Phần mở đầu
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trong đời sống xã hội.
Trong giai đoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày
càng đa dạng, phong phú thì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng
tranh chấp. Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1995 quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhưng việc hiểu và áp
dụng những quy định đó trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo
di chúc trên thực tế cong nhiều bất cập. Những khó khăn thường được thể
hiện trong việc xác định phải có những điều kiện gì thì di chúc mới được coi
là hợp pháp, điều kiện của người lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội
dung của di chúc và hình thức của di chúc. Trong thực tiễn thì các quy định
của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc còn có những các hiểu
khác nhau dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số
bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của
di chúc. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm làm rõ những quy định của pháp luật
về quyền thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng được quy định
trong Bộ luật dân sự năm 2005 là đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của lý luận
và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cũng như thừa kế theo pháp luật, thừa kế theo di chúc nói và di chúc
miệng nói riêng đã được hầu hết các luật gia, các nhà lập pháp của các nước
trên thế giới nghiên cứu. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, Bộ luật dân sự của
các nước đều quy định về quyền định đoạt bằng di chúc của chủ sở hữu tài
sản nhằm chuyển dịch tài sản của mình cho người khác. Quyền định đoạn
bằng di chúc là quyền dân sự được Nhà nước bảo hộ, được ghi nhận trong
Hiến pháp của Nhà nước ta và của các nước khác trên thế giới.
Ở nước ta, việc nghiên cứu về thừa kế theo di chúc nói chung và
nghiên cứu về thừa kế theo di chúc miệng nói riêng đã có từ xa xưa. Chúng ta
có thể kể đến nhiều bộ luật như: Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long, Dân
luật Bắc Kỳ, Dân luật Trung Kỳ….
Tính đến thời điểm hiện nay cũng có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu về thừa kế, nhưng chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về thừa kế theo
di chúc. Đáng chú ý trong các công trình nghiên này, phải kể đến đề tài:
“Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay” của
tiến sĩ Phùng Trung Tập; đề tài: “Thừa kế theo di chúc theo quy định của Bộ
luật dân sự Việt Nam” của tiến sĩ Phạm Văn Tuyết; cuốn sách: “Một số suy
nghĩ về thừa kế trong luật dân sự Việt Nam” của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện…
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nội dung của bài thảo luận không nghiên cứu toàn diện những quy
định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng,mà
tập trung nghiên cứu về thừa kế theo di chúc miệng được quy định trong Bộ
luật dân sự năm 2005 thông qua tình huống cụ thể:
Anh Hưng và chị Hoàn là hai vợ chồng có tài sản chung là 980 triệu, có
3 con chung là Trung (20 tuổi, đi làm và có thu nhập), Ngân (14 tuổi) và
Oanh (9 tuổi). Đến năm 2006, do cuộc sống bất hòa, anh chị đã làm đơn xin ly
hôn nhưng chưa được giải quyết.
Ngày 1/10/2006, trong một lần về quê để giải quyết công việc, anh
Hưng và chị Hoàn bị tai nạn và phải đưa vào bệnh viện.
Trước khi chết một ngày trong bệnh viện, anh Hưng có di chúc miệng
trước nhiều người làm chứng là để lại toàn bộ tài sản của mình cho bốn
người à Trung, Ngân, Oanh và ông Hải (ông Hải là bác của anh Hưng).
Chị Hoàn sau khi bình phục ra viện đã kiện yêu cầu Tòa án không chia
tài sản thừa kế cho ông Hải.
a.
Hãy chia thừa kế trong trường hợp ông Hải nhận di sản
b. Nếu ông Hải từ chối nhận di sản thừa kế, thì việc chia di sản
thừa kế có gì thay đổi không?
4. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, bài thảo luận sử dụng phương pháp luật
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bên cạnh đó,
những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thống
kê cũng được sử dụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
Một số vụ án giải quyết tranh chấp thừa kế theo di chúc cũng được sử
dụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kê của nghành Tòa án
nhân dân cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc
hơn.
Phần nội dung
1. Quyền thừa kế
1.1 Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế
Một trong những yếu tố để đánh giá sự vững mạnh của một quốc gia
đó chính là sự bảo hộ của Nhà nước về các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân cũng như việc kết hợp hài hòa giữa lợi ích cộng đồng. Trên tinh
thần đó, quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được
pháp luật bảo vệ. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam quy định “Nhà
nước bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”
Thừa kế được hiểu là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho
những người còn sống. Thừa kế luôn gắn liền với quan hệ sở hữu xuất hiện
đồng thời với quan hệ sở hữu và sự phát triển của xã hội loài người. Khi nhà
nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ sở hữu và qua hệ thừa kế đã tồn
tại như một tất yếu khách quan. Thừa kế xuất hiện phụ thuộc vào quan hệ sở
hữu. Nếu sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế, thì thừa kế là phương tiện duy
trì và củng cố quan hệ sở hữu.
Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế cùng tồn tại song song
trong một hình thái kinh tế- xã hội nhất định, chúng có mối liên hệ biện
chứng với nhau, chỉ đạo, chi phối lẫn nhau, cùng phát triển theo sự phát triển
của xã hội loài người.
Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầm mống và xuất
hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người – chế độ cộng sản
nguyên thủy. Trong thời kỳ này, quan hệ thừa kế chỉ đơn thuần là một quan
hệ xã hội, việc thừa kế chỉ nhằm di chuyển tài sản của người chết cho những
người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những
phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định.
Khi Nhà nước ra đời việc chiếm giữ của cải vật chất giữa người với
người được điều chỉnh bằng pháp luật theo hướng có lợi cho giai cấp thống
trị. Nhà nước đã sử dụng pháp luật là công cụ để bảo vệ tài sản và quyền tài
sản của người chết cho những người còn sống, quy định quyền của các chủ sở
hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Lúc này các
qua hệ thừa kế và quan hệ sở hữu không chỉ tồn tại một cách khách quan với
ý nghĩa là một phạm trù kinh tế nữa, mà những quan hệ này đã bị ràng buộc
bởi những quy phạm pháp luật và làm xuất hiện khái niệm quyền thừa kế.
Nếu thừa kế là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan thì quyền
thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ phát sinh khi có Nhà nước và pháp luật.
Nếu thừa kế là một quan hệ xã hội phát sinh ngay cả khi xã hội chưa phân
chia giai cấp, chưa có nhà nước và pháp luật, thì quyền thừa kế lại là một
quan hệ pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong xã hội đã phân chia giai cấp và
dẫn tới sự ra đời của nhà nước.
Quyền thừa kế được xem xét rất nhiều góc độ. Với tính chất là một hạn
chế định pháp luật dân sự, quyền thừa kế bao gồm tổng thể các quy phạm
pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh
trong quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang cho người khác còn
sống theo di chúc hoặc theo một trình tự nhất định do pháp luật quy định.
Đồng thời, quy định quyền và nghĩa vụ cũng như các phương thức bảo vệ các
quyền và nghĩa vụ đó của những chủ thể trong quan hệ thừa kế.
Với tính chất là một quyền năng dân sự, quyền thừa kế là những quyền
năng cụ thể của chủ thể trong việc để lại di sản thừa kế và nhận di sản thừa
kế. Đó là những khả năng mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của
pháp luật: Được để lại di sản thừa kế như thế nào, việc lập di chúc phải tuân
thủ những yêu cầu gì, ai là người được nhận di sản thừa kế, khi nào thì bị
tước quyền hưởng di sản thừa kế,…Trong các quan hệ về thừa kế, các chủ thể
chủ động hiện thực hóa những quyền năng đó để biến nó thành những quyền
dân sự cụ thể qua đó đáp ứng được nhu cầu và thực hiện được lợi ích cho
bản thân mình.
Pháp luật thừa kế ở nước ta trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi cho
người lao động, tôn trọng thành quả lao động do họ làm ra cũng như chuyển
thành kết quả đó cho những người thừa kế sau khi họ chết. Mặt khác, quyền
thừa kế ở nước ta là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển
các quan hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể
trong quan hệ thừa kế, đặc biệt bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên
hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Qua đó góp phần bảo
đảm quyền sở hữu cho mọi cá nhân trong xã hội.
Tóm lại, thừa kế là sự dịch chuyển tài sản của một người đã chết sang
cho người còn sóng theo những trình tự luật định. Quyền thừa kế của một cá
nhân gắn bó chặt chẽ với quyền sở hữu của cá nhân đó. Quyền sở hữu là tiền
đề, là cơ sở của quyền thừa kế và ngược lại, quyền thừa kế là căn cứ thiết lập
quyền sở hữu mới. Vì vậy, hệ thống pháp luật dân sự của tất cả các nước trên
thế giới bao giờ cũng qui định về vấn đề thừa kế như là một phương thức bảo
đảm quyền sở hữu của chủ sở hữu.
1.2 Di sản thừa kế
Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của công dân
được nhà nước bảo hộ. Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của
cải để dành, nhà ở. Khi còn sống họ có quyền đưa các loại tài sản của mình
lưu thông dân sự hoặc ;ập di chúc cho người khác hưởng tài sản của mình
sau khi chết. Tong trường hợp công dân có tài sản thuộc quyền sở hữu riêng,
không lập di chúc sau khi chết, tài sản này được chi theo luật và toàn bộ tài
sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người đã chết được gọi là di sản thừa
kế.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Di sản là của cải, tài sản của người chết để
lại”
Điều 634 BLDS năm 2005 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của
người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”
Di sản được Điều 634 BLDS quy định một cách ngắn gọn nhưng khá
đầy đủ và có tầm khái quát cao, không dùng phương pháp liệt kê bao gồm
những tài sản gì như những qu định trước đây. Bởi lẽ, quyền tài sản đã nằm
trong khái niệm tài sản được quy địnhtại Điều 163 BLDS: “Tài sản bao gồm
vật, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”
Như vậy, di sản là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp
của người chết cũng như các quyền về tài sản của người đó bao gồm:
- Các tài sản thuộc quyền sở hữu của người để thừa kế và thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt và những công cụ sản xuất
dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ.
- Các quyền về tài sản mà người để thừa kế được hưởng theo quan hệ
hợp đồng hoặc do được bồi thường thiệt hại.
- Các nghĩa vụ về tài sản của người để thừa kế phát sinh do quan hệ
hợp đồng, do việc gây thiệt hại hoặc do quyết định của cơ quan có thẩm
quyền (ví dụ: Một món nợ, một khoản bồi thường thiệt hại v.v...).
Đối với những quyền tài sản và nghĩa vụ tài sản gắn liền với nhân thân
người chết (tức là không thể di chuyển cho người khác được), thì không phải
là di sản thừa kế của người đó. Ví dụ: Các quyền được hưởng trợ cấp thương
tật, tiền tuất, trợ cấp vì túng thiếu sau khi ly hôn...chỉ có thể được thực hiện
khi người được hưởng quyền còn sống. Nghĩa vụ trợ cấp cho vợ vì túng thiếu
sau khi ly hôn chỉ phải thực hiện khi người có có nghĩa vụ còn sống. Vì vậy,
các người thừa kế không được hưởng loại quyền tài sản gắn liền với thân
nhân người chết, và cũng không phải thực hiện loại nghĩa vụ tài sản đó.
Sau đây là một số loại tài sản cụ thể cần chú ý trong khi xét xử thừa kế:
1. Đất đai.
Theo Điều 19 và Điều 20 của Hiến pháp mới, đất đai thuộc sở hữu toàn
dân.
Đất đai (kể cả đất canh tác, đất ở, đất hương hỏa...) không thuộc quyền
sở hữu riêng của công dân, nên không thể là di sản thừa kế. Nếu người đang
sử dụng đất chết thì việc điều chỉnh quyền sử dụng phần diện tích đó sẽ do
pháp luật về đất đai quy định. Cây cối và hoa mầu thuộc quyền sở hữu của
người đã chết, vẫn thuộc di sản thừa kế.
2. Nhà thờ họ.
- Nhà thờ có từ lâu đời hoặc nhà thờ do các thành viên trong họ đóng
góp công sức và tiền của xây dựng nên là tài sản thuộc quyền sở hữu chung
của những người trong họ, nên không thể trở thành di sản của người trưởng
họ (hoặc của bất cứ cá nhân nào). Nếu có tranh chấp thì giải quyết theo
nguyện vọng chung của các thành viên trong họ.
- Nhà thờ do người trưởng họ bở tiền riêng xây dựng rồi cho họ mượn
làm nơi thờ cúng hoặc nhà của người trưởng họ được dành ra một phần
diện tích để làm nơi thờ cúng vẫn thuộc quyền sở hữu của người trưởng họ.
Nếu người trưởng họ chết thì nhà này là di sản thừa kế.
3. Tư liệu sản xuất và nhà thuộc diện cải tạo.
Những tư liệu sản xuất, phương tiện kinh doanh, phương tiện vận
chuyển của người tư sản cải tạo đã đưa vào công tư hợp danh, hoặc nhà cửa
của người tư sản nhà cửa đã chuyển cho Nhà nước quản lý, đều thuộc sở hữu
Nhà nước.
Riêng phần diện tích nhà ở mà trong khi cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhà
nước đã cho lại chủ nhà để ở thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người chủ nhà.
Nếu chủ nhà chết, thì phần diện tích đó vẫn thuộc về di sản thừa kế.
Tiền tỷ lệ phần trăm của tiền cho thuê nhà mà người tư sản nhà cửa
được hưởng (theo Thông tư số 12-NV ngày 22-4-1964 của Bộ nội vụ và
Thông tư số 31- BXD ngày 15-10-1977 của Bộ xây dựng) hoặc tiền lãi cố định
hàng năm, tính theo tỷ lệ phần trăm của vốn mà người tư sản công thương
nghiệp được hưởng (theo Quyết định số 71-CP ngày 13-4-1972 của Hội đồng
Chính phủ) là để tạo điều kiện cho người tư sản lao động cải tạo dần, tiến tới
sống bằng sức lao động của bản thân họ. Nếu họ chết, tiền đó không thuộc về
di sản thừa kế.
4. Tư liệu sản xuất của xã viên hợp tác xã sản xuất nông nghiệp hoặc thủ
công nghiệp.
Những tư liệu sản xuất đã công hữu hóa và thuộc quyền sở hữu tập
thể của hợp tác xã. Những tư liệu sản xuất chưa được công hữu hóa thì vẫn
thuộc quyền sở hữu của người chủ cũ. Nếu người đó chết các tư liệu sản xuất
này vẫn thuộc di sản thừa kế, nhưng khi chia thừa kế cần giải quyết hợp lý,
hợp tình, để vẫn đảm bảo quyền lợi của các người thừa kế, mà không làm
ảnh hưởng đáng kể đến việc sản xuất của hợp tác xã.
5. Đồ dùng mượn của cơ quan.
Những đồ dùng sinh hoạt (như giường, tủ, bàn ghế) mà cán bộ, công
nhân viên chức mượn theo tiêu chuẩn và khi về hưu đã được cấp hẳn (theo
Quyết định số 296-CP ngày 20-11-1978 của Hội đồng Chính phủ), thì kể từ
ngày được cấp hẳn, các tài sản này thuộc quyền sở hữu của người được cấp.
Khi người được cấp chết, tài sản đã thuộc về di sản thừa kế.
Những thứ được mượn nhưng không được cấp thì phải trả lại cho cơ
quan, xí nghiệp.
6. Vàng, bạc, bạch kim và kim cương.
Nhà nước công nhận quyền sở hữu chính đáng của người dân về vàng,
bạc, bạch kim, kim cương không kể số lượng nhiều hay ít, đã chế biến hay
chưa chế biến thành đồ trang sức, mỹ nghệ.
Để bảo hộ quyền sở hữu chính đáng đó, Nhà nước quy định người có
vàng bạc, bạch kim, kim cương phải kê khai để Nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sở hữu (theo Quyết định số 39-CP ngày 9-2-1979 của Hội đồng
Chính phủ). Những thứ đã được kê khai và có giấy chứng nhận hợp lệ thì khi
sở hữu chủ chết, được để làm di sản thừa kế như các tài sản hợp pháp khác.
Những thứ không được kê khai và không có giấy chứng nhận hợp lệ thì Tòa
án cần trao đổi với Ngân hàng về chủ trương giải quyết. Tuy nhiên, nếu số
lượng ít (vàng từ 37,5 g, bạch kim 37,5 g, bạc 375 g, kim cương 0,600 g trở
xuống) thì Tòa án cứ chia và báo cho người được chia đến Ngân hàng kê
khai.
7. Tiền tuất, bằng khen, huân chương.
- Tiền tuất là tiền cấp cho các thân nhân của người chết, nên tiền tuất
không thuộc về di sản của người chết.
- Bằng khen, huân chương, huy chương...không phải là tài sản, mà là
thứ có giá trị về mặt tinh thần đối với cả gia đình của người đã có công.
Người nào giữ là giữ chung cho cả gia đình. Nếu trong gia đình không thỏa
thuận được, thì Ủy ban nhân dân giải quyết.
8. Phần tài sản của người chết trong khối tài sản với người khác.
Sự phát triển của đời sống xã hội khiến cho tài sản của mỗi người càng
trở nên phong phú và đa dạng hơn. Ngoài tài sản riêng có được do thu nhập
hợp pháp, của để dành hoặc do được thừa kế thì một loại tài sản nữa của
người chết là một phần tài snar của người này trong khối tài sản chung với
người khác, có thể do vợ chồng cùng tạo lập hoặc nhiều người cùng góp vốn
để sản xuất kinh doanh.
Trong thời kỳ hôn nhân mọi tài sản của vợ chồng đều thuộc sở hữu
chung hợp pháp. Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình (HH&GĐ) 2000 quy
định: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu thập
do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp
khác của vợ chồng trong thời kỳ hồn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”. Khối
tài sản đó được cả vợ và chồng cùng nhau tạo lập, phát triển bằng công sức
của mỗi người nên khó có thể phân định đượcphần của mỗi người là bao
nhiêu. Do đó, cả hai vợ chồng đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong
việc chiêm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khi một bên chết trước
nếu cần chia tài sản chung của vợ chồng thì chia làm đôi, một nửa khối tài
sản chung đó là tài sản của người chết được chuyển thành di sản thừa kế và
được chia cho người thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Tóm lại, di sản thừa kế được Điều 634 BLDS quy định một cách ngắn
gọn nhưng đầy đủ và có tính khái quát cao. Điều này thể hiện trình độ và kỹ
thuật lập pháp của nước ta đã đạt được một kết quả nhất định.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề phức tạp và có liên quan đến nhiều vấn
đề khác trong quan hệ thừa kế mà chỉ được quy định trong một điều luật nên
khi nghiên cứu cũng như khi xét xử phải đặt nó trong mối liên hệ biện chứng
với các quy phạm pháp luật khác liên quan trực tiếp đến việc xác định và
phân chia di sản.
Bởi vậy, việc xác định quyền sở hữu của một người để từ đó xác định di
sản khi người đó chết còn gặp nhiều vướng mắc về mặt lý luận cũng như
thực tiễn.
1.3 Người thừa kế
Người thừa kế là người hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo
quy định của pháp luật. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân, tổ chức
nhưng người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải có quan hệ
hôn nhân, gia đình hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản. Giữa người
để lại di sản và người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ pháp lý với nhau.
Người thừa kế có quyền sở hữu đối với phần di sản thừa kế, đồng thời họ
phải gánh vác những nghĩa vụ tài sản của người để lại di sản.
Điều 635 BLDS năm 2005 quy định:
Người thừa kế phải là cá nhân còn sống vào thời điểm mở thừa kế
hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai
trước khi người để lại di sản chết
Trong trường hợp người thừa kế là cơ quan tổ chức thì phải là cơ
quan tổ chức tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
1.4 Nguyên tắc của quyền thừa kế
Việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế cần theo những nguyên tắc chung sau
đây:
1. “Pháp luật bảo hộ quyền thừa kế tài sản của công dân” đoạn 2 Điều 27 Hiến
pháp năm 1980. Công dân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình
sau khi chết (thừa kế theo di chúc) nếu không có di chúc thì thừa kế theo luật.
2. Phụ nữ và nam giới bình đẳng về quyền lập di chúc, về quyền được thừa kế di
sản và về phần di sản được hưởng.
3. Tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản, đồng thời bảo hộ
thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật (người thừa kế bắt
buộc).
4. Việc thừa kế phát sinh từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là căn
cứ để xác định khối di sản thừa kế và những người được thừa kế. Người thừa kế
phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế (trừ trường hợp thừa kế thế
vị).
5. Người thừa kế có quyền nhận hoặc không nhận thừa kế. Người nhận thừa kế
được hưởng các tài sản và các quyền về tài sản của người chết để lại, đồng thời
phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ về tài sản mà người chết để lại,
trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận được.
Di sản không có người thừa kế hoặc tuy có người thừa kế nhưng họ không nhận,
thì thuộc về Nhà nước.
6. Khi giải quyết việc thừa kế cần kiên trì hòa giải nhằm góp phần củng cố và
phát triển tình đoàn kết, thương yêu trong nội bộ gia đình, bảo đảm sản xuất và
công tác.
2. Thừa kế theo luật
Thừa kế theo luật là việc di chuyển di sản thừa kề theo những quy định
của pháp luật.
Thừa kế theo luật được thực hiện trong các trường hợp: Người để lại
thừa kế không định đoạt di sản của mình bằng di chúc hoặc có làm di chúc
nhưng toàn bộ hoặc một phần của di chúc không có giá trị pháp luật; hoặc chỉ
định đoạt bằng di chúc một phần di sản; hoặc người thừa kế được chỉ định trong
di chúc chết trước người lập di chúc hay từ chối không nhận di chúc. Toàn bộ di
sản không có di chúc hoặc phần di sản nằm ngoài di chúc hợp pháp sẽ được
chuyển cho các người thừa kế theo quy định của pháp luật.
2.1 Diện và hàng thừa kế
Cơ sở pháp lý của việc thừa kế theo luật là quan hệ hôn nhân, quan hệ
huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng. Diện những người thừa kế theo luật gồm
những người thân gần gũi của những người chết theo ba quan hệ này. Cụ thể:
diện thừa kế theo luật gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các
con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi; ông nội, bà nội và ông
ngoại, bà ngoại; anh, chị, em ruột; anh, chị, em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ
khác cha; anh, chị, em nuôi.
Nhưng không phải tất cả những người ở trong diện thừa kế đều được
thừa kế cùng một lúc. Những người thân gần gũi nhất với người chết được xếp
vào hàng thừa kế thứ nhất. Những người thân gần gũi tiếp theo được xếp vào
hàng thừa kế thứ hai. Những người ở hàng thừa kế thứ nhất được chia trước và
thừa kế toàn bộ di sản, nếu ở hàng thứ nhất không có ai hoặc tuy có nhưng họ
đều không nhận, thì mới đến những người thừa kế ở hàng thứ hai. Các người
thừa kế trong cùng một hàng, được hưởng một suất ngang nhau.
Điều 676 BLDS năm 2005 quy định những người thừa kế theo pháp luật
được sắp xếp theo ba hàng thừa kế sau đây:
Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ góa (vợ cả góa, vợ lẽ góa) hoặc chồng
góa, các con đẻ và con nuôi; bố đẻ, mẹ đẻ hoặc bố nuôi, mẹ nuôi.
Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh, chị,
em ruột; anh, chị, em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha và anh, chị, em nuôi.
Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết, bác ruột, chú
ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết
là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
2.1.1. Ở hàng thừa kế thứ nhất.
Quan hệ vợ chồng, cho đến khi mở thừa kế, phải là quan hệ hôn nhân hợp
pháp hoặc là quan hệ hôn nhân thực tế, được Tòa án thừa nhận.
Trường hợp một bên xin ly hôn hoặc cả hai bên xin thuận tình ly hôn, Tòa
án đã xử cho ly hôn, trong thời gian bản án chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một
bên chết, bên còn sống vẫn có quyền thừa kế của bên kia, vì về mặt pháp lý, quan
hệ vợ chồng vẫn còn.
Ở miền Nam, đối với những trường hợp vợ chồng đã ly thân trước ngày
giải phóng thì về mặt pháp lý, quan hệ vợ chồng vẫn còn, cho nên họ vẫn được
thừa kế lẫn nhau. Nhưng nếu sau khi ly thân, mỗi bên đã kết hôn với người khác
(hoặc một bên đã kết hôn với người khác mà bên kia không khiếu nại gì) thì
thực chất quan hệ vợ chồng không còn nữa, nên họ không được thừa kế của
nhau.
Con đẻ gồm có con chung và con riêng, kể cả người con được thụ thai khi
người bố còn sống và sinh ra sau khi người bố chết không quá 300 ngày. Con
riêng gồm con trong giá thú và con ngoài giá thú (nếu có).
Con nuôi được thừa kế phải là con nuôi hợp pháp, tức là việc nuôi con
nuôi phải được Ủy ban nhân dân cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của
đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch (Điều 24 Luật hôn nhân và gia đình). Tuy
nhiên, trong thực tế có những trường hợp nhân dân chưa hiểu pháp luật cho nên
chưa xin chính quyền công nhận và đăng ký vào sổ hộ tích việc nuôi con nuôi.
Trong trường hợp này, nếu việc nhận con nuôi là ngay thẳng, cha mẹ đẻ của đứa
trẻ hoàn toàn tự nguyện, việc nuôi dưỡng đứa trẻ được bảo đảm, thì coi là con
nuôi thực tế. Con nuôi và bố mẹ nuôi có quyền thừa kế lẫn nhau. Con nuôi (hợp
pháp hay thực tế) không được thừa kế theo luật đối với di sản của bố mẹ đẻ và
anh, chị, em ruột.
Người được nhận làm người thừa tự thì coi như con nuôi của người lập
tự và được thừa kế di sản của người đó.
Con riêng của vợ hay chồng người chết không được thừa kế di sản của
người chết, vì không có quan hệ huyết thống đối với người đẻ. Nhưng nếu có đầy
đủ bằng chứng để xác định rằng người con riêng đã được bố dượng hoặc mẹ ghẻ
thương yêu, nuôi nấng, chăm sóc như con đẻ, thì người con riêng đó được coi
như con chung, nên được thừa kế.
Người con nào (kể cả con nuôi) chết trước người để thừa kế, thì các con
của người đó (tức là các cháu của người để thừa kế) sẽ hưởng phần thừa kế của
bố hoặc mẹ mình (thừa kế thế vị).
Những người có thể thừa kế lẫn nhau (như vợ và chồng, cha và con...) nếu
chết trong cùng một thời điểm, hoặc trong trường hợp không thể xác định được
ai chết trước, thì không ai được thừa kế của ai. Di sản của người nào sẽ chia cho
những người thế kế của người đó.
Người con dâu không được thừa kế di sản của bố, mẹ chồng. Nếu người
con dâu có đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển khối tài sản của nhà
chồng, thì họ có quyền được trích chia một phần tài sản tương xứng với công sức
đã đóng góp, với danh nghĩa là người có quyền lợi chung.
Người con rể nếu ở với gia đình nhà vợ, cũng được giải quyết tương tự
như người con dâu đối với gia đình nhà chồng.
Các con, cháu sống chung trong gia đình, người nào có đóng góp đáng kể
trong việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, khi bố mẹ hoặc ông bà chết và
cần chia di sản, đều được trích chia một phần tài sản tương xứng với công sức
đã đóng góp.
Số tài sản được trích chia cho các thành viên trong gia đình với tư cách là
người có quyền lợi chung, là nằm ngoài khối di sản của người chết. Do đó, đối
với những người vừa được trích chia tài sản với tư cách là người có quyền lợi
chung, vừa được chia thừa kế, thì không được trừ số tài sản mà họ được trích
chia vào kỷ phần di sản mà họ được chia thừa kế.
2.1.2. Ở hàng thừa kế thứ hai.
Ông nội, bà nội là người sinh ra cha của người chết. Ông ngoại, bà ngoại
là người sinh ra mẹ của người chết. Anh chị em ruột của người chết là người
cùng được sinh ra từ cha mẹ chung, hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha
với người chết. Có thể nhận thấy rằng sau bố mẹ, con, vợ chồng thì những người
ở hàng thừa kế thứ hai có quan hệ than thích khá gần với người để lại di sản.
Ông, bà nội ngoại là người than thuộc của người để lại di sản, trong gia
đình ông, bà nội ngoại luôn được coi là bề trên, là những người được kính trọng
nên ông, bà cùng bố mẹ chăm sóc giáo dục bảo ban các cháu, đảm bảo cho các
cháu một cuộc soongstoots cả về vật chất lẫn tinh thần, theo khoản 1 Điều 47
Luật HN&GĐ 2000 quy định quyền và nghĩa vụ của ông,bà:
Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ và quyền trông nom, chăm sóc, giáo
dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu. Trong trường hợp cháu
chưa thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng thì
ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.
Do đó, việc pháp luật nước ta quy định ông bà nội, ông bà ngoại là người
thuộc hàng thừa kế thứ hai là hoàn toàn phù hợp với truyền thống “kính trên,
nhường dưới” và thể hiện đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta.
Anh, chị, em ruột là những người cùng cha hoặc cùng mẹ sinh ra nên họ
luôn được hưởng thừa kế của nhau. Theo pháp luật nước ta thì anh, chị, em ruột
là những người thuộc hàng thừa kế thứ hai, việc quy định này ở nước ta đã có từ
rất lâu. Điều 340 Bộ Dân luật Bắc Kỳ quy định: “Nếu người mệnh một không còn
con cháu cùng cha, mẹ, ông bà về bên nội, thì di sản truyền cho anh, chị, em ruột
người ấy, được chia phần đều cho nhau”.
Anh, chị, em ruột là những người có cùng huyết thống. Trong trường hợp
không còn bố mẹ hoặc bố mẹ không có điều kiện thì anh chị em cũng phải nuôi
dưỡng nhau. Vì vậy, pháp luật quy định cho họ thuộc hàng thừa kế thứ hai của
nhau là hợp lý, phù hợp với thực tế cuộc sống.
2.1.3 Ở hàng thừa kế thứ ba
Hàng thừa kế thứ ba được quy đinh để đảm bảo sự nối tiếp về quyền
sở hữu tài sản trong dòng họ, đảm bảo quyền lợi của một số người than gần gũi
của người chết có di sản để lại.
2.2. Người sống nương nhờ.
Người mất sức lao động, sống nương nhờ vào người có di sản (bằng trợ
cấp thường xuyên hoặc nuôi dưỡng ở trong nhà), không được thừa kế di sản
người đó. Nhưng để tránh gây ra những khó khăn đột xuất trong đời sống của
người sống nương nhờ, cần trích một phần ở khối di sản để giúp đỡ họ. khoản
giúp đỡ này nhiều hay ít tùy thuộc vào thời gian người đó đã được giúp đỡ dài
hay ngắn, mức độ nhiều hay ít và tùy theo tình hình khối di sản để lại. Nếu trước
khi chết một thời gian, người để lại di sản đã thoi không giúp đỡ nữa, người
sống nương nhờ đã có sự giúp đỡ khác bảo đảm đời sống, thì không cần thiết
phải trích di sản để giúp đỡ người đó nữa.
Nếu có người thừa kế tự nguyện cho người đang sống nương nhờ được
nương nhờ vào mình, thì kỷ phần của người thừa kế này cần được tăng thêm
một cách thỏa đáng.
2.3 Người không được thừa kế.
Người đã giết người để thừa kế hoặc đã đối xử quá tàn tệ với người đó thì
không được thừa kế di sản của người đó.
Người đã giết người thừa kế cùng hàng với mình để chiếm đoạt toàn bộ di
sản hoặc nhằm làm tăng kỷ phần cho bản thân thì không được thừa kế di sản
của cả hai người ấy (người để thừa kế và người bị giết).
2.4 Phân chia di sản thừa kế
Trong việc phân chia di sản, trước tiên cần xác định chín xác phạm vi khối
di sản của người chết để lại, tức là cần kiểm kê và trị giá các loại tài sản hiện có,
thanh toán khối tài sản chung giữa người chết với người khác như: giữa người
chết với vợ hoặc chồng của người đó, giữa người chết với những người đã có
đóng góp công sức đáng kể vào khối tài sản chung hoặc với những người đồng
sở hữu khác (theo thời giá lúc xử sơ thẩm).
Sau khi đã xác định chính xác khối di sản (gồm các tài sản, các quyền và
nghĩa vụ về tài sản) mà người chết để lại, cần thanh toán các khoản nghĩa vụ
của người chết theo thứ tự ưu tiên sau đây:
- Tiền cấp dưỡng;
- Tiền bồi thường tổn hại về sức khỏe, tính mạng của công dân;
- Tiền công lao động;
- Các món nợ của Nhà nước;
- Các món nợ khác.
Tiếp đó, trích ra một phần để giúp đỡ người sống nương nhờ.
Sau khi thanh toán xong các quan hệ về mặt dân luật, phần di sản còn lại
sẽ được chia cho những người thừa kế. Người chưa thành niên, người mất sức
lao động, người đang gặp khó khăn về đời sống, người có công nuôi dưỡng,
chăm sóc người để lại di sản và người có công giữ gìn di sản của người đã chết,
cần được chiếu cố.
Khi chia di sản, phải căn cứ vào tính chất và công dụng của từng loại tài
sản và nhu cầu thực tế khác nhau về sản xuất, công tác và sinh hoạt của mỗi
người thừa kế mà phân chia cho họ được những lại tài sản thích hợp, nhằm vừa
phát huy được giá trị sử dụng của từng loại tài sản, vừa tạo cho mỗi người thừa
kế có thêm thuận lợi trong sản xuất, công tác và sinh hoạt.
Đối với những tài sản không thể phân chia được hoặc nếu phân chia, sẽ
mất công dụng tốt nhất của nó, thì không nên phân chia nhỏ. Nếu giữa người
được chia loại tài sản này với người được chia loại tài sản khác có sự chênh lệch
về giá trị, thì người được chia loại tài sản có giá trị lớn hơn phải bù chênh lệch.
Những tài sản mà bố mẹ khi còn sống đã cho các con (khi lấy chồng, lấy
vợ, ra ở riêng...) thì không tính vào di sản. Nhưng khi chia cần chú ý đến số tài
sản mà người đó đã được bố mẹ cho nhiều hay ít và hoàn cảnh của người đó
trong mối tương quan chung, để có sự điều chỉnh cho hợp lý, hợp tình, tránh tình
trạng có người con đã được bố mẹ cho nhiều nay vẫn được chia một suất bằng
suất của người chưa được bố mẹ cho gì và nay đang gặp khó khăn.
Trường hợp sau khi cha mẹ chết, có người con muốn xin chia di sản để ra
ở riêng, thì trích cho họ một số tài sản, phù hợp với công sức đóng góp của họ
vào khối tài sản chung và một phần di sản bằng một suất thừa kế của họ. Số tài
sản còn lại, những người còn sống chung trong gia đình vẫn dúng chung, hưởng
chung.
Phần di sản chia cho người chưa thành niên sẽ giao cho người giám hộ
quản lý. Phần di sản chia cho người thừa kế vắng mặt, thì tùy trường hợp mà
giao cho người thân thích gần gũi nhất của họ hoặc giao cho cơ quan có trách
nhiệm quản lý tài sản vắng chủ quản lý.
3. Thừa kế theo di chúc
Theo quy định tại Điều 646 BLDS năm 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí
của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc
chính là phương tiện để phản ánh ý chí của người có tài sản trong việc định đoạt
tài sản của hị cho người khác hưởng sau khi người lập di chúc này đều thể hiện ý
chí tự nguyện của họ, phù hợp với những quy định của pháp luật nhưng không
phải tất cả các di chúc trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp
luật là di chúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập di chúc.
Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định. Theo
quy định của tại Điều 649 BLDS năm 2005, di chúc được thể hiện dưới hai hình
thức: Di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
3.1 Hình thức của di chúc
3.1.1
Di chúc viết
Di chúc viết phải do người có năng lực hành vi dân sự tự nguyện lập ra,
được chính quyền địa phương xác nhận. Trong trường hợp đặc biệt, di chúc có
thể do cơ quan, đơn vị nơi đương sự làm việc xác nhận. Nếu người có tài sản
đang đi trên phương tiện giao thông hay đang ở trong một cơ sở chữa bệnh mà
gặp tình huống phải cấp bách lập di chúc thì sự chứng nhận của người phụ trách
của phương tiện giao thông hay cơ sở chữa bệnh cũng được coi là hợp lệ.
Nếu di chúc không có sự chứng nhận hợp lệ, nhưng có người làm chứng
bảo đảm, hoặc xác định được di chúc đó đúng là do người có di sản tự nguyện
lập ra (như đúng là chữ viết và chữ ký của người có di sản, thời gian và địa điểm
ghi trong di chúc cũng phù hợp...) thì cũng có giá trị.
3.1.2 Di chúc miệng
3.1.2.1 Di chúc miệng là gì?
Di chúc miệng hay còn gọi là chúc ngôn bày tỏ bằng lời nói ý chí của
người để lại di sản thừa kế lúc còn sống trong việc định đoạt khối di sản của
mình cho người khác sau khi mình chết. Chỉ được công nhận là hợp pháp khi
người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà
không thể lập di chúc viết được ( bị bệnh nguy kịch sắp chết, bị tai nạn có nguy
cơ chết..).
Do tính chất phức tạp của vấn đề chia thừa kế trên thực tế mà di chúc nói
chung và di chúc miệng nói riêng, nhà làm luật quy định khá nghiêm ngặt trong quá
trình lập di chúc (điều 652 BLDS).
3.1.2.2 Điều kiện để di chúc miệng hợp pháp
- Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị
lừa dối đe dọa hoặc cưỡng ép;
- Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc
không trái quy định pháp luật.
- Di chúc miệng được coi là hợp pháp, nếu người di chúc miệng thể hiện ý
chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó
những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn
năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc
phải được công chứng hoặc chứng thực.
- Về người làm chứng cho việc lập di chúc, Điều 654 Bộ Luật Dân sự quy
định mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau
đây: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc,
người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; người chưa đủ
mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.
- Di chúc miệng phải có người làm chứng hợp pháp Theo quy định của
pháp luật về di chúc, lời nói mà người trước khi chết nói ra được coi là di chúc
miệng hợp pháp khi lời nói đó thể hiện ý chí cuối cùng nhằm chuyển tài sản của
họ cho người khác sau khi chết; lời nói đó nói ra lúc còn minh mẫn, sáng suốt,
trước mặt ít nhất là hai người làm chứng, ngay sau đó những người làm chứng
ghi chép lại cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày
người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng
hoặc chứng thực.
3.1.2.3 Trường hợp đặc biệt của di chúc miệng
- Di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn
bản và phải được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
- Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ
phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng chứng thực.
Trên thực tế bản chất của di chúc miệng là dễ bị bóp méo vì người lập di chúc
không để lại bút tích, chính vì thế pháp luật quy định thủ tục lập di chúc miệng có
những điểm khác biệt so với di chúc được lập thành văn bản. Người lập di chúc
miệng phải thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng kí tên hoặc điểm chỉ. Trong thời
hạn 5 ngày kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải
công chứng hoặc chứng thực. Sau 3 tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người
lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
(Khoản 5 điều 651 Bộ luật dân sự 2005).
3.1.2.4 Hiệu lực của di chúc miệng
Theo điều 667 BLDS 2005 di chúc có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm mở
thừa kế, nghĩa là người để lại di chúc chết.
Như vậy di chúc miệng không chỉ đơn giản là để lại một lời nói, ý chí cuối
cùng của người để lại di sản trước khi chết thôi vẫn chưa đủ. mà nó phải thỏa
mãn rất nhiều điều kiện nghiêm ngặt của pháp luât đã đặt ra.
3.2
Quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc
Quyền để lại thừa kế là một quyền cơ bản của cá nhân được pháp luật Việt
Nam ghi nhận và bảo hộ. BLDS năm 2005 quy đinh rõ: “Cá nhân có quyền lập di
chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo
pháp luật” (Điều 631) và “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền để lại tài snar của
mình cho người khác” (Điều 632).
Thông qua di chúc, người có tài sản có quyền để lại tài sản của mình cho bất
cứ ai. Người thừa kế được chỉ định trong di chúc có thể là côn dân, Nhà nước hay
một tổ chức xã hội. Nếu là công dân thì người đó có thể ở trong diện thừa kế theo
luật, mà cũng có thể không ở trong diện đó.
Tuy nhiên, nội dung của di chúc phải phù hợp với chính sách và pháp luật.
Nếu toàn bộ nội dung của di chúc đều trái với chính sách và pháp luật, thì di chúc
không có giá trị. Nếu chỉ có một số điểm không đúng pháp luật, thì chỉ riêng những
điểm đó không có giá trị, những điểm khác phù hợp với pháp luật vẫn được thi
hành.
Người lập di chúc phải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế
bắt buộc (nếu có). Những người thừa kế bắt buộc gồm: Vợ góa hoặc chồng góa,
con chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động,
bó mẹ già yếu và túng thiếu.
Phần di sản phải dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc, ít nhất là 2/3
suất của thừa kế theo luật. Nếu di chúc truất quyền thừa kế của người thừa kế bắt
buộc hoặc phần dành lại cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít hơn 2/3 suất thì phải
trích chia cho đủ 2/3.
Sau khi đã trích chia cho những người thừa kế bắt buộc, Tòa án vẫn chiếu
theo di chúc để phân chia số di sản còn lại cho những người được chỉ định trong di
chúc, theo tỷ lệ phân quyền của họ.
Di chúc do hai vợ chồng cùng làm để định đoạt tài sản chung, nếu một người
chết trước, thì chỉ riêng phần di sản của người đó được thi hành theo di chúc.
Người còn sống có quyền giữ nguyên, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc đối với phần tài
sản của mình.
Trường hợp người chồng (hoặc người vợ) do không hiểu pháp luật hoặc
còn bị ảnh hưởng của phong tục, tập quán cũ, đã định đoạt cả khối tài sản chung
của vợ chồng, thì phần tài sản của vợ (chồng) của người chết được tách ra giao
cho người đó. Phần còn lại là di sản của người chết sẽ giao cho người được chỉ
định trong di chúc.
3.3
Quyền từ chối nhận tài sản của người thừa kế
Từ chối nhận di sản thừa kế là hành vi thể hiện ý chỉ của cá nhân khi được
nhận tài sản hợp pháp từ người khác để lại.Theo Bộ luật dân sự năm 2005 quy
định quyền từ chối nhận di sản được quy định tại Điều 642 một cách khá chi tiết và
cụ thể.
Điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:
“ 1. Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản , trừ trường hợp việc từ chối nhằm
trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
2. Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báo cáo
cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ
quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở
thừa kế về việc từ chối nhận di sản.
3. Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế. Sau sáu tháng
kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận
thừa kế.”
Mọi hành động lấy việc từ chối nhận di sản để trốn nghĩa vụ tài sản của
người chết để lại (vì hiểu lầm) hay nghĩa vụ tài sản của mình đều bị pháp luật
nghiêm cấm. Theo quy định của pháp luật khoản 1 Điều 631 Bộ luật dân sự năm
2005 quy định: “Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài
sản trong phạm vi di sản do người chết để lại”. Đối với việc từ chối nhận di sản để
trốn tránh nghĩa vụ tài sản của bản thân mình với người khác thì cũng ngay tại
điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005, pháp luật cũng nghiêm cấm điều này. Việc thực
hiện quyền sở hữu như vậy vi phạm điều 165 Bộ luật dân sự năm 2005: “không
được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng,
quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.”
Nếu người thừa kế này đã từ bỏ quyền thừa kế của mình hợp pháp theo quy
định của pháp luật, thì phần tài sản bị từ chối đó sẽ được đem chia theo pháp luật
cho những đồng thừa kế còn lại. Cần lưu ý rằng, nếu đã từ chối nhận di sản thì đồng
nghĩa với việc người từ chối sẽ không còn được hưởng di sản trong cả 2 hình thức
thừa kế là theo di chúc và theo pháp luật (lưu ý rằng người từ chối nhận di sản có
quyền từ chối toàn bộ hay một phần tài sản mà mình đáng lẽ được hưởng). Cuối
cùng, người từ chối nhận di sản cần phải thực hiện các bước thủ tục theo luật định
tại khoản 2, 3 điều 642 Bộ luật dân sự năm 2005, cụ thể là: việc từ chối nhận di sản
phải được lập thành văn bản gửi cho người cùng thừa kế, người tiến hành chia di
sản và công chứng tại cơ quan có thẩm quyền, thời hạn từ chối là 6 tháng, kể từ
ngày mở thừa kế.
Trình tự , thủ tục nhằm từ chối quyền nhận di sản thừa kế sẽ bảo gồm các bước sau:
Bước 1:
-
Công dân chuẩn bị hồ sơ theo quy định của pháp luật, nộp hồ sơ tại bộ
phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan có thẩm
quyền công chứng trong hoặc ngoài trụ sở nhà nước.
-
Công dân xuất trình bản chính của giấy tờ đã nộp bản sao để đối chiếu;
-
Công chức tiếp nhận hồ sơ kiểm tra tính pháp lý và nội dung hồ sơ:
Trường hợp hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ thì tiếp nhận, viết giấy hẹn (nếu có); trường
hợp hồ sơ thiếu hoặc không hợp lệ thì công chức tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn công
dân làm lại theo đúng quy định;
Bước 2:
- Công chức UBND cấp xã kiểm tra nội dung các giấy tờ liên quan và chứng
thực; Trường hợp không thể chứng thực thì thông báo lý do cho công dân biết.
Bước 3 :
- Công dân đến nhận kết quả nộp lại giấy biên nhận nộp hồ sơ, nộp lệ phí
theo quy định.
Thành phần hồ sơ
- Văn bản từ chối nhận di sản do người từ chối nhận di sản lập trong đó có
cam kết việc từ chối nhận di sản không nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa
vụ tài sản với người khác hay cá nhân mình;
- Bản sao giấy từ tùy thân của người từ chối ( CMTND hay Hộ chiếu )
- Bản sao hộ khẩu (hoặc giấy tờ thay thế) của người từ chối;
- Bản sao giấy chứng tử của người để lại di sản;
- Di chúc( nếu có );