MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
3
Chương 1. HIỆU LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN HUYỆN Ở TỈNH SÓC TRĂNG - NHỮNG
VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
10
1.1. Ủy ban nhân dân huyện và hiệu lực hoạt động của Ủy
ban nhân dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng
10
1.2. Thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng
cao hiệu lực hoạt động của Ủy ban nhân dân các huyện
ở tỉnh Sóc Trăng.
34
Chương 2.
2.1.
YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN HUYỆN Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY
60
Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao hiệu lực
hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng
hiện nay
60
2.2. Những giải pháp nâng cao hiệu lực hoạt động của Ủy
ban nhân dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay
68
KẾT LUẬN
92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
94
PHỤ LỤC
101
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân, có
vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp cách mạng, vì vậy xây dựng Nhà
nước trong sạch, vững mạnh là yêu cầu khách quan trong sự nghiệp cách
mạng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vai trò, hiệu lực lãnh đạo của Đảng
phụ thuộc trực tiếp vào việc phát huy vai trò và hiệu lực hoạt động của Nhà
nước. Chức năng của Nhà nước là quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội
bằng luật pháp và chính sách. Trên cơ sở đường lối, quan điểm, nghị quyết
của Đảng, Nhà nước thể chế hóa thành các bộ luật, thành các chính sách và tổ
chức thực hiện thắng lợi trong thực tế. Vì vậy, hiệu lực hoạt động của Nhà
nước ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của xã hội, đến lợi ích của quốc
gia, dân tộc, của nhân dân. Do đó, nâng cao hiệu lực hoạt động của Nhà nước
là đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng.
Tuy nhiên, hiệu lực hoạt động của Nhà nước phụ thuộc và những yếu tố
khách quan và chủ quan, vì thế nâng cao hiệu lực hoạt động của Nhà nước hết
sức khó khăn, phức tạp, phải tiến hành thường xuyên, liên tục, trong đó đòi
hỏi phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, chăm lo xây
dựng Nhà nước vững mạnh, đặc biệt là đổi mới phương thức quản lý của
Đảng đối với xã hội.
Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đồng tình, ủng
hộ, hưởng ứng của nhân dân, hiệu lực hoạt động của Nhà nước nói chung
từng bước được nâng lên, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc
đổi mới đất nước, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa. Song, bên cạnh những ưu điểm, thành công, hiệu lực hoạt động của
Nhà nước vẫn còn những hạn chế, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chưa đáp ứng
được sự đòi hỏi của nhân dân, có lúc, có nơi hiệu lực quản lý nhà nước thiếu
nghiêm minh, ít nhiều đã và đang làm giảm sút lòng tin của nhân dân với
3
Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nâng cao hiệu lực hoạt
động của Nhà nước là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng là một bộ phận trong bộ máy Nhà nước,
là chính quyền địa phương, có ảnh hưởng lớn đến tính hiệu lực của các chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, có ý nghĩa vô cùng
to lớn với việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân chủ và
nâng cao đời sống nhân dân.
Vừa qua với với quyết tâm cao, UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng đã thực
hiện tốt vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, từ đó không ngừng
nâng cao hiệu lực hoạt động, góp phần cùng cả nước chăm lo phát triển kinh
tế, ổn định xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, hiệu lực
hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng còn bộc lộ nhiều khó khăn, hạn
chế ở một số nơi, một số lĩnh vực, đã ảnh hưởng trực tiếp đến tính nghiêm
minh của pháp luật, đến hiệu lực quản lý, hiệu quả hoạt động của chính quyền
địa phương, đến đời sống và làm giảm sáut lòng tin trong nhân dân do một số
nguyên nhân cơ bản đó là: Một số thể chế pháp luật thiếu đồng bộ, pháp luật
chưa theo kịp yêu cầu phát triển xã hội. Một số địa phương chậm đổi mới,
năng lực quản lý, điều hành một số lĩnh vực còn yếu kém, nhất là trên các lĩnh
vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng…; thiếu kiên quyết xử lý vi phạm pháp
luật. Tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong thi hành pháp luật, thực thi
pháp luật. Ý thức chấp hành pháp luật của bộ phận người dân chưa nghiêm,
tình trạng xem thường pháp luật, thách thức pháp luật vẫn còn xảy ra.
Từ những lý do trên, học viên chọn vấn đề: Nâng cao hiệu lực hoạt
động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay làm đề tài luận văn thạc
sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
* Một số sách chuyên khảo, tham khảo
Trên lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị, có nhiều tác giả nghiên cứu
như: Vũ Hoàng Công (2002), Hệ thống chính trị cơ sở - Đặc điểm, xu hướng
4
và giải pháp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Hoàng Chí
Bảo (2004) (chủ biên), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện
nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên,
Đoàn Trọng Truyến, Nguyễn Văn Thảo, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên),
Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới,
Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999. Chu Văn Thành (2004) (chủ biên), Hệ
thống chính trị cơ sở - Thực trạng và một số giải pháp đổi mới, Nxb.Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
Về xây dựng nhà nước pháp quyền, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, tác giả nghiên cứu tác phẩm của Nguyễn Minh Đoan “Các nguyên tắc
pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế”.
Nxb Tư pháp. H-2006.
Ngoài ra, tác giả nghiên cứu một số công trình bàn sâu về lĩnh vực cải
cách hành chính nhà nước như: Thang Văn Phúc, Đinh Duy Hoà, Hoàng Thế
Liên (2000), Năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước - thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp. Nxb.CTQG.H. Học viện Hành Chính quốc
gia. Thang Văn Phúc (2001), Cải cách hành chính Nhà nước - Thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp; Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trần Xuân Sầm,
Nguyễn Phú Trọng (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. Nxb.Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Lê Duy Truy “Chủ tịch Hồ Chí Minh
với xây dựng Nhà nước và công tác cán bộ”. Nxb. Tư pháp. H.2007. Học
viện Hành Chính quốc gia, Nội dung cải cách một bước nền hành chính Nhà
nước. Hà Nội, 1995. Học viện Hành Chính quốc gia, Thủ tục hành chính, Hà
Nội, 1995.
Các công trình nêu trên đã luận giải những vấn đề rất căn bản, cốt lõi về lý
luận và thực tiễn xây dựng hệ thống chính trị, về cải cách bộ máy hành chính
nhà nước… Kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tài liệu tham
khảo rất quan trọng trong quá trình thực hiên luận văn của học viên. Tuy nhiên,
các công trình này chưa đi sâu về vấn đề hiệu lực hoạt động của UBND huyện
5
* Một số đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Việc nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương
đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu đề cập. Các đề tài như: Nguyễn Thị
Ngọc Diễm (2010), Tổ chức và hoạt động cấp chính quyền cơ sở ở nước ta
hiện nay (qua ví dụ tỉnh Hà Nam). Luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành
Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Luận án tiến sĩ Luật học. Thang
Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương chủ nhiệm (2005), “Cơ sở lý luận và thực
tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”. Đề tài cấp Nhà nước
KX.04. Lê Minh Thông (2005),“Cải cách tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương đáp ứng các yêu cầu của nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của dân, do dân, vì dân”. Đề tài cấp nhà nước KX.04.08. Trịnh Tuấn
Thành, Đại học Quốc gia Hà nội (2005) "Đổi mới tổ chức và hoạt động của
ủy ban nhân dân cấp huyện ở nước ta hiện nay". Luận văn thạc sĩ Luật học…
Các công trình nghiên cứu vừa nêu đều đề cập đến khía cạnh, phạm vi khác
nhau liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền nói chung, UBND
cấp huyện, xã nói riêng. Do vậy, kết quả nghiên cứu đã cung cấp những luận
cứ khoa học mà tác giả luận văn có thể nghiên cứu, tham khảo, kế thừa trong
quá trình thực hiện luận văn. Tuy nhiên, cũng như các sách chuyên khảo,
tham khảo và các đề tài chưa đề cập sâu sắc đến những vấn đề về hiệu lực
hoạt động của chính quyền địa phương nói chung, UBND huyện nói riêng, từ
đó đòi hỏi tác giả tiếp tục nghiên cứu.
* Một số bài báo khoa học.
Một số bài báo khoa học có liên quan như: Vũ Duy Duẩn, Bảo đảm và
tăng cường pháp chế trong quản lý hành chính nhà nước. Tạp chí Cộng sản
(2013). Bùi Thị Đào (2015) Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp
luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã. Trang thông tin điện tử Tạp chí tổ
chức Nhà nước (tcnn.vn); (9/2015). Bùi Xuân Đức (1991), Vấn đề tổ chức cơ
quan chính quyền địa phương nước ta hiện nay, Tạp chí Nhà nước Pháp luật
số 3/1991. Đào Thị Kim Lân, Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội
6
ngũ cán bộ, công chức. Tạp chí Tổ chức Nhà nước tháng 3/2016. Nguyễn
Tùng Lâm, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá pháp quyền”. Tạp chí Tổ chức
Nhà nước tháng 3/2016. Trần Văn Lợi, (2015) Những điểm mới của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, đăng trên web: nldvietnam.org
(Dự án phát triển luật pháp quốc gia) năm 2015. Đỗ Đức Minh (2014) Xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - những yếu tố tác
động từ truyền thống và hiện tại. Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn).
Hoàng Anh Tuấn (2012), Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính
quyền cơ sở. Tạp chí Cộng sản (tapchicongsan.org.vn). Trần Anh Tuấn, Đổi
mới cách tuyển chọn để nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo, quản lý. Tạp
chí Tổ chức Nhà nước tháng 3/2016. Đỗ Minh Sơn (2015), Bàn về quy trình,
hiệu lực, nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhan
dân, Ủy ban nhân dân, đăng trên web: nldvietnam.org (Dự án phát triển luật
pháp quốc gia) năm 2015... Những bài báo khoa học trên đây đề cập tương đối
đến các vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; về tổ chức và
hoạt động của chính quyền cấp cơ sở, về phát huy quyền làm chủ của nhân dân…
Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tư liệu, tài liệu quan
trọng, có giá trị mà tác giả luận văn có thể kế thừa để thực hiên luận văn của mình.
Nhìn chung, các công trình nghiên trên đây đã đề cập đến những vấn đề cơ
bản về tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương các cấp. Tuy nhiên, cho
đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên sâu về
hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng dưới góc độ khoa học xây
dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, vì vậy, đề tài luận văn không trùng lặp với
các công trình đã nghiệm thu, công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn, đề xuất
những giải pháp nâng cao hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc
Trăng hiện nay.
7
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải làm rõ những vấn đề cơ bản lý luận và thực tiễn về hiệu lực
hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh
nghiệm nâng cao hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
- Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu lực hoạt
động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng là đối tượng
nghiên cứu của luận văn.
* Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh
Sóc Trăng theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quy định của pháp luật.
Các số liệu, tư liệu phục vụ cho luận văn được giới hạn từ năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước, xây
dựng Nhà nước chuyên chính vô sản, Nhà nước xã hội chủ nghĩa; tư tưởng
Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà
nước xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,
vì dân. Đồng thời, đề tài luận văn còn dựa trên Hiến pháp, hệ thống luật pháp
của Nhà nước Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
* Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn xây dựng và hoạt động của Nhà nước ta trong sự nghiệp cách
mạng; thực tiễn xây dựng và hiệu lực hoạt động của bộ máy Nhà nước nói
chung, chính quyền địa phương các cấp nói riêng, trong đó có UBND huyện ở
tỉnh Sóc Trăng là cơ sở thực tiễn của luận văn. Đồng thời luận văn còn nghiên
cứu, kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu về xây dựng và hoạt động của
8
Nhà nước, của hệ thống chính quyền địa phương các cấp; các báo cáo tổng
kết công tác xây dựng Đảng, xây dựng các cơ quan nhà nước, tổ chức chính
trị - xã hội trên phạm vi cả nước, trực tiếp ở tỉnh Sóc Trăng; các số liệu, tư
liệu thực tế mà tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu, khảo sát
thâm nhập thực tế. Từ các nguồn tài liệu trên, tác giả luận văn sử dụng để luận
giải, làm sáng tỏ nội dung của luận văn.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành và chuyên ngành, trong đó chú
trọng các phương pháp phân tích - tổng hợp; lôgic - lịch sử; khảo sát thực tế,
thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn để luận giải nội dung của luận văn.
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thêm luận cứ khoa học
để Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Sóc Trăng, Huyện uỷ, UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
có những chủ trương, biện pháp xây dựng UBND huyện vững mạnh, nâng cao
hiệu lực hoạt động, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới.
Đồng thời, kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
trong học tập, giảng dạy môn xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước ở các
học viện, nhà trường trong cả nước.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm: Phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.
9
Chương 1
HIỆU LỰC HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN
HUYỆN Ở TỈNH SÓC TRĂNG - NHỮNG VẤN ĐỀ
CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Ủy ban nhân dân huyện và hiệu lực hoạt động của ủy ban nhân
dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng
1.1.1. Ủy ban nhân dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng
* Khái quát một số nét về tỉnh Sóc Trăng
Lịch sử hình thành. Tính từ sau ngày 30/4/1975 Sóc Trăng thuộc tỉnh
Hậu Giang, kể từ tháng 4/1992 chia tách tỉnh Hậu Giang thành 2 tỉnh Cần
Thơ và Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng lúc này gồm 7 đơn vị hành chính gồm các
huyện Mỹ Tú, Kế Sách, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên, Long Phú, Vĩnh Châu và thị
xã Sóc Trăng.
Ngày 11/01/2002, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Long Phú và
thành lập thêm huyện Cù Lao Dung. Ngày 31/10/2003 điều chỉnh địa giới
hành chính huyện Thạnh Trị và thành lập thêm huyện Ngã Năm. Ngày
08/02/2007, thành lập thành phố Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng. Ngày
24/9/2008, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Mỹ Tú và thành lập thêm
huyện Châu Thành. Ngày 23/12/2009, điều chỉnh địa giới hành chính hai
huyện Mỹ Xuyên, Long Phú và thành lập thêm huyện Trần Đề. Năm 2011
nâng huyện Vĩnh Châu thành thị xã Vĩnh Châu và năm 2013 nâng huyện Ngã
Năm thành thị xã Ngã Năm.
Đến nay, đơn vị hành chính của tỉnh có 08 huyện (Mỹ Tú, Châu Thành,
Kế Sách, Cù Lao Dung, Long Phú, Trần Đề, Thạnh Trị, Mỹ Xuyên), 02 thị xã
(Vĩnh Châu, Ngã Năm) và 01 thành phố (Sóc Trăng) với 109 đơn vị hành
chính cấp xã (gồm 17 phường, 12 trị trấn, 80 xã) và 775 ấp, khóm.
Điện tích tự nhiên 3.311,65 km2 (chiếm khoảng 1% diện tích cả nước
và 8,3% diện tích của khu vực đồng bằng sông Cửu Long). Dân số 1.307.749
người, trong đó dân tộc kinh chiếm 64,23%; dân tộc Hoa chiếm 5,02%; dân
tộc Khmer chiếm 30,7%; còn lại dân tộc khác chiếm 0,03%. Tỷ lệ hộ nghèo
10
9,24%, cận nghèo 12,1%; huyện có tỷ lệ cao là Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Trần
Đề, Châu Thành, Long Phú, Kế Sách.
Dân số sống thành thị 30,59%, nông thôn 69,41%. Tỷ lê tăng dân số
bình quân 0,93%; nam 648.266 người, nữ 659.483 người; dân số trong độ tuổi
lao động 730.464 người; tỷ lệ thất nghiệp thành thị 3,29%, nông thôn 2,72%.
Về điều kiện địa lý tự nhiên
Vị trí tọa độ: 9012’ - 9056’ vĩ Bắc và 105033’ - 106023’ kinh Đông.
Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa. Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 26,80 độC, ít khi bị bão lũ. Lượng mưa trung bình
trong năm là 1.864 mm, tập trung nhất từ tháng 8,9,10, độ ẩm trung bình là
83%. Đất đai có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước,
cây công nghiệp ngắn ngày như mía, đậu nành, bắp, các loại rau màu như
hành, tỏi và các loại cây ăn trái như bưởi, xoài, sầu riêng... Hệ thống kinh
rạch chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều
dao động trung bình từ 0,4m đến 1m. Nhờ vào địa thế đặc biệt, nơi dòng sông
Hậu đổ ra biển Đông Nam bộ, vùng có nhiều trữ lượng tôm cá, có đủ điều
kiện thuận lợi để cũng như phát triển kinh tế biển tổng hợp. Sóc Trăng còn có
nguồn tài nguyên rừng với diện tích 11.356ha, thuộc hệ rừng ngập mặn ven
biển và rừng tràm ở khu vực đất nhiễm phèn với các loại cây chính: Tràm,
bần, giá, vẹt, đước, dừa nước phân bố ở 4 huyện Vĩnh Châu, Long Phú, Mỹ
Tú và Cù Lao Dung.
Về kinh tế - xã hội.
Tốc độ tăng GDP bình quân hàng năm từ 12 - 13%, giá trị sản xuất theo
giá hiện hành 108.189 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế khu vực I, II, III tương ứng
37,61%, 14,01%, 48,38%; thu nhập bình quân đầu người 1.800
USD/người/năm.
Về nông nghiệp: Tổng sản lúa năm 2015 đạt 2,25 triệu tấn, diện tích
màu 153.171ha, diện tích mía 12.120 ha, cây ăn trái 27.861 ha. Chăn nuôi:
đàn trâu 2.813 con, đàn bò 26.564 con, đàn heo trên 300 ngàn con, đàn gia
cầm trên 5,3 triệu con. Diện tích nuôi thủy sản 68.418 ha phát triển chủ yếu ở
11
huyện ven biển và vùng ven quản lộ kênh Nhu Gia gồm Vĩnh Châu 24.948
ha, Mỹ Xuyên 18.810 ha, Trần Đề 6.224 ha cho sản lượng 220.000 tấn; ngoài
ra khai thác đánh bắt sản lượng trên 58,3 ngàn tấn, kim ngạch xuất khẩu năm
2015 đạt 640 triệu USD.
Về đầu tư cơ sở hạ tầng.
Tổng kinh phí đầu tư bình quân hàng năm trên địa bàn tỉnh (5 năm gần
đây) gần 13.000 tỷ đồng không kể vốn đầu tư nước ngoài; qua đầu tư, đến nay
xe 4 bánh lưu thông đến 85% ấp, 88% xã, số hộ có điện 98,9%, nước sinh
hoạt 96,03%, hộ dân có hố xí hợp vệ sinh 46,7%, xã có chợ 62%. Toàn huyện
có 4 tuyến Quốc lộ đi qua là Quốc lộ 1A, 60, Nam Sông Hậu, Quản lộ Phụng Hiệp dài 239,4 km; 14 tuyến đường tỉnh dài 409,3 km, nhiều tuyến
đường huyện 923 km đường thủy… tạo thuận lợi trong sản xuất, giao thông,
trao đổi hàng hóa.
Công nghiệp - TTCN, thương mại, dịch vụ
Tỉnh có khu công nghiệp An nghiệp thuộc huyện Châu Thành tiếp giáp
thành phố Sóc Trăng, qui mô 251,13 ha; đang thu hút đầu tư vào khu công
nghiệp Trần Đề, Đại Ngãi (Long Phú), Long Hưng (Mỹ Tú), Mỹ Thanh (Vĩnh
Châu). Toàn tỉnh có 6 Doanh nghiệp nhà nước, 1.553 doanh nghiệp ngoài nhà
nước, 6 doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài. Giá trị sản xuất CN - TTCN
năm 2015 toàn tỉnh 13.196 tỷ đồng; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ
tiêu dùng xã hội 31.823 tỷ đồng; xuất khẩu 668 ngàn USD, nhập khẩu 187
ngàn USD.
Về tài chính, ngân sách
Là tỉnh nghèo do Trung ương hỗ trợ ngân sách, thu cân đối ngân sách
toàn tỉnh năm 2015 là 2.760 tỷ đồng, chi ngân sách trên 11.580 tỷ đồng. Các
địa phương có số thu ngân sách địa phương tương đối là thành phố Sóc Trăng,
Châu Thành, Mỹ Xuyên, Vĩnh Châu, thấp nhất là huyện Cù Lao Dung, Mỹ
Tú (khoản 18 tỷ đồng/năm trong khi chi ngân sách trên 300 tỷ đồng). Hiện có
trên 25 tổ chức ngân hàng thương mại và dịch vụ tài chính tín dụng với mạng
lưới chi nhánh từ tỉnh đến huyện, thị xã, thị trấn.
12
- Về chính trị - xã hội
Về chính trị xã hội ổn định tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, sản xuất
và phát triển. Toàn tỉnh có 618 tổ chức cơ sở Đảng, với trên 37.000 đảng viên.
Bộ máy tổ chức UBMTTQ, đoàn viên, hội viên các đoàn thể chính trị xã hội,
các hội nghề nghiệp, hội đặc thù được tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến huyện, xã,
thị trấn. Kết quả đánh giá phân loại hàng năm có 89,75% tổ chức cơ sở đảng
đạt trong sạch, vững mạnh và 0,53% yếu kém. Tỷ lệ đảng viên đủ tư cách và
hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 87,7%, không hoàn thành nhiệm vụ 1.14%.
Về văn hóa - xã hội
Toàn tỉnh có 12 trường mầm non, 299 trường tiểu học, 112 trường
trung học cơ sở, 12 trường THPT với 7.636 lớp, 222.084 học sinh và 10.292
sinh viên, 15.156 giáo viên, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia là 32,4%; Y tế có
13 bệnh viện, 4 phòng khám khu vực, 109 trạm y tế xã với 2.450 giường
bệnh, xã đạt chuẩn y tế 78,89%; số hộ gia đình văn hóa chiếm 88%, khu, ấp
văn hóa chiếm 88,25%, xã có nhà văn hóa chiếm 89,66%.
Là nơi hội tụ 3 dòng văn hóa dân tộc Kinh, Hoa, Khmer với tôn giáo
chủ yếu là Phật giáo (Nam Tông và Bắc Tông), Cao Đài, Thiên Chúa Giáo,
Tin Lành; cơ sở có tiềm năng du lịch tín ngưỡng như Chùa Dơi, Chùa Đất Sét
(Sóc Trăng), Chùa Khmer, Hoa huyện; chợ nổi Ngã Năm… Đặc biệt, Sóc
Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung
chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như
cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung... là địa điểm lý tưởng
để phát triển loại hình du lịch sinh thái, hàng năm thu hút khách du lịch
khoảng 20 ngàn lượt người trong nước và 190 ngàn lượt người nước ngoài.
Về quốc phòng, an ninh
Tình hình an ninh chính trị giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm
bảo, thực hiện tốt công tác quốc phòng, quân sự địa phương. Xây dựng khu
vực phòng thủ vững chắc gắn với từng bước tăng cường tiềm lực quốc phòng,
thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
13
* Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ
công tác của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Cơ cấu tổ chức của UBND huyện.
Số lượng, cơ cấu tổ chức của UBND huyện trong tỉnh thực hiện đúng
theo tinh thần Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 (hiện nay theo Luật
Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015), Nghị định số 107/2004/NĐ-CP
ngày 01/4/2004 của Chính phủ (hiện nay theo Nghị định số 08/2016/NĐ-CP
ngày 25/01/2016) của Chính phủ. Cụ thể:
UBND các huyện tổng số 84 thành viên. Trong đó cụ thể: Có 4 huyện
có 9 thành viên, 1 huyện có 8 thành viên, 4 huyện có 7 thành viên và 2 huyện
có 6 thành viên.
Nhìn chung, chất lượng thành viên UBND nhiệm kỳ 2016 - 2021 cao
hơn so các nhiệm kỳ trước cả về tiêu chuẩn, trình độ và năng lực hoạt động.
Tất cả thành viên đều đạt chuẩn theo quy định, đảm bảo yêu cầu về trình độ,
phẩm chất đạo đức và năng lực công tác. Có 100% thành viên có trình độ
chuyên môn đại học trên đại học, trình độ lý luận chính trị cao cấp và cử nhân
và bồi dưỡng quản lý nhà nước.
* Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện (theo quy định
của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003)
Chức năng của UBND huyện
UBND do Hội đồng nhân dân (HĐND) bầu là cơ quan chấp hành của
HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
UBND chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ
quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp nhằm bảo đảm
thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc
phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn.
UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp
phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính Nhà
nước từ Trung ương tới cơ sở.
14
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện được quy địnhy từ điều 97 đến
điều 107 Luật Tổ chức HĐND và UBND huyện năm 2003.
* Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện (theo Luật Tổ
chức Chính quyền địa phương năm 2015)
Theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 thì
UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
Chức năng của UBND huyện
UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ
quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân
địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND huyện
1). Xây dựng, trình HĐND huyện quyết định các nội dung quy định tại
các điểm a, b, c và g khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật này và tổ
chức thực hiện các nghị quyết của HĐND huyện. 2). Quy định tổ chức bộ
máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc UBND
huyện. 3). Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ,
du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi,
xây dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông
hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài
nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định
của pháp luật. 4). Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi
hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính,
giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao,
y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền
hạn khác theo quy định của pháp luật. 5). Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do
cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền. 6). Phân cấp, ủy quyền cho
15
UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức khác thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của
UBND huyện.
Mối quan hệ công tác của UBND huyện
Mối quan hệ với Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh.
Mối quan hệ giữa UBND huyện với Tỉnh uỷ và UBND tỉnh là mối quan
hệ giữa chấp hành sự lãnh đạo, quản lý và lãnh đạo quản lý. UBND huyện chấp
hành sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của UBND tỉnh theo
quy định của pháp luật, đúng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.
UBND do HĐND cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ
quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến
pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên. Vì vậy UBND
huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về mọi mặt của UBND tỉnh.
Mối quan hệ với các cơ quan chức năng của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh.
Mối quan hệ giữa UBND huyện với các cơ quan chức năng của Tỉnh
uỷ, UBND tỉnh là mối quan hệ phối hợp công tác, trong triển khai thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; thực
hiện chương trình, đề án, kế hoạch triển kinh tế, ổn định an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân trên
địa bàn tỉnh.
Mối quan hệ với Huyện uỷ, HĐND huyện.
Mối quan hệ giữa UBND huyện với Huyện uỷ là mối quan hệ giữa chịu
sự lãnh đạo và lãnh đạo. Trên cơ sở nghị quyết, chủ trương lãnh đạo phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, HĐND quán triệt cụ
thể hóa và tổ chức thực hiện. UBND huyện có trách nhiệm: 1) Chuẩn bị trình
Ban Thường vụ Huyện uỷ cho ý kiến về các chương trình, kế hoạch, đề án cụ
thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về kinh tế - xã hội,
ngân sách, quốc phòng, an ninh, ... trước khi tổ chức thực hiện hoặc trình Hội
đồng nhân dân quyết định. 2) UBND huyện báo cáo với Huyện uỷ về tình
hình và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng hàng tháng,
quý, sáu tháng, năm, 5 năm; về quy hoạch tổng thể của huyện; báo cáo với
16
Ban Thường vụ Huyện uỷ về quy hoạch hoặc bổ sung quy hoạch tổng thể của
huyện, xã, thị trấn và quy hoạch hoặc bổ sung quy hoạch phát triển ngành để
Huyện uỷ, Ban Thường vụ Huyện uỷ cho ý kiến chỉ đạo về chủ trương trước
khi triển khai thực hiện…
Mối quan hệ giữa UBND huyện với HĐND huyện là mối quan hệ giữa
chấp hành sự chỉ đạo và chỉ đạo. UBND huyện là cơ quan chấp hành của
HĐND huyện, chịu trách nhiệm triển khai thực hiện Nghị quyết HĐND
huyện đã đề ra. UBND có trách nhiệm chuẩn bị nội dung, chương trình kỳ
họp HĐND, dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình HĐND, giải quyết
những vấn đề phát sinh khi thực hiện nghị quyết của HĐND về nhiệm vụ kinh
tế - xã hội, ngân sách địa phương, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết của
HĐND cùng cấp trong thời gian giữa hai kỳ họp. Có trách nhiệm báo cáo và
cung cấp các tài liệu liên quan khi có yêu cầu của HĐND, Thường trực
HĐND, Ban của HĐND cùng cấp.
Mối quan hệ với Đảng ủy, HĐND, UBND xã.
Mối quan hệ giữa UBND huyện với Đảng uỷ xã là mối quan hệ giữa cơ
quan hành chính cấp trên với cơ quan lãnh đạo cấp dưới trực tiếp. Đảng ủy xã
có trách nhiệm nghiên cứu, quán triệt các chương trình, kế hoạch phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của UBND huyện để lãnh đạo
HĐND, UBND xã cụ thể hóa tổ chức thực hiện ở địa phương.
Đối với HĐND xã, UBND huyện cung cấp cho Thường trực HĐND
văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành. Kiểm tra Nghị quyết của
HĐND xã, thị trấn về thực hiện ngân sách địa phương. Kiểm tra, phát hiện và
đình chỉ thi hành Nghị quyết sai trái của HĐND cấp dưới, đồng thời đề nghị
HĐND cấp mình bãi bỏ những Nghị quyết đó.
Đối với UBND xã là mối quan hệ giữa giữa sự chỉ đạo, quản lý, điều
hành và chấp hành sự chỉ đạo, quản lý, điều hành. Trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn do pháp luật quy định UBND huyện ra quyết định, chỉ thị và kiểm
tra việc thi hành những văn bản đó. Chủ tịch UBND có quyền đình chỉ việc
17
thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai trái của UBND cấp dưới. Hướng dẫn,
kiểm tra UBND xã, thị trấn xây dựng và thực hiện ngân sách của địa phương.
Quản lý về bộ máy tổ chức, công tác cán bộ. UBND xã chịu sự chỉ đạo, quản
lý, điều hành trực tiếp, toàn diện của UBND huyện.
Mối quan hệ với UBMTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ
thống chính trị cấp huyện.
Mối quan hệ giữa UBND huyện UBMTTQVN và các tổ chức chính trị
- xã hội trong xây dựng hệ thống chính trị là mối quan hệ giữa quản lý nhà
nước và chấp hành. UBND huyện có nhiệm vụ chăm lo xây dựng
UBMTTQVN và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, đồng
thời quản lý nhà nước hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính
trị - xã hội trong hệ thống chính trị cấp huyện
* Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan chuyên môn của UBND
các huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2014, cơ quan
chức năng của UBND các huyện ở tỉnh Sóc Trăng có chức năng, nhiệm
vụ sau:
Một là, Phòng Nội vụ: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về: Tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế
công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính
nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số
lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với
cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành
chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa
phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã;
hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh
niên; thi đua - khen thưởng.
18
Hai là, Phòng Tư pháp: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về: Công tác xây dựng và thi hành pháp luật,
theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, kiểm
soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở, trợ
giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước và các
công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; quản lý công tác thi hành
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
Ba là, Phòng Tài chính - Kế hoạch: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về; Tài chính; kế hoạch và đầu tư; đăng
ký kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp,
hợp tác xã, kinh tế tư nhân.
Bốn là, Phòng Tài nguyên và Môi trường: Tham mưu, giúp UBND cấp
huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Đất đai; tài nguyên nước; tài
nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo (đối với các huyện có biển,
đảo).
Năm là, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội; Tham mưu, giúp
UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Việc làm; dạy
nghề; lao động, tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt
buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động;
người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới;
phòng, chống tệ nạn xã hội.
Sáu là, Phòng Văn hóa và Thông tin: Tham mưu, giúp UBND cấp
huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục,
thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát
thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ
tầng thông tin.
Bẩy là, Phòng Giáo dục và Đào tạo: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Chương trình và nội dung giáo dục
và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu
19
chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và
cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Tám là, Phòng Y tế: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh,
phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y
tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch
hóa gia đình.
Chín là, Thanh tra huyện: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về: Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố
cáo trong phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng,
chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Mười là, Văn phòng HĐND và UBND: Tham mưu tổng hợp cho
HĐND và UBND về: Hoạt động của HĐND, UBND; tham mưu cho Chủ tịch
UBND về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch UBND; cung cấp thông tin phục
vụ quản lý và hoạt động của HĐND, UBND và các cơ quan nhà nước ở địa
phương; bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của HĐND và
UBND; trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả
kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ
của cá nhân, tổ chức trên tất cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của
UBND cấp huyện, chuyển hồ sơ đến các cơ quan chuyên môn thuộc UBND
cấp huyện giải quyết và nhận kết quả để trả cho cá nhân, tổ chức.
Mười một, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Tham mưu, giúp
UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Nông nghiệp; lâm
nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống
thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản,
muối; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông,
lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn;
Mười hai, Phòng Kinh tế và Hạ tầng: Tham mưu, giúp UBND huyện
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp;
20
thương mại; quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát
triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công
nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh
tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây
xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng
ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở;
công sở; vật liệu xây dựng; giao thông; khoa học và công nghệ.
Mười ba, Phòng Dân tộc: Tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc.
* Đặc điểm của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
UBND cấp huyện nói chung, UBND huyện của tỉnh Sóc Trăng nói
riêng là một cơ cấu trong hệ thống cơ quan nhà nước, là bộ phận chính
quyền địa phương được tổ chức và hoạt động dựa trên Hiếp pháp, Pháp
lệnh, Luật… Xét về tổ chức và hoạt động thì UBND huyện có những đặc
điểm cơ bản như sau:
Một là, việc xác lập chức năng, nhiệm vụ của UBND huyện dựa trên
đặc thù, điều kiện của địa phương
Thực tế tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cho thấy vấn
đề đặc biệt quan trọng là xác định và thực hiện các chức năng, thẩm quyền
của chính quyền địa phương nói chung và mỗi cấp chính quyền địa phương
nói riêng dựa trên bản chất của chế độ nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội của
địa phương. Là một cấp quản lý trong hệ thống chính quyền địa phương,
UBND cấp huyện, trong tổ chức và hoạt động của mình, thực hiện chức năng
đại diện; tiếp nhận và giải quyết các yêu cầu, nguyện vọng của người dân địa
phương; quyết định và tổ chức thực hiện các công việc của địa phương, phục
vụ lợi ích cộng đồng theo phạm vi, mức độ tự chủ của địa phương; bảo vệ
những quyền, lợi ích chính đáng của người dân theo những qui định của pháp
luật. Chính vì vậy, trong chừng mực nhất định, theo Luật Tổ chức Chính
quyền địa phương, UBND cấp huyện được gọi là cơ quan hành chính nhà
nước ở địa phương chứ không phải là cơ quan hành chính nhà nước của địa
21
phương; là một pháp nhân công quyền, hoạt động theo nguyên tắc quyền uy,
phục tùng, đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực thi thống nhất từ trung
ương đến địa phương và giải quyết các công việc, đề nghị của người dân địa
phương theo qui định của pháp luật.
Tính đặc thù của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng là phạm vi hoạt động,
quản lý theo địa giới, lãnh thổ rộng lớn, với trên 90% dân số là nông dân gắn
liền với nông nghiệp, nông thôn, môi trường sống, phong tục, tập quán sinh
sống, lao động; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đòi hỏi chuyên môn sâu,
am hiểu nhiều lĩnh vực phục trách…
Từ đó, việc xác lập chức năng, thẩm quyền của UBND huyện khác hơn
UBND quận, UBND thị xã.
Hai là, tính tự chủ trong thực hiện quyền lực nhà nước tại địa phương.
Việc tự chủ của UBND huyện được thông qua việc quyết định, tổ chức
và hoạt động thực tiễn hàng ngày của địa phương đối với những vấn đề của
riêng địa phương, bằng các nguồn lực của địa phương. Do đó, về bản chất,
UBND cấp huyện là cấp đại diện cho quyền lực nhà nước thống nhất, đại diện
cho lợi ích quốc gia song cũng đại diện cho ý chí của nhân dân địa phương,
hoạt động vì nhân dân địa phương. UBND huyện phải chịu trách nhiệm trước
pháp luật, trước Đảng, Nhà nước và nhân dân về các quyết định của mình
trong quá trình thực thi quyền lực tại địa phương. Những trường hợp UBND
huyện, các cán bộ, công chức trong cơ quan UBND huyện có hành vi vi phạm
pháp pháp luật, vi phạm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, xâm
phạm lợi ích của nhân dân phải xử lý nghiêm theo đúng pháp luật.
Ba là, tính chất phụ thuộc trong thực hiện quyền lực nhà nước tại
địa phương.
Hoạt động của UBND cấp huyện là hoạt động chấp hành - hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và là một bộ phận trong bộ
máy hành chính nhà nước thống nhất do Chính phủ chỉ đạo, điều hành. Với
vị trí này, UBND huyện chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND tỉnh, sự lãnh đạo
trực tiếp của Huyện uỷ và sự giám sát của HĐND cùng cấp. Đồng thời, sự
22
phân cấp như vậy cũng là cơ sở để UBND cấp huyện thực hiện sự tự chủ của
mình trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn.
* Vai trò của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Một là, đại diện cho quyền lực, ý chí, lợi ích của nhân dân tại địa phương.
UBND huyện được bầu ra để đại diện cho quyền lực, ý chí, lợi ích của
nhân dân ở địa phương. Quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi công dân
được xác định trong Hiến pháp, trong hệ thống luật pháp của Nhà nước,
trong hệ thống chính sách trên các lĩnh vực của xã hội: kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Các quyền, các lợi ích, nghĩa vụ
và trách nhiệm của công dân được đảm bảo trên thực tế thông qua hoạt động
của bộ máy chính quyền các cấp. Mức độ đảm bảo các quyền, lợi ích của
nhân dân cao hay thấp, đầy đủ hay bị xâm phạm phụ thuộc trực tiếp vào phẩm
chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền các
cấp, nhất là chính quyền ở các địa phương, cấp cơ sở.
Vì vậy, trên cơ sở đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, Hiến
pháp, pháp luật của Nhà nước, UBND huyện thực hiện đúng tư cách đại diện
cho quyền lực, ý chí, lợi ích của nhân dân, đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ, lợi
ích của nhân dân.
Hai là, làm vai trò cầu nối giữa trung ương và các tầng lớp nhân dân
tại địa phương
Việc thành lập UBND huyện nhằm để triển khai thực hiện các quyết
định của cơ quan nhà nước ở trung ương đến cơ sở, giúp chính quyền trung
ương giảm bớt gánh nặng, tập trung giải quyết công việc tầm cỡ quốc gia.
Chính phủ, UBND cấp tỉnh không thể trực tiếp điều hành công việc trong
phạm vi rộng, vì thế nhiệm vụ này giao cho cấp chính quyền địa phương.
Vai trò cầu nối thể hiện 2 khía cạnh: 1). Đại diện chính quyền trung
ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, triển khai các
đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong xã
hội, tạo điều kiện để nhân dân địa phương tự quyết định những vấn đề có liên
23
quan đến đời sống của nhân dân địa phương. 2). Mỗi một địa phương có
những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, kinh tế xã hội, truyền thông văn hoá,
phong tục, tập quán… thông qua UBND huyện để gần dân hơn, nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân, từ đó đề ra chủ trương, chính sách phù hợp
cho sự phát triển của mỗi địa phương, thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu
chính đáng của nhân dân địa phương.
Ba là, trực tiếp tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện phát
huy quyền làm chủ của nhân dân.
UBND huyện không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước bằng
luật pháp mà còn bằng công tác dân vận, công tác tuyên truyền, vận động,
giáo dục, thuyết phục đối với các đối tượng nhân dân chấp hành tốt đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng, nghị quyết, chủ trương của cấp ủy, các chỉ
thị quy định của chính quyền các cấp. Với đội ngũ cán bộ, công chức hàng
ngày xuống cơ sở, tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp giữ mối liên hệ với nhân
dân, UBND huyện có vai trò quan trọng trong phát huy vai trò của bộ máy
chính quyền cấp huyện và cấp xã tiến hành tuyên truyền, giáo dục vận động
nhân dân chấp hành nghiêm mọi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
Nhà nước, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ, quyền dân chủ của nhân dân.
Thực tế cho thấy ở những nơi mà UBND huyện quan liêu, xa rời cơ sở, bao
che, dung túng cho chính quyền xã thì ở đấy chính sách, luật pháp bị vi phạm,
quyền làm chủ của nhân dân bị xem nhẹ, bị xâm phạm, mối quan hệ giữa
nhân dân với chính quyền nảy sinh mâu thuẫn, thậm chí trở thành những
“điểm nóng” về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
1.1.2. Hiệu lực hoạt động của Ủy ban nhân dân huyện ở tỉnh Sóc Trăng
* Quan niệm về hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
Theo Đại từ điển Tiếng Việt “Hiệu lực: 1. Tác dụng đích thực. 2. Giá
trị thi hành” [83, tr. 806].
Theo Từ điển Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội nhân dân Việt
Nam, “Hiệu lực lãnh đạo của Đảng, tác dụng và giá trị hiện thực của hoạt
24
động lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội so với chức năng,
nhiệm vụ của Đảng, mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng do Đảng xác định” [75, tr.
281]. Như vậy, hiệu lực hoạt động của một chủ thể thể hiện ở tác dụng, giá trị
của hoạt động đó so với chức năng, nhiệm vụ của tổ chức; chức trách, nhiệm
vụ của cá nhân, so mục đích của hoạt động mà chủ thể đã xác định. Một hoạt
động của chủ thể mà tác dụng, giá trị thấp điều đó chứng tỏ hiệu lực hoạt
động của chủ thể thấp.
Chủ thể hoạt động của UBND huyện là tập thể Ủy ban, gồm các uỷ
viên UBND huyện, của người đứng đầu các cơ quan chuyên môn và các cán
bộ, công chức, viên chức trực thuộc UBND huyện.
Nội dung hoạt động của UBND huyện là quản lý mọi mặt đời sống xã
hội trên tất cả các lĩnh vực theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Luật định;
phương thức hoạt động của UBND huyện bằng pháp luật và thông qua Pháp
luật, bằng cách đề ra chủ trương, chính sách, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám
sát, xử lý những lệch lạc, sai phạm…; nguyên tắc hoạt động của UBND
huyện dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, phân công, phân nhiệm theo
chức trách.
Hoạt động quản lý các lĩnh vực của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng
diễn ra đồng thời, thường xuyên, tác động lẫn nhau, thúc đẩy lẫn nhau, kìm
hãm lẫn nhau. Nếu công tác quản lý của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng trên
một trong những lĩnh vực cụ thể có những sai lầm, khuyết điểm sẽ tác động
tiêu cực đến các lĩnh vực khác, đến toàn bộ hoạt động của UBND huyện ở
tỉnh Sóc Trăng.
Hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng thể hiện ở tác
dụng và giá trị thực tế trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính
sách, của Đảng, Nhà nước, nghị quyết, chi thị, kế hoạch, quy chế, quy định
của tỉnh, huyện, xã; phản ánh ở mức độ phát triển về mọi mặt của địa phương,
ở đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, uy tín của UBND huyện đối với
nhân dân địa phương.
25
Một nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng, một bộ luật, quy
định của Chính phủ, của các Bộ, nghị quyết của tổ chức đảng, một quy định,
quy chế…của chính quyền địa phương ban hành nhưng không được sự chấp
nhận của xã hội, không được thực hiện một cách nghiêm túc, không mang lại
giá trị về mặt xã hội, hiệu quả kinh tế - xã hội, không hợp lòng dân, gây ra
những bức xúc trong xã hội…. điều đó cho thấy hiệu lực lãnh đạo của Đảng,
hiệu lực quản lý của Nhà nước là thấp, thậm chí là không có hiệu lực thực tế.
Hiệu lực quản lý của Nhà nước nói chung, của UBND huyện ở tỉnh Sóc
Trăng nói riêng được dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước được Hiến
pháp, pháp luật thừa nhận, nhưng hiệu lực quản lý, hoạt động cao hay thấp lại
phụ thuộc trực tiếp vào năng lực của Nhà nước, chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức Nhà nước, tính đúng đắn, khoa học của các chủ trương, chính sách,
quy định, chương trình, kế hoạch của bộ máy nhà nước, uy tín của Nhà nước
đối với xã hội, đối với nhân dân. Một chính sách không hợp lòng dân, không
mang lại lợi ích cho dân, không xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích của nhân
dân thì chính sách đó không bao giờ được thực hiện một cách nghiêm túc,
hiệu quả thực hiện sẽ rất thấp và hiệu lực hoạt động của chính quyền thấp, uy
tín của chính quyền với nhân dân bị giảm sút.
Từ phương pháp tiếp cận trên có thể quan niệm: Hiệu lực hoạt động
của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng là những giá trị thực tế, hiệu quả thiết
thực do hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng mang lại trên các lĩnh
vực xã hội ở địa phương theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, so với mục
đích, yêu cầu hoạt động của UBND huyện ở tỉnh Sóc Trăng, đảm bảo cho các
quyết định của UBND được thực hiện nhanh chóng, chính xác và thông suốt.
* Các yếu tố quy định hiệu lực hoạt động của UBND huyện ở tỉnh
Sóc Trăng
Cơ cấu bộ máy của UBND huyện. Đây là yếu tố cơ bản, quan trọng
hàng đầu quy định đến hiệu lực hoạt động của UBND dân huyện ở tỉnh Sóc
Trăng. Cơ cấu bộ máy của UBND huyện đồng bộ, chức năng, nhiệm vụ rõ
ràng, cơ chế vận hành nhịp nhàng sẽ đảm bảo cho hiệu lực hoạt động của
26