Hà Nội Sầm Sơn
Li cho: (3phỳt ) + Hdv s hỏt mt bi lm quen v mI khỏch lờn hỏt giao
lu to khụng khớ thõn mt khi xe cha ra khI a phn H NI (20 phỳt)
Xin cho cỏc cụ cỏc bỏc, cỏc anh ch v cỏc bn. .
n c cao tc Phỏp Võn: (30 phỳt) - giI thiu qua v tnh H Tõy (núi 15
20 phỳt)
Kớnh tha cỏc bỏc, cỏc cụ chỳ, anh ch v cỏc bn. Xe ca chỳng ta ang ln
bỏnh trờn a phn tnh H Tõy.
H Tõy l mt tnh thuc ng bng chõu th Sụng Hng, lónh th kộo di theo
hng Tõy Tõy Bc - ụng ụng Nam. H Tõy cú v trớ nh l ca ngừ phớa Tõy
Tõy Bc v ụng Nam ca kinh ụ Thng Long - ụng ụ trong quỏ kh v th
ụ H Ni ngy nay. Trong sỏch Lch triu hin chng loi chớ cú on vit v
H Tõy: õy l mt ni cú hỡnh th tt, ch t cú khớ th hựng hu, l ni t t
khớ anh hoa
V trớ ca ngừ ca kinh ụ nc Vit trong sut chiu di lch s ca H Tõy
ó to nờn mt nn vn hoỏ truyn thng vi mt kho tng cỏc di tớch vn húa
lch s s v quý giỏ - xng danh l t t khớ anh hoa, a linh nhõn kit, vi
nhng con ngi v a danh ó i vo s sỏch.
H tõy cú 2.388 di tớch trong ú cú 351 di tớch c xp hng di tớch lch s
vn hoỏ cp quc gia, trong ú nhiu di tớch lch s vn hoỏ ni ting trong nc v
th gii nh : chựa Thy, chùa Tây Phơng, Chùa Đâụ, chựa Mớa, chựa Trm
Gian, ỡnh Tõy ng, ỡnh Chu Quyn, ỡnh Tng Phiờu... Gn lin vi nhng
truyn thuyt, tớn ngng dõn gian c hỡnh thnh trong quỏ trỡnh dn
g nc v
gi nc ca dõn tc.
Có thể kể đến những ngôi chùa hết sức nổi tiéng đó là:
Chựa Tõy Phng vi 18 v La Hỏn nhng kit tỏc nh cao ca ngh thut
kin trỳc - iờu khc Vit Nam. Cú th núi õy chớnh l bo tng tng pht ca
Vit Nam.
1
Và đặc biệt là Chùa Đậu với hai pho tượng táng của thiền sư Vũ Khắc Minh
và Vũ Khắc Trường. Đây có thể gọi là hai báu vật đầy thần bí mà các ngôi chùa
khác không có. Đó là 2 pho tượng được coi như quốc bảo thiêng liêng và được phật
tử cung kính như đức Phật sống vậy. Hai thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc
Trường còn có tên là Đạo Chân và Đạo Tâm ( nếu ghép lại sẽ là Chân Tâm ).
Hơn 300 năm trước, hai thiền sư đã trụ trì tại chùa này - đó là hai bậc
chân tu trí lực uyên bác. Một lần, trước khi vào hầu Phật, hai ông đã viết lời di
chúc: “ Ta vào nhập thất 100 ngày tụng kinh niệm Phật – sau đó xác sẽ được giữ
nguyên”. Hết 100 ngày, các phật tử mở cửa am bước vào thấy các thiền sư vần ngồi
theo thế nhập thiền và có mùi cỏ thơm thoảng ra mà không ai dám chạm tới. Mâý
chục năm sau, áo vải khoác trên người các thiền sư đã bị ẩm uớt, rơi rụng hết. Khi
đó thân xác hai thiền sư lộ ra chỉ còn da bọc xương. Các phật tử đã phủ lên bằng
những lớp sơn ta biến thành 2 pho tượng và tồn tại cho đến ngày nay.
Thông thường, muốn uớp xác phải cần có những điều kiện sau: Phải dùng thuốc,
phải hút hết ruột – hết óc, phải để xác trong hòm kín không có không khí… Năm
1983 – một số nhà khoa học Việt Nam và Quốc tế đã dùng phương pháp Xquang
kiểm tra pho tượng thiền sư Vũ Khắc Minh và đưa ra kết luận: Không hề có vết đục
đẽo, không có hiện tượng hút ruột – hút óc, các khớp xương dính chặt với nhau như
tự nhiên vốn có với trọng lượng là 7kg. Các nhà khoa học đều cho rằng đây là một
phương pháp ướp xác thật tinh xảo và là một đề tài nghiên cứu đối với họ mà cho
đến nay vẫn còn là một điều bí ẩn.
Ngoài ngôi chùa Đậu – người Hà Tây còn vô cùng tự hào về ngôi chùa Thầy
nổi tiếng trong dân gian nhờ câu ca dao :
Gái chưa chồng nhớ hang Cắc Cớ
Trai chưa vợ nhớ hội Chùa Thầy.
Duyên cớ của câu ca dao trên là bởi đường lên hang Cắc Cớ rất trắc trở, khó đi và
dễ trơn trượt. Các cô gái chân yếu tay mềm rất khó có thể tự mình lên và xuống
hang, chỉ có sự giúp đỡ của các chàng trai thì các cô gái mới có thể lên và xuống
hang an toàn. Chính từ đây mà rất nhiều chàng trai - cô gái đã bén duyên nhau và
2
nên nghĩa vợ chồng. Dưới thời phong kiến, quan niệm “nam nữ thụ thụ bất thân”
đang ngự trị thì cơ hội để vai kề vai, tay nắm tay như vậy thì thực sự rất hiếm hoi
và hội chùa Thầy là cơ hội quý giá để nam nữ thể hiện tình yêu của mình mà không
hề bị bất cứ một quan niệm, ánh mắt nào dò xét.
Hang Cắc Cớ còn rất nổi tiếng bởi nơi đây theo những người dân kể lại rằng nó
chính là nơi giam giữ những linh hồn không thể siêu thoát, bằng chứng là trong
hang vẫn còn rất nhiều bộ xương mà nếu đến đây chúng ta sẽ được nhìn thấy.
Tương truyền thời nước ta lọan 12 sứ quân, có một đạo quân đã trốn vào trong
hang và bị các đạo quân khác ở phía ngoài bao vây không thể ra ngoài tiếp tế lương
thực được. Sau đó họ đã chết ở trong hang và linh hồn của họ vẫn vương vấn không
siêu thoát được. Người dân nơi đây không những không hề sợ câu chuyện này mà
ngày càng đến hang Cắc Cớ đông hơn.
Chùa Thầy thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh – một vị cao tăng đời Lý.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí ghi rằng: Thiền sư là con quan Đô sát Từ Vinh,
mẹ là Tăng Thị Loan, quê ở làng An Lãng (Vĩnh Thuận) nay đổi thành làng Láng
(Từ Liêm). Vì bố ông bị tri phủ giết chết, ông quyết tâm xuất gia học đạo, sang Tây
Thiên (ấn Độ) cầu pháp. Khi đã tinh thông phép thuật, ông chọn núi Sài làm nơi tu
luyện ở một am nhỏ. Trả xong thù cha, ông ở lại đây giảng đạo, chữa bệnh và dạy
dân học chữ, bầy cho họ những môn giải trí: đánh vật, đá cầu, múa rối nước nên
được nhân dân rất kính phục, gọi ông là “Thầy”.
- Truyền thuyết kể rằng: Sau khi đắc đạo, lúc cuối đời, một đêm Từ Đạo Hạnh nằm
mê, ông được trời giáng chỉ phải ra làm vua để giúp nước Nam và vua Lý Thần
Tông chính là hậu thân của ông sau này.
Chùa Thầy là ngôi chùa có thể nói là một trong những ngôi chùa đẹp nhất
của Việt Nam bởi phong cảnh hết sức sơn thuỷ hữu tình, kiến trúc hài hoà, thanh
tịnh.
Với truyền thống văn hoá lâu đời, mảnh đất Hà Tây đã sinh ra nhiều danh
nhân nổi tiếng trong lịch sử đất nước như nhà văn hoá Nguyễn Trãi - danh nhân
3
văn hoá thế giới. Phùng Hưng, Ngô Quyền - hai vị hoàng đế của làng Việt cổ
Đường Lâm cùng sứ thần Giang Văn Minh nhà ngoại giao bất tử của dân tộc.
Nói đến Nguyễn Trãi là chúng ta đang nói tới một một nhân cách lớn – một nhà
văn, một nhà thơ, một nhà chính trị, một nhà quân sự, một nhà ngoại giao đại tài.
Nhưng nói đến ông, chúng ta cũng khong thể không nhắc tới thảm họa chu di tam
tộc của ông.
Sử sách kể lại rằng – dường như thảm hoạ chu di của ông đã được dự báo từ trước.
Một lần Nguyễn Trãi nằm mơ thấy có một người phụ nữ đến xin cho bà và mấy
người con tá túc ít hôm, chờ khi nào khỏi bệnh rồi bà sẽ đi ngay. Sáng hôm sau, gia
nhân trong nhà Nguyễn Trãi dọn cỏ trong vườn có nhìn thấy một ổ rắn, sợ nguy
hiểm, họ đã giết hết đám rắn con còn rắn mẹ bị mất khúc đuôi và trốn mất. Nguyến
Trãi rất day dứt không yên và ông có linh cảm như có một tai hoạ sắp đến. Vào một
buổi tối, khi đang ngồi đọc sách - ông thấy có một giọt máu rơi xuống trang sách
vào đúng chữ Đại – giọt máu thấm ướt cả ba trang giấy có nghĩa là Tam Đại. (3
đời). Khi Nguyễn Trãi ngước nhìn lên trần nhà thì thấy một con rắn cụt đuôi đang
bò đi mất. Và quả thực – một thảm hoạ đã đến với Nguyễn Trãi va dòng họ của
ông.
Nhân vua Lê Thái Tông đi duyệt binh – có ghé thăm Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. tại
đây – Nhà vua đã vô cùng xúc động và nể phục tài năng, trí thông minh và sắc đẹp
của Nguyền Thị Lộ – người thiếp của Nguyễn Trãi. Nhà vua mời Nguyễ Thị Lộ về
cung để dạy dỗ các cung tần mỹ nữ. Trên đường trở về kinh, thật không may – nhà
vua đã từ trần đột ngột ở vườn vải Lệ Chi Viên – nhân cơ hội đó, bọn quyền thần
đã dựng lên một vụ án kết tội ông và vợ là Nguyễn Thị Lộ đã ám hại nhà vua. Ngày
16/8/1442 Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cùng những người thân thuộc bị hành
quyết tại pháp trường Thăng Long. Mãi đến năm 1464, Vua Lê Thánh Tông mới
chính thức Minh Oan cho Nguyễn Trãi. 560 năm sau kể từ thảm kịch ấy – rất nhiều
các nhà sử học, văn học đã dày công thu thập những tác phẩm còn lại của Nguyễn
4
Trãi và không ít người đã cố gắng phá vụ án Lệ Chi Viên. Cho đến nay, sử học còn
mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa
khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu lợi dụng
việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giáo hoạ dựng lên vụ án thảm khốc với Nguyễn Trãi và gia đình của ông.
Hà Tây được mệnh danh là đất trăm nghề, với 210 làng nghề thủ công. Mỗi
làng nghề không chỉ là đơn vị kinh tế mà cßn lưu giữ những di sản văn hoá truyền
thống như lễ hội, đền, chùa. Các sản phẩm giàu chất văn hoá đất Việt có giá trị
nghệ thuật cao. Là mảnh đất trăm nghề, Hà Tây từ xưa vẫn luôn được xếp là tỉnh có
nhiều làng nghề truyền thống nhất của cả nước. Con người sinh ra và lớn lên trên
mảnh đất này đều khéo léo tài hoa. Câu ca :
'Hà Tây là đất nhà nghề, Bách công mỹ nghệ đi về xưa nay' hầu như ai cũng thuộc
Những sản phẩm của các làng nghề truyền thống Hà Tây là mặt hàng tiêu dùng, đồ
thủ công mỹ nghệ luôn là hàng hoá có giá trị phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu. Tiềm
năng du lịch của Hà Tây thật to lớn, song có lẽ mảng thăm thú các làng nghề và
t×m hiểu c¸c nghề thủ c«ng cổ truyền bấy lâu nay vẫn còn bỏ quên khi chưa được
khai thác. Như biết được tiềm năng lớn lao ấy, năm 2001 Sở du lịch tỉnh đã chính
thức đưa tour du lịch thăm các làng nghề vào khai thác. Sự quảng bá rộng rãi về
một tour mới quả là không vô ích khi du khách mua tour đến với những làng nghề
để tìm hiểu, mua sắm sản phẩm ngày một đông.
Làng nghề đầu tiên, nổi tiếng nhất trong 210 làng nghề của Hà Tây đó là :
Làng lụa Vạn Phúc.
Vạn Phúc nằm ở phía Tây Bắc thị xã Hà Đông, cách Hà Nội khoảng 11 km,
là nơi có nghề dệt lụa tơ tằm nổi tiếng trong nước và thế giới với tên gọi lụa Hà
Đông. Theo truyền thuyết nghề dệt lụa ở Vạn Phúc có từ hơn ngàn năm trước, do
một vị tổ sư tên Lã Thị Nga, dòng dõi Hùng Vương truyền dạy. Để ghi nhớ công
5
ơn, dân làng tôn bà làm Thành hoàng, tổ sư nghề dệt, thờ tại đình làng Vạn Phúc,
lấy ngày 10 tháng Tám âm lịch, ngày sinh của bà và 25 tháng Chạp âm lịch, ngày
mất của bà, làm ngày tế lễ và giỗ tổ hàng năm.
Trước đây, lụa Vạn Phúc là sản phẩm sang trọng thường dành cho vua chúa,
quan lại và những người giàu có. Ngày nay, từ chất liệu tơ tằm với công nghệ cổ
truyền, người Vạn Phúc đã dệt nên nhiều loại vải lụa có chất lượng cao được khách
hàng trong và ngoài nước ưa thích. Đây còn là điểm du lịch làng nghề hấp dẫn
. Lụa gấm Vạn Phúc đầu thế kỷ XX đã tham dự hội chợ Mác xây (Pháp), và các hội
chợ ở Thái Lan, Trung Quốc. Các sản phẩm lụa ở đây đa dạng, chất lượng cao.
Công nghệ thủ công cổ truyền được gìn giữ và phát triển qua nhiều thế hệ.
Làng Vạn Phúc là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng đã từng sống và
làm việc trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến. Tại đây, Người đã viết Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19-12-1946)
Làng nghề nón Chuông cũng là một làng nghề vô cùng nổI tiếng.
Cách Hà Nội khoảng 30 km, có một làng nghề thuộc xã Phương Trung, Thanh Oai,
nơi có nghề làm nón nổi tiếng, đó là làng Chuông. Nghề làm nón ở đây có tự xa
xưa. Tương truyền, chiếc nón Chuông có hình dáng như hiện nay xuất hiện vào
khoảng những năm 30 của thế kỷ XX khi cụ Hai Cát một nghệ nhân làng Chuông
học nghề từ Thanh Hoá về truyền dạy cho dân, từ đó nghề làm nón ngày một phát
triển. Hiện nay, làng Chuông cung cấp cho thị trường khoảng 3 triệu chiếc nón mỗi
năm.
Nón làng Chuông đẹp nổi tiếng vừa nhẹ lại vừa bền được người Việt Nam rất
ưa chuộng vì nó cùng với tà áo dài đã tạo nên nét đẹp truyền thống của người phụ
nữ Việt Nam.
Ngoài ra Hà Tây còn được biết đến vớI rất nhiều các làng nghề khác như: làng nghề
mộc cao cấp Vạn Điểm, Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, Làng nghề khảm trai
Chuyên Mỹ.
Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa vùng Tây Bắc và trung du Bắc bộ với vùng
đồng bằng sông Hồng, thiên nhiên đã ban tặng cho Hà Tây một vùng núi non, sông,
6
h, sui, thỏc, hang ng... to nờn nhng khu du lch sinh thỏi, ngh dng, ngh
cui tun vi phong cnh p, khớ hu trong lnh, hp dn du khỏch bn phng
nh Ao Vua, Khoang Xanh, thỏc a, thỏc Ng, h ng Mụ, h Quan Sn, h
Sui Hai, i cũ Ngc Nh, rng nguyờn sinh Bng T, Võn Canh vn, Song
Phng vn, nh vn Na Vng Trng, trang tri Nam Hi ...
n H Tõy, du khỏch s c ho mỡnh vo khụng khớ nguyờn s ca Vn Quc
gia Ba Vỡ, thng thc s trong mỏt ca ln nc sui thỏc Ao Vua, Khoang Xanh,
thỏc Ng, thỏc a, Sui M... cm nhn c n tng ỏ v nc ca h Quan
Sn H Long thu nh, cỏi mờnh mụng tri nc ca h ng Mụ, h Sui Hai,
bt gp s trm tớch ca vn hoỏ qua nhng l hi dõn gian nh hi Chựa Hng,
chựa u, Chựa Thy, chựa Trm Gian, chựa Mớa.
Cỏc c sn ca mnh t H Tõy nc ting xa gn ú l Bỏnh dy
Quỏn Gỏnh, Bỏnh Chố Lam ( Chựa Tõy Phng), Bỏnh t (th xó Sn Tõy) Giũ
ch c L, Nem Phựng
t H Tõy Sn thu hu tỡnh, ngi H Tõy mn nng, hiu khỏch H
Tõy l im hn lý tng ca du khỏch bn phng.
Giao lu vn nghờ, t chc trũ chi. (30 phỳt)
Có thể tổ chức trò chơi : Hát truyền mũ.
Hdv chuẩn bị một chiếc mũ, hdv sẽ hớng dần cách chơI cho khách:
Cách chơi: Hdv sẽ hát trớc một bài hát, cùng lúc đó đa cho ngời ở
hàng ghế đầu tiên một chiếc mũ, sau đó khách sẽ truyền tay nhau.
HDV có thể kết thúc bàI hát vào bất cứ lúc nào khi đó, ng ời nào
đang cầm trên tay chiếc mũ sẽ đợc cả xe mời lên bắt phạt: Ngời cầm đợc mũ sẽ phảI hát, đọc thơ, kể chuyện cời, bị phỏng vấn vui ( mời một
vị khách trên xe lên phỏng vấn). Trong khi khách hát hoặc đọc thơ
cả xe vẫn tiếp tục truyền mũ, vị khách đang hát, đọc thơ có thể dừng
7
bất cứ lúc nào và ngời đang cầm trên tay chiếc mũ lại tiếp tục đợc mời
lên chơi.
u đIểm: Tạo không khí vui vẻ, ai cũng có thể bị phạt nếu không nhanh
tay.
Có thể kết hợp cả hát, cả kể chuyện, phỏng vấn
n H Nam
GiI thiu chung (15 phỳt)
Xe ang th xó Ph lý:
Tm bit H Tõy, xe ca on ta ang i trờn a bn tnh H Nam mt
trong nhng tnh tớ hon nht ca Vit Nam vi din tớch ch cú 850km2
Tha cỏc cụ chỳ v anh ch, cỏch õy 225 triu nm ton b vựng t ca
H Nam Nam nh Thỏi Bỡnh - Ninh Bỡnh cũn nm sõu trong ỏy bin. Cui k
Jurat, mt vn ng to sn ó to nờn vựng nỳi ỏ vụi ca ba tnh : H Nam Nam nh Ninh Bỡnh hin nay. Khong 70 triu nm trc õy ch bin kt
thỳc, thay th bng mt quỏ trỡnh bi t hỡnh thnh ng bng c. H Nam c
bi p bi phự sa sụng Hng sụng ỏy v thu nhn t ai t vựng nỳi cao trụi
xung. Ngoi nhng ngn nỳi, H Nam cũn c bao bc bi nhng con sụng : ú
l sụng Hng phớa ụng, sụng ỏy phớa Tõy, sụng Nhu phớa Bc, sụng Ninh
phớa Nam v nhiu con sụng khỏc chy trong tnh.
H Nam nm trờn trc giao thụng quan trng Bc Nam, trờn a bn tnh cú
quc l 1A v ng st Bc Nam chy qua vi chiu di gn 50km v cỏc tuyn
ng giao thụng quan trng. V trớ chin lc quan trng cựng h thng giao
thụng ng thu, ng b, ng st to cho H Nam li th rt ln trong vic
giao lu kinh t - vn hoỏ - xó hi, khoa hc k thut vi cỏc tnh trong vựng v c
nc, c bit l vi th ụ H Ni v vựng trng im phỏt trin kinh t Bc B.
H Nam cú din tớch t nhiờn trờn 850 km2 nm trong vựng trng ca ng
bng sụng Hng v giỏp vi vựng nỳi ca tnh Ho Bỡnh v vựng Tõy Bc.
8
Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi, núi
đá và đồi rừng. Đất đai ở vùng này rất thích hợp với các loại cây lâm nghiệp, cây
công nghiệp và cây ăn quả.
Vùng đồng bằng phía Đông của tỉnh được tạo nên bởi phù sa của các sông
lớn như sông Đáy, sông Hồng… đất đai màu mỡ, thích hợp cho canh tác lúa nước,
hoa màu, rau đậu, thực phẩm…
Đá vôi là nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu của Hà Nam- có trữ lượng
tới 7 tỷ m3 . Đây là nguyên liệu quan trọng cho các nghành sản xuất xi măng, vôi,
sản xuất bột nhẹ, làm vật liệu xây dựng. Phần lớn các tài nguyên khoáng sản phân
bố gần trục đường giao nthông thuận tiện cho việc khai thác, vận chuyền và chế
biến. Sản phẩm xi măng Bút Sơn của Hà Nam hiện đã có mặt trong hầu hết các
công trình xây dựng lớn của đất nước . Với tiềm năng khoáng sản trong tương lai
Hà Nam có thể trở thành 1 trong những trung tâm công nghiệp vật liệu xây dựng
lớn ở vùng ĐBBB.
Từ khi tái lập tỉnh (1997) KTXH của Hà Nam đã có những bước tiến
vượt bậc và đạt được những thành tựu quan trọng. Tốc độ tăng trưởng tổng sp
(GDP) của tỉnh tăng bình quân 11,1%/ năm. Cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của
cả nước và một số tỉnh trong vùng.
Thưa các cô chú và anh chị mảnh đất Hà Nam nhỏ bé chính là nơi xưa
kia khi Lê Hoàn lên ngôi đã không quản ngại, thân sinh đi cày ruộng tịch điền ở
Đọi Sơn ( Duy Tiên) . Chính từ sự kiện này mà Lê Hoàn đã là ông vua đầu tiên
trong lịch sử xuống đồng thâm nhập thực tế, đã mở rộng chính sách trọng nông
truyền thống cho nhiều đời sau.
Tại Đọi Sơn - Duy Tiên – Hà Nam còn nổi tiếng với làng trống Đọi
Tam đã có từ rất lâu đời ( tương truyền là hơn 1000 năm trước với 2 vị tổ nghề là
Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản).
Theo truyền thuyết, năm 986 - được tin vua Lê Đai Hành sửa soạn về
làng cày ruộng khuyến nông, 2 anh em cụ Năng và cụ Bản đã tự tay làm một cái
9
trống to để đón vua. Tiếng trống vang như sấm rền nên về sau 2 Ông được dân làng
tôn lên làm Trạng Sấm.
Làng trống Đọi Tam đã nổi tiếng khắp nước – thợ của làng đã có mặt tại khắp mọi
nơi. Gần đây Đọi Tam còn nổi tiếng hơn bởi các nghệ nhân ở đây đã được vinh dự
làm 285 chiếc trống hội đàu tiên của lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long – Hà Nội.
Dân làng Đọi Tam cũng đang háo hức chuẩn bị hàng trăm chiếc trống chuẩn bị cho
ngày hội Thăng Long – Hà Nội kỷ niệm 1000 năm.
Nói đến Hà Nam - có một ngôi chùa mà khi nghe thấy tên chắc hẳn chúng
ta sẽ thấy hết sức tò mò: đó là chùa Bà Đanh. Vì dân gian có câu “ vắng tanh như
chùa Bà Đanh”. Chùa Bà Đanh nằm ở núi Ngọc thôn Đanh Xá, xã Ngọc Sơn,
huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Chùa thờ Bà Chúa Đanh (thần Pháp vũ, nổi tiêng
linh thiêng ) . Ngôi chùa cách thị xã Phủ Lý 10km, nằm ở phía hữu ngạn sông Đáy.
Khu danh thắng này có diện tích khoảng 10ha, với phong cảnh trời mây, sông nước
hữu tình, ở xa làng xóm nên vô cùng tĩnh mịch. Tương truyền chùa có từ thế kỷ
thứ 7, ban đầu nơi đây là một ngôi đền nhỏ thờ tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Điện). Đến đời vua Lê Hy Tông (1675-1705), đền được xây dựng lại
to đẹp khang trang hơn. Người dân thấy phong cảnh đẹp, đền linh thiêng nên
chuyển ngôi đền ở vị trí thường bị ngập lụt và rước tượng Phật về phối thờ,
từ đó gọi là chùa Bà Đanh. Một trong số báu vật ở đây là bức tượng Bà
Chúa Đanh (thần Pháp Vũ) tư thế ngồ i trên ngai, toàn bộ đặt trên một gốc
cây to; nhiều di vật khác được lưu giữ mang phong cách thời Lý - Trần.
(các vấn đề thờI sự của huyện Phủ Lý – 10 phút)
Qua thị xã Phủ lý:
Nói đến HộI vật Liễu Đôi và đặc sản của vùng ( 10 phút)
Qua thị xã Phủ Lý, chúng ta sẽ đến với huyện Thanh Liêm- nơi có hội vật
Liễu Đôi nổi tiếng xa gần trong cả nước. Hà Nam cùng vói Hà Tây chính là hai cái
nôi của môn vật truyền thống. Hội vật Liễu Đôi được tổ chức vào ngày mồng 5 đến
10
mồng 10 tháng giêng đã thu hút mạnh mẽ các đô vật trong địa phương cũng như ở
các tỉnh khác để về thi thố tài năng.
Hội vật Liễu Đôi được mở đầu bằng một nghi thức hết sức thú vị, đó là nghi thức “
năm keo trai rốt” . “Trai rốt “ ở đây là hai cậu con trai của làng ra đời cuối cùng
trong năm qua. Mở đầu cuộc vật, làng gọi tên hai trai rốt ra vật 5 keo để trình làng,
lễ thánh. Vì 2 trai rốt còn bé nên bố phải ra vật thay. Lệ qui định 2 ông bố chỉ vật
biểu diễn không được vật thật để đối phương ngã bởi vì 2 ông bố ra vật chỉ với mục
đích trình làng, trình thánh trứng giám để hai đứa trẻ tương lai sẽ trở thành 2 đô vật
võ. Vì vậy nếu để bị ngã - làng sẽ bắt phạt cả hai. Khi bố đi vắng thì ông ra vật
thay, không được bỏ cuộc. Với lệ này, người dân Liễu Đôi muốn nhắn nhủ con
cháu sinh ra làm anh con trai thì trước hết phải là trai vật võ.
Hà Nam còn có một niềm tự hào lớn đó là : Hà Nam là nơi có số lượng trống
đồng phát hiện được nhiều nhất khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Tính đến nay trên địa
bàn Hà Nam đã phát hiện được 19 chiếc trống đồng cổ, đặc biệt là trống đồng Ngọc
Lũ có niên đại cổ nhất và đẹp nhất cả nước ( được tìm thấy ở thôn Ngọc Lũ –
Huyện Lý Nhân ). Theo ý kiến của nhiều học giả trong và ngoài nước thì trống
đồng Ngọc Lũ là một trong ít trống đồng đẹp nhất được phát hiện trên Thế Giới.
Đặc sản của vùng đất chiêm chũng Hà Nam là món chuối Ngự – món quà
quý dâng vua thời xưa. Chuối ngự ngon nhất khi được trồng ở làng Đại Hoàng –
quê hương của Nam Cao – cha đẻ của tác phẩm Chí Phèo , một tác phẩm thấm đẫm
chất nhân văn – thể hiện khao khát của Nam Cao muốn những con người khốn khổ,
bần cùng nhất cũng phải được sống, được yêu và được hưởng hạnh phúc.
Chuyện kể: vào thời Trần, hàng năm Vua Trần cùng đoàn tuỳ tùng, văn võ bá quan,
cờ xí rợp trời xuôi thuyền từ Thăng Long về hành cung Thiên Trường yết kiến Thái
Thượng Hoàng. Một lần đến ngã 3 Tuần Vường, đoàn thuyền dừng lại. Dân các làng
đổ ra mừng đón. Mọi người ai cũng mang của ngon, vật lạ ra dâng tiến vua. Có một
đôi vợ chồng nông dân nghèo ở làng Đại hoàng vì không có vật gì dâng tiến nên rất
lấy làm băn khoăn. May sao trong vườn nhà còn một buồng chuối nhỏ xinh xắn đã
chín, toả hương thơm ngát, họ bèn chặt hạ, đưa tiến vua với niềm cung kính mong
11
được nhà Vua cảm thông. Trông thấy buồng chuối nhỏ nhưng rất đẹp, quả căng tròn,
vàng óng, cuống xanh, đầu ruồi có 3 chiếc tua cong đẹp mắt lạ thường…vua cho gọi
vào. Nhà Vua bèn nếm thử, thấy vị ngọt, hương thơm, càng ăn càng thấy ngon. Vua
ban thưởng và truyền cho dân làng Đại Hoàng nhân rộng loại chuối này để cho thần
dân của Ngài khắp nơi được cùng thưởng thức. Từ đó loại chuối này ở Đại Hoàng
được mang tên Chuối Ngự, lưu truyền đến ngày nay và nổi tiếng khắp nơi. Tuy
nhiên giống chuối này nếu đưa trồng nơi khác Ngài làng Đại Hoàng quả cũng có
hình dáng tương tự nhưng không có vị ngon và hương thơm của chuối Ngự. Chuối
Ngự trở thành đặc sản duy nhất ở Đại Hoàng mới có.
Những ai muốn thưởng thức chuối Ngự, xin mời về làng Đại Hoàng hoặc chợ Mỹ
Tho, Thành phố Nam Định - nơi người dân Đại Hoàng thường đưa chuối Ngự đến
bán vào những ngày Rằm hoặc Mồng Một Âm lịch hàng tháng.
Chuối Ngự đòi hỏi những chế độ chăm sóc hết sức cầu kỳ - Chuối không
được bón bằng những loại phân uế tạp mà phải bón bằng nước gạo, dầu lạc. Chuối
ngự được trồng từ mùa xuân năm trước đến mùa xuân năm sau mới đậu buồng.
Nếu như các loại chuối khác chỉ chín cây mới ngon thì riêng chuối Ngự bắt buộc
phải dấm ở trong lò kín vách đất thì chuối chín mới không bị nẫu và có được lớp
vỏ vàng óng, mượt mà. Quả chuối ngự xinh xinh, bụ bẫm, cuống thanh thanh đã
được các cụ ngày xưa ví như “búp tay cô gáI” kéo sợi dệt vải đồng chiêm..
Nghỉ ngơi khoảng 30 phút ( hoặc chơi trò chơi : Có hai trò chơi có thể tổ chức:
Trò chơi “ĐốI đáp bằng một từ cho trước”
Chọn ở hai hàng ghế một nam một nữ, có chung chữ cái đầu tiên của tên gọI
(hdv tự chọn một chữ cái rốI hỏI một bên dãy ghế có chị nào có tên gọI bắt đầu
bằng chữ cái T hoặc C không?sau đó sẽ hỏi hàng ghế bên kia một anh cũng có
tên bắt đầu bằng chữ cái ấy.
Ví Dụ:
Chị Thảo – anh Thông
Chị Cúc – anh Cường
Tên của hai ngườI sẽ là tên của hai nhân vật trong cuộc thi đốI đáp.
12
Hai hàng ghế sẽ chia ra làm hai độI chơi. Hdv sẽ cho một chữ cái (ví dụ D, hoặc
C để hai bên đốI đáp vớI nhau chỉ bằng những từ được bắt đầu từ chữ cái ấy.
Tên của hai nhân vật được chọn sẽ được nốI bởI từ ấy.
Ví dụ. Dãy ghế Bên A là bên chị Cúc, bên B là anh Cường.
ĐốI tượng tham gia: tất cả mọI ngườI ở hai dãy ghế được chia làm hai đội.
Thể lệ: ĐộI nào không thể tìm ra được từ đốI đáp lạI sẽ bị phạt.(tuỳ thuộc vào
độI thắng cuộc)
HDV đưa ra chữ cái ( ví dụ Đ)và mờI độI bên A bắt đầu trước.
Bên A bắt đầu trước vớI câu: Chị Cúc đánh anh Cường
Bên B đáp lạI : anh Cường đá chị Cúc
Bên A lạI đốI: Chị Cúc đạp anh Cường.
Bên B: Anh Cường đẩy chị Cúc.
…cứ thế tiếp diễn cho đên khi tìm ra một độI thua cuộc
Nhiệm vụ của HDV: trọng tài và cầu nốI để hai bên đốI đáp.
Ưu điểm: rất vui , mang tính tập thể cao - tạo không khí vui vẻ, cởI mở cho cả
đoàn.
Nhược điểm: Sẽ có một số từ tế nhị nên Hdv phảI hiểu rõ khách thuộc đốI
tượng nào mớI tổ chức trò chơi tránh gây phản cảm.
Nếu khách chơi quá thờI gian 30 phút, xe đến địa phận Ninh Bình – HDV vẫn
để khách tiếp tục chơi - để dành phần giớI thiệu trên đường về.
Nều khách không tiếp tục chơi, hdv giới thiệu:
Đếns Ninh Bình:
GiớI thiệu chung (1 phút)
.
Tạm biệt Hà Nam, xe của chúng ta đang vào tới Ninh Bình. Ninh Bình
chính thức có tên trong văn bản hành chính từ năm 1932. S. 1.400km2 Địa thế
Ninh Bình được thiên nhiên bao bọc – núi non vây quanh như bức tường thành.
( các vấn đề thời sự của tỉnh – 10 phút)
Đến Kinh Đô Hoa Lư:
GiớI thiệu ( 15 phút)
13
Xe của chúng ta sắp đi qua đường rẽ vào kinh đô Hoa Lư xưa. Đinh Bộ Lĩnh
đã chọn Hoa Lư làm kinh đô của nước Đại Cồ Việt vì muốn triệt để lợi dụng địa
hình núi non hiểm trở của vùng đất này trong việc chống giặc ngoài, thù trong.
Đứng về mặt lòng dân thì nơi đây chính là quê hương của Đinh Bộ Lĩnh – thật là
nhân hoà.
Kể từ năm 968 khi Đinh Bộ Lĩnh xưng làm Hoàng Đế ở Hoa Lư và xây dựng cung
điện thì Hoa Lư đã tồn tại trong 41 năm (968 –1009) trong đó có 12 năm là triều
đại nhà Đinh – 29 năm kế tiếp là triều đại nhà Lê.
Sau khi bình được 12 xứ quân - Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế – lấy hiệu là
Tiên Hoàng - đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.Đinh Tiên Hoàng đã
dẹp xong loạn sứ quân – nhưng nhìn chung nhiều nơi vẫn chưa tuân theo luật lệ của
triều đình. Bởi vậy, để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đã cho đặt vạc dầu ở
trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn. Nhà vua tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ
vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. Dù chưa bao giờ phải dùng hình phạt ấy nhưng
mọi người sợ oai nên phép nước được tuân thủ.
Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng đã sai lầm khi bỏ trưởng lập ấu – cho con út là Hạng
Lạng làm thái tử. Con trưởng là Đinh Liễn đã theo cha chinh chiến từ thủa hàn vi
không được kế vị đã tức giận, sai người giết chết Hạng Lang. “ Hoạ loạn” đã xảy ra
ngay chính trong hoàng tộc.
Năm 979, Đinh Bộ Lĩnh cùng con là Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết hại. Đỗ Thích
trước làm lại, một đêm ngủ mơ thấy sao rơi vào mồm cho rằng đây chính là điềm
báo được làm vua bèn định bụng sát hại minh chủ. Một hôm, Đỗ Thích thấy vua
Đinh say rượu ngủ trên sập rồng bèn lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt Đinh Liễn.
Triều đình bắt được Đỗ Thích xử chém và tôn Đinh Toàn lên làm vua. Vì Đinh
Toàn mới có sáu tuổi nên hoàng hậu Dương Vân Nga phải thay con cầm quyền trị
nước. Bà thấy rằng trong tình hình rối ren lúc bấy giờ, bên ngoài phong kiến
phương bắc đang hoành hành, bên trong các triều thần phân biệt tranh chấp gay gắt
có nguy cơ nổ ra một cuộc nội chiến lớn. Là một người có tầm nhìn xa trông rộng,
Dương Vân Nga nhận thấy rõ chỉ có thập đaọ tướng quân Lê Hoàn là người có khả
năng giải quyết tình hình nghiêm trọng ấy. Việc Dương Vân Nga lấy chiếc long
14
bào choàng lên vai Lê Hoàn trong tiếng hò reo dậy trời của quân sĩ đã biểu hiện
một thái độ chính trị sáng suốt của một con người thức thời – có tầm nhìn xa trông
rộng xứng đáng được coi là anh hùng…
Nếu Dương Vân Nga không biết đặt vận nước lên trên vận mệnh của dòng
họ, bà có thể dựa vào một quyền thần này để chống lại một quyền thần khác, ngoan
cố bảo vệ ngai vàng cho đứa con nhỏ của mình – thì bà sẽ gây ra nạn bè đảng tranh
chấp, đẩy đất nước vào thảm cảnh rối loạn. Vậy mà chỉ vì Hoàng hậu Dương Vân
Nga dã lấy chiếc long bào choàng lên vai thập đạo tướng quân Lê Hoàn mà sử sách
đã xoá sạch công lao của bà. Ngược lại với cách nhìn nhận trên – nhân dân ta đã có
thái độ rất rộng lượng và đúng đắn : sử cũ chép : Dân đã lập đền thờ đưa ba pho
tượng : Tiên Hoàng - Đại Hành – và tượng Dương Vân Nga cùng ngồi.
Vùng Hoa Lư còn lưu truyền nhiều truyền thuyết đẹp về Dương Vân Nga nhằm ghi
nhận công lao của bà. Đến thời Lê Mạt – An phủ sứ Lê Thúc Hiển ra lệnh cấm việc
thờ chung 3 nhân vật Đinh Bộ Lĩnh - Lê Hoàn – Dương Vân Nga thì dư luận dân
gian đã phê phán quyết liệt. Truyền thuyết ở Hoa Lư kể rằng: sau khi Lê Thúc Hiển
làm cái việc buộc lụa trắng vào cổ tay bức tượng Dương Vân Nga, dong tượng bà
từ đền thờ Đinh Bộ Lĩnh về đền thờ Lê Hoàn thì khi trở về kinh – viên quan họ Lê
ấy đã lăn ra chết vì đứt ruột.
Khi Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, kế tục sự nghiệp của vua Đinh, ông đã ra
sức mở mang, xây dựng kinh đô Hoa Lư. Ông đã cho xây dựng rất nhiều cung điện.
Sứ thần nhà Tống là Tống Cảo sang sứ nước ta, khi nhìn thấy kinh đô Hoa Lư đã
phải thốt lên rằng “ Hoa Lư thi hán Trường An” có nghĩa là kinh đô Hoa Lư có thể
sách ngang với kinh đô Trường An đời Hán ở phương Bắc.
Lê Hoàn truyền ngôi được ba đời - đến đời cuối cùng là Lê Long Đĩnh. Long Đĩnh
là người bạo ngược, tàn ác như kiệt, trụ ở bên Tàu. Trước khi mất, Lê Đại Hành đã
định cho người con thứ 3 làm Thái tử tên là Long Việt. Nhưng đến khi ông mất, các
hoàng tử đã tranh nhau ngôi báu, đánh nhau ròng rã trong suốt bảy tháng trời. Đến
khi Long Việt vừa lên ngôi được 3 ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung
15
giết chết, thọ 23 tuổi. Khi giết anh, chiếm được ngôi vua – Long Đĩnh ngày càng
tàn bạo. Vua hay lấy việc giết người làm trò chơi. Có những tội nhân phải tội hình
– vua cho lấy rơm tẩm dầu quẩn vào người rồi đốt cho tới chết. Có trường hợp,
Long Đĩnh cho tù trèo lên cây cao rồi sai người chặt gốc cây đổ. Vua còn bỏ người
vào sọt rồi đem thả xuống sông. Vua rất thích ngồi xem đao phủ thực hiện mệnh
lệnh ác độc của mình. Có lần Vua lấy mía để lên đầu nhà sư mà róc vỏ, thỉnh
thoảng vờ nhỡ tay bổ dao vào đầu nhà sư chảy máu, trông thấy thế vua thích chí vui
cười. Vào các buổi trầu, Vua cho tên hề nói khôi hài, hay nhại lời tâu bày của các
đại thần để gây cười. Vì sống dâm dục quá độ- Vua mắc mệnh không ngồi được.
Bởi vậy đến buổi chầu – vua cứ nằm mà thiết triều cho nên tục gọi là ngoạ triều.
Long Đĩnh làm vua được 4 năm – thọ 24 tuổi. Long Đĩnh mất, con trai là
Sạ còn bé - đình thần nhân dịp tôn Lý công Uẩn lên làm Vua – khởi nghiệp triều Lý
hiển hách tồn tại suốt 216 năm, mở ra thời kỳ xây dựng nền độc lập tự chủ lâu dài
của dân tộc. Khi lên ngôi, LCU rời kinh đô từ Hoa Lư ra thành Đại La bởi ông
thấy Hoa Lư tuy là một một địa điểm phòng thủ kiên cố nhưng lại chật hẹp - giao
thông gặp rất nhiều khó khăn. Kinh tế nông – thương không có điều kiện để phát
triển vì vai trò giao thông của con sông Đáy không còn được như trước. Ngày nay,
sau 990 năm – ý nghĩa chiếu dời đô của Lý Công Uẩn vẫn còn nguyên giá trị . Lý
Công Uẩn quả thực có con mắt nhìn xa trông rộng và có tầm nhìn chiến lược khi
quyết định rời đô ra Thăng Long , nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi – thế trung tâm
của trời đất”
Tại Hoa Lư ngày nay vẫn còn in dấu vết một phần kiến trúc của khu cung
điện chính xưa kia. “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là truyền thống đạo lý của dân tộc ta
– nhân dân trong vùng Hoa Lư đã chung sức xây dựng 2 ngôi đền: đền thờ đinh
Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Hai đền được xây dựng cùng thời và gần bên nhau
nên người xa gần trong cả nước quen gọi là đền Đinh – Lê.
(nghỉ 10 phút hoặc mở rộng kiến thức về Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn và Dương
Vân Nga)
Xe đến thị xã Ninh Bình (giớI thiệu 10 phút)
16
Xe của chúng ta đang ở địa phận của thành phố Ninh Bình – trung tâm chính
trị, kinh tế, văn hoá của tỉnh Ninh Bình…
Thành phố Ninh Bình có mạng lưới giao thông thuận lợi với quốc lộ 1A, quốc lộ
10, đường sắt xuyên Việt, sông Vân, sông Đáy. Đây thực sự là tiềm năng quan
trọng để phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Với cảnh đẹp của núi non, sông nước, thành phố Ninh
Bình đã
trở thành đô thị có nhiều danh lam thắng cảnh – di tích văn hoá - lịch sử và cách
mạng nổi tiếng được nhiều đoàn khách quốc tế đến tham quan như: núi Non Nước,
núi Cánh Diều, núi Kỳ Lân…Trong thị xã, nổi tiếng nhất là danh thắng Núi Non
Nước và núi Cánh Diều.
Thưa đoàn ta, nhìn về phía bên tay phải của đoàn ta chính là núi Kỳ Lân.. Kỳ Lân là
một thế núi tượng hình đầu con Lân nhìn về phía Bắc. Núi cao trên 50m phía Bắc
sườn núi hõm vào tạo thành một cái hàm Lân. Xung quanh là những vách núi nhấp
nhô, cây cối mọc xanh um như bờm và râu của con lân.
Núi Kỳ Lân nhỏ nhưng có tới 5 cái hang. hang Tối dài 10m, hang sáng dài khoảng
30m chạy xuyên qua núi theo hướng Bắc - Nam. Hai bên thành hang, đá dựng đứng,
phẳng lỳ như một giao thông hào rộng có thể đi lại qua được. Hang Ngang ở ngang
núi có độ sâu 8m, hang Đền ở sát cạnh ngôi đền thờ bà Quận Chúa ở phía Tây-Bắc.
Hang Trung là hang ở lưng trừng núi, sâu khoảng 10m, rộng mênh mông có thể chứa
được cả trăm người.
Ở phía Bắc núi Kỳ Lân, có một cây cầu vòm bằng đá, bẩy nhịp , mặt cầu rộng 2m,
dài trên 22m, cao 4m bắc qua hồ nước vào núi. Mỗi nhịp cầu là một phến đá lớn.
Cây cầu đá này là của nhân dân xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư làm vào năm 1973 làm
tăng thêm vẻ đẹp của cảnh vật trong vùng.
Núi Kỳ lân có nhiều loại cây đại thụ và cây cảnh như: lộc vừng, ruối,đa, chân chim,
xanh trắng, si đỏ, đại vàng, thiên tuế, vạn tuế... Ngoài ra còn nhiều cây và dây leo trổ
hoa mầu sắc đan xen với núi đá. ở đây có một số loài chim, thú nhỏ quý hiếm. Đó
chính là một vườn tiên ở hạ giới đủ sắc mầu, đường nét, âm thanh.
Hiện nay núi kỳ lân là một vườn cảnh thiên nhiên độc đáo, đồng thời là công viên có
hàng trăm cây cảnh, cây hoa, phong lan, đá cảnh, non bộ, góp phần làm cho Kỳ Lân
thêm một nét đẹp mới.
17
Núi Kỳ Lân chính là một hòn non bộ ngoại mục do thiên nhiên tạo dựng bên hồ
nước, lại được bàn tay và sức lao động của con người trang điểm đã trở thành thắng
cảnh như một câu đối ca ngợi:
Giang sơn kỳ tú tài hoa khách,
Phong cảnh hữu tình đức độ nhân.
.
Núi Non Nước còn gọi là núi Dục Thuý nằm ở phía Đông
Bắc thị xã Ninh Bình, cao khoảng 70 m có đỉnh núi tương đối bằng phẳng, chúng ta
phải đi qua 100 bậc đá mới lên được tới đỉnh. Núi nằm ở ngã ba sông Đáy và sông
Vân Sàng đã tạo nên vẻ đẹp sơn thuỷ hữu tình cho thị xã Ninh Bình. Tại đây có hơn
40 bài thơ của các danh nhân lịch sử đã được tạc trên vách đá. Núi Non Nước xưa
kia còn là nơi vọng gác tiền tiêu ở cố đô Hoa Lư.
Nước non, Non Nước như thơ
Ai về Dục Thúy chẳng ngơ
ngẩn lòng
Trên thì núi, dưới thì sông
Cúc vàng còn đó, hương nồng
còn đây
(Khuyết Đanh)
Lối vào hòn Non Nước là một dải đất hẹp, chạy dọc theo bờ đê sông Vân. Người có
công đầu trong việc phát hiện và khai thác vẻ đẹp của Non Nước là Trương Hán
Siêu - một quan văn đời Trần. Ông đặt tên núi là "Dục Thúy" và là người đầu tiên
lưu lại chốn sơn thủy hữu tình này bút tích một bài thơ "khai lối" cho các thi sĩ, các
tao nhân, mặc khách đến thưởng ngoạn, ngắm cảnh làm những bài thơ khắc vào đá.
Lối lên đỉnh Non Nước qua 72 bậc gạch đá, chia làm năm cấp, khi thì khúc khuỷu,
khi thì dựng đứng, lúc lại phẳng phiu. Đỉnh núi tương đối bằng phẳng, có thể làm
điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho khách tham quan. Hòn Non Nước nằm ở vị trí
rất trọng yếu, án ngữ toàn bộ ngã ba sông Đáy, sông Vân, quốc lộ 1A và nhiều
đường giao thông quan trọng, nên trong thời kỳ kháng chiến, bọn thực dân cướp
18
nước luôn tìm cách tiếp cận vị trí này. Hiện tại, dọc hai đường lên núi vẫn còn
những lô cốt với vết tích của bom đạn thời chiến tranh.
Dưới chân núi, uy nghiêm một ngôi đền thờ cổ được xây dựng vào thời Lý Nhân
Tông. Trước cửa đền là một sân cảnh thoáng đãng nhìn ra sông Đáy mênh mông.
Chiều chiều tiếng hát chầu văn từ đền Non Nước lan tỏa khắp mặt sông, nghe vừa
gần gũi, vừa thân thương biết bao. Nắng chiều rọi xuống mặt sông bàng bạc, tiếng
mái chèo khua nước, những con thuyền nép vào vách núi...gợi cho du khách vẻ
đẹp buồn man mác.
Tới Ninh Bình, mời du khách ghé thăm nơi đây, thăm lại nơi chứng kiến cuộc
chuyển giao chế độ quan trọng trong lịch sử đất nước: dưới chân núi Non Nước,
Thái hậu Dương Vân Nga đã trao áo long bào cho Thập đại tướng quân Lê Hoàn
cầm quân đánh đuổi quân xâm lược nhà Tống ra khỏi bờ cõi.
Ngọc Mỹ Nhân :
Ngọn núi đẹp nhất của tỉnh Ninh Bình đó là núi Ngọc Mỹ Nhân nằm ở phía đông
của thị xã Ninh Bình (núi còn có tên là núi Cánh Diều)
Ở phía Đông thị xã Ninh Bình có một trái núi lớn tên là Cánh Diều. Tên gọi đó
gắn liền với truyền thuyết về sự hóa thân của Cao Biền - một tướng giỏi, đồng thời
là một pháp sư đời nhà Đường (Trung Quốc) sang cai trị nước ta, thường cưỡi
diều giấy đi dò phá long mạch nước Nam, khi bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ
cao tay cùng nhân dân ở đây, dùng tên bắn, Cao Biền bị trọng thương, diều gãy
cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là Núi Cánh Diều. Núi có ba
ngọn, ngọn giữa cao, hai ngọn tả, hữu chĩa ra như hai cánh chim, vì vậy còn có tên
gọi là Diên Sỉ Sơn (Diên là diều hâu, Sỉ là cánh chim) - con chim diều hâu đang
bay.
Bảng nhãn Lê Quý Đôn (1726-1784), người Thái Bình, có đến thăm núi, cho
khắc thơ vào vách đá phía Tây. Tạm dịch:
Ruộng phẳng nhô đá biếc
Thế núi tựa diều bay
19
Chùa ẩn ba đỉnh núi
Sông có cầu qua ngay
Núi vững như hổ ngồi
Suối tựa dãi rồng đây
Như thế trên núi có chùa, vào đây như lạc vào thế giới "Bồng lai tiên cảnh".
Chung quanh núi có nhiều hang động u minh, kỳ ảo. Nước suối trong động chảy
ra, du khách gọi là dãi rồng.
Năm 1821, vua Minh Mạng (1820-1840) tuần du ra Bắc có ghé thăm núi và
cho khắc dòng chữ trên vách núi ở phía Bắc, dịch là: Dựng một nhà nhỏ nghỉ
chân, khi lên núi xem thấy chùa tháp của sơn thành, cột buồm bến sông, cảnh đẹp
như vẽ, cúi xuống giặt chiếc áo bụi đời. Trở về kinh đô, vua Minh Mạng quan tâm
đến "bụi đời", đến nông nghiệp, đề ra chính sách khẩn hoang gồm hai hình thức
đồn điền và doanh điền. Doanh điền là di dân lập ấp mới. Nhà vua cử Nguyễn
Công Trứ (1778-1858) - người huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, ra Ninh Bình năm
Kỷ Sửu (1829) làm doanh điền sứ, chiêu mộ dân nghèo đi khai hoang vùng ven
biển.
Đến cuối năm 1829, Nguyễn Công Trứ cùng nhân dân khai phá được 14620
mẫu đất và 1268 người, miền đất đó đã ổn định, vua Minh Mạng cho lập thành
một huyện mới tên là Kim Sơn (Núi vàng). Thời ấy, Nguyễn Công Trứ cũng chọn
một cụm dân cư đông đúc trong huyện đặt tên là Phát Diễm: Nơi phát sinh ra cái
đẹp ("Diễm" và "Diệm" cùng âm, nghĩa là đẹp, ngày nay gọi là Phát Diệm).
Tương truyền, đặt tên là Phát Diễm vì Nguyễn Công Trứ đã đi qua thị xã Ninh
Bình, phát hiện thấy núi Cánh Diều còn tượng hình một cô gái mình trần nằm
ngửa nhìn trời mây bao la trông rất đẹp, nên đặt tên cho núi là núi Ngọc Mỹ Nhân
(người con gái đẹp như ngọc), đầu mỹ nhân lại quay ra Biển Đông thuộc đất
huyện Kim Sơn, có nghĩa là phát đẹp ở đó. (ngày nay, ở thị trấn Phát Diệm huyện
Kim Sơn, nơi có nhà thờ đá nổi tiếng các cô gái đều có mái tóc dài, người thon thả
rất xinh đẹp). Núi Cánh Diều - Ngọc Mỹ Nhân, mỗi tên gọi đều có một huyền
thoại riêng, độc đáo.
Nếu du khách đi từ phía Nam ra Bắc theo quốc lộ 1A, cách thị xã Ninh Bình
khoảng 5km, nhìn về, thấy một trái núi giống hệt "Thiếu nữ nằm chơi quá giấc
nồng", như kiêu hãnh với sắc đẹp mê hồn của mình. Có lẽ, ít có dãy núi nào trên
đất nước ta lại có một dáng hình đẹp và cái tên mỹ miều đến như thế mà do
Nguyễn Công Trứ có con mắt "tinh đời" đã gọi được tên!
20
Mong ai về qua đất Ninh Bình, đến đây, nên dừng chân ngắm nhìn "người đẹp
như ngọc" một thoáng trong mây, để: dùng dằng đi chẳng dứt, đi thì cũng dở ở
không xong.
Thành phôd Ninh Bình hôm nay mang dáng vóc của một đô thị hiện đại đang
được quy hoạch.
Đi qua thị xã Ninh Bình, nếu có cơ hội – chúng ta không nên bỏ lỡ vịêc thưởng
thức hai món đặc sản ở đây đó là thịt dê núi và cơm cháy. Thịt dê ở Ninh Bình sở
dĩ ngon nổi tiếng gần xa vì dê ở đây được thả trên vùng núi đá vôi rộng lớn của
Ninh Bình chứ không nuôi tập trung ở các trang trại nên thịt rất chắc nhưng thịt lại
rất mềm và ngọt. Dê có thể được chế biến thành rất nhiều món nhưng có thể nói
rằng ngon nhất vẫn là món tái dê.
Đặc sản thứ 2 chúng ta phải kể đến đó là món Cơm cháy - ăn với nước sốt nóng từ
tim – gan lợn. Ai đi qua thị xã Ninh Bình cũng phải ghé lại “thử một miếng”. Cơm
cháy ở Ninh Bình có từ bao giờ, chưa ai biết chính xác nhưng theo một số cụ cao
tuổi ở thị xã, món ăn này được những người Hoa sang lam thuê truyền lại.Từ
những năm sau kháng chiến chống Pháp, người ta thấy xuất hiện món cơm cháy
đầu tiên ở quán có tên là Hương Mai. Khoảng chục năm gần đây – cơm cháy được
khách ưa dùng nên các quán thi nhau bán món này.
(các vấn đề thời sự của thị xã Ninh Bình - khoảng 5 – 10 phút)
Đến Tam Cốc – Bích Động (giới thiệu 5 –7 phút )
Tạm biệt thị xã Ninh Bình, xe của chúng ta sắp đi tới lối rẽ vào khu du lịch
Tam Cốc – Bích Động. Ninh Bình là một tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ nhưng chỉ có
hai huyện là Kim Sơn và Yên Khánh là màu mỡ, phì nhiêu còn 5 huyện huyện thị
khác đều thuộc miền sơn cước : ruộng ít, núi nhiều, nhất là núi đá vôi. Chính địa
thế “lổn nhổn” này sau hàng triệu năm ngập trong nước biển, sóng biển vỗ không
ngừng bào mòn, khoét sâu núi đá, và nước mưa chứa nhiều axit có sức phá huỷ đá
21
vôi mạnh mẽ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác - đục sâu vào ruột núi đã tạo ra bao
hang động có vẻ đẹp kỳ thú.
Từ thành phôd Ninh Bình đi thêm 7km nữa – chúng ta sẽ gặp một đại lộ rộng 50m,
dài 3000m là con đường mới mở dẫn du khách vào khu Tam Cốc – Bích Động.
Cảnh đầu tiên gây ấn tượng mạnh chính là bến Văn Lâm, với hàng trăm con đò đỗ
san sát. Dòng đò ở đây nối đuôi nhau đưa chúng ta vào Tam cốc ( có nghĩa là Ba
hang ) Hang đẹp nhất là hang Cả (dàI 127m rộng 45m, cao 5m). Hang hai, hang ba
tuy có ngắn hơn nhưng đều cực kỳ hấp dẫn với vô vàn thạch nhũ đủ các hình thù lạ
và đẹp mắt. Chạy dọc hai bờ sông Ngô là hai dãy núi đá thẳng đứng với từng thớ
ngang trông như những ngôi đền AngKo khổng lồ. Bào mòn chân núi là những
chiếc hang hàm ếch do biển bào mòn từ ngàn xưa để lại. Sau 6km ngồi đò – chúng
ta sẽ đến Bích Động. Vào thế kỷ 18, Bích Động đã được ông vua Tự Đức – một
ông vua thích làm thơ và thích đi du lịch tới thăm và ngẩn ngơ trước vẻ đẹp kỳ thú
của thiên nhiên. ông đã hạ bút đề tặng cho Bích Động danh hiệu : Nam Thiên đệ
nhị động - động đẹp thứ nhì trời nam! Bích Động nằm trong dãy núi Ngũ Hành
Sơn. cái tên Bích Động có xuất sứ ra đời như sau : vào năm 1773 – cụ Nguyền
Nhiễm – cụ thân sinh ra Nguyễn Du đã đến thăm động – nhìn toàn cảnh núi - động
– sông – nước đều phủ một màu xanh ngợp mắt nên cụ đã đặt cho động một cái tên
rất đẹp và mộng mơ đó là “ Bích động” (có nghĩa là Động Xanh)
ông Cadunô Matsumura – giám đốc hãng du lịch FuGi (Nhật Bản) khi thăm Tam
Cốc – Bích Động đã ghi cảm tưởng :Tôi nghĩ Ninh Bình là một tỉnh có Hạ Long
cạn – sự thật đó là một trung tâm du lịch và chỉ trong 5 –10 năm nữa – có thể đây
sẽ trở thành một trung tâm du lịch nổi tiếng
(Nghỉ 10 phút)
Đến nhà thờ đá Phát Diệm nói khoảng 10 phút.
Qua Tam Cốc – Bích Động, xe của chúng ta sẽ đi qua lối rẽ vào khu nhà thờ
đá Phát Diệm. Nhà thờ đá Phát Diệm thuộc xã Lưu Phương – huyện Kim Sơn, tỉnh
Ninh Bình. Đây là một công trình kiến trúc, nghệ thuật kiểu Phương Đông nổi tiếng
trong và ngoài nước.
22
Đầu thế kỷ 19 – Phát Diệm chỉ là một vùng đất bồi với bùn lầy và cỏ sậy.
Năm 1865 – cha Phêrô Trần Lục (còn gọi là Cụ Sáu) được đặt làm chính sứ
Phát Diệm. Trong 34 năm làm chính sứ Phát Diệm, cụ Sáu đã chăm lo giáo dục
nhân bản cũng như đời sống đạo đức cho giáo dân. Đặc biệt vớI một con mắt nhìn
xa trông rộng – Cụ Sáu đã có kế hoạch xây dựng khu nhà thờ đá Phát Diệm và đã
tuần tự thực hiện từ năm 1875 đến khi cụ qua đời. Khu nhà thờ Phát Diệm được
khởi công xây dựng từ năm 1875 đến 1898 thì hoàn tất. Nhà thờ chính toà được
xây dựng tư năm 1891, đây là hạng mục lớn nhất của công trình nhà thờ Phát
Diệm. Và chỉ trong vòng 3 tháng công trình đã hoàn tất. Nhưng công việc chuẩn bị
là sắm sửa vật liệu và trị chân móng đã kéo dài cả 10 năm trước đó : gỗ lấy từ Nghệ
An, Thanh Hoá và Sơn Tây. Đá lấy từ núi Thiện Dưỡng cách Phát Diệm 30km, đặc
biệt là đá quý được lấy ở núi Nhồi. Có những cây gỗ nặng 7 tấn, những phiến đá
nặng 20 tấn. Hồi xưa, Phát Diệm là biển đã được phù sa bồi lên nên Cụ Sáu đã phải
cho đóng xuống hàng triệu cọc tre và đổ xuống biển rất nhiều đất đá mới đặt được
nền nhà thờ vững chắc cho đến nay.
Khu nhà thờ đá Phát Diệm có tổng diện tích là 22ha. Khu thánh đường Phát Diệm
là sự kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc Châu Âu và á Đông – nó mang
phong cách vừa lớn lao, vừa trọng điểm, vừa trải rộng trong không gian cùng với
phong cảnh hữu tình – non xanh nước biếc ngoạn mục.
Năm 1883, nhà thờ “Trái tim Đức Mẹ” được xây dựng. Nhà thờ dàI 15,30m rộng
8,30m, cao 6m. Điều đặc biệt là tất cả vật liệu để dựng nên nhà thờ đều bằng đá từ :
nền, xà, cột, tường, chấn song, tháp, bàn thờ…Đây là một kiên trúc đặc sắc duy
nhất ở Việt Nam và cùng không có nhiều ở trên thế giới.
Đến nay nhà thờ Phát diệm đã tồn tại hơn 100 năm trên vùng đất bùn lầy mà vẫn
vững bền không có dấu hiệu bị lún.
Đến Vườn Quốc Gia Cúc Phương ( nói 10 phút)
Thưa các cô chú và anh chị, Ninh Bình còn nổi tiếng với vườn quốc gia Cúc
Phương – vườn quốc gia đầu tiên và cũng là đơn vị bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của
23
Việt Nam (được chính thức công nhận vào 7/7/1962) Trên thế giới, vườn quốc gia
lớn nhất là vườn quốc gia nằm ở phía bắc Cannada có diện tích là 40.000 ha và
vườn quốc gia nhỏ nhất là vườn quốc gia Hamana của Thuỵ Điển có diện tích chỉ
4ha. Vậy với S hơn 25.000 ha, Cúc Phương thuộc loại vườn quốc gia tương đối lớn
trên Thế giới.
Tuy nằm ngay ở rìa đồng bằng nhưng do địa hình núi đá vôi khá hiểm trở nên mãi
đến năm 1960, rừng Cúc phương mới được phát hiện.
Đến Cúc Phương đẹp nhất là vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 – khi đã qua đi
những cơn mưa rừng phải nói là “dữ dội” . Vườn quốc gia Cúc phương dược bao
bọc bởi các dãy núi đá vôi có độ cao trung bình từ 300 – 400m, trong đó cao nhất là
đỉnh Mây Bạc –cao 656m.
Đến Cúc Phương, chúng ta sẽ được ngắm một khung cảnh thiên nhiên kỳ bí, hùng
vĩ giữa rừng bướm rập rờn, tận mắt chứng kiến nhiều loại cây hàng ngàn năm tuổi
như : chò, chò chỉ, sấu…có đường kính từ 5-6m, chiều cao từ 40 –70m. như cây
“Chò ngàn năm” gốc to 16 người ôm không hết, như cây “Chò chiến thắng” cao
70m nhìn không thấy ngọn, tán lá xoè rộng phủ kín cả một vùng. Hệ thực vật ở đây
có gần 2000 loại khác nhau, rừng đã phát triển đến giai đoạn cực đỉnh với cấu trúc
5 tầng.
Và đặc biệt, chúng ta sẽ được ngắm những loài động vật quý hiếm như : Voọc quần
trắng, sóc bay…Theo đánh giá của tổ chức Birdlife, Cúc Phương được lựa chọn là
một trong 15 khu xem chim thuận tiện nhất tại Việt Nam. Cho đến nay, có tới hơn
300 loài chim được ghi nhận tại vườn quốc gia Cúc Phương. ở đây có rất nhiều loại
chim rừng thuộc thuộc nhóm gõ kiến, sáo, quạ và đớp ruồi. Một số loài đặc hữu của
khu vực Đông Nam á cũng được ghi nhận tại vườn như : Thầy chùa đít đỏ, đuôi cụt
bụng vằn, khướu đá hoa…
Tới Cúc Phương, chúng ta có thể khám phá thế giới sống động của các loài thực vật
và thú tại đây bởi VQG Cúc Phương được xác định là một trong 7 “trung tâm đa
dạng thực vật của Việt Nam có ý nghĩa bảo tồn toàn cầu và là nơi sinh sống của
một quần thể thú quan trọng, trong đó có phân loài linh trưởng đang bị đe doạ tuyệt
24
chủng toàn cầu ở mức tối nguy cấp là Voọc quần đùi trắng và loài cầy vằn đang bị
đe doạ ở mức sắp nguy cấp”.
VQG Cúc Phương còn có trung tâm cứu hộ các loài linh trưởng bị đe doạ do tổ
chức Động Vật Học Frankfurt (Đức) thành lập nhằm nuôi nhốt, gây giống và
nghiên cứu thú y đối với các loài vượn, culi và voọc của Việt Nam.
VQG Cúc Phương còn là một địa điểm khảo cổ học rất lý thú. Chính vì địa hình núi
đá vôi nên RQG Cúc Phương có nhiều hang động đặc thù như: động Trăng khuyết,
động Con Moong, động Phò Mã, động người xưa – với rất nhiều ngõ ngách và hình
thù lạ mắt. Những di chỉ tìm được ở đây như ba ngôi mộ cổ, vỏ chai, răng thú, chày
đá…chứng tỏ cách đây 1 vạn năm – người nguyên thuỷ thuộc thời đại Văn Hoá
Hoà Bình – Bắc Sơn đã sinh sống ở đây và người xưa đã biết chôn cất người chết.
Tản mạn về những nhân vật nổI tiếng của Ninh Bình (10 phút)
Nghệ nhân Hà Thị Cầu.
Thưa các cô chú, anh chị. Nói đến Ninh Bình, thật thiếu sót khi chúng ta
không nhắc tới bà Hà Thị Cầu – một nghệ nhân quá cố – người từng được coi như
một nghệ nhân hát xẩm nổi tiếng nhất của thế kỷ xx. Bà Hà Thị cầu tên thật là Hà
thị Năm ở xã Yên Phong, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Chỉ vì mê giọng xẩm,
tiếng nhị của một người đàn ông phiêu lãng mà bà đã tự nguyện trở thành gánh
nặng thứ 18 của ông. Do quá đẹp và quá tài mà chỉ có bà là người vợ chính thức có
cưới xin và có con với ông. Bà Hà Thị Cầu là người đã đưa hình thức hát xẩm của
Việt Nam lên thành một lối hát hẳn hoi. Nhiều người cho rằng hát xẩm là lối hát
của những người ăn xin, thật ra đó là một hình thức hát – nó chất chứa sự đau buồn
của những người lang thang. Sau này, bà được mệnh danh là “nữ hoàng” của các
loại nhạc cụ. Hiện nay có thể nói hình thức hát xẩm ở Việt Nam đã thất truyền.
Một số danh nhân khác
Đến thị xã Tam Điệp : Giới thiệu qua về thị xã Tam Điệp và Thanh
Hoá(15 phút)
25