HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN TẠO
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT,
ĐẶC TÍNH CHỊU HẠN VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
CHO MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
TẠI NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN TẠO
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT,
ĐẶC TÍNH CHỊU HẠN VÀ LƯỢNG ĐẠM BÓN
CHO MỘT SỐ CÂY THỨC ĂN GIA SÚC
TẠI NGHĨA ĐÀN, NGHỆ AN
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 62.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1. GS. TS. TRẦN ĐỨC VIÊN
2. GS. TS. VŨ CHÍ CƯƠNG
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận án
Hoàng Văn Tạo
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận án này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới thầy giáo hướng dẫn GS.TS. Trần Đức Viên cùng thầy giáo GS.TS. Vũ Chí
Cương, đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn
thành luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cô giáo, thầy giáo ở Bộ môn Cây lương thực,
Khoa Nông học, Phòng Phân tích - Khoa Chăn nuôi, Ban Quản lý đào tạo, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam đã quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn cán bộ công nhân viên Công ty Rau quả 19/5 tỉnh
Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho tôi suốt thời gian thực hiện
đề tài.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã luôn
động viên, giúp đỡ cho tôi hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận án
Hoàng Văn Tạo
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các từ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
MỞ ĐẦU
1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5
1.1
Khái niệm về cây thức ăn xanh và nhóm giống sử dụng trong nghiên cứu
5
1.1.1
Khái niệm về cây thức ăn xanh
5
1.1.2
Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ hòa thảo thí nghiệm
6
1.1.3
Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ đậu thí nghiệm
10
1.2
Tình hình nghiên cứu và chọn tạo cây thức ăn xanh trên thế giới và ở
Việt Nam
12
1.2.1
Trên thế giới
12
1.2.2
Ở Việt Nam
13
1.3
Ảnh hưởng của hạn đến năng suất và chất lượng cây thức ăn xanh
18
1.4
Ảnh hưởng của phân đạm đến năng suất và chất lượng cây thức ăn xanh
23
1.5
Một số kết quả nghiên cứu về cây thức ăn gia súc và đặc điểm khí hậu
đất đai vùng nghiên cứu Nghĩa Đàn
29
1.5.1
Một số kết quả nghiên cứu về cây thức ăn gia súc tại Nghĩa Đàn
29
1.5.2
Vị trí địa lý
29
1.5.3
Đặc điểm địa hình
29
1.5.4
Đặc điểm khí hậu
30
1.5.5
Tài nguyên
31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
33
2.1
Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu
33
2.1.1
Vật liệu nghiên cứu
33
2.1.2
Địa điểm nghiên cứu
33
2.1.3
Thời gian nghiên cứu
33
2.1.4
Nội dung nghiên cứu
33
iii
2.2
Phương pháp nghiên cứu
2.2.1
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu tính năng sản xuất và chất lượng của một
34
số giống cỏ và cây thức ăn gia súc cho bò sữatại huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An
2.2.2
34
Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của hạn đến một số chỉ tiêu liên quan khả
năng quang hợp của một số giống cỏ họ hòa thảo (Poaceae) và cây họ
đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
2.2.3
Thí nghiệm 3: Ảnh hưởng của các mức bón đạm khác nhau đến khả
năng sản xuất của một số giống cỏ trên vùng đất Nghĩa Đàn, Nghệ An
2.2.4
39
Thí nghiệm 4: Xây dựng mô hình sản xuất của bộ giống cỏ thí nghiệm
tại vùng đất Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1
36
43
46
Khả năng sản xuất và chất lượng của một số giống cỏ, cây thức ăn gia
súc cho bò sữa tại huyện Nghĩa Đàn
46
3.1.1
Tỷ lệ sống của các cỏ thí nghiệm
46
3.1.2
Năng suất chất xanh, năng suất protein của các giống cỏ thí nghiệm
47
3.1.3
Thành phần hóa học và dinh dưỡng của các giống cỏ thí nghiệm
52
3.2
Đặc điểm quang hợp liên quan đến chịu hạn của một số cỏ họ hòa thảo
(Poaceae) và họ đậu (Fabaceae) thức ăn gia súc cho bò sữa
55
3.2.1
Cường độ quang hợp và các yếu tố liên quan qua các giai đoạn
55
3.2.2
Khả năng tích lũy vật chất khô của các giống qua các giai đoạn
64
3.3
Ảnh hưởng của các mức đạm bón khác nhau đến khả năng sản xuất
của một số giống cỏ trên vùng đất Nghĩa Đàn, Nghệ An
66
3.3.1
Ảnh hưởng của phân đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển
66
3.3.2
Ảnh hưởng của phân đạm đến Tỷ lệ lá/thân và năng suất của các giống
3.4
cỏ thí nghiệm
73
Tiềm năng, năng suất của các giống cỏ thí nghiệm trong sản xuất đại trà
95
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
106
Danh mục các công trình đã công bố có liến quan đến luận án
108
Tài liệu tham khảo
109
Phụ lục
125
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADF
: Xơ axit
CIAT
: Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế
CTAX
: Cây thức ăn xanh
NDF:
: Xơ trung tính
NS
: Năng suất
NSCX
: Năng suất chất xanh
NSVCK
: Năng suất vật chất khô
TAX
: Thức ăn xanh
TĐST
: Tốc độ sinh trưởng
VCK
: Vật chất khô
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Số giống cỏ/cây thức ăn xanh đưa vào nghiên cứu
34
2.2
Bộ giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 2
36
2.3
Các giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 3a
39
2.4
Các giống cỏ/cây thức ăn trong Thí nghiệm 3b
40
2.5
Ký hiệu các công thức thí nghiệm đối với các giống cỏ
42
2.5
Diện tích sử dụng trong thí nghiệm 4
44
3.1
Tỷ lệ cây sống sau khi gieo 20 ngày
46
3.2
Năng suất chất xanh của các giống cỏ ở các lứa cắt (L)/năm
49
3.3
Năng suất xanh, năng suấtvật chất khô và năng suất protein tổng số
51
3.4
Thành phần hóa học của các giống cỏ thí nghiệm
53
3.5
Cường độ quang hợp các giống cỏ ở các giai đoạn
56
3.6
Độ dẫn khí khổng của các giống ở các giai đoạn
59
3.7
Nồng độ CO2 trong gian bào của các giống ở các giai đoạn
60
3.8
Chỉ số SPAD của các giống ở các giai đoạn
61
3.9
Hiệu suất sử dụng lượng tử của hệ quang hóa II của các giống ở các
giai đoạn
62
3.10
Hiệu suất sử dụng nước của các giống ở các giai đoạn
63
3.11
Tỷ lệ khô rễ/thân lá của các giống ở các giai đoạn
64
3.12
Chất khô tích lũy của các giống thí nghiệm ở các giai đoạn
65
3.13a
Ảnh hưởng của các mức bón phân đạm đến một số chỉ tiêu nông học
của hai giống cỏ hòa thảo
3.13b
67
Ảnh hưởng tương tác của mức bón đạm và giống đến một số chỉ tiêu
nông học của hai giống cỏ hòa thảo
3.14a
67
Ảnh hưởng của mức phân bón đến một số chỉ tiêu nông học của hai
giống cỏ họ đậu
70
vi
3.14b
Ảnh hưởng tương tác của giống cỏ họ đậu và mức đạm bón đến một
số chỉ tiêu nông học
3.15a
70
Ảnh hưởng riêng rẽ của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ lá/
thức ăn xanh và năng suất của các giống cỏ hòa thảo
3.15b
Ảnh hưởng tương tác của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ
lá/thân và năng suất của các giống cỏ hòa thảo
3.16a
92
Giá chi phí sản xuất theo các mức bón phân đạm khác nhau của giống
cỏ họ đậu
3.21
92
Tốc độ sinh trưởng, biến động số lá và số nhánh qua các lứa cắt trong
năm của giống cỏ hòa thảo
3.22
95
Ảnh hưởng của thời gian cắt đến tốc độ sinh trưởng, động thái ra lá và
số nhánh qua các lứa cắt trong năm của giống cỏ họ đậu
3.23
3.24
89
Giá chi phí sản xuất theo các mức bón phân đạm khác nhau của giống
cỏ hòa thảo
3.20b
88
Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong phần chất xanh thu cắt tại các
mức phân đạm bón khác nhau của giống cỏ họ đậu
3.20a
86
Thành phần dinh dưỡng chủ yếu trong phần chất xanh thu cắt tại các
mức bón phân đạm khác nhau của các giống thí nghiệm
3.19b
83
Ảnh hưởng tương tác của giống và mức bón phân đạm đến năng suất
tổng số của giống cỏ họ đậu trong mùa khô
3.19a
79
Ảnh hưởng tương tác của giống và phân đạm đến năng suất tổng số
của giống cỏ hòa thảo trong mùa khô
3.18
78
Ảnh hưởng của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ lá/ thức ăn
xanh và năng suất của các giống cỏ họ đậu
3.17
76
Ảnh hưởng riêng rẽ của các mức bón phân đạm và giống đến tỷ lệ
lá/thân và năng suất của các giống cỏ họ đậu
3.16b
75
100
Ảnh hưởng của lứa cắt đến tốc độ sinh trưởng, số lá và số nhánh sinh
ra của các giống thí nghiệm
102
Tiềm năng năng suất của giống cỏ thí nghiệm (tấn/ha/năm)
103
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.1
Nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm trung bình tại Nghĩa Đàn
30
2.1
Sơ đồ thí nghiệm 1
35
2.2
Phương pháp gây hạn trong thí nghiệm
37
2.3
Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm 3
43
3.1
Tương quan giữa các mức phân bón đạm với tốc độ sinh trưởng của
các giống hòa thảo
3.2
71
Tương quan giữa các mức phân bón đạm với tốc độ sinh trưởng của
các giống cỏ họ đậu
3.3
71
Tương quan giữa các mức phân bón Đạm với số nhánh của các giống
cỏ hòa thảo
3.4
72
Tương quan giữa các mức phân bón Đạm với số nhánh của các giống
cỏ họ đậu
3.5
73
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất xanh của 2 giống cỏ hòa thảo
3.6
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất khô của 2 giống cỏ hòa thảo
3.7
93
Chi phí sản xuất cỏ xanh và tỷ lệ giảm chi phí so với đối chứng của 2
giống cỏ họ đậu
3.11
82
Chi phí sản xuất 1kg cỏ xanh và tỷ lệ giảm chi phí so với đối chứng
của 2 giống cỏ hòa thảo
3.10
82
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất khô của 2 giống cỏ họ đậu
3.9
81
Mối tương quan giữa các mức phân đạm và hiệu suất sử dụng đạm của
năng suất xanh của 2 giống cỏ họ đậu
3.8
81
93
Tốc độ sinh trưởng của cỏ MULATO II theo thời gian sinh trưởng của
từng lứa
97
viii
3.12
Tốc độ sinh trưởng của cỏ Mombasa theo thời gian sinh trưởng của
từng lứa
3.13
97
Số lá của giống cỏ B. Mulato II sau khi gieo 20 ngày đến khi thu cắt
của các lứa trong năm
3.14
98
Số là của giống cỏ P.M. Mombasa sau khi gieo 20 ngày đến khi thu
cắt của các lứa trong năm
3.15
98
Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng đến số nhánh của giống cỏ
B. Mulato II qua các lứa cắt trong năm
3.16
Ảnh hưởng của thời gian sinh trưởng đến số nhánh của giống cỏ P.M.
Mombasa qua các lứa cắt trong năm
3.17
99
Chi phí sản xuất cho 1 kg cỏ xanh trong sản xuất đại trà
ix
99
104
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam bắt đầu chăn nuôi bò sữa từ những năm 60 của thế kỷ trước.
Nhưng chương trình nuôi bò sữa ở quy mô công nghiệp thì bắt đầu từ năm 2001,
khi Chính phủ có riêng quyết định khuyến khích phát triển đàn bò sữa (Quyết định
167/2001/QĐ - TTg ngày 26/10/2001). Trong 10 năm đó, tổng đàn bò sữa của nước
ta đã tăng từ 41.000 năm 2001 lên trên 145.000 con năm 2010 với tổng sản lượng
sữa tươi sản xuất hàng năm tăng trên 5,5 lần, dự kiến số lượng bò sữa của Việt Nam
sẽ tăng 15% từ 2010 đến 2015 và sẽ tăng 10% từ 2015 đến 2020 với sản lượng sữa
sẽ đạt trên 1triệu tấn để đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng sữa của Việt Nam vào năm
2020 (Đỗ Kim Tuyên, 2009).
Một trong những hạn chế cho sự phát triển chăn nuôi bò nói chung và bò sữa
nói riêng là việc đảm bảo nguồn thức ăn xanh, bởi không như các loài gia súc khác,
gia súc nhai lại thức ăn xanh chiếm từ 60 - 100% khẩu phần ăn hàng ngày. Nghĩa
Đàn là một trong những huyện trung du miền núi nằm ở phía Bắc - Tây Bắc của tỉnh
Nghệ An với đặc điểm khí hậu, đất đai thuận lợi, chăn nuôi luôn là một ngành quan
trọng trong sản xuất nông nghiệp của huyện, nên được chú trọng đầu tư và phát triển
trong những năm gần đây. Bò là đối tượng chăn nuôi đem lại hiệu quả cao cho người
dân, tình đến nay đàn bò trong dân đã lên đến hàng ngàn. Tận dụng lợi thế đó từ tháng
8 năm 2009, tại Nghệ An có một dự án lớn về chăn nuôi bò sữa qui mô công nghiệp
tập trung của công ty sữa TH được triển khai. Để cung ứng đủ nguồn thức ăn cho trên
12.000 con bò sữa nhập khẩu và trên 3.000 con bê sữa mới sinh là cả một vấn đề. Nếu
không áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trồng trọt bằng công nghệ cao để sản xuất thức ăn
thì dự án không thể có ngày hôm nay. Bởi vậy, nguồn thức ăn xanh bình quân hàng
trăm tấn/ngày (Sao Mai, 2011).
Để trồng cỏ theo phương thức thâm canh, cùng với chọn giống cỏ có khả
năng chịu hạn, thì cần có kỹ thuật sản xuất tốt, trong đó bón phân có vai trò quan
trọng để cây sinh trưởng tốt cho năng suất, chất lượng cao. Đối với cây trồng đạm là
yếu tố chính, yếu tố quyết định sự sinh trưởng phát triển và năng suất chất lượng của
1
cây. Các loài cỏ có khả năng cho năng suất chất xanh rất cao trong 5 - 8 đợt cắt/năm
nên có yêu cầu rất cao về phân khoáng nhất là phân đạm.
Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu mang tính hệ thống
thực hiện để lựa chọn được bộ giống cỏ phù hợp với điều kiện sinh thái (nhất là khô
hạn) tại huyện Nghĩa Đàn - Nghệ An, cũng như có những giải pháp kỹ thuật canh tác
thích hợp giúp cây cỏ sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng cao đáp
ứng được với yêu cầu của kế hoạch phát triển chăn nuôi bò sữa của huyện là việc làm
rất cần thiết và mang tính cấp bách hiện nay.
2. Mục tiêu của đề tài
- Tuyển chọn một số giống cỏ (hòa thảo và họ đậu) năng suất cao, chất lượng
tốt có khả năng chịu hạn, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của huyện
Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Xác định mức bón phân đạm phù hợp cho các giống cỏ được chọn lọc để
đảm bảo năng suất cao, chất lượng tốt và giá chi phí sản xuất thấp.
- Đánh giá khả năng phát triển của các giống cây thức ăn xanh (CTAX) đã
được chọn để đưa ra sản xuất đại trà.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả ngiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị về
khả năng sản xuất cũng như các đặc tính sinh lý của các giống cỏ làm thức ăn gia
súc trong điều kiện sinh thái khô hạn của Nghệ An để cho năng suất chất xanh đạt
chất lượng cao đáp ứng cho chăn nuôi bò sữa quy mô lớn. Và luận án là tài liệu
tham khảo có ý nghĩa về mặt khoa học cho công tác giảng dạy, nghiên cứu về đồng
cỏ và phát triển thức ăn gia súc trong điều kiện sinh thái hạn.
- Hoàn thiện được quy trình canh tác một số giống cỏ có triển vọng trên cơ
sở nghiên cứu xác định được mức phân bón đạm thích hợp cho cỏ đạt năng suất
cao, chất lượng tốt, quy trình được khuyến cáo áp dụng cho các cơ sở trồng cỏ trên
toàn tỉnh Nghệ An.
- Tuyển chọn các giống cây thức ăn mới, bổ sung vào bộ giống cỏ năng suất,
2
chất lượng cao, chịu hạn phục vụ phát triển chăn nuôi bò sữa nói riêng và chăn nuôi
gia súc ăn cỏ nói chung của huyện Nghĩa Đàn và tỉnh Nghệ An.
- Góp phần lựa chọn và phát triển các giống cỏ chịu được điều kiện khô hạn
của vùng đồi núi Nghĩa Đàn, bổ sung thông tin làm cơ sở cho công tác nghiên cứu
các giống cỏ, cây thức ăn chăn nuôi chịu hạn khác.
- Xác định được mức bón phân đạm hợp lý cho năng suất cao, chất lượng tốt,
giảm chi phí sản xuất và hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng thâm canh các giống
cây thức ăn gia súc trong vùng.
- Đánh giá khả năng cho năng suất và chất lượng của giống cỏ đã được chọn
lọc trong sản xuất đại trà sẽ kiểm chứng lại toàn bộ các biện pháp kỹ thuật canh tác
được giải quyết trong phạm vi thực hiện của đề tài và tiếp cận kế thừa kết quả của
các công trình nghiên cứu trước để hoàn thiện quy trình sản xuất cho từng giống cỏ
trong vùng trên cơ sở đó khuyến cáo nhân rộng ra toàn tỉnh.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giới thiệu được số giống cỏ làm thức ăn
gia súc có khả năng chịu hạn và vẫn cho năng suất, chất lượng tốt để phát triển trên
quy mô lớn.
- Đưa ra được bộ giống cỏ năng suất, chất lượng cao phù hợp với vùng sinh
thái của huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Tạo ra nguồn giống cỏ cho các cơ sở chăn nuôi, hộ nông dân trồng và giải
quyết nguồn thức ăn xanh chất lượng cao hiện đang thiếu trầm trọng trong chăn
nuôi gia súc ăn cỏ trong mùa khô.
- Sản phẩm thức ăn xanh từ một số giống cỏ có chất lượng cao là nguồn bổ
sung dinh dưỡng một cách cân đối về hàm lượng protein thực vật cho gia súc, tạo ra
sản phẩm sạch phục vụ cho xã hội góp phần xây dựng ngành chăn nuôi bò sữa phát
triển ổn định và bền vững.
4. Những đóng góp mới về học thuật và lý luận của đề tài
- Xác định được giống cỏ: Brachiria MulatoII; P.M. Mombasa; Stylosanthes
3
CIAT 184; Stylosanthes Ubon có khả năng chịu được điều kiện khô hạn, năng suất
cao, chất lượng tốt trồng thích hợp trên vùng đất đỏ bazan và điều kiện thời tiết khí
hậu thuộc huyện Nghĩa Đàn, bổ sung vào bộ giống cây thức ăn cho gia súc ăn cỏ
của tỉnh Nghệ An.
- Xác định được mức bón phân đạm phù hợp, có hiệu quả kinh tế cao là 250
kg N/ha/năm đối với cỏ hòa thảo, 125 kg N/ha/năm đối với cây họ đậu trong sản xuất
thâm canh các giống cỏ chọn lọc phục vụ chăn nuôi bò sữa và làm cơ sở cho việc xây
dựng các quy trình trồng các giống cỏ trong phạm vi toàn tỉnh.
- Xác định được hướng phát triển thâm canh một số giống cỏ trong sản xuất
đại trà phục vụ chăn nuôi bò sữa của huyện Nghĩa Đàn làm cơ sở khuyến cáo rộng
ra các vùng chăn nuôi gia súc ăn cỏ trong toàn tỉnh.
5. Giới hạn của đề tài
- Đề tài được thực hiện từ năm 2010 - 2013, tại huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
- Giống cỏ nghiên cứu: 15 giống cỏ (8 giống cỏ họ hòa thảo và 7 giống cỏ họ
đậu) là vật liệu nghiên cứu ban đầu để đánh giá và tuyển chọn.
- Lượng đạm bón khác nhau cho 1 số giống cỏ là biện pháp kỹ thuật nhằm
nâng cao năng suất và chất lượng phục vụ chăn nuôi bò sữa.
4
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Khái niệm về cây thức ăn xanh và nhóm giống sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm về cây thức ăn xanh
Cây thức ăn xanh (forages) bao gồm cả các loại cây thức ăn tự nhiên và được
trồng trong điều kiện canh tác với mục đích sử dụng làm thức ăn cho gia súc, bao
gồm tất cả các loài thực vật thuộc họ hoà thảo (Grasses), họ đậu (Legumes), cây đậu
thân gỗ (Tree legumes) và những cây trồng lấy ngọn lá, thân, rễ,… có thể sử dụng
được để làm thức ăn cho gia súc (chủ yếu cho động vật nhai lại). Cây thức ăn xanh
được chia ra thành 2 nhóm chính gồm:
Nhóm 1: Các cây thuộc họ hòa thảo là họ thực vật một lá mầm (Liliopsiada),
tên khoa học là PoaceaehoặcGramineae. Trong họ này có khoảng 668 chi và
khoảng 10.035 loài cỏ chiếm khoảng 20% toàn bộ thảm thực vật trên trái đất. Cỏ
trồng (planted forages) là khái niệm thường dùng để chỉ các giống cỏ và cây thức
ăn cải tiến (Improved forages), là những giống được nghiên cứu lai tạo hay tuyển
chọn từ tự nhiên với mục đích tạo ra các giống cho năng suất cao, chất lượng tốt,
thích nghi với điều kiện tự nhiên và canh tác với một vùng nào đó để làm cỏ tươi, ủ
chua, cỏ khô làm thức ăn cho gia súc và thường có thời gian sinh trưởng 1 năm, 2
năm hoặc nhiều năm (Burkart,1988; Judd et al., 2002).
Cỏ hòa thảo có đặc điểm là có năng suất cao, ngon miệng đối với gia súc,
thông thường chúng chiếm một tỷ lệ cao trong toàn bộ khẩu phần ăn và là nguồn
cung cấp năng lượng chủ yếu cho gia súc nhai lại. Tuy nhiên hầu hết các cây hoà thảo
có chứa hàm lượng protein thấp chỉ vào khoảng 5 đến 12% so với vật chất khô. Tỷ lệ
này phụ thuộc vào các yếu tố như di truyền, dinh dưỡng của đất, mùa vụ và tuổi thu
hoạch (Trương Tấn Khanh, 2003).
Nhóm 2: Các cây thuộc họ đậu (Leguminosae) hoặc (Fabaceaesensu lato).
Bộ đậu chiếm khoảng 9,6% sự đa dạng thực vật hai lá mầm thật (Magallón et
al.,1999). Cây họ đậu bao gồm một số loài quan trọng bậc nhất cung cấp thực phẩm
5
cho con người và là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc, gia cầm, làm phân xanh,
cây cảnh và cây thuốc. Các loài trong họ này phát triển đa dạng như nhóm cây mọc
thẳng, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Một đặc trưng nổi bật của các
loài cây thuộc họ Đậu đó là các loại cây chủ cho nhiều loài vi khuẩn cố định đạm
Rizhobium cộng sinh có khả năng lấy khí nitơ (N2) trong không khí và chuyển hóa
nó thành các dạng NO3 hay NH4 cho cây hấp thụ. Hoạt động này được gọi là cố
định đạm trong vai trò của cây chủ, còn vi khuẩn nốt rễ với vai trò của nhà cung cấp
nitrat có ích (Watson and Dallwitz,1992).
1.1.2. Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ hòa thảo thí nghiệm
1.1.2.1. Brachiaria sp.
Chi Brachiaria có khoảng hơn 100 loài phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới của phía Đông và Tây bán cầu nhưng chủ yếu là ở châu phi (Renvoize,
1987). Bởi loài lâu năm nhất có nguồn gốc tại Châu Phi gồm Brachiaria arrecta,
B.brizantha, B.decumbens, B.dictyoneura, B.humidicola, B.mutica và B.ruziziensis
được sử dụng làm cây thức ăn gia súc, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới châu Mỹ (Argel et
al., 2007).
Brachiaria brizantha: Được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới của châu
Phi từ mức 0 đến 2.400m so với mực nước biển, lượng mưa hàng năm hơn 800 mm
(Bogdan, 1977). Ở Đông Phi, Bogdan (1955) cho rằng B.brizantha có rất nhiều
giống khác nhau. Mỗi vùng sinh thái khác nhau có các giống đặc trưng khác nhau.
B.brizantha có khả năng chịu hạn tốt và sinh trưởng nhanh (Stomayor-Rios et al.,
1960). Brachiaria brizantha cho năng suất cao trên môi trường đất có độ pH thấp
(Stomayor-Rios et al., 1960).
Brachiaria ruziziensis: Thích nghi với vùng nhiệt đới ẩm (Whiteman, 1980).
Khả năng sinh trưởng yếu hơn so với cỏ Para và Signal grass, chịu bóng râm tốt.
Brachiaria mutica: là một loại cỏ thân bò lâu năm được trồng rộng rãi ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ẩm với lượng mưa 1250mm cỏ này đã trở thành
nguồn cung cấp thức ăn quan trong của ngành công nghiệp thịt bò ở Nam và Trung
Mỹ, Úc, Philippines và Cuba (Bogdan, 1977).
Brachiaria hybrid Mulato I là giống lai từ Brachiaria ruziziensis dòng 44-6
6
và Brachiaria brizantha CIAT 6297 là sản phẩm đầu tiên trong chương trình lai tạo
giống của CIAT. Mặc dù cỏ Mulato I đòi hỏi đất trồng màu mỡ nhưng giống này có
khả năng chịu được điều kiện khô hạn cao, giống khỏe, sinh trưởng nhanh và chất
lượng dinh dưỡng tốt (Argel et al., 2007).
Brachiaria hybrid Mulato II CIAT 36087: được nghiên cứu và chọn tạo từ
năm 1989 trong khuôn khổ dự án thức ăn gia súc của Trung tâm Nông nghiệp nhiệt
đới Quốc tế (CIAT). Giống Mulato II là một tứ bội (2n = 4x = 36 nhiễm sắc thể), cỏ
lâu năm, thân cây có hình trụ, sinh trưởng mạnh, lá hình mũi mác và có màu xanh
đậm. Mulato II phát triển trên độ cao 1800mm so với mực nước biển, điều kiện ẩm
ướt hoặc mùa khô ở những nơi có lượng mưa hàng năm trên 700mm. Mulato II
thích hợp với đất chua, thoát nước (Argel et al., 2007).
1.1.2.2. Panicum maximum (Panicum polygamum, Guinea grass)
Cỏ Panicum maximum có số lượng nhiếm sắc thể 2n=18, 32, 36, 48 và có
nguồn gốc ở Châu Phi. Các giống cỏ P.M. có thể sinh trưởng và phát triển tốt
trong điều kiện khô hạn và nóng ẩm, nhưng không chịu được ngập úng (Lenné
and Sonoda, 1990).
Panicum maximum cv. (P.M.) hay cỏ Ghinê, có khả năng sinh trưởng tốt
trong điều kiện các nước nhiệt đới của cả hai bán cầu, nơi đóng vai trò quan trọng
trong việc sản xuất thịt và sữa. Sự phân bổ của Panicum maximum ở các vùng có
lượng mưa cao (hơn 1300mm). Cỏ Panicum maximum rất mẫn cảm với sương
muối, đỉnh sinh trưởng có thể bị héo hoặc là cỏ có thể chết (Motta, 1953; Russell
and Webb, 1976).
Ở Việt Nam cỏ P.M. còn có tên là cỏ Sả hoặc cỏ Tây Nghệ An và được đánh
giá là một trong những dòng cỏ tốt nhất Việt Nam. Giống cỏ P.M. TD 58 (còn gọi là
cỏ sả lá lớn ở vùng Đông Nam Bộ) là giống cỏ cho năng suất cao, chịu hạn khá,
chịu được bóng râm, dễ trồng, phù hợp với chân ruộng cao, đất pha cát, không chịu
được ngập úng (Lê Hà Châu, 1999).
1.1.2.3. Sorghum bicolor cv.
Sorghum bicolor (L) Moench, tên thường gọi là Sorghum và ở Việt Nam
thường gọi là cao lương. Sorghum bao gồm một số giống trồng chính để lấy hạt làm
7
lương thực cho con người, một số giống trồng làm thức ăn xanh cho chăn nuôi và
một số giống bao gồm cả 2 mục đích trên (Harada et al., 2000). Sorghum có nguồn
gốc ở phía Bắc Châu Phi và hiện nay đã được phát triển rộng rãi trên khắp các nước
vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới. Thuộc nhóm cây C4, dòng Sorghum bicolor bao
gồm các giống cây hàng năm và cây lâu năm, thân đứng mọc thẳng đứng, cứng và
có thể mọc cao từ 0,6 đến 5m và đường kính thân rộng từ 5 - 30mm. Hệ thống rễ tự
sinh và có thể ăn sâu tới 90cm. Phiến lá rộng, không có lông giống như lá ngô
nhưng chiều dài lá ngắn hơn và rộng hơn lá ngô. Hoa chùy dài khoảng 60cm mang
tới 6000 bông con, hạt nhỏ có kích thước đường kính từ 3-4mm (Balole et al.,
2006). Sự khác nhau giữa các giống thể hiện lớn nhất là ở đặc điểm thân cây từ hình
thái mỏng đến dầy hoặc thấp hay kết bụi (Rattunde et al., 2001).
Hiện tại Viện Nghiên cứu Cây lương thực Quốc tế cho vùng nhiệt đới khô
hạn ở Ấn Độ đang lưu giữ 36.000 dòng từ tất cả các giống Sorghum chính trong
vùng trên thế giới (Balole et al., 2006). Là giống thích ứng với biên độ nhiệt độ
rộng, thích ứng rộng với các độ cao, đất bị độc tố và là cây có đặc tính sinh trưởng
bù sau những giai đoạn khô hạn. Các giống Sorghum được sử dụng làm thức ăn cho
gia súc hiện nay bao gồm 4 giống:
Sorghum: sản xuất hạt là chính nhưng thân lá, rơm (bông chùm hạt) sau khi
thu hoạch hạt có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc nhai lại là nhóm thân mọc
đứng cao từ 2-4m, thân dày và là giống đa mục đích (Magness et al., 1971).
Sweet sorghum: thân chứa nhiều đường và có thể sử dụng ép lấy đường ở các
nông hộ nhỏ. Giống này được trồng chủ yếu làm thức ăn xanh cho gia súc, đặc biệt
ở Mỹ và cũng được sử dụng làm nguồn gen cho việc lai tạo các giống Sorghum lai.
Đây là giống có khả năng cho sinh khối cao và được lai tạo với một số dòng cỏ hòa
thảo tạo ra một số giống lai có hàm lượng đường trong thân cao hơn và hàm lượng
HCN giảm hơn giống Sorghum ban đầu để sử dụng làm thức ăn xanh, làm cỏ khô
hoặc cỏ ủ chua (Suttie, 2000) Sudan grass (Sorghum*Drummondi) và Columbus
grass (Sorghum*Almum).
Sorghum Hybrid thương mại: là giống lai giữa 2 giống cỏ Sudan và giống
8
Sorghum vừa lấy hạt và cả thân lá làm thức ăn chăn nuôi. Đây là giống nổi trội nhất
trong các giống làm thức ăn chăn nuôi. Là giống có khả năng tái sinh cao, cho nhiều
lứa cắt trong năm và có NSX cao hơn nhiều so với giống Sudan. Đặc điểm của
giống là phiến lá rộng có gân màu nâu, toàn thân và lá có màu nâu sáng, hàm lượng
lignine trong thân lá thấp nên tỷ lệ tiêu hóa thành tế bào cao (Barrière et al., 2003;
Ouda et al., 2005; Contreras et al., 2010; Pedersen et al., 2000). Tuy nhiên giống
này có mang một tính trạng là thích ứng với biên độ môi trường hẹp hơn, đất giàu
dinh dưỡng và đầy đủ nước, do vậy mà khả năng ứng dụng rộng rãi trong sản xuất
bị hạn chế (Contreras et al., 2010).
Các giống Sorghum có thể gieo trồng năng cao giá trị thức ăn trong các bãi
chăn thả, trồng thâm canh để thu cắt chất xanh, làm cỏ khô hoặc ủ chua dự trữ
(Pedersen et al., 2000).
Sorghum là giống cây tự nhiên miền Đông Châu Phi là Ethiopia (Ecoport,
2011), nhưng cũng được ghi chép trong lịch sử của Ấn Độ và ở Assyria vào những
năm 700 trước Công Nguyên. Giống Sorghum được nhập từ Châu Phi vào nước Mỹ
từ những năm đầu của thế kỷ 17 (Undersander et al., 2003; Balole et al., 2006) và
hiện nay đã phát triển rộng rãi ở các nước trong phạm vi 50ovĩ độ Bắc (Mỹ và Liên
Xô) và 40ovĩ độ Nam và các vùng cao 1000m so với mực nước biển (Ecoport,
2011). Nhiệt độ thích hợp cho Sorghum sinh trưởng là 25-30oC, giai đoạn phát triển
hạt là 30oC, lượng mưa trung bình trong thời gian sinh trưởng là 400 - 750mm,
trồng thích hợp trong điều kiện lên luống và trên đất có khả năng thoát nước nhanh,
đất có độ pH từ 5,5 - 7,5. Là cây chịu được điều kiện khô hạn cao là nhờ bộ rễ phát
triển mạnh và ăn sâu do vậy nó được trồng trên các loại đất mà không thể trồng ngô
được (FAO, 2011). Mức độ chịu mặn phụ thuộc vào từng giống khác nhau, giống
Sweet Sorghum có khả năng chịu được điều kiện mặn cao (Cook et al., 2005) và
một số giống chịu được đất mặn hơn các giống cỏ hòa thảo và một số giống có thể
chịu được ngập úng trong thời gian ngắn nhưng rất mẫn cảm với sương muối. Các
giống Sorghum phản ứng với phân bón khá cao nhất là phân đạm có thể bón đến
400 kg N/ha (NRC, 1996).
9
Năng suất xanh bình quân khoảng 20 tấn/lứa/ha (Balole et al., 2006) nhưng
có thể đạt 75 tấn/ha trong điều kiện sinh trưởng tối ưu. Trong điều kiện chăn thả độ
cao thảm không nên thấp hơn 15 cm, ít nhất độ cao đạt 0,45m (Undersander et al.,
2003) hoặc từ 0,8 đếm 1,1 m (Vignau et al., 2008). Tuy nhiên hàm lượng HCN
chứa trong thân lá Sorghum, nhất là thân lá non, sẽ gây ngộ độc cho gia súc ăn cỏ.
Hàm lượng HCN biến động từ 100-800 mg/kg VCK trong khi đó mức độ an toàn
cho gia súc khoảng 2mg/kg khối lượng gia súc (Pedersen et al., 2000). Một trong
những biện pháp kỹ thuật ủ chua hoặc làm cỏ khô là các giải pháp hữu hiệu tránh
ngộ độc thức ăn cho gia súc (Undersander et al., 2003).
Hàm lượng protein biến động từ 12,9 - 19% theo VCK và tùy thuộc vào
trạng thái sinh lý hoặc mục đích sử dụng. Ở trạng thái chín sáp hàm lượng protein ở
thân lá giảm mạnh chỉ còn khoảng 6,9%; hàm lượng ADF khoảng 31,2-37,4%
(INRA, 2007) khi ở trạng thái trưởng thành hàm lượng ADF có thể đến 40,3%
(Contreras et al., 2010).
1.1.2.4. Zea mays
Cây ngô (Zea mays) là cây lương thực quan trọng ở các nước nhiệt đới và
bán nhiệt đới và là nguồn thức ăn quan trọng cho gia súc và gia cầm. Nguồn gốc
của cây ngô có thể từ vùng Đông Nam Á (Anderson, 1945), nhưng một số tài liệu
lại cho rằng rất có thể ngô bắt nguồn từ Mexico, Guatemala (Stadelman and
Raymond, 1940).
1.1.3. Đặc điểm thực vật học của các nhóm giống thuộc họ đậu thí nghiệm
1.1.3.1. Giống cỏ Stylo (Stylosanthes guianensis )
Chi Stylosanthes thuộc họ đậu (Fabaceae) bao gồm 48 loài được phát hiện ở
vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của Châu Mỹ, Châu Phi và Đông Nam Á (Costa and
Ferreira, 1984; Costa, 2006). Chỉ có hai trung tâm đa dạng, một trong số đó là miền
Trung Brazil (Ferreira and Costa,1979; Stace and Cameron, 1984).
Stylosanthes guianensis (Aubi) Sw., có 2n=20 là loài phổ biến và có sự đa
dạng về kiểu hình (Williams et al., 1984; Vieira et al.,1993). Stylosanthes guianensis
có nguồn gốc ở Nam và Trung Mỹ, nơi nó được trồng rộng rãi (Williams et al. 1984).
10
Stylosanthes guianensis được coi là một loại cây thức ăn gia súc đầy hứa hẹn trong
các thảo nguyên của Brazil và nó được sản xuất một số lượng lớn thức ăn cung cấp
cho mùa khô (Andrade and Karia, 2000; Maass and Sawkins, 2004).
Stylosanthes guianensis cv CIAT 184 (tên thông thường Stylo CIAT 184)
được đưa vào Việt Nam năm 1995 trong chương trình Forage and Livestock
Systems Project (FLSP). Stylo CIAT 184 là giống đã chứng minh được là có thể
trồng và cho năng suất cao trên đất có độ phì kém và hơi chua tại M’Drăk (Trương
Tấn Khanh, 2003), năng suất đạt 21,56 tấn VCK/ha/năm tại Hòa Bình (Lê Hoa và
Bùi Quang Tuấn, 2009), tại 4 vùng chăn nuôi bò sữa trong điểm: Ba Vì, Hà Tây cũ;
Thái Nguyên; Đức Trọng, Lâm Đông và Lam Sơn, Thanh Hóa (Nguyễn Thị Mùi và
cs., 2005) và trồng thích hợp trên các loại đất thuộc 5 vùng sinh thái Việt Nam:
đồng bằng Bắc Bộ, núi Tây Bắc, duyên hải miền Trung, Đông Nam Bộ và Tây Nam
Bộ (Nguyễn Thị Mùi, 2011).
Stylosanthes guianensis cv Ubon là giống cỏ cho năng suất khá cao, 13; 18
và 17 tấn VCK trong năm thứ nhất, thứ hai và năm thứ 3 tại Thái Lan và cao hơn
giống Stylo Verano từ 2-6 lần và là giống có khả năng sản xuất hạt cũng cao
(Sukkasame and Phaikaew, 2001). Giống cỏ cho NS VCK tương đương với giống
cỏ hòa thảo Brachiaria spp. Trong nghiên cứu của Hare et al. (2005) và Digitaria
milanjiana cv. Jarra trong các kết quả nghiên cứu của Hare et al. (2004). Hiện tại
giống cỏ họ đậu này đang được các hộ chăn nuôi ở Thái Lan lựa chọn và phát triển
(Hare et al., 2007).
1.1.3.2. Leucaena leucocephala
Keo dậu hay keo giậu (Leucaena leucocephala), là loại cỏ được trồng phổ
biến ở các vùng nhiệt đới trên thế giới, là nguồn thức ăn giầu protein quan trọng
trong chăn nuôi động vật nhai lại. Cỏ Leucaena leucocephala cho chất lượng cao,
ngon miệng, khả năng tiêu hóa và thành phần hóa học cân bằng, protein, khoáng và
axit amin (Jones, 1979). Hàm lượng chất xơ thấp và hàm lượng tannin vừa phải để
thúc đẩy quá trình phân giải protein (Wheeler, 1994).
11
1.2. Tình hình nghiên cứu và chọn tạo cây thức ăn xanh trên thế giới và ở
Việt Nam
1.2.1. Trên thế giới
Hiện nay trên thế giới có tới hơn 11.000 giống cỏ tức là tính đa dạng sinh
học của các loài cỏ rất cao và có ý nghĩa rất lớn trong sự sống vì rất nhiều loài sinh
vật phụ thuộc vào nguồn thức ăn này. Trên thế giới nói chung và vùng Đông Nam
Châu Á nói riêng, một tập đoàn giống cỏ và cây thức ăn gia súc chất lượng cao đã được
chọn lọc và khẳng định tiềm năng của chúng trong sản xuất ở nhiều nước.
Ở miền Nam Thái Lan những hộ nông dân chỉ có 2 - 2,5 ha đã phát triển
mạnh một số giống cỏ hoà thảo là Brachiaria ruziziensis, B. humidicola, B. mutica
và Paspalum plicatulum, Echinochloa polystachya, Panicum maximum và giống cỏ
chất lượng cao Stylosanthes hamata cv. Verano. Tuy nhiên giống Stylo Verano
không chịu được úng ngập lâu ngày so với các giống trên. Ở các vùng trung du (bán
sơn địa), một số giống cỏ chất lượng cao có khả năng thích ứng cao trong điều kiện
đất cát nghèo dinh dưỡng bao gồm các giống cỏ trồng Stylosanthes humilis, S.
hamata và Macroptilium atropurpureum. Cũng tại Thái Lan việc cỏ trồng phục vụ
chăn nuôi bò sữa và các cơ sở vỗ béo bò thịt được xem xét như một ngành sản xuất
thương mại. Các giống cỏ như Paspalum, Ruzi, Ghinê, Stylo và Leucaena đã được
tuyển chọn, phát triển và hiện tại đã xuất khẩu sang các nước xung quanh khu vực.
Các giống cỏ này cho năng suất khá cao đặc biệt là P.M. TD 58 cho năng xuất VCK
42 tấn/ha/năm (Sajtipanon et al., 1995).
Giống cỏ Stylo. CIAT 184 đã được trồng rộng rãi làm thức ăn cho gia súc và
đặc biêt là sản xuất hạt giống dễ dàng hơn nhiều giống cây họ đậu khác
(Satjipanonet al., 1995). Tại các nước như Pakistan, Nepal nhiều giống cỏ cho năng
suất VCK khá cao và là nguồn thức ăn xanh có giá trị cho gia súc nhai lại như P.
purpureum, P. maximum sp., Pangola, Bermuda, Saccharum, Paspalum dilatatum,
Stylosanthes sp. và Avena sativa (Laquihon and Pagbilao, 1994). Hiện nay việc
chọn lọc và sản xuất hạt giống cỏ năng suất, chất lượng cao tương đối phổ biến tại
vùng phía Tây và phía Đông Java Indonesia, 17 giống cỏ hòa thảo và 13 giống cây
họ đậu đang được sản xuất hạt giống cung cấp cho các vùng địa lý, khí hậu khác
12
nhau trong cả nước (Nitis et al., 1996) và giống cỏ Stylosanthes guianensis được
trồng xen trong cây sắn, khối lượng sản phẩm thức ăn xanh tăng 132% so với chỉ
trồng sắn hoặc Stylo thuần và hàm lượng nitơ trong đất đã tăng 20kg/ha khi có sự
đóng góp của cỏ Stylo, trong thâm canh tăng năng suất (Nitis, 1976). Các giống cỏ
Stylo cũngđược bắt đầu chọn lọc và phát triển tại Trung Quốc từ những năm 1982
và đến 1993 giống CIAT 184 đã phát triển tới 5200 ha và giống Stylo cv. Graham là
24.000 ha (Liu and Kerridge, 1997). Hàng năm diện tích trồng cỏ Stylo tăng 15-20%
riêng tỉnh Quảng Đông đã có hơn 100.000 hộ nông dân trồng cỏ Stylo cho chăn
nuôi đặc biệt là chế biến bột cỏ Stylo cho chăn nuôi gia cầm. Tại 2 tỉnh Quảng
Đông và Hải Nam, diện tích trồng ước tính 5000 ha với năng suất bột cỏ là 15
tấn/ha và người dân hàng năm đã thu được 140 $/1 tấn bột (Peters et al., 2001).
Nước Ấn Độ bắt đầu quan tâm chọn lọc và phát triển giống cỏ họ đậu Stylosanthes
vào năm 1974 với số lượng hạt giống ban đầu chỉ có 5 kg do Tổ chức Ngân hàng
thế giới giúp đỡ. Từ năm 1985 đến nay Ấn Độ đã tập trung vào các nghiên cứu
tuyển chọn giống thích hợp với các vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là các giống
Stylo kháng được bệnh lở cổ rễ (Ramesh et al., 2004; Chakraborty, 2004; Rai and
Pathak, 1985) và các giống chịu được những vùng khô hạn (Rai and Pathak,1985).
Giống Stylo. Hamata và giống Stylo. Seabrana cho năng suất hạt cao và có khả năng
chống chịu sương muối. Giống Stylo. Scabra đã được sử dụng làm nguyên liệu
trong nghiên cứu để lai tạo ra các giống lai có năng suất cao chịu được điều kiện
khô hạn kéo dài (Peters et al., 2001). Đến năm 2000 huyện Reddipalli đã trở thành
vùng phát triển hạt giống cỏ Stylo chính của Ấn Độ và đã mở rộng ra 25 thôn với
diện tích 15000 ha tại huyện Anantpur. Các hộ nông dân tập trung sản xuất hạt 2
giống Stylo. Hamata và Stylo. Scabra và đã thu được 30 triệu Rs. Vào giai đoạn đó
Viện Nghiên cứu Đồng Cỏ (IGFRI) ở tỉnh Dharwad đã hoàn thiện quy trình phân
loại và làm sạch hạt giống theo hướng công nghiệp phục vụ sản xuất hạt Stylo
thương mại (Ramesh and Nagaratna, 2000).
1.2.2. Ở Việt Nam
Các nghiên cứu về CTAX cho gia súc đã được nhiều nhà khoa học tiến hành
trong suốt các thập kỷ qua. Tổng hợp kết quả nghiên cứu về ngành đồng cỏ từ năm
13
1960 đến 2005 cho thấy chúng ta đã nhập và thử nghiệm 245 giống cỏ trong đó các
giống cỏ họ đậu là 63 giống và một số giống nhập lẻ tẻ và trùng lặp qua các năm và
thông qua các dự án. Đặc điểm nổi bật trong cả giai đoạn này là hầu hết các nghiên
cứu đều tập trung vào tuyển chọn và xác định được các giống cỏ trồng nhập nội và
giống địa phương có năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với các vùng sinh thái
khác nhau trong cả nước. Kết quả chỉ ra rằng một tập đoàn giống cỏ hoà thảo phong
phú đã được tìm ra và rất nhiều giống đã và đang được phát triển rộng trong sản
xuất như những kết quả nghiên cứu của (Nguyễn Ngọc Hà và cs.,1985) về các
giống cỏ được tuyển chọn là Setaria Splenda đạt 28-80,4 tấn; Brachiaria Mutica:
28-86,6 tấn/ha/năm, Brachiaria decumbens đạt 44,1-73,8 tấn/ha/năm trồng tại Sơn
Thành, Long Mỹ thuộc vùng Duyên hải miền Trung và Từ Liêm, Thanh Trì vùng
đồng bằng Bắc Bộ. Theo một số tác giả nghiên cứu đã báo cáo rằng các giống cỏ
hoà thảo cho năng suất VCK khá cao 18-61tấn/ha/năm (P. pupurseum King grass),
17,8-40 tấn/ha/năm (Panicum maximumi), 13,8-36 tấn/ha/năm Brachiaria sp. và
14,8- tấn cho các giống Pangola, Bermuda. Trên vùng đất phù sa sông Hồng, vùng
đất đồi Hà Tây giống cỏ P.M. TD58 cho năng suất VCK từ 17-18 tấn/ha/năm. Các
giống cỏ P.M. Hamill, P.M. Common, P.M. Ciat 673 cũng cho năng suất xanh khá
cao (60-66 tấn/ha/năm) trên vùng đất xám Bình Dương. Đặc biệt với giống cỏ B.
ruzisinensis trồng quảng canh ở nhiều vùng Hà tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Khánh
Hoà, Hoà Bình, Hà Tĩnh, Gia Lai cho năng suất xanh từ 50-65 tấn/ha/năm. Tại vùng
đất Đăk Lăkgiống B. ruziziensis đạt năng suất VCK khoảng 14,5 tấn/ha/năm
(Khổng Văn Đĩnh và cs., 1997; Nguyễn Ngọc Hà và cs., 1995; Dương Quốc Dũng
và cs.,1998; Phan Thị Phần và cs.,1999; Nguyễn Thị Mùi và cs., 2010; Vũ Kim
Thoa và cs., 1999). Nguyễn Văn Quang và cs. (2006), cũng đã chỉ ra trong nghiên
cứu và sản xuất thử nghiệm về các giống cỏ hoà thảo trên các loại đất có độ dốc
khác nhau tại khu vực trung du miền núi phía Bắc kết quả chỉ ra rằng các giống cỏ
đã cho 6 lứa cắt/năm và NSX của các giống P.M.TD 58: 75-87 tấn/ha/năm; Setaria
splenda: 93-117,5 tấn/ha/năm ; B. Decumbens 80-90,3 tấn/ha/năm, P.M. hamill 6175,6 tấn/ha/năm và Paspalum atratum đạt NS xanh từ 60-108,6 tấn/ha/năm. Nguyễn
Văn Lợi và cs. (2006) đã xác định được bộ giống bao gồm 7 giống cỏ hòa thảo
14