trưởng cao
hơn các khu vực sản xuất và cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế. Tập trung
phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao
như: du lịch, hàng hải, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hàng không, viễn thông, công nghệ
thông tin. Hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như tài chính,
ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, logistics và các dịch vụ hỗ trợ sản xuất kinh doanh
khác. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách giá dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế;
phát triển dịch vụ giáo dục - đào tạo, y tế chất lượng cao, dịch vụ khoa học và công
nghệ, văn hóa, thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm. Hình thành một số trung tâm dịch
vụ, du lịch tầm cỡ khu vực và quốc tế. Chủ động phát triển mạnh hệ thống phân phối
bán buôn, bán lẻ trong nước, tham gia vào mạng phân phối toàn cầu.
- Phát triển kinh tế biển
Phát triển mạnh kinh tế biển nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia và bảo vệ chủ
quyền biển, đảo. Chú trọng phát triển các ngành công nghiệp dầu khí, đánh bắt xa bờ
và hậu cần nghề cá, kinh tế hàng hải (kinh doanh dịch vụ cảng biển, đóng và sửa chữa
20
tàu, vận tải biển), du lịch biển, đảo. Có cơ chế tạo bước đột phá về tăng trưởng và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế biển, thu hút mạnh hơn mọi nguồn lực đầu tư để phát triển
kinh tế và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên biển,
đảo một cách bền vững. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế
ven biển.
- Phát triển kinh tế vùng, liên vùng
Thống nhất quản lý tổng hợp chiến lược, quy hoạch phát triển trên quy mô toàn bộ nền
kinh tế, vùng và liên vùng. Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đồng thời ưu
tiên phát triển các vùng kinh tế động lực, tạo sức lôi cuốn, lan tỏa phát triển đến các
địa phương trong vùng và đến các vùng khác. Có chính sách hỗ trợ phát triển các vùng
còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền
núi và hải đảo; phát triển kinh tế lâm nghiệp. Đổi mới cơ chế phân cấp, phân quyền,
gắn với phân định và nâng cao trách nhiệm của trung ương và địa phương. Thực hiện
quy hoạch vùng, chính sách vùng; sớm xây dựng và thể chế hóa cơ chế điều phối liên
kết vùng theo hướng xác định rõ vai trò đầu tàu và phân công cụ thể trách nhiệm cho
từng địa phương trong vùng. Khắc phục tình trạng nền kinh tế bị chia cắt bởi địa giới
hành chính, hoặc đầu tư dàn trải, trùng lặp. Xây dựng một số đặc khu kinh tế để tạo
cực tăng trưởng và thử nghiệm thể chế phát triển vùng có tính đột phá.
- Phát triển đô thị
Đổi mới cơ chế, chính sách, kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị theo quy
hoạch và kế hoạch. Từng bước hình thành hệ thống đô thị có kết cấu hạ tầng đồng bộ,
hiện đại, thân thiện với môi trường, gồm một số đô thị lớn, nhiều đô thị vừa và nhỏ
liên kết và phân bố hợp lý trên các vùng; chú trọng phát triển đô thị miền núi, phát
triển mạnh các đô thị ven biển. Nâng cao chất lượng, tính đồng bộ và năng lực cạnh
tranh của các đô thị; chú trọng phát huy vai trò, giá trị đặc trưng của các đô thị động
lực phát triển kinh tế cấp quốc gia và cấp vùng, đô thị di sản, đô thị sinh thái, đô thị du
lịch, đô thị khoa học.
- Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
Đẩy mạnh huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội để tiếp tục tập trung đầu tư
hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội tương đối đồng bộ với một số
công trình hiện đại. Ưu tiên và đa dạng hóa hình thức đầu tư cho các lĩnh vực trọng
tâm là: Hạ tầng giao thông đồng bộ, có trọng điểm, kết nối giữa các trung tâm kinh tế
lớn và giữa các trục giao thông đầu mối; hạ tầng ngành điện bảo đảm cung cấp đủ điện
cho sản xuất và sinh hoạt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; hạ tầng thủy lợi
đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển
dâng; hạ tầng đô thị lớn hiện đại, đồng bộ, từng bước đáp ứng chuẩn mực đô thị xanh
của một nước công nghiệp.
Câu 9: Đánh giá thực trạng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam
Nêu khái niệm
Tính tất yếu
1. Một số quan niệm cơ bản
Kết quả đạt
- CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh được, hạn chế
doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế -xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang Giải pháp.
sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công
21
nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
- Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó việc tạo ra, truyền bá và sử dụng tri thức là
động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, của quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất
cả các ngành kinh tế.
2. Sự cần thiết phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là con đường tất
yếu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là cách thức để đất
nước sớm ra khỏi tình trạng nghèo và kém phát triển.
- Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yêu
cầu bắt buộc để tạo lập cơ sở vật chất – kỹ thuật của CNXH.
- Đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức bắt
nguồn từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu hơn, đầy đủ hơn.
3. Thực trạng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức ở Việt Nam:
a. Thành quả đạt được:
- Lạm phát được kiểm soát, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điều
hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt hơn với chính sách tài khóa.
Đã cơ bản bảo đảm được các cân đối lớn của nền kinh tế. Tốc độ tăng giá tiêu dùng
giảm mạnh, từ 18,13% năm 2011 xuống còn 0,6% vào năm 2015. Mặt bằng lãi suất
giảm, năm 2015 chỉ bằng 40% so với năm 2011. Tỉ giá, thị trường ngoại hối ổn định.
Khắc phục được cơ bản tình trạng sử dụng đô la, vàng trong giao dịch thanh
toán. Niềm tin vào đồng tiền Việt Nam tăng lên. Tổng kim ngạch xuất khẩu
tăng khá cao, đạt bình quân 17,5%/năm; tỉ trọng sản phẩm chế biến trong cơ cấu hàng
xuất khẩu tăng mạnh. Cán cân thương mại được cải thiện; cán cân thanh toán quốc tế
thặng dư khá cao. Dự trữ ngoại hối tăng, đạt mức cao nhất từ trước đến nay.
Quản lý ngân sách nhà nước được tăng cường; chính sách thu được điều chỉnh linh
hoạt, phù hợp, góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, đáp ứng yêu
cầu hội nhập; đẩy mạnh chống thất thu, chống chuyển giá, xử lý nợ đọng thuế, thu ngân
sách tăng gần 2 lần so với giai đoạn 2006 - 2010. Chi ngân sách được quản lý chặt chẽ
hơn, tiết kiệm và ưu tiên cho bảo đảm an sinh xã hội và phát triển con người. Huy động
các nguồn lực cho đầu tư phát triển, tập trung vốn hoàn thành các công trình quan trọng,
cấp bách và đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nợ công, nợ nước ngoài của quốc
gia được cơ cấu lại một bước và trong giới hạn theo quy định của pháp luật [2]. Tăng
cường quản lý thị trường, giá cả, bảo đảm cân đối cung - cầu các mặt hàng thiết yếu và
đẩy mạnhphòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.
- Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau
cao hơn năm trước; chất lượng tăng trưởng được nâng lên
Tốc độ tăng Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 5 năm đạt trên 5,9%/năm [3].
22
Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế tiếp tục tăng lên; GDP năm 2015 đạt 193,4 tỉ
USD, bình quân đầu người khoảng 2.109 USD[4].
Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi; giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng
tăng bình quân 6,9%/năm[5]; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công
nghiệp tăng. Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, giá trị gia tăng tăng bình
quân 3,0%/năm; độ che phủ rừng đạt khoảng 40,7% vào năm 2015.Giá trị gia tăng khu
vực dịch vụ tăng khá, bình quân 6,3%/năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu
dịch vụ tiêu dùng tăng bình quân 14,1%/năm (loại trừ yếu tố giá tăng
khoảng 5,6%). Tổng doanh thu từ khách du lịch tăng bình quân 21%/năm; khách quốc
tế đạt 7,9 triệu lượt vào năm 2015.
Chất lượng tăng trưởng nhiều mặt được nâng lên, đóng góp của khoa học, công nghệ
tăng; năng suất lao động tăng bình quân 4,2%/năm, cao hơn giai đoạn trước[6]; vốn
đầu tư được sử dụng hiệu quả hơn [7]; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp
(TFP) vào tăng trưởng giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 29%.
- Ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện và đạt kết quả tích cực
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện;
môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh có bước được cải thiện
+ Phát triển nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ đạt được những kết quả tích cực
+ Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
đạt kết quả quan trọng
- Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng đạt được kết quả bước
đầu
b. Hạn chế:
- Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định nhưng chưa vững chắc
Việc kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế chưa thực sự bền
vững. Cân đối ngân sách nhà nước còn khó khăn; cơ cấu chi ngân sách chưa phù hợp;
còn thất thu ngân sách; một số khoản chi chưa được quản lý chặt chẽ, chi thường
xuyên tăng nhanh; bội chi ngân sách còn cao, chưa đạt mục tiêu giảm xuống còn 4,5%
GDP. Tuy vẫn bảo đảm trong giới hạn quy định nhưng nợ công tăng nhanh, áp lực trả
nợ lớn; sử dụng vốn vay ở một số dự án kém hiệu quả và còn thất thoát, lãng phí.
Đóng góp của khu vực kinh tế trong nước vào tăng trưởng xuất khẩu thấp [16]. Chất
lượng tín dụng chưa cao, xử lý nợ xấu còn gặp nhiều khó khăn. Thị trường vốn, chứng
khoán, bất động sản phát triển chưa đồng bộ, thiếu bền vững và còn tiềm ẩn rủi ro.
Tình hình buôn lậu, gian lận thương mại diễn biến phức tạp.
- Kinh tế phục hồi còn chậm, tăng trưởng chưa đạt chỉ tiêu đề ra; chất lượng tăng
trưởng một số mặt còn thấp
Tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,9%/năm, thấp hơn 5 năm trước và chưa đạt chỉ tiêu đề
ra. Khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực còn lớn. Sản xuất nông nghiệp
hiệu quả chưa cao; công nghiệp và dịch vụ tăng thấp hơn giai đoạn trước. Tổng cầu
tăng chậm, sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm còn nhiều khó khăn, nhất là nông
sản. Số lượng doanh nghiệp trong nền kinh tế tăng chậm. Doanh nghiệp quy mô lớn còn
ít. Số doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể còn lớn. Nhiều doanh nghiệp khó tiếp
cận vốn tín dụng, hiệu quả hoạt động chưa cao. Chưa huy động được cao nhất các
nguồn lực của khu vực tư nhân vào đầu tư phát triển. Việc sử dụng tài nguyên còn lãng
23
phí, kém hiệu quả.
Chất lượng tăng trưởng một số mặt còn thấp, cải thiện còn chậm; năng suất nhiều
ngành, lĩnh vực còn thấp; công nghệ sản xuất phần lớn còn lạc hậu. Đóng góp của
năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn
(ICOR) còn cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về
thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ.
- Thực hiện các đột phá chiến lược và tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt mục tiêu đề ra
+ Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc, chưa
tạo được đột phá thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Thể chế kinh tế thị trường chưa thật đồng bộ, thông suốt; chưa thực sự là động lực tạo
đột phá để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển,
nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện môi trường kinh doanh. Nhiều quy định trong
hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách và quản lý, điều hành chưa tuân thủ đầy đủ quy
luật của kinh tế thị trường, nhất là trong phân bổ nguồn lực, quản lý giá hàng hóa, dịch
vụ công thiết yếu và chưa bảo đảm cạnh tranh bình đẳng. Các loại thị trường vận hành
còn nhiều vướng mắc và hiệu quả chưa cao.
Quản lý nhà nước chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế. Cải cách hành chính và năng lực tạo dựng thể chế để bảo đảm cho doanh
nghiệp, người dân tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng trong kinh tế thị trường
còn nhiều hạn chế.
+ Phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học, công nghệ còn chậm
Chất lượng giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn
chậm; thiếu lao động chất lượng cao. Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông,
chưa thật hợp lý và thiếu đồng bộ. Công tác phân luồng và hướng nghiệp còn hạn chế.
Đổi mới giáo dục, đào tạo có mặt còn lúng túng[17]. Tình trạng mất cân đối trong cơ
cấu ngành nghề và trình độ đào tạo khắc phục còn chậm, công tác đào tạo chưa gắn
chặt chẽ với nhu cầu xã hội. Cơ chế, chính sách có mặt chưa phù hợp; xã hội hóa còn
chậm và gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước cho
phát triển giáo dục, đào tạo. Cơ sở vật chất vẫn còn thiếu và lạc hậu. Chất lượng dạy và
học ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.
Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động,
năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Chưa có giải pháp đủ mạnh để
khuyến khích doanh nghiệp và thu hút đầu tư tư nhân cho nghiên cứu, đổi mới và ứng
dụng khoa học, công nghệ. Đầu tư cho khoa học, công nghệ hiệu quả chưa cao. Việc
xã hội hóa các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ công lập còn chậm. Tiềm lực
khoa học, công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu. Hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm
trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động của các khu công nghệ cao còn thấp. Thị
trường khoa học, công nghệ phát triển còn chậm, nhất là việc chuyển giao công nghệ.
Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ chậm được đổi mới, nhất là về tài chính, tự chủ,
tự chịu trách nhiệm, trọng dụng, đãi ngộ nhân tài. Việc sử dụng ngân sách nhà nước
cho khoa học, công nghệ còn dàn trải, hiệu quả chưa cao. Năng lực đội ngũ khoa học,
công nghệ còn hạn chế, thiếu các nhà khoa học đầu ngành. Số lượng sáng chế, công
trình khoa học công bố trên các tạp chí quốc tế có uy tín còn ít.
24
+ Hệ thống kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển
Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn nhiều mặt hạn chế, chưa đồng bộ, hiệu
quả kết nối và chất lượng chưa cao. Quy hoạch kết cấu hạ tầng, nhất là ở các đô thị lớn
chưa đáp ứng yêu cầu. Phát triển đường cao tốc và đầu tư nâng cấp một số tuyến quốc lộ
quan trọng còn chậm; mạng lưới đường sắt khổ hẹp, lạc hậu; một số cảng biển, sân
bay đã quá tải. Hiệu quả hoạt động của ngành điện còn thấp; chất lượng điện chưa ổn
định. Nhiều hệ thống thủy lợi chưa đồng bộ, xuống cấp nghiêm trọng. Chất lượng hạ
tầng công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêucầu phát triển. Công tác đảm bảo an ninh, an
toàn mạng còn nhiều khó khăn. Quản lý đô thị còn nhiều mặt yếu kém, hạ tầng chưa đồng
bộ, kém chất lượng và quá tải tại các thành phố lớn. Hệ thống cấp, thoát nước còn bất
cập; tình trạng ngập úng tại các thành phố lớn chậm được xử lý. Công nghệ xử lý chất
thải rắn còn lạc hậu. Chưa có đột phá trong cơ chế, chính sách thu hút nguồn lực ngoài
nhà nước tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng.
* Nhiều tiêu chí để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại dự kiến không đạt như GDP bình quân đầu người, tỉ trọng công nghiệp
chế tạo và tỉ trọng nông nghiệp trong GDP, tỉ trọng lao động nông nghiệp trong tổng
lao động xã hội, tỉ lệ đô thị hóa, điện sản xuất bình quân đầu người, chỉ số phát triển
con người, chỉ số bất bình đẳng thu nhập, tỉ lệ lao động qua đào tạo, tỉ lệ dân số sử
dụng nước sạch[18].
- Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng còn chậm,
chưa đồng bộ
Mô hình tăng trưởng chưa chuyển đổi kịp theo yêu cầu phát triển, còn phụ thuộc nhiều
vào vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển
dịch chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu vào sản xuất của một
số ngành còn lệ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Sản xuất kinh doanh chưa gắn được nhiều
với mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Xuất khẩu thô, xuất khẩu dưới hình thức
gia công còn lớn; hàm lượng giá trị quốc gia và giá trị gia tăng còn thấp.
Đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao còn
chậm; tỉ lệ nội địa hóa của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài còn thấp. Năng
suất lao động còn thấp. Tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ đạt khoảng 18%
GDP vào năm 2015, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực [19]. Chưa phát triển
được nhiều sản phẩm có giá trị công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường
khu vực và quốc tế.
Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới còn chậm và kết quả đạt
được chưa đồng đều, chưa đạt mục tiêu đề ra; nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp, nông
thôn chưa đáp ứng yêu cầu. Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, cơ giới hóa, công
nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng yêu
cầu. Hợp tác, liên kết trong sản xuất nông nghiệp phát triển còn chậm, kinh tế tập thể
hoạt động còn lúng túng. Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, thiếu bền vững, hiệu
quả chưa cao; chất lượng sản phẩm, năng suất lao động và thu nhập của người nông
dân còn thấp. Tỉ trọng lao động trong nông nghiệp còn lớn.
Nhiều ngành dịch vụ phát triển chậm, chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là các dịch vụ có giá
trị gia tăng và hàm lượng khoa học, công nghệ cao. Hệ thống phân phối còn nhiều bất
cập, chi phí trung gian lớn, chưa kết nối thông suốt, hiệu quả và chưa bảo đảm hài hòa
lợi ích giữa các khâu từ sản xuất đến tiêu thụ. Phát triển du lịch còn chậm, chưa tương
25