VẬT CHẤT, Ý THỨC VÀ MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT Ý THỨC TRONG CHỦ
NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU
2
1. VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT
3
1.1. Phạm trù vật chất
3
1.2. Các hình thức tồn tại của vật chất
9
1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới
11
2. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
13
2.1. Nguồn gốc của ý thức
13
2.2. Bản chất của ý thức
16
2.3. Kết cấu của ý thức
18
3. MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
19
KẾT LUẬN
24
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong lịch sử tư tưởng triết học nhân loại dù cho hệ thống quan niệm
về thế giới được các học thuyết đưa ra như thế nào chăng nữa, nhưng theo
Ph.Ăngghen thì: “Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết
học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”. Việc giải quyết vấn đề
cơ bản đó đã hình thành nên hai trường phái triết học là chủ nghĩa duy vật,
chủ nghĩa duy tâm và hai phương pháp nhận thức thế giới là phương pháp
siêu hình và phương pháp biện chứng. Chủ nghĩa duy vật đã có lịch sử hình
thành và phát triển từ thời cổ đại, song chỉ có chủ nghĩa duy vật biện chứng
mới giải quyết đúng đắn, triệt để nhất vấn đề vật chất, ý thức cũng như mối
quan hệ vật chất và ý thức.
1. VẬT CHẤT VÀ CÁC HÌNH THỨC TỒN TẠI CỦA VẬT CHẤT
1.1. Phạm trù vật chất
Vật chất với tư cách là phạm trù triết học (tiếng La-tinh là meteria) đã có
lịch sử khoảng 2500 năm, quá trình phát sinh và phát triển của nó gắn liền với
hoạt động thực tiễn của con người và với sự hiểu biết của con người về giới tự
nhiên. Ngay từ lúc mới ra đời, xung quanh phạm trù vật chất đã diễn ra cuộc
đấu tranh không khoan nhượng giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Chủ nghĩa duy tâm coi thực thể của thế giới, cơ sở mọi sự tồn tại là một
bản nguyên tinh thần nào đó. Theo Duy tâm khách quan thì thế giới vật chất
tồn tại do lực lượng siêu nhiên sinh ra, có thể là "ý niệm" hay "ý niệm tuyệt
đối". Platon quan niệm vật chất bắt nguồn từ "ý niệm", sự vật cảm tính là cái
bóng của "ý niệm"; còn Hêghen thì coi vật chất là do "ý niệm tuyệt đối sinh
ra". Đồng thời, các ông đều có thái độ căm thù chủ nghĩa duy vật, cố tình
xuyên tạc, vu khống triết học duy vật. Duy tâm chủ quan cho rằng tồn tại là
do ý niệm chủ quan của con người. Béccơly đã hệ thống hoá một số quan
điểm của chủ nghĩa duy tâm chủ quan đưa ra công thức “Tồn tại tức là được
tri giác”. Makhơ lại coi sự kết hợp, phức hợp các yếu tố tạo thành thế giới và
cho đó là phát kiến vĩ đại cao hơn cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
nhưng cái gì tạo ra các yếu tố thì Makhơ cho đó là cảm giác.
3
Như vậy, chủ nghĩa duy tâm trong mọi thời đại và dưới mọi hình thức
đều tìm mọi cách phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất. Trên thực
tế quan điểm của chủ nghĩa duy tâm đã bị thực tiễn và khoa học bác bỏ.
Đối lập với chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa duy vật trước Mác đã có
những quan niệm tương đối thống nhất về phạm trù vật chất: Thừa nhận sự
tồn tại khách quan của thế giới vật chất; giải thích sự vận động phát triển của
thế giới vật chất như một hiện tượng tự thân; bác bỏ vai trò sáng tạo thế giới
của thần linh thượng đế, của lực lượng siêu nhiên... Tuy nhiên, họ lý giải rất
khác nhau.
Chủ nghĩa duy vật cổ đại: Đi tìm bản nguyên thế giới từ những sự vật
cụ thể cảm tính nên đã đồng nhất vật chất với vật thể, vật chất là những vật
hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở thế giới bên ngoài. Do vậy, họ không phân
biệt được vật chất với vật thể. Talét coi vật chất là Nước, Anaximen coi vật
chất là Không khí. Hêraclit coi vật chất là Lửa. Đỉnh cao của chủ nghĩa duy
vật cổ đại trong quan niệm về vật chất là thuyết nguyên tử của Lơxíp và
Đêmôcrít. Theo Lơxíp và Đêmôcrít thì thực thể của thế giới là nguyên tử. Đó
là những phần tử cực kỳ nhỏ, cứng tuyệt đối không thâm nhập được, không
quan sát được. Nguyên tử chỉ có thể nhận thức được nhờ tư duy. Đêmôcrít
hình dung nguyên tử có nhiều loại: có loại góc cạnh, xấu xí; có loại cong,
nhẵn; có loại tròn, hình cầu… Sự kết hợp hoặc tách rời nguyên tử theo các
trật tự khác nhau của không gian sẽ tạo nên toàn bộ thế giới.
Chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII, XVIII: Trên cơ sở nền khoa học tự
nhiên - thực nghiệm Châu Âu, họ đã có những kiến giải đúng đắn về sự vận
động phát triển của thế giới vĩ mô như: Tính phổ biến của quy luật cơ học;
tính khách quan của nguyên tử... Tuy nhiên nổi lên ba vấn đề: Thứ nhất:
Thuyết nguyên tử cổ đại tuy có những hạn chế lịch sử nhất định, song nó vẫn
giữ vai trò định hướng cho sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khi vật lý
học lý thuyết phát hiện ra sự tồn tại thực của nguyên tử. Thứ hai: Do sự chi
phối bởi phương pháp siêu hình và sự thống trị của cơ học cổ điển Niu-tơn đã
khiến các nhà triết học lúc đó đồng nhất vật chất với khối lượng, coi những
định luật cơ học như những chân lý hoàn hảo không thể thêm bớt, tuyệt đối
hoá nó, giải thích tính tất yếu khách quan trong hiện thực theo những quy luật
4
ấy; coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện của vận động cơ học, nguồn gốc
vận động nằm ngoài vật chất, chưa thấy được vận động là một thuộc tính của
vật chất. Thứ ba: Xuất hiện những trào lưu triết học phủ nhận thuyết nguyên
tử và chống lại việc dùng cơ học cổ điển như một cẩm nang tuyệt đối để giải
thích thế giới. Họ đưa ra quan niệm khác về vật chất: Phranxi Bêcơn coi thế
giới vật chất tồn tại khách quan, vật chất là tổng hợp các hạt, vận động là
thuộc tính không thể tách rời của vật chất; Hônbách coi vật chất là tất cả
những cái gì bằng một cách nào đó tác động vào giác quan chúng ta; Điđrô
coi trong vũ trụ chỉ có một thực thể duy nhất là vật chất. Đềcáctơ nhà vật lý
học đồng thời là nhà triết học Pháp đã coi vật chất gồm những hạt nhỏ có thể
phân chia đến vô tận, các hạt vật chất luôn vận động thay đổi vị trí trong
không gian. Các nhà triết học pháp thế kỷ XVIII nói chung họ cho rằng vật
chất là toàn bộ thế giới hiện thực, coi sự vận động không gian, thời gian là
phương thức tồn tại của vật chất. Triết học cổ điển Đức cũng lý giải một cách
hiện thực về vật chất mà tiêu biểu là Phoiơbắc, ông đã quan niệm: “Vật chất
là tất cả những gì cảm giác con người có thể cảm nhận được”. Như vậy,
Phoiơbắc đã quan niệm được vật chất là cơ sở mọi cái đang tồn tại.
Kế thừa những tư tưởng về vật chất của các nhà duy vật trước đó.
C.Mác - Ph.Ăngghen tuy chưa đưa ra một định nghĩa về vật chất nhưng đã
đưa ra tư tưởng về vật chất đó là: Cần phải phân biệt vật chất với các vật thể
cụ thể tức không lẫn lộn, đồng nhất chúng nếu đồng nhất sẽ rơi vào chủ nghĩa
duy vật cổ đại; Phạm trù vật chất phải bao quát được những thuộc tính chung
của tất cả các sự vật, hiện tượng đang tồn tại cảm tính; Con người có thể nhận
thức được qua phản ánh của các giác quan; Tính vô tận, vô hạn và tính không
thể sáng tạo, không thể diệt vong của vật chất; Tính thống nhất vật chất của
thế giới; Đồng thời nêu lên các hình thức vận động của vật chất...
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khoa học tự nhiên có những bước phát
triển vĩ đại, xuất hiện những phát minh mới, nhờ đó mà con người có những
hiểu biết căn bản, sâu sắc hơn về nguyên tử. Năm 1895 Rơnghen phát hiện ra
tia X. Năm 1896 Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ. Với những hiện
tượng này quan niệm về sự bất biến của nguyên tử bị bác bỏ. Năm 1897
Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh điện tử là một thành phần cấu tạo
5
nên nguyên tử. Nhờ đó, lần đầu tiên trong khoa học, sự tồn tại thực của nguyên
tử đã được chứng minh bằng thực nghiệm, đồng thời cũng bác bỏ nguyên tử là
phần tử nhỏ nhất không thể phân chia được. Năm 1901 Kau fman chứng minh
khối lượng điện tử không bất biến mà thay đổi theo tốc độ vận động của điện
tử. Bác bỏ vật chất là khối lượng và khối lượng là bất biến. Năm 1905 và 1916
Thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối rộng của Anh xtanh ra đời đã chứng
minh không gian, thời gian, khối lượng của sự vật không bất biến mà phụ thuộc
vào vận tốc. Như vậy, các thành tựu khoa học tự nhiên đó đã bác bỏ một cách
trực diện quan niệm siêu hình về vật chất. Những quan niệm đương thời về giới
hạn tột cùng của vật chất - nguyên tử hoặc khối lượng - đều bị sụp đổ trước
khoa học. Vấn đề ở chỗ, trong nhận thức lúc đó, các hạt điện tích và trường
điện từ lại bị coi là cái gì đó phi vật chất. Lợi dụng sự phát triển đó của của
khoa học tự nhiên, chủ nghĩa duy tâm đã tấn công chủ nghĩa duy vật xuyên tạc
quan niệm về vật chất. Họ cho rằng vật chất đã tiêu tan, thế giới chỉ còn lại một
thực thể duy nhất là tinh thần ý thức, chủ nghĩa duy vật không còn chỗ đứng.
Các nhà khoa học dao động, một số chuyển sang lập trường duy tâm. Tình hình
đó đặt ra cho các nhà duy vật phải khái quát, giải thích về mặt triết học các
thành tựu đó của khoa học tự nhiên.
V.I.Lênin đã phân tích tình hình phức tạp đó và chỉ rõ: Những phát
minh có giá trị to lớn của Vật lý học cận đại không hề bác bỏ chủ nghĩa duy
vật mà thực chất khủng hoảng vật lý học là khủng hoảng về thế giới quan;
Nguyên nhân khủng hoảng là hạn chế bởi phương pháp siêu hình. Từ đó
V.I.Lênin khẳng định “Điện tử cũng vô cùng, vô tận như nguyên tử, tự nhiên
là vô tận”1; Đồng thời chỉ ra con đường thoát khỏi khủng hoảng là thay chủ
nghĩa duy vật siêu hình bằng chủ nghĩa duy vật biện chứng: "tinh thần duy vật
cơ bản của vật lý học, cũng như của tất cả các khoa học tự nhiên hiện đại, sẽ
chiến thắng tất cả mọi thứ khủng hoảng, nhưng với điều kiện tất yếu là chủ
nghĩa duy vật biện chứng phải thay thế chủ nghĩa duy vật siêu hình" 2. Điều
kiện thực hiện sự thay thế này, theo V.I.Lênin đến nay khoa học tự nhiên đã
có đủ điều kiện thực hiện cuộc thay thế đó: “Vật lý học đang nằm trên giường
1
2
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.323.
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr. 379.
6
đẻ và nó đang đẻ ra chủ nghĩa duy vật biện chứng” 1 nhưng nó đẻ ra tự phát và
ngập ngừng. Khái quát những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thời
tổng kết những thành tựu mới nhất của khoa học, V.I.Lênin đã đưa ra định
nghĩa vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách
quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng
ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”2.
Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan:
Trước hết, với tư cách là phạm trù triết học, vật chất là phạm trù rộng lớn vô
cùng vô tận, có tính trừu tượng hoá và khái quát hoá cao, dùng để chỉ vật chất
nói chung vô hạn, vô tận, không ai sinh ra và không tự mất đi. Còn các đối
tượng vật chất mà các khoa học cụ thể khác nghiên cứu đều có giới hạn, có
sinh ra và có mất đi hoặc chuyển hoá thành cái khác. Là phạm trù triết học
vừa có tính cụ thể vừa có tính trừu tượng, nó không đồng nhất với vật thể
nhưng không tách rời vật thể. Thông qua vật thể cụ thể mà con người nắm bắt
được, hiểu biết được về vật chất. Vì vậy, không thể quy vật chất nói chung về
vật thể, không thể đồng nhất vật chất nói chung với các dạng cụ thể như các
nhà duy vật cổ đại, cận đại đã làm. Đồng thời, trong nhận thức luận, đặc trưng
quan trọng nhất để phân biệt vật chất là thực tại khách quan. Khách quan là
cái độc lập với cảm giác con người. Theo V.I.Lênin, khách quan là “cái đang
tồn tại độc lập với loài người và cảm giác của con người" 1. Thực tại khách
quan là những sự vật, hiện tượng tồn tại thực độc lập với ý thức con người.
Trong đời sống xã hội, vật chất theo ý nghĩa là “tồn tại xã hội không phụ
thuộc vào ý thức xã hội của con người" 2. Thực tại khách quan là cái để phân
biệt vật chất và ý thức, là tiêu chuẩn để phân biệt đâu là vật chất đâu là ý thức
về mặt nhận thức luận. Vì cả vật chất và ý thức đều hiện thực cả, song vật
chất là hiện thực khách quan còn ý thức là hiện thực chủ quan.
Thực tại khách quan đem lại cho con người trong cảm giác. Nghĩa là
vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người bằng cách nào đó (trực tiếp hoặc
gián tiếp) tác động lên giác quan con người. Tức là: Thứ nhất: Khi tác động
1
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr. 388.
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.151.
1
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.374.
2
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.403.
2
7
vào các giác quan cho ta cảm giác mới là vật chất. Như vậy, vật chất tác động
vào các giác quan gây nên cảm giác, nhờ cảm giác mà ta nhận thức được nó.
Do đó, muốn có cảm giác trước hết phải có vật chất tác động. Vì vậy, vật chất
có trước cảm giác hay vật chất có trước ý thức. Thứ hai: Tất cả những gì mà
cảm giác đem lại cho chúng ta đều từ thực tại khách quan, những gì thông qua
cảm giác chúng ta có được đều phải có trong hiện thực khách quan và chính
chúng quy định nội dung cảm giác. Do đó mà vật chất quyết định ý thức. Như
vậy, về mặt nhận thức luận thì khái niệm vật chất không có nghĩa gì khác hơn
"thực tại khách quan tồn tại độc lập với ý thức con người và được ý thức con
người phản ánh"3. Với nội dung này Lênin đã giải quyết một cách khoa học
mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản của triết học. Điều cần lưu ý là không phải
mọi hiện tượng tượng vật chất tác động lên các giác quan con người đều được
con người nhận biết một cách trực tiếp. Trong tự nhiên có nhiều quá trình vật
chất mà con người chỉ nhận biết được thông qua các công cụ và phương pháp
đặc thù của khoa học.
Cảm giác, tư duy, ý thức chỉ là sự phản ánh của thế giới vật chất. Tức
vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại thần bí, vô hình mà nó tồn
tại hiện thực dưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể cảm tính mà cảm giác con
người nhận thức được thông qua các phương pháp cụ thể như: chép, chụp, phản
ánh... Nên vật chất vừa là nguồn gốc vừa là đối tượng của nhận thức, là cái con
người hướng tới nhận thức nó và con người có thể nhận thức được.
Như vậy, V.I.Lênin đã giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết
học, với nội dung này thì về nguyên tắc không có sự vật, hiện tượng nào mà
con người không nhận thức được, chỉ có những cái con người chưa nhận thức
được mà thôi. Nhưng sẽ biết, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ, chưa sâu sắc
đến sâu sắc, chưa hoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn.
Với những nội dung cơ bản như trên, phạm trù vật chất trong định
nghĩa của V.I.Lênin có nhiều ý nghĩa to lớn. Khi khẳng định vật chất là "thực
tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác", "tồn tại không lệ
thuộc vào cảm giác" thì chúng ta khẳng định trong nhận thức luận, vật chất là
tính thứ nhất, là nguồn gốc khách quan của cảm giác, ý thức. Khi khẳng định
3
. V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.322.
8
vt cht l cỏi "c cm giỏc chỳng ta chộp li, chp li, phn ỏnh..." tc l
V.I.Lờnin mun nhn mnh con ngi cú th nhn thc c th gii vt
cht. Nh vy, nh ngha vt cht ca V.I.Lờnin ó gii quyt ỳng n vn
c bn ca trit hc theo lp trng ch ngha duy vt bin chng; chng
ch ngha duy tõm, bỏc b thuyt khụng th bit, khc phc trit thiu sút
ca ch ngha duy vt trc Mỏc v vt cht.
nh ngha vt cht ca V.I.Lờnin cú ý ngha nh hng i vi cỏc khoa
hc c th trong vic tỡm kim cỏc dng hoc cỏc hỡnh thc mi ca vt cht khi
khng nh tớnh vụ cựng, vụ tn ca th gii vt cht "t nhiờn l vụ tn".
nh ngha vt cht ca V.I.Lờnin cũn to c s khoa hc cho quan
nim duy vt v xó hi, thng nht gia duy vt v t nhiờn v duy vt v xó
hi. T ú m lý gii mt cỏch duy vt cỏc hin tng ca i sng xó hi,
tỡm ra cỏc phng ỏn ti u hot ng xó hi t hiu qu cao.
i vi ngi ch huy cp phõn i cn nhn thc rừ lnh vc quõn s,
khụng gian v thi gian ca mt trn chin u l lnh vc c thự nhng
cng l mt b phn ca i sng xó hi. Do ú, nhn thc nú nht thit phi
tuõn theo quan im duy vt v xó hi. ng thi khng nh con ngi vn
cú th nhn thc v ci to c nú theo quy lut khỏch quan ginh thng
li trong tng trn ỏnh hoc loi b chin tranh khi i sng xó hi.
1.2. Cỏc hỡnh thc tn ti ca vt cht
1.2.1. Vn ng ca vt cht
Theo quan im ca ch ngha duy vt bin chng, vn ng khụng ch
l s thay i v trớ trong khụng gian (Hỡnh thc vn ng thp, gin n ca
vt cht) m theo ngha chung nht, Vn ng l mi s bin i núi chung.
Ph.ngghen vit: Vn ng hiu theo ngha chung nht... bao gm tt c mi
s thay i v mi quỏ trỡnh din ra trong v tr k c s thay i v trớ n
gin cho n t duy1.
Vi cỏch hiu vn ng nh vy thỡ vn ng cú nhng c trng sau:
Th nht, vn ng "l phng thc tn ti ca vt cht". Tc l, vt
cht tn ti thụng qua vn ng, trong vn ng v thụng qua vn ng m
cỏc dng vt cht biu hin, bc l s tn ti ca mỡnh. Khụng th cú vt cht
1
. C.Maực vaứ Ph.Aấngghen: Toaứn taọp, Nxb. CTQG, H. 1994, taọp 20, tr.519.
9
khơng có vận động và khơng thể có sự vận động nào lại khơng phải là vận
động của vật chất. Chính thơng qua vận động mà con người nhận thức được
vật chất.
Thứ hai, vận động "là thuộc tính cố hữu của vật chất". Vì, vật chất tồn
tại khách quan vốn có mà vận động là vận động của vật chất nên vận động
cũng vốn có. Đồng thời vận động là tự thân vận động của vật chất, được tạo
nên từ sự tác động lẫn nhau của chính các thành tố nội tại trong cấu trúc vật
chất. V.I.Lênin viết: “Khơng phải thí dụ, khơng phải dài dòng, bản thân sự vật
tự nó”2.
Thứ ba, vận động là vĩnh viễn, bất diệt, được bảo tồn cả về số lượng
và chất lượng. Nếu một hình thức vận động nào đó của sự vật mất đi thì tất
yếu nảy sinh một hình thức vận động khác thay thế nó. Các hình thức vận
động chuyển hố lẫn nhau, còn vận động của vật chất thì vĩnh viễn tồn tại
cùng với sự tồn tại vĩnh viễn của vật chất. Kết luận này đã được khẳng định
bởi định luật bảo tồn chuyển hố năng lượng trong vật lý
Dựa trên những thành tựu khoa học của thời đại mình, Ph.Ăngghen đã
phân chia vận động thành 5 hình thức cơ bản:
Vận động cơ học: Chuyển dịch vị trí các vật thể trong khơng gian.
Vận động vật lý: Vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động
của điện tử, các q trình nhiệt điện...
Vận động hố học: Sự hố hợp phân giải các chất, vận động của
ngun tử.
Vận động sinh học: Sự trao đổi chất giữa cơ thể với mơi trường.
Vận động xã hội: Mọi biến đổi có thể có của con người xã hội.
Các hình thức vận động có mối quan hệ biện chứng với nhau, mỗi hình
thức vận động gắn liền kết cấu vật chất đặc thù, các hình thức vận động cao
nảy sinh trên hình thức vận động thấp, giữa cao thấp có hình thức trung gian
và sự chuyển hình thức này sang hình thức khác có bước nhảy vọt.
Khi khẳng định thế giới vật chất tồn tại trong sự vận động vĩnh viễn
của nó, triết học Mác - Lênin khơng loại trừ mà mà còn bao hàm trong nó
hiện tượng đứng im tương đối, khơng có hiện tượng đứng im tương đối thì
2
. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 29, tr.235.
10
không có sự vật nào tồn tại được "trong vận động của các thiên thể, có vận
động trong cân bằng và cân bằng trong vận động (một cách tương đối).
Nhưng bất kỳ vận động tương đối riêng biệt nào.... cũng đều có xu hướng
khôi phục lại sự đứng im tương đối, sự cân bằng. Khả năng đứng im tương
đối của các vật thể, khả năng cân bằng tạm thời là điều kiện chủ yếu của sự
phân hoá của vật chất"1. Đứng im tương đối là một trạng thái ổn định tương
đối về chất hay cân bằng tạm thời của sự vật, hiện tượng trong vận động ở
một thời điểm và trong một quan hệ xác định.
Đứng im tương đối có những đặc điểm là: Thứ nhất, đứng im tương đối
chỉ xảy ra trong một mối quan hệ xác định chứ không phải trong mọi mối
quan hệ cùng một lúc. Thứ hai, đứng im tương đối chỉ xảy ra trong một hình
thái vận động, chứ không phải xảy ra trong mọi hình thức vận động cùng một
lúc. Thứ ba, đứng im tương đối là trạng thái cụ thể của vận động, vận động
trong thăng bằng, trong sự ổn định tương đối. Thứ tư, vận động cá biệt có xu
hướng hình thành sự vật, vận động nói chung làm cho các sự vật không ngừng
biến đổi.
1.2.2. Không gian và thời gian
Trên cơ sở các thành tựu của khoa học và thực tiễn, chủ nghĩa duy vật
biện chứng khẳng định: Bất kỳ một khách thể vật chất nào cũng chiếm một vị
trí nhất định, một kích thước nhất định, ở vào một khung cảnh nhất định. Hình
thức tồn tại như vậy của vật thể gọi là không gian. V.I.Lênin đã nhận xét
rằng: "trong thế giới không có gì ngoài vật chất đang vận động và vật chất
đang vận động không thể vận động ở đâu ngoài không gian và thời gian" 1. Từ
đó ta có thể khái quát: Không gian là phạm trù triết học chỉ vị trí kết cấu
quảng tính của sự vật.
Mặt khác, sự tồn tại của các khách thể vật chất còn được biểu hiện ở
mức độ lâu dài hay mau chóng. Các hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời
gian. Như vậy,thời gian là chỉ quá trình diễn biến và sự kế tiếp nhau của các
sự vật.
1
1
. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 1994, tập 20, tr.741.
. V.I.. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tập 18, tr.209-210.
11
Không gian và thời gian gắn bó mật thiết với nhau và gắn liền với vật
chất, là phương thức tồn tại của vật chất. Đồng thời không gian và thời gian
có những tính chất sau:
Thứ nhất, là tính khách quan, bởi vì không gian và thời gian là thuộc
tính của vật chất mà vật chất tồn tại khách quan, do đó không gian và thời
gian cũng tồn tại khách quan
Thứ hai, tính vĩnh cửu, vô tận, nghĩa là không gian, thời gian không có
tận cùng về một phía nào.
Thứ ba, không gian ba chiều (dài, rộng, cao), thời gian chỉ có một
chiều (quá khứ đến tương lai).
1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng bản chất thế giới là "ý niệm", "ý niệm
tuyệt đối", hay ở ý thức con người. Cho nên, theo họ, thế giới thống nhất được
là do người ta nghĩ về nó như một cái thống nhất hoặc thống nhất ở lực
lượng siêu nhiên. Trái lại, chủ nghĩa duy vật trước Mác thừa nhận tính thống
nhất vật chất của thế giới nhưng họ có những luận giải hết sức khác nhau:
Duy vật cổ đại, phục hưng luận chứng tính thống nhất bằng cách quy giản nó
về một bản nguyên cụ thể, cảm tính.
Bằng sự phát triển lâu dài của bản thân triết học và sự phát triển của
khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Bản chất của thế giới là
vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất. Ph.Ăngghen viết: "Tính thống
nhất thực sự của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được
chứng minh không phải bằng vài ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, và
bằng một sự phát triển lâu dài và khó khăn của triết học và khoa học tự
nhiên"1. Biểu hiện cụ thể:
Thứ nhất, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật
chất. Thế giới vật chất tồn tại khách quan, có trước và độc lập với ý thức của
con người.
Thứ hai, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều có mối liên hệ thống
nhất với nhau, chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là những kết cấu
1
. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 1994, tập 20, tr.67.
12
của vật chất hoặc có nguồn gốc từ vật chất, do vật chất sinh ra, cùng chịu sự
chi phối của những quy luật khách quan phổ biến của thế giới vật chất.
Thứ ba, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn vô hạn và vô tận, không ai
sinh ra, không bị mất đi. Trong thế giới không còn gì khác ngoài những quá
trình vật chất đang biến đổi, chuyển hoá lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân
kết quả của nhau.
Những phát minh của khoa học tự nhiên như thuyết tế bào, định luật
bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá... có ý nghĩa to lớn, phá
bỏ ranh giới giữa quả đất với các thiên thể, thực vật với động vật, giữa giới vô
sinh và giới hữu sinh. Khoa học hiện đại tiếp tục chứng minh cho nguyên lý
về tính thống nhất vật chất của thế giới bằng những thành tựu mới trong vật
lý, trong hoá học, trong khoa học vũ trụ cũng như các ngành khoa học tự
nhiên khác. Những thành tựu đó đã làm sâu sắc thêm nhận thức của con người
về thành phần, kết cấu của thế giới vật chất, về những đặc điểm hoạt động và
phát triển của nó trên các trình độ tổ chức khác nhau của vật chất.
Trong giới tự nhiên vô sinh có hai dạng vật chất cơ bản là chất và
trường. Chất là cái gián đoạn, được tạo ra từ các hạt, có khối lượng. Còn
trường là môi trường vật chất liên tục, không có khối lượng tĩnh và chính
trường làm cho các hạt liên kết với nhau nhờ đó mà tồn tại được. Ranh giới
giữa chất và trường chỉ là tương đối, có thể chuyển hoá cho nhau. Trong giới
tự nhiên hữu sinh có các trình độ tổ chức vật chất là sinh quyển, các ADN và
ARN và chất đản bạch. Sự phát triển của sinh học hiện đại đã tìm ra được
nhiều mắt khâu trung gian chuyển hoá giữa các trình độ tổ chức vật chất, cho
phép nối liền vật chất vô cơ, hữu cơ và sự sống đó là: Vật chất sống bắt nguồn
từ vật chất không sống. Thực vật, động vật, cơ thể con người có sự giống
nhau về thành phần vô cơ, cấu trúc và phân hoá tế bào, cũng như cơ chế di
truyền sự sống...
Xã hội loài người là cấp độ cao nhất của cấu tạo vật chất, là cấp độ đặc
biệt của tổ chức vật chất. Xã hội là một bộ phận của thế giới vật chất, có nền
tảng tự nhiên, có kết cấu và quy luật vận động khách quan không phụ thuộc
vào ý thức con người. Vật chất dưới dạng xã hội là kết quả hoạt động của con
13
người. Quan niệm đó đã tạo cơ sở khoa học để nhận thức đúng đắn các hiện
tượng xã hội, cũng như nghiên cứu quy luật khách quan của xã hội.
Như vậy, quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về vật chất và các hình
thức tồn tại của vật chất khẳng định: Chỉ có một thế giới duy nhất và thống
nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý
thức con người, nhưng luôn được ý thức con người phản ánh. Đây chính là cơ
sở để chúng ta xây dựng lập trường nhất nguyên duy vật, chống chủ nghĩa
duy tâm, khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác.
2. NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA Ý THỨC
2.1. Nguồn gốc của ý thức
2.1.1. Nguồn gốc tự nhiên
Dựa trên cơ sở của những thành tựu khoa học tự nhiên nhất là sinh lý
học thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có
nguồn gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà
duy tâm đã khẳng định mà ý thức là thuộc tính riêng có của một dạng vật
chất có tổ chức cao nhất là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất
của ý thức, ý thức là chức năng của bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn
thương thì hoạt động của ý thức cũng không bình thường.
Thuyết tiến hoá của Đácuyn cũng như khoa học sinh học đã chứng
minh, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát triển từ thấp đến cao,
từ đơn giản đến phức tạp của vật chất. Đồng thời xác định bộ óc người là tổ
chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi và phức tạp (14 - 15 tỷ tế bào). Các tế
bào này liên hệ với nhau và liên hệ với các giác quan tạo thành vô số những
mối liên hệ thu nhận và xử lý thông tin trong quan hệ với thế giới bên ngoài
qua các phản xạ có điều kiện và không điều kiện. Đây là quá trình sinh lý thần
kinh mang nội dung ý thức.
Nhưng tại sao bộ óc con người lại có thể sinh ra được ý thức? Để hiểu
rõ điều này ta phải nghiên cứu mối liên hệ giữa bộ óc người với thế giới
khách quan, thông qua học thuyết phản ánh của V.I.Lênin, chính mối liên hệ
này hình thành nên quá trình phản ánh thế giới vật chất vào óc con người.
Học thuyết phản ánh khẳng định: Phản ánh là thuộc tính phổ biến của
mọi dạng vật chất, là sự tái tạo những đặc điểm của hệ thống vật chất này ở hệ
14
thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng. Kết quả của
sự phản ánh phụ thuộc cả hai vật (vật tác động và vật nhận tác động) và trong
quá trình ấy, vật nhận tác động mang thông tin của vật tác động.
Vật chất vô sinh là phản ánh vật lý, hoá học, đặc trưng của hình thức
phản ánh này là thụ động chưa có sự lựa chọn. Đối với thực vật là phản ánh
sinh học, đặc trưng của nó là mang tính kích thích và có sự lựa chọn trước môi
trường sống. Động vật chưa có hệ thần kinh, hình thức phản ánh là tính cảm
ứng, tính nhạy cảm đối với sự thay đổi của môi trường. Động vật có hệ thần
kinh thì hình thức phản ánh là thông qua các phản xạ có và không có điều kiện.
Động vật bậc cao có hệ thần kinh trung ương xuất hiện hình thức phản ánh tâm
lý. Đây chưa phải là ý thức mà là phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu
sinh lý của cơ thể và quy luật sinh học chi phối. Đến con người thì hình thức là
phản ánh ý thức. Đây là hình thức cao nhất của của sự phản ánh thế giới hiện
thực. Như vậy, ý thức nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất
cùng với sự xuất hiện của con người, ý thức nằm trong con người và không thể
tách rời con người, đồng thời bắt nguồn từ thuộc tính phản ánh phát triển thành.
Tóm lại, bộ não người (cơ quan phản ánh thế giới khách quan) và sự
tác động của thế giới khách quan vào não người thông qua các giác quan là
nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
2.1.2. Nguồn gốc xã hội
Để có ý thức thì nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần rất quan trọng,
song chưa đủ. Điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý thức chính là nguồn
gốc xã hội. Tức là ý thức ra đời cùng với quá trình hình thành bộ óc người
thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội.
Lao động theo C.Mác là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên
tạo ra sản phẩm phục vụ cho nhu cầu con người và xã hội. Lao động là điều
kiện đầu tiên, chủ yếu để con người tồn tại. Bởi vì, chính lao động cung cấp
cho con người những phương tiện cần thiết để sống cũng như sáng tạo ra cả
bản thân con người; nhờ lao động mà con người tách khỏi giới động vật; đồng
thời lao động còn làm cho tự nhiên bộc lộ các thuộc tính để con người nhận
thức. Sự khác nhau giữa con người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng
các sản phẩm sẵn có trong giới tự nhiên, còn con người nhờ lao động mà thay
15
đổi giới tự nhiên, bắt nó phục vụ tốt hơn nhu cầu của mình. Ph.Ăngghen viết:
“Điểm khác nhau căn bản giữa xã hội loài người và xã hội loài vật là ở chỗ:
loài vật may lắm chỉ hái lượm, trong khi con người lại sản xuất” 1. Chính
thông qua lao động cải tạo thế giới khách quan mà con người mới phản ánh
được thế giới khách quan, mới có ý thức.
Ý thức hình thành ngoài quá trình thu nhận còn là kết quả hoạt động
chủ động của con người. Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới
khách quan và các hiện tượng đó tác động vào bộ óc người, hình thành dần tri
thức về tự nhiên và xã hội. Nếu không có lao động thì tự nhiên vẫn bí ẩn, xa
lạ với con người. Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải
tạo thế giới khách quan của con người. Vì thế, có thể khái quát rằng lao động
tạo ra ý thức tư tưởng hay nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản
ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người thông qua lao động.
Tuy nhiên, lao động ngay từ đầu đã mang tính tập thể xã hội. Với tính
cách là hoạt động có tính tập thể xã hội mà phát sinh nhu cầu trao đổi kinh
nghiệm và trao đổi tư tưởng cho nhau. Từ đó mà ngôn ngữ xuất hiện.
Ngôn ngữ chính là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong não
người bằng những tín hiệu, dấu hiệu là phương tiện mã hoá và truyền đạt
thông tin. Thể hiện: Thứ nhất, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang
nội dung ý thức, không có ngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại. Thứ hai,
ngôn ngữ vừa là phương tiện để con người giao tiếp trong xã hội dồng thời là
công cụ của tư duy để khái quát hóa, trừu tượng hoá hiện thực.
Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin,
tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ý thức không phải là hiện tượng cá
nhân mà là hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi thì ý thức
không thể hình thành và phát triển được.
Tóm lại, ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc
con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. Ý thức là sản
phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
2.2. Bản chất của ý thức
1
. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb. CTQG, H. 1994, taäp 34, tr.241.
16
Trong lch s trit hc, ch ngha duy tõm xem ý thc l mt thc th
c lp, l thc ti duy nht, t ú m cng iu tớnh nng ng ca nú, coi
ý thc sinh ra vt cht ch khụng phi l s phn ỏnh ca ý thc. Cỏc nh trit
hc duy vt trc C.Mỏc u tha nhn vt cht tn ti khỏch quan v coi ý
thc l s phn ỏnh ca vt cht. Tuy nhiờn, do nh hng bi quan nim siờu
hỡnh - mỏy múc nờn h coi ý thc phn ỏnh s vt mt cỏch th ng, gin
n, mỏy múc khụng thy c tớnh nng ng, sỏng to ca ý thc.
Da trờn lý lun phn ỏnh ch ngha duy vt bin chng khng nh: ý
thc l s phn ỏnh hin thc khỏch quan vo trong b úc con ngi mt
cỏch nng ng sỏng to. L hỡnh nh ch quan ca th gii khỏch quan.
Nh vy, hiu bn cht ca ý thc thỡ:
Th nht, tha nhn c vt cht v ý thc u hin thc c ngha l u
tn ti. Nhng gia chỳng cú s khỏc nhau mang tớnh i lp. Vt cht l cỏi
c phn ỏnh, l hin thc khỏch quan, l cỏi tn ti c lp vi ý thc con
ngi. Cũn ý thc l cỏi phn ỏnh, s phn ỏnh, l hin thc ch quan, l hỡnh
nh tinh thn ca hin thc khỏch quan. Vỡ vy, khụng th ng nht hoc
tỏch ri vt cht v ý thc. Nu coi ý thc l hin tng vt cht thỡ ó ln ln
vt cht v ý thc v lm mt i s i lp gia ch ngha duy vt v ch
ngha duy tõm.
Th hai, ý thc l hỡnh nh ch quan ca th gii khỏch quan. Tc
khụng phi l hỡnh nh vt lý hay tõm lý ng vt v s vt m ý thc l s
phn ỏnh nng ng, sỏng to hin thc khỏch quan theo nhu cu ca thc
tin xó hi. Theo C.Mỏc thỡ: ý thc chng qua ch l vt cht c em
chuyn vo trong u úc con ngi v c ci bin i trong ú, núi cỏch
khỏc l hỡnh nh ch quan ca th gii khỏch quan1.
Th ba, tớnh nng, ng sỏng to ca ý thc (õy l c im cn bn
phõn bit trỡnh phn ỏnh ý thc v tõm lý ng vt).
S vt khỏc thỡ cú s phn ỏnh khỏc, song ph thuc vo nng lc ch
quan ca ch th vi nhng tõm lý, tri thc, kinh nghim th cht (trong iu
kin khỏc nhau).
1
. C.Maực vaứ Ph.Aấngghen: Toaứn taọp, Nxb. CTQG, H. 1993, taọp 23, tr.35.
17
Trờn c s nhng cỏi ó cú, ý thc cú th to ra tri thc mi v s vt,
cú th tng tng ra cỏi khụng cú trong thc t. ng thi cú th tiờn oỏn,
d bỏo tng lai, t ú m cú nhng kh nng c bit nh tiờn tri, thụi miờn,
ngoi cm Quỏ trỡnh phn ỏnh con ngi ch to ra cụng c ni di cỏc
giỏc quan h tr t duy, giỳp t duy hiu sõu sc hn bn cht ca th gii.
Tuy nhiờn, tớnh sỏng to ca ý thc l sỏng to ca s phn ỏnh, theo
quy lut ca s phn ỏnh, kt qu bao gi cng l khỏch th tinh thn. í thc
khụng th ra vt cht nh mt s nh trit hc trc Mỏc ó ngh.
Nh vy, ý thc khụng phi l hin tng t nhiờn thun tuý m l mt
hin tng xó hi, bt ngun t thc tin lch s xó hi, phn ỏnh quan h xó
hi khỏch quan do ú ý thc mang bn cht xó hi. C.Mỏc v Ph.gghen ó
khng nh: Ngay t u ý thc ó l mt sn phm xó hi, v vn l nh
vy chng no con ngi cũn tn ti2.
2
. C.Maực vaứ Ph.Aấngghen: Toaứn taọp, Nxb. CTQG, H. 1993, taọp 3, tr.43.
18
2.3. Kết cấu của ý thức
Ý thức là một hiện tượng tâm lý xã hội có kết cấu rất phức tạp. Tuỳ
theo cách tiếp cận mà có nhiều cách phân chia khác nhau cụ thể:
Thứ nhất, tiếp cận theo chiều ngang gồm có các yếu tố như: tri thức,
tình cảm, niềm tin, lý trí, ý chí…
Tri thức là kết quả của quá trình nhận thức của con người về thế giới
hiện thực, làm tái tạo trong tư tưởng những thuộc tính, những quy luật của
thế giới ấy và được diễn đạt dưới hình thức ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký
hiệu khác.
Tri thức có nhiều loại khác nhau như: tri thức về tự nhiên, tri thức về xã
hội và tri thức về con người. Đồng thời tri thức cũng có nhiều cấp độ là: tri
thức thông thường, tri thức khoa học. Đây chính là yếu tố cơ bản nhất của ý
thức.
Tình cảm là sự cảm động của con người trong quan hệ của mình với
thực tại xung quanh và với bản thân mình. Đây là hình thái đặc biệt của sự
phản ánh thực tại, nó phản ánh quan hệ con người với con người cũng như với
thế giới khách quan.
Thứ hai, tiếp cận theo chiều dọc bao gồm các yếu tố: tự ý thức, tiềm
thức và vô thức.
Tự ý thức chính là ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý
thức về thế giới bên ngoài. Nhờ đó mà con người tự nhận thức về bản thân
mình như một thực thể hoạt động có cảm giác, có tư duy, có các hành vi đạo
đức và có vị trí trong xã hội. Tự ý thức còn là tự ý thức của cả xã hội, của giai
cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình cũng như về lý tưởng, lợi
ích của xã hội, giai cấp hay tầng lớp đó
Tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã có từ trước nhưng đã gần
như trở thành bản năng, thành kỹ năng trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là
ý thức dưới dạng tiềm tàng. Như vậy, tiềm thức có chủ thể chủ động gây ra
các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể không cần kiểm soát chúng một
cách trực tiếp. Do đó, tiềm thức có vai trò quan trọng cả trong hoạt động hàng
ngày cũng như tư duy khoa học.
19
Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ,
hành vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm,
chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí. Vô
thức biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau như: bản năng ham muốn,
giấc mơ, bị thôi miên, mặc cảm, sự lỡ lời, nói nhịn… Mỗi hiện tượng ấy có
vai trò, chức năng riêng, song tất cả đều làm giải toả những ức chế trong hoạt
động thần kinh vượt ngưỡng nhất là những ham muốn bản năng không được
phép bộc lộ ra và hiện thực trong quy tắc của đời sống cộng đồng. Do đó, vô
thức có vai trò, tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt động của con người
như: tránh được tình trạng căng thẳng không cần thiết; thực hiện các chuẩn
mực của con người đặt ra một cách tự nhiên…
3. MỐI QUAN HỆ VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
Chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, cho rằng ý thức có
trước quyết định vật chất. Thế giới vật chất là hình ảnh, bản sao của ý thức
tinh thần phụ thuộc vào ý thức tinh thần. Họ tách rời vật chất và ý thức và
khẳng định bản chất thế giới là ý thức.
Đối lập với quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật siêu hình lại tuyệt đối
hoá vai trò của vật chất, cho vật chất có trước quyết định ý thức, phủ nhận
tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại của ý thức. Do đó, trong
hoạt động thực tiễn họ bị động, phụ thuộc, bó tay trước hiện thực khách quan.
Tóm lại, trước Mác các nhà triết học tuyệt đối hoá vật chất hoặc ý thức, mà
chưa thấy được mối quan hệ vật chất và ý thức
Trên cơ sở phê phán chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình,
kế thừa thành tựu triết học và khoa học tự nhiên trong lịch sử, chủ nghĩa duy
vật biện chứng khẳng định: Vật chất và ý thức là hai phạm trù chung nhất,
khái quát nhất có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau, trong
đó vật chất có trước ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức,song ý thức có
vai trò to lớn tác động trở lại đối với vật chất.
Trước hết, khẳng định vật chất quyết định ý thức, bởi ngay từ chính
phạm trù vật chất, từ nguồn gốc ý thức đã khẳng định điều đó. Đồng thời, từ
sự phát triển của Khoa học tự nhiên và thực tiễn lịch sử xã hội chứng minh
thế giới vật chất có từ rất lâu đời, còn ý thức chỉ mới xuất hiện khi có sự xuất
20
hiện con người. Vật chất quyết định nguồn gốc ra đời của ý thức, ý thức ra
đời là do não người và hiện thực khách quan tác động vào óc người thông qua
lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. Quyết định nội dung của ý thức,
tức là nội dung ý thức thế nào là do hiện thực khách quan quy định. Bởi lẽ vật
chất tồn tại khách quan khi tác động vào các giác quan sinh ra cảm giác về nó
và ý thức được về nó như thế nào (hình dạng, kích thước và bề ngoài sự
vật…). Đồng thời vật chất còn quyết định sự biến đổi của ý thức, nghĩa là khi
vật chất vận động biến đổi thì sự phản ánh (ý thức) cũng thay đổi theo. Cụ thể
là khi các sự vật, hiện tượng trong thế giới thay đổi thì sự phản ánh của ý thức
về các sự vật, hiện tượng đó cũng thay đổi theo.
Thứ hai, ý thức do vật chất sinh ra và quyết định song khi ra đời ý thức
có tính độc lập tương đối của nó. Cho nên, nó tác động to lớn trở lại với vật
chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người. Bởi vì, từ bản chất của ý
thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh năng động,
sáng tạo hiện thực khách quan vào trong não người. Đồng thời, từ vai trò con
người trong hoạt động thực tiễn là cải tạo thế giới, nên con người phải chủ
động tác động làm cho hiện thực khách quan bộc lộ các thuộc tính qua đó mà
nhận thức và cải tạo đáp ứng tốt hơn nhu cầu con người.
Ý thức chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng cho hoạt động của con người.
Tức là, trong hoạt động thực tiễn ý thức có vai trò trang bị cho con người về
bản chất, quy luật khách quan của đối tượng, trên cơ sở đó con người xác định
đúng đắn mục tiêu, phương hướng hoạt động và đề ra được biện pháp thực hiện
chính xác cho hoạt động. Từ đó bằng nỗ lực và ý chí của mình mà thực hiện tốt
mục tiêu đã xác định. Như vậy, năng lực phản ánh của ý thức càng đúng đắn và
sâu sắc bao nhiêu thì mục tiêu, phương hướng càng chính xác, biện pháp càng
hữu hiệu bấy nhiêu. Đồng thời, ý thức còn thúc đẩy tính tích cực, chủ động của
con người đi sâu nhận thức bản chất, quy luật của các sự vật, hiện tượng trong
thế giới khách quan. Tức là, trong hoạt động thực tiễn, con người không thụ
động ngồi chờ mà chủ động tác động, bắt tự nhiên bộc lộ các thuộc tính qua đó
mà nhận thức, nắm bắt bản chất của sự vật, hiện tượng.
Ý thức tác động trở lại vật chất theo hai chiều hướng: Nếu phản ánh
đúng hiện thực khách quan thì sẽ xác định mục tiêu, phương hướng và biện
21
phỏp chớnh xỏc, lm cho hot ng ca con ngi cú hiu qu cao. Qua ú,
m thỳc y hin thc khỏch quan phỏt trin. Ngc li, nu phn ỏnh khụng
ỳng thỡ cú th lm cho con ngi hot ng khụng hiu qu thm chớ hot
ng sai, t ú m kỡm hóm s phỏt trin ca hin thc khỏch quan.
S tỏc ng tr li ca ý thc i vi vt cht phi thụng qua hot ng
thc tin ca con ngi bi vỡ: Bn thõn ý thc t nú khụng trc tip lm thay
i c gỡ trong hin thc. í thc mun tỏc ng tr li i sng hin thc
phi bng lc lng vt cht, ngha l phi c con ngi thc hin trong
thc tin. S tỏc ng y bt u t t khõu con ngi nhn thc cho ỳng quy
lut khỏch quan, ng thi phi cú ý chớ, phng phỏp t chc hnh ng.
C.Mỏc vit: "Lc lng vt cht cú th b ỏnh bng lc lng vt cht"1.
Nh vy, ý thc do vt cht sinh ra v quyt nh song khi ra i nú cú
tớnh c lp tng i v tỏc ng to ln tr li vt cht thụng qua hot ng
thc tin ca con ngi.
T mi quan h vt cht v ý thc rỳt ra nguyờn tc phng phỏp lun
ch o trong nhn thc v ci to hin thc: Tụn trng khỏch quan, phỏt huy
tớnh nng ng ch quan ca con ngi trong nhn thc v ci to hin thc.
Th nht, tụn trng khỏch quan l tụn trng tớnh khỏch quan ca vt
cht, ca quy lut t nhiờn v xó hi. Do vy, ũi hi con ngi trong nhn
thc v hot ng thc tin phi xut phỏt t thc t khỏch quan, ly nú
lm cn c cho mi hot ng. Khụng c ly ý mun ch quan ca mỡnh
lm chớnh sỏch, khụng c ly tỡnh cm lm im xut phỏt cho hot
ng. Nu ch ly ý mun ch quan, ly ý chớ ỏp t cho thc t... thỡ s
mc bnh ch quan duy ý chớ. ng thi, hot ng cú hiu qu cao thỡ
phi nhn thc v tỏc ng vo th gii ỳng nh nú cú, khụng c da
vo ý mun ch quan hay o tng. Tc l, xut phỏt t khỏch quan, ly
hin thc khỏch quan lm c s, tụn trng iu kin, kh nng, yờu cu v
quy lut khỏch quan.
Vn dng sỏng to nguyờn tc ny cựng vi kinh nghim thnh cụng v
tht bi trong quỏ trỡnh lónh o cỏch mng, t ú cng lnh xõy dng t
nc trong thi k quỏ lờn ch ngha xó hi ng ta ó rỳt ra bi hc quan
1
. C.Maực vaứ Ph.Aấngghen: Toaứn taọp, Nxb. CTQG, H. 1995, taọp 1, tr.580.
22
trọng là: “mọi đường lối chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tơn
trọng quy luật khách quan”1. Tiếp tục tư tưởng đó Đại hội X đã đánh giá
khách quan tình hình quốc tế, khu vực và trong nước: “Thiên tai dịch bệnh
xảy ra nhiều nơi; tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp, nhất là sau sự
kiện ngày 11-9-2001 ở Mỹ; kinh tế thế giới và khu vực đan xen những biểu
hiện suy thối, phục hồi và phát triển, sự cạnh tranh và chính sách bảo hộ bất
bình đẳng của một số nước…”2. Từ đó mà đề ra chủ trương phát triển: "Huy
động ngày càng cao mọi nguồn lực cả trong nước và ngồi nước, đặc biệt là
nguồn lực của dân vào cơng cuộc phát triển đất nước"3.
Đối với hoạt động qn sự, đòi hỏi các nhà hoạt động lý luận và thực
tiễn qn sự khi phân tích nguồn gốc chiến tranh phải xuất phát từ chính
những điều kiện của tồn tại xã hội mà chủ yếu là từ sự đối kháng trong
phương thức sản xuất; đồng thời phải thấy được sự phụ thuộc của phương
thức tác chiến cũng như khoa học, nghệ thuật qn sự vào chế độ kinh tế, yếu
tố con người cũng như vũ khí trang bị... Việc xác định, đánh giá kẻ thù phải
dựa trên sự phân tích khoa học, khách quan xu thế vận động của các nhân tố
lịch sử, kinh tế, chính trị, các nguồn thơng tin tồn diện và phải được bổ sung
thường xun theo sự biến đổi của tình hình. Chống chủ quan, nóng vội, duy
ý chí trong đánh giá kẻ thù.
Với người chỉ huy cấp phân đội khi xác định kế hoạch chiến đấu,
khơng gian, thời gian của một trận chiến đấu cũng khơng thể dựa vào ý muốn
chủ quan, kinh nghiệm của cá nhân mình mà phải dựa vào tri thức khoa học
qn sự; tương quan so sánh lực lượng địch ta; thực trạng mạnh yếu của
chúng thơng qua nghiên cứu địch, trinh sát thực địa; các điều kiện địa hình,
thời tiết, dân cư... Lúc đó mới xây dựng được kế hoạch chiến đấu phù hợp,
xác định đúng khơng gian, thời gian của một trận chiến đấu qua đó mới có
khả năng giành được thắng lợi.
Thứ hai, ý thức có tác động trở lại vật chất thơng qua hoạt động thực
tiễn. Nên trong hoạt động thực tiễn phải phát huy tính năng động chủ quan
của con người, tức phát huy vai trò tích cực của ý thức, của nhân tố con
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lónh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH, Nxb. CTQG, H.2001, tr.5.
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.55.
3
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.162.
1
2
23
người, khơng ngồi chờ quy luật. Đồng thời, qua đó cũng khẳng định: Nhận
thức của con người về thế giới là tuyệt đối, vơ hạn còn đối với mỗi con người
cụ thể, trong những điều kiện cụ thể thì lại tương đối, có giới hạn và khơng có
đối tượng nào nhận thức một lần là xong. Bác bỏ thuyết bất khả tri, thái độ
hồi nghi tính khách quan của tri thức con người; xây dựng niềm tin có cơ sở
khoa học vào khả năng nhận thức và cải tạo hiện thực của con người
Từ đó, Đại hội X đã đề ra chủ trương coi trọng và phát huy nhân tố con
người cụ thể: “Đổi mới phải vì lợi ích nhân dân, phát huy vai trò chủ động sáng
tạo của nhân dân”1. “Phải gắn tăng trưởng với phát triển văn hố, phát triển tồn
diện con người”2. “Đổi mới tư duy giáo dục một cách nhất qn, từ mục tiêu,
chương trình, nội dung phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức” 3 Đồng
thời, để phát triển đất nước Đại hội X xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo sức
chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh tồn dân tộc, đẩy mạnh tồn diện cơng
cuộc đổi mới sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” nhằm thực hiện
mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội cơng bằng, dân chủ, văn minh"4.
Đối với lĩnh vực hoạt động qn sự, chúng ta phải khẳng định chiến
tranh khơng phải là những biến cố lộn xộn, ngẫu nhiên, thần bí, định mệnh mà
nó có lơgíc nội tại, có quy luật mà nếu phát huy cao độ nhân tố con người thì
có thể nhận thức và hành động thắng lợi. Từ đó mà khẳng định, trong thời đại
ngày nay có thể loại bỏ được chiến tranh khỏi đời sống con người. Tuy nhiên,
chiến tranh hiện đại do tính tất yếu của nó mà trở nên ác liệt hơn, phương tiện
phức tạp và tinh xảo hơn, được che đậy kín hơn.
Đối với người chỉ huy cấp phân đội khi đã có kế hoạch cơng tác, kế
hoạch chiến đấu đầy đủ chính xác dựa trên việc nghiên cứu tình hình khách
quan, nhưng muốn nó trở thành hiện thực, đạt hiệu quả cao thì nhất thiết phải
phát huy trí tuệ của mình, cũng như trí tuệ tập thể, để đạt được mục đích đã xác
định. Muốn làm được điều đó nhất thiết phải dựa chắc vào phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, thường xun học tập nâng cao trình độ mọi mặt,
bảo đảm đáp ứng kịp thời những u cầu cao của hoạt động thực tiễn qn sự.
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr. 71.
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006,
tr.178.
3
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr.206.
4
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H.2006, tr. 368
1
2
24
KẾT LUẬN
Phạm trù vật chất, ý thức cũng như mối quan hệ vật chất và ý thức
trong lịch sử triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có
quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin mới giải quyết một cách đúng đắn,
khoa học và triệt để vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường duy vật biện
chứng. Đây chính là cơ sở thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức
và hoạt động thực tiễn của con người. Đồng thời, là cơ sở củng cố lòng tin
vào sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay, góp phần tích cực vào việc xây
dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện
đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao cho.