A.
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Các dân tộc thiểu số dù cư trú ở Việt Nam dù hàng nghìn năm hay mới vài
ba trăm năm, dù đông hay ít người mỗi dân tộc đều gắn bó số phận mình với lịch
sử dân tộc trong nước. Các dân tộc đều cùng nhau tham gia và bảo vệ Tổ Quốc
chung. Đặc biệt những thử thách sống còn của giặc ngoại xâm, thiên tai khắc
nghiệt liên tiếp xảy ra làm cho các dân tộc xích lại gân nhau hơn.Họ đã phải dưạ
vào nhau để trống trọi, để tồn tại và phát triển. Trải quá trính đó, các dân tộc đã
chung đúc được một truyền thống đoàn kêt bền vững, hình thành nên một đại gia
đình Việt Nam của các dân tộc anh em.Trong bức tranh đa dạng và phong phú ấy,
văn hóa các dân tộc Việt Nam là những mảng màu đặc sắc và quý hiếm.
Góp phần vào kho tàng văn hóa phong phú và đa dạng của văn hóa Việt
Nam phản kể đến nhóm các dân tộc thuộc nhóm tộc người Môn - Khmer.
Nhóm tộc người Môn - Khmer gồm 21 tộc người với trên 2.001.000 dân
sống rải rác từ vùng ngã ba biên giới tây bắc Bắc bộ như người Mảng; xen cư với
người Thái ở Sơn La, Lai Châu và miền tây Nghệ An như người Khơ-mú, người
Kháng, người Xinh-mun, Ơ-đu; rồi men theo dọc dải Trường Sơn như các tộc Bru
Vân Kiều, Cơ-tu, Tà-ôi, Co, Hrê; tỏa khắp các cao nguyên miền tây như các tộc
Gié-triêng, Ba-na, Xơ-đăng, Brâu, Rơ-măm; đi về phía nam tiếp đó là các tộc
Mnông, Mạ, Cơ-ho; cho đến tận miền châu thổ sông Cửu Long như người Khơ-me
và cả miền núi thấp ở đông Nam bộ như các tộc Xtiêng, Chơ-ro. Nhìn trên toàn
cục, các tộc người Môn - Khmer là hậu duệ của một cộng đồng ngôn ngữ - văn hóa
vốn cư tụ ở miền rừng phía tây và tây nam của cả vùng lãnh thổ Việt Nam ngày
nay
Trải qua bao thế kỷ, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã gắn bó với nhau
trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ bờ cõi, giành
tự do, độc lập và xây dựng đất nước. Mỗi dân tộc hầu như có tiếng nói, chữ viết và
bản sắc văn hoá riêng.
Bản sắc văn hoá của các dân tộc thể hiện rất rõ nét trong các sinh hoạt cộng
đồng và trong các hoạt động kinh tế. Từ trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các
phong tục tập quán trong cưới xin, ma chay, thờ cúng, lễ tết, lịch, văn nghệ, vui
chơi của mỗi dân tộc lại mang những nét chung. Đó là đức tính cần cù chịu khó,
thông minh trong sản xuất; với thiên nhiên - gắn bó hoà đồng; với kẻ thù - không
khoan nhượng; với con người - nhân hậu vị tha, khiêm nhường... Tất cả những đặc
tính đó là phẩm chất của con người Việt Nam.
Chính vì những lý do trên nên em chọn đề tài “Những đặc trưng văn hóa
của nhóm tộc người Môn – Khmer” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Hiểu rõ hơn về các đặc trưng văn hoá của nhóm tộc người Môn – Khmer
thông qua trang phục, ăn, ở, quan hệ xã hội, các phong tục tập quán trong cưới xin,
ma chay, văn nghệ,…
Góp phần vào công cuộc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, hiểu được tính
thống nhất và đa dạng của văn hoá dân tộc Việt Nam nói chung, nhóm tộc người
Môn-Khmer nói riêng.
3.Đối tương nghiên cứu
Bài tiểu luận tập trung nghiên cứu về các đặc trưng văn hóa của nhóm tộc
người Môn - Khmer
4.Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận kết hợp các phương pháp nghiên cứu : Phương pháp tổng hợp,
phân tích, liệt kê,…
5.Kết cấu tiểu luận
Bài tiểu luận gồm 3 phần : Mở đầu. Nội Dung, Kết luận
Ngoài ra có phần Mục lục, Tài liệu tham khảo, Nhận xét tiểu luận.
B.PHẦN NỘI DUNG
*Chương 1 : Khái quát về nhóm tộc người Môn – Khmer
1. Khái niệm dân tộc
Dân tộc là một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi
dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến
cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.
Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong
đó có hai nghĩa được dùng phỏ biến nhất.
Một là: dân tộc chỉ một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ, bền vững,
có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hóa đặc thù, Xuất
hiện sau bộ lạc, bộ tộc. Với nghĩa này, dân tộc là bộ phận của quốc gia- Quốc gia
có nhiều dân tộc.
Hai là: dân tộc chỉ cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước,
có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự
thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền
thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong cuộc suốt quá trình lịch sử
lâu dài dựng nước và giữ nước. Với nghĩa này, dân tộc là toàn bộ nhân dân của
quốc gia đó- Quốc gia dân tộc.
2. Khái niệm về tộc người
Tộc người theo nghĩa rộng là một loại hình cộng đồng người.
Tộc người theo nghĩa hẹp là tổng hợp những con người được hình thành về
mặt lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, dưới một cái tên tự gọi (tộc danh), có
những đặc điểm chung tương đối bền vững về văn hóa và tâm lí (trong đó nổi trội
là ngôn ngữ); có ý thức về sự thống nhất của họ cũng như sự khác nhau giữa họ với
các tộc người khác (nói ngắn gọn là ý thức tộc người).
Trong 3 yếu tố: ngôn ngữ, lãnh thổ và ý thức tộc người gắn với tộc danh thì
yếu tố thứ ba có vai trò đặc biệt. Ý thức tự giác của tộc người gắn với tộc danh
không chỉ là là yếu tố cần thiết mà còn là yếu tố đấy đủ để bản sắc hóa tộc người.
Khi có dấu hiệu thay đổi về ý thức tự giác của tộc người thì sẽ xuất hiện dấu
hiệu thay đổi thành phần tộc người.
Ở góc độ triết học, vấn đề tộc người không chỉ gói gọn trong quá trình thu
thập, phân tích các dữ liệu nhân chủng học một cách trực quan mà còn phải nghiên
cứu những nhân tố tự nhiên và lịch sử xã hội để làm rõ quá trình phát sinh của một
tộc người.
Tộc người với các hình thái kinh tế - xã hội như một cơ thể xã hội gồm tập
thể những con người luôn thống nhất, có tên tự gọi (tên chính trị), chiếm một lãnh
thổ nhất định (khởi nguyên là quyền sở hữu đất đai của một cộng đống) và cùng có
những đặc điểm chung về ngôn ngữ và văn hóa.
Lịch sử loài người với tính cách là tổng thể lịch sử của các cộng đồng. Quá
trình hình thành nhà nước trong lịch sử nhân loại khởi đầu từ tộc người đã được
Mác và Ăngghen đề cập trong các tác phẩm của mình. Ở đây có thể diễn giải quá
trình đó như sau: Thị tộc, bộ tộc Tập đoàn người (có sự khác nhau về sơ
hữu) Giai cấp (đấu tranh giai cấp) Nhà nước.
Con người với tính cách là con người hiện thực, là chủ thể lịch sử có quá
trình hình thành và phát triển gắn với sự biến đổi của các phương thức sản xuất
trong những điều kiện địa lí tự nhiên nhất định. Chủ thể lịch sử khẳng định không
gian sinh tồn của mình thông qua việc xác định chủ quyền lãnh thổ. Quá trình hình
thành dân tộc trong lịch sử nhân loại bắt đầu từ mối quan hệ giữa con người với
môi trường sống (theo Mác và Ăngghen) được diễn giải như sau: Con người trong
môi trường sống Xác định chủ quyền lãnh thô Hợp nhất & phân li các
hình thái cộng đồng người từ các nguyên nhân kinh tế, chính trị, văn hoá
Dân tộc.
Ở điểm xuất phát, do chưa bị phân hóa nên mọi sự vật hiện tượng đều chưa
có sự phân biệt. Qua quá trình vận động, những khác biệt dần dần lộ ra, từ đó dẫn
đến những khoảng chênh về các giá trị. Lao động loài người cũng vậy. Hình thái
kinh tế chiếm đoạt là phổ quát ở thời kì đầu tìm kiếm phương thức sống của nhân
loại. Sản phẩm thời kì này chủ yếu do thu lượm từ tự nhiên. Khi nhận thấy những
bất ổn của hình thức săn bắt, hái lượm con người chuyển sang các hình thức kiếm
sống khác phù hợp với môi trường mà họ đang cư trú. Do những lợi thế về mặt địa
hình và khí hậu, người Phương Tây chọn lối sống chăn dắt bầy đàn còn người
phương Đông chọn lối sống trồng trọt (gồm nông nghiệp khô và nông nghiệp lúa
nước). Sản phẩm thời kì này thu được từ nền sản xuất dựa vào môi trường tự
nhiên. “Ngay từ xưa, đời sống của con người đã dựa vào sản xuất, dựa vào một
kiểu nào đó của nền sản xuất xã hội”. Nền sản xuất ở giai đoạn đầu tiên dù ở dạng
này hay dạng khác thì cũng chỉ là nền sản xuất “tự nhiên”. Nhưng nó là tiền đề cho
toàn bộ lịch sử nhân loại, bảo đảm sự tồn tại của cá nhân con người cho đến ngày
nay.
Lôgíc tất yếu của sự phát triển xã hội loài người trong nền sản xuất “tự nhiên”
có thể tóm tắt như sau: Môi trường sống (Yếu tốc địa lý) Phương thức kiếm
sống Cách ứng xử với tự nhiên và xã hội Đặc trưng văn hoá của cộng
đồng theo địa vực Loại hình kinh tế, loại hình văn hoá.
Theo lôgic này, lối sống chăn dắt bầy đàn ở phương Tây hình thành những
hình thức thức sinh hoạt riêng biệt của cư dân du mục. Ở đó, chúng ta có thể khái
quát thành những đặc trưng của nền văn hóa gốc du mục. Tương tự, lối sống trồng
trọt ở phương Đông hình thành những hình thức thức sinh hoạt riêng biệt của cư
dân nông nghiệp. Ở đó, chúng ta có thể khái quát thành những đặc trưng của nền
văn hóa gốc nông nghiệp. Ở thời điểm này, trên thế giới đã xuất hiện nhiều dạng
thức đặc trưng văn hoá nhưng hai loại hình văn hoá gốc du mục và gốc nông
nghiệp là nổi trội nhất. Qua quá trình phát triển theo hướng tích hợp và tự sinh, hai
loại hình văn hoá này đã tạo nên hai khu vực văn hoá lớn của nhân loại: phương
Đông văn hoá và phương Tây văn hoá.
Lịch sử nhân loại là một sự chuyển tiếp không ngừng nên khi xuất hiện nền
sản xuất “tự nhiên”, xã hội loài người vẫn tồn tại hình thái kinh tế chiếm đoạt. Về
sau, do phương thức sản xuất phát triển, con người dần tách khỏi sự chi phối của
địa lí tự nhiên (khí hậu và địa hình từ yếu tố quyết định đối với sản xuất trở thành
yếu tố có ảnh hưởng nhất định đối với sản xuất). Con người tự tạo ra môi trường
sản xuất công nghiệp đồng thời khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản
xuất. Trong giai đoạn này, xã hội loài người vẫn tồn tại hình thái kinh tế chiếm
đoạt nhưng không còn phổ biến. Hình thái sản xuất “tự nhiên” vẫn tồn tại và dần
dần được công nghiệp hoá. Từ đây, xã hội loài người có diện mạo phức tạp hơn
hẳn thời kì trước đó. Văn hoá loài người trở nên đa dạng và có sự đan cài rất phức
tạp giữa truyền thống và hiện đại, giữa bản địa và ngoại lai, giữa cưỡng bức và tự
nguyện.
Cách tiếp cận từ góc độ triết học, lịch sử, xã hội cho thấy bản chất tộc người
được hình thành trong các mối quan hệ cơ bản: nhà nước, dân tộc, kinh tế, văn
hóa. Đây là những mối quan hệ đồng thời cũng là những yếu tố tổng quát để xem
xét bản chất tộc người.
Trong quá trình vận động, các tộc người luôn có ý thức xây dựng, phát triển
đồng thời giữ gìn, bảo vệ nhà nước, dân tộc (tộc danh và ý thức về tộc người), kinh
tế, văn hóa của cộng đồng mình. Đó cũng chính là quá trình giữ gìn bản sắc của
một hoặc nhiều cộng đồng người có chung tộc danh (cũng có thể là quốc hiệu).
Thực tế cho thấy, việc giữ gìn tộc người trước hết là giữ gìn tộc danh và ý
thức về tộc người. Tức là những yếu tố thuộc lĩnh vực văn hoá, dân tộc chứ chưa
phải lĩnh vực nhà nước.
3. Nguồn gốc và sự phân bố của nhóm tộc người Môn – Khmer
Các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer có địa bàn phân bố khá rộng từ
Mianmar, Lào, Campuchia đến Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, cư dân nói ngôn ngữ
Môn – Khmer khổng nhiều, nhưng đây là nhóm chiếm tối gần nửa số tộc người
trong cả nước: (21/ 54 tộc người) cư trú tập trung ở 3 khu vực: Tây Bắc và Thanh –
Nghệ; miền Trung, Trường Sơn – Tây Nguyên; đồng bằng Nam Bộ.
Lịch sử hình thành các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer rất
phức tạp. Các nhà khoa học đều cho rằng cư dân Môn – Khmer là những cư dân
bản địa đầu tiên lập nghiệp trên phía bắc của bán đảo Đông Dương. Trong quá
trình định cư, tổ tiên của họ đã xây dụng nên những nhà nước cường thịnh. Nhưng
các đợt di dân từ phương Bắc tràn xuống đã thu hẹp dần lãnh thổ cư trú của họ và
làm suy yếu các nhà nước này. Sự suy yếu và tan rã của các nhà nước này đã làm
cho thành phần dân cư bị đảo lộn. Một bộ phận bị tiêu diệt do các cuộc chiến tranh
làn khốc giữa các quốc gia với nhau. Một bộ phận khác bị đồng hoá hoặc hoà nhập
vào các cộng đồng tộc người khác. Phần còn lại bị phân hoá ra thành những nhóm
địa phương sinh sống xen kẽ với những tộc người khác. Ở nước ta, cư dân Môn –
Khmer gồm 21 tộc người, họ chủ yếu là cư dân bản địa, sinh sống lâu đời ở Việt
Nam, một số sinh sống ở các nước trong khu vực Đông Dương
Các tộc người Môn – Khmer phía Bắc: Năm tộc người nhóm Môn – Khmer
ờ miền núi phía Bắc gồm Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, Mảng, 0 Du phần lớn từ dân
bản địa. Họ có mặt ở đây từ thế kí thứ VII, đến thế kỉ thứ XIV, khi người Thái di
cư từ các tỉnh phía nam Trung Quốc vùng này đã thấy họ cư trú ở đây. Người
Mảng có mặt lâu đời ở Việt Nam. Họ cư trú à 4 huyện Sìn Hồ, Mường Tè, Phong
Thổ, Mường Lạng tỉnh Lai Châu vùng giữa 2 con sông – sông Đà và sông Nậm
Na. cỏ một bộ phận người Mảng sinh sống ở Lào và Trung Quốc. Người Khơ Mú
được coi là cư dân đầu tiên khai phá vùng lòng chảo Tây Bắc. Tuy nhiên trong quá
trình phát triển của lịch sử, do quá trình tiếp xúc lâu dài với người Thái nên người
Khơ Mú có sự giao thoa và ảnh hưởng mạnh mẽ với văn hoá Thái, ke cả trang
phục, nhà ở và ngôn ngữ.
Tộc người Ơ-Đu ở Nghệ An tuy có số lượng dân số ít nhưng vào giai đoạn
phát triển cực thịnh, họ biết khai thác vàng và có nghề đúc vàng. Nhưng dưới thời
kì Cai trị của tù trưởng Châu Hạch, Châu sắc đã xảy ra các cuộc chiểu tranh liên
miên với các tù trưởng khác tộc ở trong vùng, làm cho tộc người Ơ-Đu dần bị tan
rã, còn lại một bộ phận người bị đồng hoá với người Thái. Họ chỉ ý thức được
mình có gốc là người Ơ-Đu. Ở Tương Dương (Nghệ An) hiện nay vẫn lưu truyền
câu chuyện: Ngày xưa người ơ Đu sống ở lưu vực ngọn nguồn sông Huổi Mác với
cuộc sống sung túc. Một hôm tộc trưởng của họ nổi hứng hô hào: “Ta sống sung
túc rồi thì phải nem mùi khổ sở một lần cho biết”. Thế là bao nhiêu của cải, lương
thực bị khuân ra, trâu, bò bị đâm giết đều ném xuống sông, xuống suối. Chuyện
náo động đến tai Pò Then, Mường Phạn (ông trời). Hai ông rất tức giận, ra lệnh
trừng phạt người ơ Đu. Một đôi vợ chông do không nghe theo tộc trưởng mà sống
sót đã chạy theo người Khơ Mú, người Thái để tránh sự trừng phạt của Pò Then.
Các tộc người Môn – Khmer ở vùng núi bắc Trường Sơn: Tộc người Bru –
Vân Kiều trước kia cư trứ ở vùng Trang Lào. Sau những biến động lịch sử xảy ra
hàng thế kỉ, họ đã phải di cư đi các nơi khác. Tộc người Bru – Vân Kiều có tiếng
nói khá thống nhất với người Tà Ôi, Cơ Tu trong khu vực. Ba tộc người này hợp
thành một nhóm độc lập trong nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer. Tuy nhiên, do quá
trình tiếp xúc tộc người nên trong văn hoá của người Bru – Vân Kiều mang nhiều
yếu tố văn hoá Việt và Lào.
Các tộc người Môn – Khmer ở vùng nam Trường Sơn và Tây Nguyên: Ở
vùng nam Trường Sơn và Tây Nguyên các tộc người thuộc nhóm Môn I Khmer
chiếm số lượng khá đông như Bạ Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Mạ, M’nông, Hrê, Xtiêng,
Giẻ – Triêng, Chơ Ro, Brâu, Rơ Măm. Các tộc người này chủ yếu là cư dân bản
địa hay khu vực Đông Dương, có ảnh hưởng qua lại với văn hoá các bộ tộc Lào,
văn hoá các tộc người trong khu vực Trường Sơn – Tây Nguyên. Một số tộc người
Cơ Ho, Mạ, Chu Ru, Raglai sống xen lẫn với nhau và chịu ảnh hưởng văn hoá
Chăm.
Các tộc người Môn – Khmer ở vùng đồng bằng Nam Bộ: Vùng đồng bằng
Nam Bộ là địa vực cư trú của người Khmer. Họ chiếm tới 8% số dân trong vùng,
cư trá độc lập hoặc xen cư với người Hoa, người Chăm và người Kinh trong vùngNgười Khmer từ lâu đời đã có sự phát triển khá mạnh về kinh tế văn hoá, xã hội so
với các dân tộc khác trong nhóm. Các chùa của người Khmer được xây dựng công
phu, nó vừa là trường học dạy chữ, dạy người vừa là trung tâm văn hoá.
*Chương 2 : Đặc trưng văn hóa của nhóm tộc người Môn – Khmer
1. Một số yếu tố về văn hóa vất chất
1.1. Ẩm thực
Thương nghiệp nhỏ đã phát triển trong một số nhổm tộc người Môn –
Khmer, từ lâu đã hình thành hệ thống chợ vùng. Các phiên chợ vùng miền được
coi là những chợ văn hoá, mang những nét văn hoá đặc sắc riêng. Đến ngày chợ
phiên, đồng bào các dân tộc quanh vùng về tụ họp rất đông, không chỉ để trao đổi
mua bán các sản phẩm hàng hoá làm ra, mà là dịp để thông báo cho nhau những tin
tức quan trọng, trao đổi tình cảm, giao hưu và sinh hoạt văn hoá, ẩm thực theo
truyền thống của từng tộc người.
Nguồn lương thực của các tộc người nhóm Môn – Khmèr chủ yếu là lúa.
Trước đây, để có gạo dùng trong bữa ăn hàng ngày nhiều tộc người nhóm Môn –
Khmer ở Tây Nguyễn thường giã gạo bằng chày tay. Vào những dịp trỉa lửa hay
thu hoạch, các buổi tối phụ nữ tập trung giã gạo đủ ăn vài ngày liền. Ngày nay,
đồng bào chủ yếu xát gạo bằng máy, cối gỗ chì để giã bánh hay giã thức ăn cho gia
súc.
Đồng bào ăn cơm tẻ là chính, ngoài ra còn cổ cơm nếp và các loại củ như:
ngô (bắp), khoai, sắn… Cơm nếp được nấu trong ống lồ ô hay chõ đồ xôi. Hầu hết
các tộc người nhóm Môn-Khmer ăn hai bữa chính là sáng và tối, bữa trưa được coi
là bữa phụ. Thức ăn hàng ngày có rau, cá cùng các thứ do hái lượm và săn bắn
được. Các món ăn được chế biến theo cách thức ăn tái, nướng hay luộc.
Món ăn đặc biệt của nhiều tộc người Môn – Khmer Tây Bắc là phèo của
trâu, bò, dê: người ta để nguyên phần dịch trắng trong ruột non, cột hai đầu lại luộc
chín rồi thái từng miếng ăn. Phần phèo gần ruột già đem trộn lẫn cổ hũ, ướp sả,
muối hành. Đây là món ăn đặc biệt dùng khi có khách đến chơi và dùng trong lễ
hội.
Ngoài ra, mỗi tộc người có những món ăn đặc trung riêng. Ví dụ, người
Xinh Mun có món rêu đá rất độc đáo. Để có món rêu đá ngon, phụ nữ thường ra
sông lẩy rêu, nhặt bỏ lá cây, rác bẩn, dùng chày gỗ vừa đập, vừa té nước để loại hết
sỏi cát còn dính trong rêu. Sau khi rửa sạch, vắt khô, rồi được trộn với các loại gia
vị: sả, gừng, bột ớt, muối, sau đó gói vào lá dong, vui trong than lửa cho chín. Món
rêu nóng ăn với xôi là đặc sản của người Xinh Mun, vừa thơm ngọt lại bùi. Người
Giẻ-Triêng có món thịt chuột nấu trong ống tre là món ăn đặc trưng không thể
thiếu trong ngày tết của đồng bào….
1.2.Trang phục
Trước khi có trang phục bằng vải sợi bông, các tộc người nhóm ngôn ngữ
Môn – Khmer đã biết tìm các loại vỏ cây: rang, cu mách, ơn đang, tỉ coong, cha
khuông, mo, si tí… dệt thành tấm để khâu y phục, tấm đắp, tấm choàng… phục vụ
nhu cầu cuộc sống hàng ngày.
Người Xơ Đăng nhóm Mơ Nâm ở Kon Tum
thường sử dụng các loại vỏ cây: hpoong, mo có màu trắng và cây ka bu có màu đỏ
nâu để cắt, may y phục. Người Xơ Đăng nhóm Tơ Đ’ră thì chủ yếu dùng cây hmôh
(hmuh) còn được gọi là cây mít rừng… để làm làm “vải” chế tác trang phục Người
Giẻ-Triêng vùng Đăk Dục, Đăk Nông huyện Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum thường sử
dụng vỏ cây roong (loong roong) là loại cây gỗ, cao khoảng 10m, chu vi khoảng
30cm đến 40cm không có đốt, vỏ nhắn. Vỏ cây được chọn làm vải thường có tính
bền dai, chịu nước tốt không bị mọt.
Loại y phục vỏ cây hiện nay dã di vào dĩ vàng, thay vào đó là hai thế hệ vải
sợi bông và công nghiệp kiểu dáng phổ thông Tuy nhiên, trong cuộc sống của một
số cư dân ở miền Trung. Tây Nguyên, vân còn tồn tại áo, khố vỏ cây dưới dạng vật
kỷ niệm – là minh chứng cho một thời kỳ trong lịch sử tộc người, trước khi có
trang phục bằng vải, cư dân các tộc người Môn – Khmer khu vực Trường Sơn, Tây
Nguyên đã dùng vỏ cây để che thân. Có thể ban đầu, vỏ cây để dưới dạng nguyên
xơ, đan cho vừa hình người. Dần dần, người ta đã biết dùng kim khâu bằng xương
thú, bằng tre để khâu vỏ cây thành áo, khố. Vì vậy, trước khi trình bày về quy trình
tạo ra vải để cắt may trang phục, chúng tôi trình bày đôi nét về quy trình tạo vải
bằng vỏ cây của cư dân Môn – Khmer trong lịch sử.
Để làm ra chiếc áo, khố bằng vỏ cây là cả một quá trình sáng tạo mà phải
trải qua cuộc sống lao động lâu dài cư dân Môn – Khmer mới phát hiện ra được.
Cho đến nay, một số người già vẫn còn nhớ kỹ thuật làm ra một tấm vải vỏ cây qua
lời kể của thế hệ trước. Họ thường được nghe kể về cuộc sống gắn với thời kỳ mặc
áo vỏ cây. Khi ấy bà con người Xơ Đăng, M’nông thường vào rừng lấy cây si tí về
làm vải mặc thường ngày. Những năm 60 thế kỷ XX trở về trước, người ta vẫn còn
mặc vải vỏ cây, vì trong suốt thời kỳ chiến tranh, cư dân chỉ biết gắn bó với rừng
xanh, điều kiện giao lưu còn hết sức hạn chế. Chiến tranh chấm dứt lại bước vào
thời kỳ bao cấp (1976 – 1986), cư dân thành phố còn thiếu vải, đồng bào các dân
tộc ở vùng sâu vùng xa càng vô cùng khan hiếm. Nhiều người tiết kiệm, dùng áo
vỏ cây khi vào rừng, đi săn, phát rẫy. Vài chục năm trở lại đây, ít người còn mặc
vải vỏ cây, ngoại trừ một số người dùng khi đi khai thác song mây, phát rẫy và đặc
biệt là sử dụng khi đi săn voi.
Mặc dù có sự chi phối của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội…, nhưng do có
sự độc lập tương đối nên trang phục của các tộc người nhóm ngôn ngữ Môn –
Khmer nhìn chung vẫn bảo tồn được các yếu tố truyền thống, thể hiện tính thống
nhất nhưng lại có đặc trưng riêng. Sự thống nhất đó được biểu hiện ở chất liệu
trang phục chủ yếu vẫn là sợi bóng: các khâu pháp thuật, dệt, thêu chấp ghép, cắt
may và cách thức sử dụng trang phục vẫn tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các yếu tố
truyền thống.
Hiện nay, nguyên liệu bóng truyền thống của trang phục đang được thay thế
bằng sợi bông hay len công nghiệp. Sự biến đổi này là tất yếu vì con người sẽ ngày
càng hướng tới sự tiện dụng và năng suất lao động cao. Kéo theo đó, trang phục
tộc người nhanh chóng biến đổi theo hướng tiện ích và xu thế chung của xã hội. Sự
thống nhất thể hiện trong cách tạo dáng và trang trí chi tiết trên trang phục theo
từng vùng cư trú. Phía Bắc, trang phục của 5 tộc người Khơ Mủ, Màng, Kháng,
Xinh Mun, ơ Đu có sự giao thoa mạnh mẽ với văn hoá Thái. Tuy nhiên chiếc áo
cóm của phụ nữ Khơ Mú vẫn độc đáo với hàng khuy bạc hình chữ nhật và hoa văn
hình mặt trời làm trung tâm. Nó phảng phất quan niệm của cư dân nông nghiệp
Đông Nam Á cổ đại với hình tượng trời tròn đất vuông. Trang phục phụ nữ Mảng
độc đáo bởi cách trang trí búi tóc hình cây dừa trên đỉnh đầu và chiếc tạp dề trắng
thêu hoa văn quấn ngang ngực tới bắp chân. Trang phục phụ nữ Kháng hay Xinh
Mun tạo ra nét đặc biệt bởi số lượng cúc khác so với người Thái và hàng chỉ màu
hai bên áo, thêm vào đó là chiếc áo dài truyền thống được trang trí rất nhiều hoa
văn mặc trong ngày cưới, ngày lễ hay lúc qua đời. Trang phục 15 tộc người Môn–
Khmer ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên thống nhất trong cách cắt may, tạo
dáng trang phục, và các băng hoa văn ngang trang trí trên áo váy, các băng hoa văn
dọc và trang trí đan tết trên hai đầu khố. Song mỗi tộc người lại có cách trang trí
rất khác nhau. Ví dụ như trang trí dệt cườm chì của phụ nữ các tộc người Tà Ôi,
Cơ Tu; trang trí dệt hoa văn hình học, hình động vật, hình người bằng các màu trên
nền vải trắng của ngươi Mạ, Cơllo và Chơ Ro… Tất cả những trang trí đó làm nên
nét đặc trưng trong sự thống nhất của trang phục các tộc người Môn-Khmer ở khu
vực phía Bắc và khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Riêng trang phục tộc người
Khmer Nam Bộ, bên cạnh các đặc điểm riêng trong trang phục thường ngày, trang
phục cô dâu và lễ hội, yếu tố tôn giáo đã ảnh hưởng trực tiếp tới trang phục tộc
người. Chính tính nguyên tắc theo quy định của Phật giáo Tiểu thừa đã góp phần
cho sự bất biến của loại trang phục dành cho các chức sắc tôn giáo. Ngoài trang
phục tôn giáo, trang phục trong nghệ thuật dân gian của người Khmer cũng không
ngưng biến đối theo xu hướng biến đổi chung của xã hội.
1.3. Kiến trúc nhà ơ
Đặc điểm chung: Nhóm Môn- Khmer nhà thường có hai loại: nhà sàn và nhà
trệt nhưng chủ yếu ở nhóm Môn-Khmer là loại nhà nhà sàn, làm các vật liệu có sẵn
trong tự nhiên như tre, nứa, gỗ và lá rừng để lợp. Không gian được làm dựa trên sự
ứng xử linh hoạt, đa năng biến hóa phong phú, vừa hòa nhập dễ dàng với tự nhiên,
môi trường, vừa thích hợp với hoạt động đời sống nông nghiệp kết hợp với thủ
công nghiệp của vùng nhệt đới ẩm gió mùa, của cơ cấu gia đình lớn hay nhỏ.
Đặc điểm riêng: Nhà của những dân tộc vùng Tây Bắc kiến trúc đơn giản, kỹ
thuật thô sơ không có mộng chỉ có ngoẵm, lấy dây rừng buộc lại. Nhìn chung, nhà
chỉ có hai mái, không có chân ở hai đầu hồi, nhà có hai cầu thang lên xuống, một
gian cho nam giới, một gian giành cho nữ giới. Nơi quan trọng nhất là cột thờ ma,
nơi tiếp khách và bếp lửa, nơi ngủ của vợ chồng gia chủ…
Ngôi nhà truyền thống của khu vực Trường Sơn- Tây Nguyên là ngôi nhà
dài hay ngắn, nhưng những ngôi nhà sàn dài hiện nay đang bị thay thế bằng những
ngôi nhà sàn ngắn. Ngôi nhà sàn dài cửa ra vào ở hai đầu hồi, trong nhà chia dọc
thành 3 phần: lối đi ở giữa, một bên ngăn thành buồng nhỏ, cho gia đình sinh hoạt
riêng (gọi là các bếp), còn một bên dùng làm nơi sinh hoạt chung, tiếp khách, họp
bàn, tổ chức lễ hội, ăn uống đông người, đan nát…
Nét đặc trưng quan trọng nhất của ngôi nhà vùng này: là kết cấu “khung cột,
không có vì kèo”, khung đứng liên kết với cột xà, cột không liên kết với xà ngang
mà liên kết trực tiếp với xà dọc. Chính từ đặc trưng này: làm ngôi nhà mang màu
sắc độc đáo. Các ngôi nhà dù ngắn hay dài thì đều được bố trí mở cửa chính hướng
về ngôi nhà công cộng gọi là nhà rông. Nhà rông thường được dựng ở những vị trí
trung tâm của làng: là nơi vị trí trung tâm của làng, là nơi thuận tiện cho sinh hoạt
văn hóa cộng đồng. Sự đồ sộ, hùng vĩ, lạ lẫm qua phần mái: mái thấp, mái cao, mái
hình chữ nhật, mái thẳng, mái cong tạo nên vẻ đẹp hoành tráng cho ngôi nhà rông,
kiến trúc và cách trang trí mỹ thuật công phu. Ngôi nhà công cộng cao lớn và đẹp
đúng nổi bật giưa làng đó là trụ sở của làng nơi các bô lão tế tựu để bàn việc công,
nơi dân làng hội họp, nơi thanh niên chưa vợ và trai góa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành
các nghi lễ phong tục củ cộng đồng, nơi tiếp khách lạ của làng.
2. Một số yếu tố Văn hóa tinh thần
2.1. Nếp sống gia đình và quan hệ xã hội
Hình thái gia đình: là gia đình phụ quyền, gia đình lớn chỉ còn lại dấu
vết, tàn dư, phổ biến là gia đình nhỏ, hạt nhân, tiểu gia đình phụ quyền, trong
gia đình vai trò của người đàn ông được đề cao. Trong các gia đình vợ chồng
con cái sống hòa thuận, tương đối bình đẳng, tuy việc dựng vợ gả chồng là do
cha mẹ tự quyết định nhưng tự do con cái vẫn được tôn trọng : đó là đôi trai
gái tự do yêu nhau, tìm hiểu và kết hôn. Ở nhóm Môn-Khmer hôn nhân một
vợ một chồng: là nguyên tắc cơ bản trong xây dụng gia đình.
Tuy nhiên: các dân tộc này tàn dư của chế độ mẫu hệ vẫn còn rất đậm
nét. Địa vị của người phụ nữ trong gia đình được tôn trọng như vai trò của
người mẹ trong việc gần gũi kho thóc, phân phát thức ăn cho các thành viên,
tục chồng mang họ vợ khi ở rể, tục lại mặt…
Nét đặc trưng được biểu hiện đậm nét ở mỗi vùng miền: Ở nhóm cư dân
Môn-Khmer Tây Bắc tàn dư của chế đọ mẫu hệ khá đậm nét đặc biệt thể hiện
qua: vai trò của các ông cậu trong gia đình.
Ở người Khơ Mú: Ông cậu vừa có nhiệm vụ, vừa có quyền lợi liên quan
đến gia đình cháu, khi dựng vợ gả chồng cho con bố mẹ phải xin ý kiến ông
cậu, người chồng còn cư trú bên nhà vợ, quyền coi sóc com cái thuộc về ông
cậu. Khi vợ chồng ra ở riêng, ông cậu phải dựng bếp, phải đốt lửa bếp, cho
các hạt giống và giống gia súc cho bố mẹ các cháu của mình, khi sinh cháu,
ông cậu đặt tên và thay mặt bà ngoại cho các cháu chiếc vòng và chiếc địu.
Khi gia đình em gái có xung khắc ông cậu có quyền can thiệp, trách mắng em
rể.
Ở người Bru-Vân Kiều, người Khơ Mú, người Cơ Tu còn tồn tại dấu
vết, hôn nhân liên minh ba bộ tộc: là họ A gả con gái cho họ B thì dòng họ B
không được gả con gái cho họ A mà phải gả con gái cho họ C.
Đặc điểm chung về xã hội: Cư dân nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer sống
gắn bó với nhau đựa trên 2 mối quan hệ: là quan hệ cộng cư và quan hệ dòng
họ, họ cư trú thành làng, bản, buôn. Làng là đơn vị tổ chức xã hội cơ bản và
tự trị trong xã hội. Mỗi làng gồm: nhiều gia đình, dòng họ khác nhau sinh
sống gắn bó, đoàn kết với nhau trên địa vực nhất định và riêng biệt tự quản
dựa vào luật tục.
Ý thức cộng đồng trong buôn làng cao: vai trò to lớn của các thiết chế
tự quản buôn làng, luật tục, già làng, trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer đã có
sự phân hóa giàu nghèo, nhưng sự phân hóa giai cấp còn đang manh nha,
quan hệ đoàn kết tương trợ mạnh mẽ, dân buôn làng bản trong danh dự, chất
phát, trung hậu. Đứng đầu mỗi làng là già làng được nể trọng, có vai trò quan
trọng đời sống của làng vì là người am hiểu về phong tục tập quán của làng
và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất.
Xã hội được thiết lập trên cơ sở phụ quyền khá vững chắc, trong làng:
mỗi họ có một vị trưởng họ có vai trò quan trọng. Trưởng họ thay mặt các
thành viên trong họ quan hệ với dân làng, giải quyết các công việc liên quan
đến nội bộ như ma chay, cưới xin, hòa giaỉ các xích mích trong nội bộ, tế
nông nghiệp…
Bên canh những đặc điểm chung thì các dân tộc nhóm Môn-Khmer có
những nét đặc trưng của xã hội: Đối với các dân tộc Môn-Khmer ở Tây Bắc
đồng bào không cư trú trên một đơn vị xã hội lớn hơn bản. Họ sống thành
từng bản nhỏ: khoảng 10 nóc nhà, cũng có khi trong bản sống xen kẽ với các
dân tộc khác, một bản như vậy gồm một số gia đình đồng tộc. Còn trong đơn
vị mường, trên bản thì họ sống xen kẽ vói các dân tộc khác, trong các mường
của người thái thì địa vị xã hội của họ là tầng lớp chịu nhiều lệ thuộc của
phong kiến thái trước đây. Người thuộc các dân tộc này giỏi lắm là làm
trưởng bản, còn dù có thế lực đến đâu trước đây cũng không được tham gia
vào bộ máy cai trị của mường.
2.2. Cưới xin
Hôn nhân của các tộc người trong nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer dựa trên
nguyên tắc hôn nhân 1 vợ, 1 chồng. Trước đây, hôn nhân theo kiểu gả bán, mai
mối, ngày nay trai gái tự do tìm hiểu và đi đến hôn lễ, nhưng phải tôn trọng luật
tục. Tuy nhiên, từng dân tộc hôn nhân gia đình cũng có những đặc điểm khác nhau.
Cư dân nhóm Môn-Khmer thường trai gái được tự do yêu nhau, cha mẹ
thường tôn trọng sự lựa chọn bạn đời của con. Lễ hỏi thường trải qua các
nghi thức: dạm, hỏi, cưới và sau này khá giả thường tổ chức thêm lễ cưới lễ
cưới lần nữa.
Nói chung việc cưới xin diễn ra nhiều bước và tương đối tốn kém. Như
lễ cưới của người Bru: nam nữ thanh niên đến tuổi trưởng ban bêm không ngủ
ở nhà mà ngủ ở nhà công cộng, có khi họ đưa nhau ra những chà nhỏ ở xa
làng để tìm hiểu (gọi là tục đi “ sim” khi hai bên đã ăn ý với nhau thì họ trao
tín vật cho nhau). Sau đó người con trai cũng như người con gái tìm lấy một
người mối để truyền đạt ý muốn của mình tới cha mẹ.
Khi hai bên nhất trí nhà trai bẻ của lần nữa, lần này: ngoài tiền mặt anh
ta còn đưa cho người con gái những vật dụng khác như khăn, áo, vải vóc. Lễ
cưới gồm: có nồi đồng, bạc nén, chuỗi hạt cườm, và nhất thiết phải có một
thanh kiếm, lúc nhà trai trao thanh kiếm cho nhà gái phải đưa đằng chuôi ra
trước; làm ngược lại, cuộc hôn nhân coi như bị xóa bỏ. Sau khi người con gái
đã theo đoàn nhà trai về nhà chồng nhà gái cho 4, 5 thanh niên đuổi theo, làm
như để đi tìm kiếm người con gai đó nhưng cuối cùng nhập vò đoàn người
trên với tư cách như những người đi đưa dâu.
Hôm sau đoán nhà trai sang nhà gái thì nhà gái lại tiến hành đòi của.
Hầu như: người nào trong gia đình nhà gái cũng được quyền đòi của. Thường
thường: người ta đòi giá rất cao đến nỗi gia đình giàu có đến mấy cũng không
đủ trả ngay trong một lúc và sẽ là món nợ đối với đôi vợ chồng này. Có lẽ
cũng bởi những giàng buộc đó mà vợ chồng người Bru ít có trường hợp bỏ
nhau, hay đàn ông lấy nhiều vợ.
Chính vì thế: hôn nhân người Bru mang tính chất buôn bán và có những
tàn tích của hôn nhân cướp đoạt. Người phụ nữ được coi là tài sản mà gia
đình và họ hang của cô ta không giao cho người rể tương lai, nếu chưa được
đền bù hoặc nhận tiền đền bù một cách thích đáng, thể hiện qua thách cưới,
đòi của. Vì giá phải trả cho bố mẹ, ông cậu và các anh enm trai của cô gái rất
lớn nên cô ta trở thành người thừa kế của những người đàn ông trong gia đình
như anh, em trai, bố chồng, con riêng của chồng. khi chồng chết người đàn
ông này phải lấy người vợ góa đó. Một di sản bắt buộc theo luật tục nhiều
hơn là họ đòi quyền đối với người phụ nữ.
Ở người Mảng theo tập tục, ở gia đình đón dâu diễn ra cuộc đánh nhau
thật sự giữa họ hàng nhà trai và nhà gái người ta tin rằng cuộc đánh nhau
càng ác liệt thì hạnh phúc lứa đôi càng bền chặt.
Người Khơ Me thường tổ chức đám cưới vào trước tết nguyên đán. Thời
gian này, thời tiết khô ráo, mùa màng thu hoạch xong. Trước đây xã hội Khơ Me
theo chế độ mẫu hệ, phụ nữ là người nắm giữ tất cả mọi quyền lợi trong gia đình,
con sinh ra lấy theo họ mẹ. Trong đám cưới, phụ nữ phải đi cưới hỏi nam giới. Khi
xã hội chuyển sang giai đoạn phụ hệ thì hôn lễ cũng có biến đổi. Sự biến đổi này
được ghi dấu thông qua sự tích Ao Bà Om. Từ đó đến nay theo giao ước, phái nam
phải đi cưới vợ về.
Hôn lễ cổ truyền của người Khơ Me gồm 4 bước:
Bước 1: Lễ nói, nhiều vùng còn gọi là lễ ăn trầu. Lễ này gần như lễ dạm ngõ
của người Kinh. Sau khi đôi bên tìm hiểu, ướm lời, nhà trai tìm người làm mai
mang theo các lễ vật: Bánh, trái cây, trầu cau... mỗi thứ đều là số chẵn đến nhà gái
đặt vấn đề hôn nhân.
Bước 2: Lễ hỏi, nhà trai cùng ông mai đem lễ vật sang nhà gái gồm: Chuối,
rượu, trà, trầu, đùi heo, gà, vịt và một số tiền, mỗi thứ đều phải đi theo cặp số chẵn.
Trong lễ này họ cùng nhau thống nhất ngày cưới và thông báo cho người thân,
hàng xóm biết hai bên đã chính thức là thông gia.
Bước 3: Lễ xin cưới. Trong lễ này, ngoài các lễ vật như lễ hỏi, nhà trai còn
phải mang cho cô dâu đôi bông tai và nhẫn vàng.
Bước 4: Lễ cưới, diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên gọi là ngày nhập gia.
Nhà trai làm lễ đưa chú rể sang nhà gái, đoàn đi mang theo lễ vật gồm trầu cau,
rượu, thịt, và một mâm buồng bông cau. Nhiều đám cưới còn mời thêm dàn nhạc
cổ truyền dân tộc đi kèm. Ngày thứ hai cử hành lễ cưới phải chọn giờ tốt. Trước
tiên là cúng ông bà, tổ tiên và ăn trầu đính ước. Buổi chiều làm lễ cắt tóc cho cô
dâu, chú rể. Rồi đưa họ đến miếu để cúng, xin thần công nhận cho họ là thành viên
mới của phum sóc. Đến tối gia đình mời sư sãi, dâng cơm cho sư cúng, tụng kinh
chúc phúc, dâng bánh trái cho cha mẹ cô dâu để nhớ công ơn dưỡng dục và mở tiệc
đãi khách hai họ. Ngày thứ ba, thực hiện phong tục lạy ông bà, họ hàng. Đến giờ
tốt cô dâu và chú rể, thắp đèn làm lễ. Thày cúng và ông mai làm lễ rắc hoa cau lên
đôi trẻ. Tiếp đến là múa mở nắp mâm trầu và làm lễ buộc chỉ cổ tay cho cô dâu,
chú rể, có kèm theo tặng phẩm tiền hoặc vàng cùng lời chúc mừng lứa đôi hạnh
phúc.
Ngoài những nghi thức được quy định, lễ cưới Khơ Me còn là hình thức diễn
xướng tổng hợp, trong đó ca hát đóng vai trò quan trọng với những bài ca điệu
múa phỏng theo chuyện cổ tích, nhằm chúc phúc lành cho đôi vợ chồng mới.
Ngày nay, đám cưới dân tộc Khơ Me có phần đơn giản hơn, nhưng đồng bào Khơ
Me vẫn giữ tục lệ mời sư sãi đến tụng kinh chúc phúc cho cô dâu, chú rể và hai bên
gia đình. Đây là một truyền thống tốt đẹp của người Khơ Me theo đạo phật tiểu
thừa.
2.3. Ma chay
Tùy theo tuổi tác, địa vị xã hội, tùy theo từng dân tộc mà nghi lễ tang
ma diễn ra khác nhau. Tuy nhiên tang ma nghi lễ tang ma của các dân tộc
nhóm ngôn ngữ Môn- Khmer có những đặc điểm chung:
Khi trong nhà có người mất: người thân dùng chiêng thông báo tin
trong nhà có người chết cho họ hàng, dân làng biết. Dân làng kéo dến chia
buồn mang theo thực phẩm để giúp tang chủ và làm quà cho người chết (trang
sức, tẩu thuốc, quần áo). Những ngày có người chết cả làng ngừng sản xuất,
túc trực ở nhà tang chung cùng lo mai táng, ma chay.
Các dân tộc này có tục chia của cho người chết là những thứ mà người
chết thường dùng như từ đồ ăn thức uống đến vật dụng trong nhà, từ trang
phục, công cụ lao động đều được chia… Những người chết bình thường thì
được chôn trong bãi mộ chung của làng: thi hài được bảo quản trong nhà
khoảng 2 ngày đối với người chết già, người chết vì bệnh tật. Họ rất kinh hãi
và chối bỏ việc ma chay đói với người chết do tai nạn như chết đuối, rắn cắn,
hổ vồ… và chết do chiến tranh đâm chém. Những cái chết bất đắc kỳ tử như
vây: thi hài không được mang vào nhà mà phải ami táng tức khắc một cách
thầm lạng.
Tuy nhiên cũng có tùy theo mỗi vùng miền mà các dân tộc nhóm ngôn
ngữ Môn- Khmer lại có phong tục tang ma khác nhau: Chẳng hạn như người
Kháng có tục sắm sửa cho người chết những thứ cần thiết như khi còn sống
để họ tiếp tục “sống” ở “thế giới bên kia”, nhà để ở bên mộ thường là lều mồ.
Lều cấu trúc theo kiểu nhà đất với 4 cột chồng bốn góc và hai cột cao đỡ đòn
nóc. Xung quanh không thưng vách: để tượng trưng cho việc chia nếp nhà
(như khi còn sống) cho người chết, người ta đỡ một phần gianh trên mái nhà
ở, đem đi lợp lều mồ. Đầu mồ có chôn một cột cao bên trên có hình con chim
bằng gỗ tượng trưng cho con ngựa của họ hàng để người chết cưỡi ngựa về
vói tổ tiên ở “thế giới bên kia”, trên cột gỗ còn treo một cái áo của người
chết, làm dấu cho vợ chồng ở “bên kia thế giới”có thể dễ dàng tìm gặp nhau.
Sau khi đưa người chết tới nơi an nghỉ cuối cùng con cháu, vợ chồng, anh em,
họ hàng chưa được phép lên nhà ngay mà phải tập trung bên đống lúa ở dưới
gầm sàn nơi người chết nơi người chết vẫn ngủ khi sống để cho ông cậu cắt
mỗi người một dúm tóc trên trán bỏ vào bát, trong đó có ít nước, một quả
trứng gà luộc bóc vỏ hoặc một con cá sấy khô, rồi đem vứt ở vệ dường lối đi
ra mộ. Đây là: việc làm cho ma (hồn người chết) khỏi quyến luyến hồn người
thân.
Ở người Bana, Xơ đăng, Giẻ-triêng có tục chôn treo: quan tài được gác
trên bốn cột gỗ chắc, từng cặp được bắt theo chữ X, quan tài cách mặt đất 5060cm.
2.4. Tín ngưỡng
Thờ tổ tiên là nét truyền thống ở đây người ta tin người chết biến thành ma
vì thế trong nhà sàn thường có cột thờ ma.
Là cư dân trồng trọt vùng nhiệt đới, điều kiện công cụ sản xuất còn thô sơ
được dùng bằng tay, chưa dùng mấy sức kéo của gia súc, điều kiện phân công lao
động còn thô sơ, hoạt động kinh tế chủ yếu là nương rẫy thì năng xuất không cao,
thời tiết thất thường, có khi bị mất mùa hẳn do hạn hán, sâu, chim rừng phá hoại..
nên đồng bào các dân tộc Môn-khome theo tin ngưỡng vạn vật hữu linh, cuộc sống
của con người bị các lực lượng siêu nhiên chi phối. Họ cho rằng các vị thần đóng
vai trò quan trọng và có tác động trực tiếp đến cuộc sống con người là các thần:
sấm sét, thần mưa, thần gió…Vị thần được coi trọng nhất là thần lúa sau đó là thần
núi, thần rừng, thần đất…
Người Tà ôi quan niệm vạn vật đều có linh hồn nên họ theo tín ngưỡng đa
thần đó là: thần nước(giàng đak), thần chỗ ở gia đình(giàng Anteng), thần nhà
dài(giàng Đanh), chi phối mọi mặt đời sống của họ.
Trước đây, người Mnông theo quan niệm đa thân đặc biệt là các vị thần nông
nghiệp và các vị chư hầu rồi sau này đạo Thiên Chúa và nhất là đạo Phật đã xâm
nhập và phát triển ở vùng người Mnông. Khmer thì ảnh hưởng của Ấn Độ mạnh
nên ở đây, Phật giáo rất phát triển.
Theo vạn vất hữu linh: nên đồng bào tin rằng rừng, cây, nương lúa…đều có
hồn, có ma. Quan trọng: là hồn lúa được hình tượng thành một bà cụ già- mẹ lúa.
Đề cầu mùa đồng bào rất kiêng kỵ liên quan đến chu kỳ trồng lúa từ tìm nương,
gieo hạt cho đến thu hoạch, cúng cơm mới. Đầu mùa sản xuất, khi gieo hạt cư dân
Môn-Khmer người ta kiêng cữ không cho người lạ vào bản vào nương rẫy, lúc
chăm sóc lúa kiêng không bón phân cho lúa sợ lúa giận vì nhơ bẩn mà bỏ đi, khi
thu hoạch, từ rẫy về kho thóc phải cằng dây đưa đường cho hồn lúa, qua suối phải
bắc cầu tượng trưng cho hồn lúa qua, vì hồn lúa sợ nước ướt. Khi qua ngã ba
đường: phải cắm hoa để hồn lúa khỏi lạc đường, ở kho thóc phải bắc cầu thang cho
hồn lúa lên xuống.
Điểm nổi bật trong lễ cầu mùa của các dân tộc:
Ở người Khơ Mú thực vật đóng vai trò quan trọng: trung tâm trong lễ cúng
cơm mới, không phải là cơm nếp mà là khoai sọ, bầu bí. Sau lễ cúng là nghi thức
phân phát cái may cho mọi người, nhảy múa xung quanh sọt khoai sọ và bí đỏ đã
luộc chín, người ta lấy bí đỏ, khoai sọ quệt vào những người có mặt trong buổi lễ.
Cuối cùng là phân phát bầu bí, khoai sọ cho mọi người, có khi là cuộc tranh giành
thực sự để cầu may. Người Khơ mú quan niệm: khoai sọ, bầu bí là bạn tình của
lúa, trong đó khoai sọ là yếu tố đực, lúa là yếu tố cái. Bà chủ nhà-tinh linh của lúa,
đóng vai trò mẹ lúa vào mùa thu hoạch phải luôn im lặng, sống tách biệt với mọi
người. Khi thu hoạch lúa bà chủ nhà đến gần nhóm khoai sọ được trồng ở gần lều
nương phải vấp vào khóm cây thiêng này để cho tinh linh khoai sọ kết vào hồn lúa
thì sang năm lúa mới nảy nở nhiều. Khi rước tinh linh lúa về nhà người ta phải
rước hồn khoai sọ, bầu bí về theo.
Ở Tây Nguyên quan trọng trong lễ cầu mùa là lễ đâm trâu (hay ăn trâu) lễ
này thường được tổ chức vào mùa xuân lúc bắt đầu một chu kỳ sản xuất nương rẫy
mới. Đồng bào đâm trâu để: tạ ơn thần linh, cầu cho thóc lúa đầy kho, dân làng
khỏe mạnh, mưa thuận gió hòa.
Liên quan đến quan niệm lúa có hồn và tục cầu mưa ở ngươi Cơ tu có tục
săn đầu lâu, lấy sọ người làm nơi ngụ trú cho thần lúa, lấy máu cúng trong những
năm mất mùa đói kém triền miên, hoặc khi buôn làng gặp phải dịch bệnh hoành
hành. Mục đích là cầu mùa, cầu an và hạnh phúc cho cả buôn làng. Nạn nhân có
thể: thuộc một làng khác có nợ máu với buôn làng. Nhưng có trường hơp là một
ngươi bất kỳ nào đó. Khi đoàn chiến binh trong làng hoàn thành nhiệm vụ trở về
thì buôn lang nhanh chóng tăng cường bố trí canh phòng kể địch trả thù, tập kích
tấn công, người ta tiến hành cung tế vui chơi, liên hoan ăn uống. Thời gian này:
cấm chỉ mọi người ra vào buôn làng cũng như đình chỉ mọi hoạt động sản xuất.
Tục săn đầu lâu của người Cơ tu nay không còn nữa người ta tạc một đầu
người bằng gỗ thay thế tượng trưng cho đầu người trước kia.
2.5. Văn hóa – Văn nghệ
Về văn học dân gian: Các dân tộc nhóm Môn-Khmer có một nền văn
học dân gian phong phú với nhiều huyền thoại, truyền thuyết, ca dao…kể về
nguồn gốc tộc người, dòng họ, ca ngợi tinh thần đấu tranh chống thiên tai,
phản ánh đời sống sinh hoạt hàng ngày, họ có những làn điệu hát đối đáp,
giao duyên của nam và nữ.
Đăc biệt ngừi Bana có điệu “Homon” người ta hay gọi là trường ca.
Homon thường là: một truyện nhiều nhân vật, nhiều tình tiết, có tầm cỡ vừahay dài. Cốt truyện thể hiện bằng văn vần theo luật thơ ca dân tộc xen lẫn
những đoạn văn xuôi đôi xứng cặp, thường được trình bày dưới dạng hát
ngâm. Đề tài cốt truyện là nói về các anh hùng thủa sơ khai, những nhân vật
cứu loài người, cứu dân tộc khỏi hiểm họa to lớn.
Về âm nhạc: Các dân tộc nhóm Môn-Khmer có rất nhiều nhạc cụ phong
phú và đa dạng như: cồng chiêng là tiêu biểu nhất và các loại đàn, sáo… được
làm ra từ nguồn có sẵn trong tự nhiên là những yếu tố chính tạo dựng nên nền
văn nghệ dân gian Môn-Khmer.
Trong văn hóa phần lớn các dân tộc Tây Nguyên cồng chiêng đóng vai
trò quan trọng quán xuyến cuộc sống con người. Một bộ cồng chiêng có từ 3
đến 15 cái, trong đó có cồng (loại có núm) và chiêng (loại không có núm).
Với quan niệm cộng đồng gồm 2 nửa- hôm qua và hôm nay- thế giới hưu
hình luôn có liên hệ với thế giới vô hình mà cồng chiêng với âm thanh, với
âm nhạc và sức mạnh thiêng liêng của nó là “cầu nối”.
Hầu hết: mọi hoạt động văn hóa của người Tây Nguyên đều có cồng
chiêng, đứa trẻ sinh ra tiếng cồng chiêng vang lên báo hiệu đón nhận một
thành viên mới của cộng đồng, đứa trẻ lớn lên trong một không gian đầy nhạc
cồng chiêng. Đón con người vào đời là nhạc cồng chiêng lại cũng là nó sẽ
tiễn đưa con người ấy ra huyệt mộ, linh hồn người ấy sẽ theo cồng chiêng về
với tổ tiên. Có thể nói cuộc đời con người “dài theo tiếng cồng chiêng”.
Về nghệ thuật tạo hình, kiến trúc: Các dân tộc nhóm Môn-khome còn
rất nổi bật với nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật kiến trúc phong phú như: nhà
rông, nhà sàn dài, nhà mồ…
Có lẽ nhiều tài năng sang tạo nghệ thuật và kiến trúc của người MônKhmer ở Tây Nguyên dành cho nhà mồ. Trang trí và tượng nhà mồ đa dạng
về kiểu dáng đó là: những hình khối, những hình trang trí, những tượng gỗ.
Hai bên cửa vào nhà mồ thấy tượng cặp nam nữ, thường là khỏa thân, mô tả
các bộ phận sinh dục, những tượng ngồi xổm, 2 tay ôm má, mang tính sầu tư,
giống như đứa trẻ ngồi trong bào thai. Những tượng ở các ngôi mộ tù trưởng
giống như: tượng nô lệ đi hầu hạ người đã chết. Những lớp tượng nam nữ,
tượng ngồi giống bào thai mang ý nghĩa phồn thực và tái sinh cảu người
khuất. Tượng chỉ là: những nét phác, những nhát dao vạc, khoét mạnh bạo, có
phần thô tháp, nhưng lại đầy sức sống.
C.PHẦN KẾT LUẬN
Có thể nói văn hóa Việt Nam là sự tổng hòa các giá trị văn hóa của 54 dân tộc
anh em, trong đó có những tộc người bản địa sống trên lãnh thổ Việt Nam, có
những dân tộc di cư từ nơi khác đến; có những dân tộc chỉ có số lượng vài trăm
người, có những dân tộc có hàng triệu người, nhưng các dân tộc luôn coi nhau như
anh em một nhà, thương yêu đùm bọc lẫn nhau chung sức xây dựng bảo vệ Tổ
quốc như lời Bác Hồ đã căn dặn trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số: “Đồng
bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai, Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các
dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta
sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau. Sông có thể cạn, núi có
thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta
quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự chủ của chúng ta”.
Trong cuộc sống cộng cư ở Nam bộ suốt một thời gian dài nhóm người MônKhmer cũng đã tiếp nhận ít nhiều từ giá trị văn hóa từ người Hoa người Việt và từ
nửa cuối thế kỷ XIX đến nay nhất là trong thời kỳ đổi mới mở cửa hội nhập với
khu vực và quốc tế gần đây đồng bào Môn-Khmer tiếp cận với văn minh phương
Tây. Vì vậy các phong tục tập quán và lễ hội truyền thống của người Môn-Khmer
cũng được thay đổi. Về hình thức lễ hội càng ngày càng đơn giản nội dung cũng
đổi mới dần nhưng có một điều bất biến là các loại hình văn hóa dân gian đã gắn
liền với cuộc sống đời thường của người Môn-Khmer vẫn mãi mãi là nét đẹp
truyền thống đậm đà bản sắc. Chúng ta cần phải giữ gìn và phát huy không ngừng
để làm phong phú thêm nền văn hóa của các dân tộc Việt Nam.
D.TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, NXB TP. Hồ Chí
Minh.
2.Phạm Thái Việt, Đại cương văn hoá Việt Nam, NXB. Văn hoá Thông tin,
Hà Nội, 2004.
3. Ngô Đức Thịnh, Văn hóa, văn hóa tộc người và văn hóa Việt Nam, NXB.
Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2006.
4. Đỗ Thị Hoà (Chủ biên), Trang phục truyền thống các tộc người nhóm
ngôn ngữ Môn – Khmer, Tạng – Miến, NXB. Văn hoá dân tộc.