Tải bản đầy đủ (.doc) (53 trang)

TÀI LIỆU ÔN THI TẬP 3 CỰC CHẤT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (310.67 KB, 53 trang )

PHẦN I: NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ VĂN NGHỊ LUẬN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Bài tập làm văn nghị luận là một trong những dạng bài quen thuộc và khá quan
trọng đối với học sinh lớp 9. Đa số các đề thi, kiểm tra cuối cấp, kỳ thi tuyển sinh
vào THPT đều sử dụng dạng bài văn nghị luận để kiểm tra kiến thức Ngữ văn
cũng như khả năng làm bài của học sinh lớp 9.
Vì vậy, việc rèn luyện cho học sinh lớp 9 những kỹ năng cơ bản để có thể viết
được một bài văn nghị luận đúng đến hay và hấp dẫn là một yêu cầu đặt ra đối với
tất cả giáo viên dạy Ngữ văn lớp 9. Viết được một bài văn nghị luận là một trong
những yêu cầu bắt buộc của học sinh khi học xong chương trình THCS.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kỹ năng làm bài văn nghị luận của học sinh THCS
còn khá hạn chế. Thậm chí, nhiều học sinh khi tốt nghiệp THCS vẫn chưa thể viết
được một đoạn văn nghị luận đúng nghĩa.
Đa số các em còn thiếu kỹ năng làm bài. Việc trình bày luận điểm, luận cứ (lý lẽ
và dẫn chứng) còn khá mơ hồ, thiếu mạch lạc. Cách trình bày nội dung đoạn văn
còn lộn xộn, câu từ sử dụng còn chưa thực sự chính xác.
Điều này khiến cho chất lượng bài văn nghị luận của học sinh lớp 9 nói riêng, chất
lượng môn Ngữ văn THCS (thông qua kỳ thi tuyển sinh vào THPT) nói chung còn
khá hạn chế.
Nói cách khác, xây dựng và rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh
lớp 9 THCS là một yêu cầu bắt buộc song cũng vô cùng khó khăn đối với không ít
đồng chí cán bộ, giáo viên.
A. Kiến thức cơ bản về văn nghị luận
1. Văn nghị luận là gì?
a. Hiểu một cách Văn nghị luận là kiểu văn bản viết ra nhằm bày tỏ một tư tưởng,
hay quan điểm của người viết đối với một vấn đề, một hiện tượng nào đó trong xã
hội.
b. Văn nghị luận có hai dạng cơ bản: Nghị luận văn học và nghị luận xã hội.
- Nghị luận văn học gồm: Nghị luận về một vấn đề lý luận
- Nghị luận xã hội gồm: Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý và nghị luận về
một hiện tượng của đời sống xã hội.


c. Các tư tưởng, quan điểm trong văn nghị luận phải có tính tích cực, phải hướng
tới giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống cộng đồng thì mới có ý nghĩa.
2. Lập luận trong văn nghị luận
Lập luận là việc dựa vào các chứng cớ đáng tin cậy và các lý lẽ xác đáng, người
viết nêu ý kiến của mình về một vấn đề nhất định. Quá trình lập luận, người viết
1


phải đưa được luận điểm chính để bày tỏ quan điểm của mình (đồng ý, phản đối
hay muốn nói gì). Đồng thời, người viết phải đưa ra các lý lẽ, dẫn chứng và sắp
xếp các lý lẽ, dẫn chứng một cách hợp lý nhằm thuyết phục người đọc, người
nghe.
Lập luận gồm 2 yếu tố chính:
a. Luận điểm: ý chính, nội dung cơ bản cần phải có trong bài văn
- Một luận điểm chính (luận điểm lớn) thường gồm nhiều luận điểm nhỏ hơn.
Ví dụ: Tinh thần nhân đạo trong “Chuyện người con gái Nam Xương” là luận
điểm lớn.
Để làm sáng tỏ luận điểm này, chúng ta cần trình bày 3 luận điểm nhỏ (luận điểm
phụ): thứ 1, truyện ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ trong trong xã hội phong kiến
qua nhân vật Vũ Nương; thứ 2 Chuyện người con gái Nam Xương lên án, tố cáo
xã hội phong kiến cùng quan điểm trọng nam khinh nữ đã đẩy con người đến tận
cùng của bi kịch; thứ 3, Nguyễn Dữ đã bày tỏ mơ ước cho người con gái Nam
Xương (Vũ Nương) có được một cuộc sống hạnh phúc (ý nghĩa chi tiết kỳ ảo)…
- Một bài văn nghị luận đúng thì việc việc xác định các luận điểm là yếu tố quyết
định. Thông thường, luận điểm thường được thể hiện ngay trong đề của bài văn.
b. Luận cứ: gồm lý lẽ và dẫn chứng. Lý lẽ là các ý kiến, quan điểm của người viết
đưa ra nhằm thuyết phục người nghe. Dẫn chứng là các chứng cớ có sức thuyết
phục cao để người đọc tin vào luận điểm của bài văn.
Các luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng) phải xác thực, toàn diện và được công nhận.
Muốn vậy, phải luôn đặt ra cho mình câu hỏi: Tại sao lại như vậy? Nếu không như

vậy thì sao? Làm thế nào để…? Điều đó có nghĩa, khi chọn luận cứ (lý lẽ và dẫn
chứng) người viết cần lật đi lật lại vấn đề để tránh đưa ra các quan điểm mang tính
cực đoan, một chiều.
- Khi làm văn, không phải cứ đưa ra dẫn chứng là xong. Chúng ta cần phân tích
dẫn chứng thì nó mới có giá trị thực sự.
- Dẫn chứng, lý lẽ phải được sắp xếp một cách hợp lý theo thứ tự nhất định để
người đọc dễ theo dõi. Có thể sắp xếp dẫn chứng theo thứ tự tăng dần độ khái
quát; theo trình tự thời gian từ xưa đến nay; theo trình tự không gian…
3. Cách lập ý trong văn nghị luận
a. Xác định ý chính (luận điểm chính)
Đề bài luôn định hướng nội dung và phương pháp làm bài. Chính vì vậy, việc làm
đầu tiên và quan trọng nhất trước khi làm văn là phải đọc kỹ đề và tìm ra được 2
nội dung cơ bản trong đề:

2


- Nội dung yêu cầu của đề (luận điểm chính). Nếu đề đưa ra nhiều yêu cầu về nội
dung thì mỗi yêu cầu là một ý lớn (luận điểm chính); nếu đề chỉ có 1 yêu cầu thì
mỗi khía cạnh của yêu cầu sẽ là một ý lớn ( luận điểm chính)
Ví dụ: Đề bài: Giá trị nhân đạo trong “Truyện Kiều”.
Đề bài này nêu ra một yêu cầu nên các khía cạnh của giá trị nhân đạo một tác
phẩm văn học sẽ là một luận điểm (ý lớn): ca ngợi vẻ đẹp của Thúy Kiều…; Tố
cáo xã hội phong kiến tàn bạo đã đày đọa người phụ nữ; mơ ước cho người lao
động có một lối thoát để thoát khỏi bể khổ….
- Định hướng phương pháp làm bài (Chứng minh, giải thích, bình luận…)
* Lưu ý: với dạng đề mở, người viết cũng có thể xác định được phương pháp làm
bài dựa vào nội dung yêu cầu của đề. Chúng ta có thể đặt các câu hỏi để tìm ra
cách tiếp cận vấn đề đúng nhất
Ví dụ: Đề bài: Trăng trong thơ Hồ Chí Minh.

Đây là dạng đề mở. Với đề này, chúng ta xác đinh ngay được nội dung của yêu
cầu của đề là: Hình ảnh vầng trăng được tái hiện trong thơ Hồ Chí Minh như thế
nào? Trăng trong thơ Hồ Chí Minh thể hiện điều gì trong tâm hồn Người?...
Chúng ta phải đưa ra các bài thơ có sự xuất hiện của vầng trăng trong thơ Bác để
thể hiện các khía cạnh nội dung trên. Điều đó có nghĩa, chúng ta phải sử dụng
phép lập luận chứng minh để giải quyết vấn đề trên
b. Xác định các ý nhỏ (luận điểm phụ)
Mỗi ý lớn đều được cụ thể hóa thành các ý nhỏ hơn. Tìm ra các ý nhỏ sẽ giúp bài
văn có sự bao quát, toàn diện và đầy đủ hơn. Việc xác định ý nhỏ được thực hiện
một cách đơn giản bằng cách đặt ra các câu hỏi như: ….như thế nào? …có tác
dụng gì?
Ví dụ: Ý lớn: Nghệ thuật sử dụng các nghịch lý trong truyện ngắn Bến quê của
Nguyễn Minh Châu là một ý lớn. Ý lớn này có thể được triển khai bằng các ý nhỏ:
- Trong truyện Bến quê có những nghịch lý nào?
- Nghệ thuật sử dụng các nghịch lý trong Bến quê được thể hiện như thế nào?
- Việc sử dụng các tình huống nghịch lý ấy có tác dụng gì trong việc thể hiện nội
dung của tác phẩm?

Tùy từng trường hợp, bài văn có thể có nhiều tầng ý nhỏ.
c. Cách lập dàn ý
Tìm được đủ ý, nhưng nếu sắp xếp không hợp lý, có thể bài văn sẽ rất lộn xộn và
không đạt được hiệu quả như mong muốn. Do vậy, việc sắp xếp ý hợp lý có vai trò
vô cùng quan trọng với thành công của bài viết.
3


- Tùy từng bà, chúng ta sẽ có cách sắp xếp ý một cách hợp lý. Tuy nhiên, chúng ta
có thể sắp xếp theo thứ tự trước sau, theo tâm lý tiếp nhận (từ dễ đến khó)…
* Dàn bài chung của một bài văn nghị luận
a. Mở bài (Đặt vấn đề)

Giới thiệu vấn đề. Trích dẫn nhận định (nếu có)
b. Thân bài (Giải quyết vấn đề)
Nêu luận điểm 1
Trình bày các lý lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm 1
Nêu luận điểm 2
Trình bày các lý lẽ, dẫn chứng để làm sáng tỏ luận điểm 2
….
Tóm lại nội dung cơ bản nhất. Bày tỏ quan điểm của người viết đối với vấn đề
được bàn luận
c. Kết bài (Kết thúc vấn đề)
Khẳng định vấn đề nghị luận, khái quát, mở rộng vấn đề.
B. Cách viết đoạn văn trong văn nghị luận
1. Các yếu tố giúp diễn đạt hay
- Người viết cần sử dụng các câu ngắn. Đó thường là các câu đơn. Việc sử dụng
câu ngắn sẽ làm cách diễn đạt mạch lạc hơn.
- Cần sử dụng nhiều tính từ, các từ láy tượng thanh, tượng hình. Việc sử dụng
nhiều kiểu từ này sẽ làm cho câu văn linh hoạt, hấp dẫn và dễ đọc hơn.
- Nên sử dụng các câu hai mệnh đề: Nếu…thì; Một mặt…mặt khác;…
- Viết đoạn văn nghị luận như một đoạn đối thoại ngầm. Do đó, khi viết bài văn
nghị luận, người viết nên sử dụng nhiều dạng câu hỏi. Các câu hỏi thường nêu lên
các vấn đề, khía cạnh khác nhau của vấn đề nghị luận. - Sử dụng đan xen các kiểu
câu: kể, miêu tả, câu hỏi, câu cảm thán, câu hỏi…Việc sử dụng đan xen kiểu câu
hỏi sẽ làm cách diễn đạt trôi chảy và linh hoạt hơn.
- Để thuyết phục được người nghe, ngoài việc lập luận chặt chẽ, rất cần thiết thể
hiện cảm xúc của người viết với vấn đề nghị luận. Do vậy, cần thể hiện niềm tin,
sự nhiệt tình của người viết đối với vấn đề nghị luận một cách hợp lý.
- Tránh lặp từ, sai cấu trúc câu hoặc viết câu thiếu một mệnh đề….
- Tránh các câu mang tính khuôn sáo, cách diễn đạt dài dòng.
2. Các phương pháp trình bày nội dung trong một đoạn văn nghị luận


4


a. Phương pháp diễn dịch: Từ một ý khái quát đi đến các ý cụ thể hơn. Việc trình
bày nội dung đoạn văn theo cách diễn dịch tuân thủ quy tắc: Câu 1: nêu ý khái
quát; các quan điểm, các ý được suy ra từ ý khái quát nêu ở câu 1.
b. Phương pháp quy nạp: là việc đi từ ý cụ thể (các dẫn chứng, lý lẽ) để khái
quát thành một luận điểm.
c. Phương pháp Tổng – phân – hợp là sự kết hợp của diễn dịch và quy nạp. Câu
đầu tiên nêu ý khái quá. Các câu tiếp theo triển khai ý khái quát đó thành những ý
nhỏ bằng các lý lẽ, dẫn chứng; câu cuối đoạn khái quát lại nội dung vừa phù hợp
với nhận định ở câu 1 vừa nâng cao, mở rộng hơn. Đây cũng là mô hình của bài
văn nghị luận.
d. Nêu phản đề: Nghĩa là nêu 1 ý kiến trái ngược hoàn toàn so với luận điểm. Sau
đó, dùng các dẫn chứng, lý lẽ để chứng minh rằng ý kiến trái ngược đó là sai. Từ
đó, đưa ra luận điểm của mình.
e. Vấn đáp: Người viết tự đặt ra các câu hỏi (các vấn đề) ở đầu đoạn văn. Sau đó,
dùng lý lẽ và dẫn chứng để trả lời cho các câu hỏi đó.
Ngoài ra, còn một số phương pháp trình bày đoạn văn khác như: móc xích, so
sánh, …Tuy nhiên, trên đây là 5 phương pháp phổ biến và dễ áp dụng nhất đối với
học sinh chúng ta.
3. Cách viết mở bài
Mở bài làm nhiệm vụ duy nhất là giới thiệu vấn đề. Do vậy, người viết chỉ cần nêu
khái quát ý, tránh đi vào chi tiết. Nếu đề bài yêu cầu phân tích, chứng minh, giải
thích cần phải trích dẫn nguyên văn ý kiến đó.
Các cách viết mở bài:
a. Mở bài trực tiếp: Người viết giới thiệu ngay vấn đề được nêu ra ở đề bài.
Ví dụ: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của
Nguyễn Thành Long.
Chúng ta có thể chỉ cần mở bài ngắn gọn: Ai đã từng đọc Lặng lẽ Sa Pa của

Nguyễn Thành Long đều ấn tượng với hình ảnh người thanh niên một mình trên
đỉnh Yên Sơn cao hơn 3.000 mét so với mặt nước biển.
* Cách mở bài trực tiếp thường rất nhanh nhưng sẽ khó hay, khó gây được ấn
tượng cho người đọc.
b. Mở bài gián tiếp
- Mở bài theo cách diễn dịch: Đi từ ý khái quát hơn vấn đề đặt ra trong đề bài rồi
mới nêu vấn đề
Ví dụ: Giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”
Chúng ta có thể khái quát từ khái niệm ca dao tục ngữ đến nội dung của đề

5


- VD mở bài: Tục Ngữ thường thể hiện những triết lý rất sâu sắc của nhân dân ta
về các mặt của đời sống xã hội. Khi nói về vai trò của việc giao lưu, học hỏi, cha
ông ta có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
- Mở bài theo cách quy nạp: Đi từ ý nhỏ hơn vấn đề rồi khái quát thành vấn đề
nghị luận.
Ví dụ: Trong cuộc sống, nếu không có sự giao lưu với thế giới bên ngoài, con
người sẽ không thể phát triển trọn vẹn. Họ dễ bị mắc bệnh thiển cận, bảo thủ… Do
vậy, cha ông ta thường nhắc nhở nhau: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
- Mở bài kiểu liên tưởng: Người viết nêu một ý giống (hoặc trái ngược) với vấn
đề nghị luận để dẫn dắt nêu vấn đề.
Ví dụ: với đề bài Giải thích câu tục ngữ “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”
Chúng ta có thể mở bài: Cha ông ta từng đúc kết: “Ếch ngồi đáy giếng coi trời
bằng vung”. Kẻ suốt ngày chỉ quanh quẩn nơi xó nhà sẽ trở thành người thiển cận,
thiếu hiểu biết, thậm chí kiêu căng. Ngược lại, việc mở mang kiến thức, tích cực
giao lưu học hỏi là yếu tố quyết định giúp con người hoàn thiện hơn. Do vậy, cha
ông ta từng dạy: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”.
4. Viết đoạn văn thân bài

Phần thân bài gồm nhiều đoạn văn khác nhau. Mỗi đoạn văn trình bày một ý, một
luận điểm nhỏ. Khi viết đoạn văn thân bài, cần đảm bảo 3 yếu tố:
- Mở đoạn: chuyển ý, giới thiệu luận điểm.
- Thân đoạn: triển khai luận điểm chính thành các lý lẽ, dẫn chứng thuyết phục
người đọc.
- Kết đoạn: Kết luận ý, chuyển sang đoạn văn tiếp theo.
5. Cách viết kết luận
Phần kết bài phải thể hiện đúng quan điểm đã được trình bày ở thân bài. Kết bài
chỉ nêu ý khái quát.
* Cách viết đoạn kết bài:
a. Tóm lược một cách khái quát nội phần thân bài
Ví dụ: Kết bài cho đề Giải thích câu tục ngữ “Trăm hay không bằng tay quen”
Tóm lại, việc đề cao thực hành, chống lý thuyết suống trong câu tục ngữ
“Trăm hay không bằng tay quen” rất đúng đắn. Tuy nhiên, không vì thế mà coi
nhẹ lý thuyết lại là rất cực đoan, phiến diện. Trong thời đại công nghệ thông tin
hiện nay, mỗi chúng ta sẽ thu được những thành công vang dội nếu biết kết hợp
một cách nhuần nhuyễn giữa lý thuyết và thực hành.
b. Kết bài bằng cách mở rộng vấn đề đã đặt ra
Ví dụ, với đề bài trên, chúng ta có thể kết bài:
6


Như vậy, kinh nghiệm của cha ông ta được đúc kết trong câu tục ngữ “Trăm hay
không bằng tay quen” là một bài học quý báu với mỗi chúng ta. Tuy nhiên, kinh
nghiệm đó chưa hẳn đã hoàn toàn đúng. Nhiệm vụ của chúng ta là phải biết vận
dụng một cách khoa học, bổ sung những thiếu sót, những điểm chưa hoàn chỉnh
của kinh nghiệm trên để làm giàu vốn kiến thức của bản thân.
c. Kết bài bằng cách nêu ra các phương pháp vận dụng cái hay hoặc khắc
phục hạn chế của vấn đề nghị luận vào cuộc sống
Câu tục ngữ “Trăm hay không bằng tay quen” nhắc nhở chúng ta phải luôn tôn

trọng kinh nghiệm thực tế và những người giàu kinh nghiệm. Bên cạnh đó, chúng
ta cũng cần khắc phục tư tưởng kinh nghiệm chủ nghĩa. Luôn có ý thức vận dụng
những hiểu biết lý thuyết vào thực tế cuộc sống nhằm làm tăng năng suất lao động,
phát triển kỹ năng thực hành một cách khoa học nhất.
5. Cách chuyển đoạn
Các đoạn, các ý vừa phải tách biệt nhau vừa phải liên kết chặt chẽ với nhau. Việc
chuyển đoạn rất quan trọng. Nó góp phần làm nổi bật mối quan hệ giữa các ý, các
luận điểm với nhau. Do vậy, khi làm bài văn nghị luận cần đặc biệt chú đến việc
chuyển đoạn.
Dưới đây là một số cách chuyển đoạn dễ rất dễ áp dụng:
a. Dùng các quan hệ từ dùng để liên kết (kết từ) hoặc các cụm từ tương
đương với kết từ:
Ví dụ: Trước hết, trước tiên, thoạt tiên, tiếp theo, sau nữa, một là, hai là….Hoặc:
một mặt, mặt khác, ngoài ra, bên cạnh đó, tóm lại, nói tóm lại, tuy vậy, tuy nhiên,
ngược lại…
b. Dùng câu để chuyển đoạn.
Có thể áp dụng kiểu câu hai mệnh đề: mệnh đề thứ nhất nhắc lại nội dung đoạn
văn trước, mệnh đề thứ hai nêu chủ đề (luận điểm) của đoạn tiếp theo.
Ví dụ: Bên cạnh việc ca ngợi vẻ đẹp của Vũ Nương, Nguyễn Dữ còn tập trung tố
cáo các cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã đẩy người phụ nữ đến bi kịch.
PHẦN II : VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Nghị luận văn học là bài văn viết ra nhằm bày tỏ quan điểm, cách nhìn nhận, đánh
giá vấn đề của người viết đối với một tác phẩm văn học. Đó có thể là cách đánh
giá của người viết đối với một vấn đề lịch sử văn học. Hoặc đó có thể là những
đánh giá về giá trị nội dung, nghệ thuật, những đánh giá, nhận xét về nhân vật…
Nghị luận văn học được chia làm hai loại: Nghị luận về một truyện ngắn hoặc
đoạn trích; nghị luận về bài thơ, đoạn thơ
A. Nghị luận về một truyện ngắn, hoặc đoạn trích
7



I. Những điểm cần lưu ý
1. Những điểm chú ý khi làm văn nghị luận truyện ngắn hoặc đoạn trích
a. Một số yêu cầu cần nắm vững khi làm bài văn nghị luận về đoạn trích hay
truyện ngắn.
- Chúng ta cần chú ý đến hoàn cảnh sáng tác, phong cách sáng tác của tác giả.
- Để lập ý cho bài viết, chúng ta cần xác định rõ vấn đề nghị luận, bàn đến vấn đề
gì, thuộc phạm vi nào? Tại sao lại nói như thế? Nội dung ấy được biểu hiện như
thế nào qua tác phẩm văn học?
- Cần nắm chắc nội dung tác phẩm văn học để có thể dễ dàng chọn và nêu dẫn
chứng.
b. Dẫn chứng trong bài nghị luận về một truyện ngắn, đoạn trích
- Dẫn chứng cần được lấy ra trong tác phẩm truyện hoặc đoạn trích đó. Các dẫn
chứng phải tiêu biểu, góp phần làm sáng tỏ nội dung.
- Có thể trích dẫn nguyên văn một đoạn văn, một câu nói của nhân vật hoặc người
kể chuyện; cũng có thể chỉ trích dẫn một vài từ ngữ quan trọng, cần thiết để làm
sáng tỏ luận điểm mà thôi.
c. Dàn bài chung cho một bài văn nghị luận
* Mở bài: Nếu vấn đề, đưa trích dẫn, giới thiệu phạm vi tư liệu
* Thân Bài:
Giải thích, cắt nghĩa từng từ, cụm từ trong trích dẫn hoặc tiêu đề truyện, gây chú ý
cho người đọc
Lần lượt trình bày các luận điểm theo các cách trình bày đoạn văn trên. Khẳng
định ý kiến được nêu ra là đúng hay sai? Mức độ đúng, sai như thế nào? Nó được
thể hiện như thế nào trong tác phẩm văn học đó?..
- Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học.
* Kết bài: Khái quát, khẳng định vấn đề. Mở rộng hoặc liên hệ với các tác phẩm
văn học khác hoặc với cuộc sống.
II. Cách làm bài văn nghị luận đối với các tác phẩm cụ thể
Đề 1: Xưa nay, mỗi khi nói đến nhân vật Trương Sinh, chúng ta thương cho rằng

anh ta là một người vô học, vũ phu, gia trưởng, …Tuy nhiên, nếu suy xét kỹ,
chúng ta sẽ thấy Trương Sinh không phải là người như vậy. Bằng việc phân tích
nhân vật Trương Sinh trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ,
em hãy làm sáng tỏ “nỗi oan” của chàng Trương.
Gợi ý làm bài: Để làm được đề bài này, chúng ta cần xác định được mấy nội
dung: Thứ nhất: Việc đem trăm lạng vàng cưới Vũ Nương có thể hiện tính chất
“mua bán” của cuộc hôn nhân này không? Thứ hai, Việc Trương Sinh vô học, hay
8


ghen có phải là một cãi tội không? Thứ ba:Vì sao Trương Sinh lại bị coi là vũ phu,
gia trưởng? Khi xác định được 3 nội dung trên, chúng ta sẽ thấy rằng: Trương
Sinh mang trăm lượng vàng cưới Vũ Nương vì đó là tục lệ. Số lượng 100 lạng
vàng chỉ là cách để Nguyễn Dữ “tôn” giá trị của nàng chứ không phải thể hiện một
cuộc hôn nhân mua bán. Thứ hai, việc Trương Sinh vô học là cái “cớ” để sau này
chàng phải đi lính. Bởi nếu chàng học hành đoàng hoàng sẽ không phải đi lính và
như vậy sẽ không xảy ra bi kịch…Lần lượt đưa ra cách lập luận như vậy, chúng ta
sẽ có cài nhìn khác về Trương Sinh.
Bài viết tham khảo
“Chuyện người con gái Nam Xương” trích trong “Truyền kì mạn lục” của
Nguyễn Dữ là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong giai đoạn văn học thế
kỉ XVI – XVII. Tác phẩm từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong trường phổ
thông. Các nhân vật trong truyện đều được đem ra phân tích một cách chi tiết, sâu
sắc. Tuy nhiên, xưa nay, hầu hết chúng ta đều có cách nhìn nhận về nhân vật
Trương Sinh trong truyện vẫn còn nhiều vấn đề cần xem xét một cách thấu đáo.
Trước tiên, có thể nói, trong truyện cổ tích, nhân vật Trương Sinh là một
loại nhân vật chức năng. Nhà văn xây dựng nhân vật này nhằm phát triển nội dung
câu chuyện, nhằm thể hiện những điều mà nhà văn muốn nói. Những hành động,
lời nói của nhân vật chức năng chỉ nhằm làm nổi bật phẩm chất, đức hạnh của
nhân vật trung tâm của truyện.

Trong “Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã phát triển nhân
vật chức năng này thành một nhân vật chính có vai trò quyết định đến sự phát triển
của truyện. Tuy nhiên, những đặc điểm cơ bản của nhân vật chức năng vẫn hiện
hữu một cách đầy đủ trong nhân vật Trương Sinh. Do vậy, khi tìm hiểu về nhân
vật này, chúng ta cần xem xét một cách toàn diện trên tất cả các bình diện.
Xưa nay, hầu hết các thầy cô giáo khi giảng cho học sinh đều cho Trương
Sinh là một kẻ ngu si, thô bạo. Chàng là con nhà hào phú nhưng lại không được
học hành đầy đủ. Chính chi tiết đó làm cho mọi người “kết tội” chàng Trương là
vô học. Thực ra, theo tôi, đó không phải là mục đích mà Nguyễn Dữ muốn đề cập
đến. Chi tiết không có học chỉ là điều kiện để sau này chàng Trương mặc dù là con
nhà hào phú nhưng vẫn phải đi lính. Về thực chất có thể thấy chàng Trương hoàn
toàn không phải là một kẻ vô học, thô bạo, ngu si. Chàng là một người biết yêu và
trân trọng cái đẹp. Chính vẻ đẹp người, đẹp nết của Vũ Thị Thiết đã cuốn hút
chàng. Việc Trương Sinh đem trăm lạng vàng cưới nàng về làm vợ đã chứng tỏ
điều đó. Rõ ràng chàng là người biết nâng niu và trân trọng cái đẹp. Một người
không có đầu óc, thiếu văn hoá sẽ không thể biết điều đó.
Nhiều người dựa vào chi tiết “mang trăm lạng vàng cưới về làm vợ” để kết
luận rằng cuộc hôn nhân đó hoàn toàn là mua bán, không có tình yêu. Thực chất,
“trăm lạng vàng” kia chính là sính lễ mà nhà trai đem đến để rước dâu. Đó là tục
lệ ngàn đời của dân tộc ta còn tồn tại đến ngày nay. Do đó, việc đem trăm lạng
vàng để cưới Vũ Nương của Trương sinh là một việc làm hoàn toàn bình thường,

9


đúng với đạo lý ở đời. Nguyễn Dữ nhấn mạnh chi tiết này để khẳng định thêm về
giá trị, vẻ đẹp của Vũ Nương mà thôi.
Trong cuộc sống, vợ chồng họ rất hạnh phúc. Lấy nhau đã lâu mà không có
lúc nào có chuyện thất hoà quả là việc không dễ. Đó không chỉ do cố gắng của
một mình Vũ Nương được. Bởi hạnh phúc gia đình phải do tất cả các thành viên

cùng vun trồng xây đắp mới trở nên tốt đẹp được. Một người, dù có cố gắng đến
mức nào cũng không thể cứu vãn được nếu những người còn lại không ủng hộ.
Chúng ta có thể thấy điều đó ở phần sau của câu chuyện. Dù Vũ Nương có cố níu
kéo nhưng hạnh phúc gia đình không thể cứu vãn được khi Trương Sinh cố ý đạp
đổ nó. Như vậy có thể thấy rằng, Trương Sinh cũng hết lòng chăm chút nâng niu
tổ ấm của mình. Nguyễn Dữ nhấn mạnh tính hay ghen của Trương Sinh để làm nổi
bật sự giữ gìn khuôn phép của Vũ Nương, nhưng không có nghĩa ông phủ nhận
những cố gắng của Trương Sinh trong việc vun đắp hạnh phúc gia đình.
Như đã nói ở trên, vì không được học hành đầy đủ mà Trương Sinh phải đi
lính. Chi tiết này mở ra một hướng phát triển mới cho câu chuyện. Chàng từ biệt
mẹ già, vợ trẻ đang bụng mang dạ chửa để đi ra chiến trường. Khi tổ quốc lâm
nguy, chàng cũng sẵn sàng từ bỏ cuộc sống vinh hoa để ra chiến trường chiến đấu
giết giặc mang theo nỗi nhớ thương mẹ già vợ trẻ.
Khi trở về, mẹ già vừa mất, đứa con nhất định không nhận mình làm cha
khiến chàng đau đớn. Hãy đặt mình vào hoàn cảnh của Trương Sinh, chúng ta sẽ
lỹ giải được vì sao chàng lại hành động như vậy. Hơn nữa, lời bé Đản rất có lý
khiến chúng ta không thể không tin có “điều gì đó” mờ ám diễn ra.
- Đêm nào cha Đản cũng đến, mẹ đản đi cũng đi, mẹ đản ngồi cũng ngồi và chẳng
bao giờ bế Đản cả.
Chỉ có gian phu dâm phụ thì mới lén lút đi lại trong đêm. Nếu đường đường
chính chính thì làm gì phải đợi đến đêm mới đến. Còn việc không bế Đản là
đương nhiên, làm sao có thể bế bồng, ôm ấp đứa con của “tình địch được”!?
Nguyễn Dữ đã khéo léo đặt những lời nói đó vào miệng một đứa trẻ ngây thơ. Hơn
ai hết, lời của bé Đản khiến không chỉ Trương Sinh có thể kết luận rằng: Vũ
Nương đã ngoại tình.
Khi ghen tuông mấy ai còn đủ tỉnh táo và sáng suốt!? Hơn nữa, mẹ vừa
mất, vợ lại ngoại tình, còn nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau ấy?
Nỗi đau đớn khôn cùng ấy tất sẽ dẫn đến hành động thiếu suy nghĩ của
Trương Sinh. Chàng không thể chấp nhận một người vợ đã thất tiết. Đó là một
hành động tội lỗi không thể tha thứ trong xã hội phong kiến. Do vậy, việc đánh

đuổi Vũ Nương hoàn toàn có thể giải thích được.
Công bằng mà nói, cái chết của Vũ Nương có một phần lỗi của nàng. Tại
sao lại chỉ cho con cái bóng của mình và bảo đó là cha? Có người nói, việc làm đó
thể hiện mong muốn gắn bó như hình với bóng của nàng với chồng!? Nhưng một
đứa trẻ lên ba liệu có thể hiểu được ý nghĩa sâu xa đó? Thực tế đã chứng minh,
hành động đó chỉ đem đến một kết thúc bi thảm đối với nàng.

10


Khi Vũ Nương quyên sinh, Trương Sinh đã đi tìm xác nàng để chôn cất. Đó
là một hành động đáng trân trọng. Nó thể hiện tình cảm của chàng đối với người
vợ bất hạnh.
Vợ đi rồi, một mình chàng lầm lũi nuôi con. Khi nhận ra nỗi oan của vợ thì
mọi sự đã quá muộn. Mái ấm gia đình của chàng đã mãi mãi không còn nữa.
Chính chàng cũng là một nạn nhân bất hạnh của xã hội phong kiến. Bi kịch gia
đình ấy đâu phải chỉ mình Vũ Nương gánh chịu. Nỗi cô đơn, ân hận có lẽ sẽ theo
chàng đến hết cuộc đời.
Được Phan Lang báo tin, Trương Sinh đã lập đàn tràng giải oan cho Vũ
Nương tại bến Hoàng Giang. Đây là cố gắng cuối cùng của chàng để níu kéo hạnh
phúc đã mất. Chàng muốn chuộc lỗi với Vũ Nương, muốn xây dựng lại gia đình
vốn rất ấm êm, hạnh phúc.
Nhưng những gì đã mất thì khó có thể cứu vãn được. Hạnh phúc đã tan vỡ
không thể hàn gắn.
Kết thúc câu chuyện là một khoảng trống khiến chúng ta phải suy ngẫm
nhiều điều. Tất cả các nhân vật đều phải gánh chịu bi kịch của sự đổ vỡ. Không
chỉ Vũ Nương mà cả Trương Sinh, bé Đản đều là nạn nhân. Nó cho chúng ta một
chân lý: hạnh phúc gia đình không phải chỉ do một người gây dựng và vun đắp mà
nó là sự cố gắng của tất cả thành viên trong gia đình ấy. Trong “Chuyện người con
gái Nam Xương” không chỉ bé Đản, hay Trương sinh gây ra bi kịch mà có cả Vũ

Nương.
Do vậy, khi phấn tích, đánh giá về nhân vật Trương Sinh, chúng ta cần có cái nhìn
khách quan và đúng đắn hơn để hiểu một cách sâu sắc về điều mà tác giả muốn
gửi gắm.
Một số đề tham khảo:
Đề 2: Phân tích “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ.
Đề 3: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương”
của Nguyễn Dữ.
Gợi ý làm bài:
Phân tích nhân vật Vũ Nương cần chú ý một số nội dung sau:
1. Vũ Nương là một người phụ nữ đẹp người, đẹp nết: Điều đó được thể hiện qua
câu đầu tiên của truyện.
2. Vũ Nương là một người vợ hết lòng vun vén hạnh phúc gia đình, mong có một
gia đình hạnh phúc: Thể hiện ở việc luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng
thất hòa. Đặc biệt được thể hiện ở đoạn tiễn chồng đi lính và nỗi nhớ da diết khi xa
chồng: “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể
chân trời lại không thể nào ngăn được.

11


3. Nàng là người con dâu hiếu thảo: Thay chồng chăm sóc, phụng dưỡng mẹ
chồng. Lo ma chay chu tất khi bà qua đời. Điều đó được thể hiện qua lời nói của
mẹ chồng lúc lâm chung: “trời sẽ không phụ con như con đã không phụ mẹ”.
4. Vũ Nương phải chịu nỗi oan thất tiết nhưng nàng quyết đem cái chết để chứng
tỏ sự trong sạch của mình. Sống ở dưới thủy cung nhưng nàng vẫn đau đáu nhớ về
quê nhà và mong ước được giải oan…
Khi làm rõ được 4 nội dung trên, chúng ta sẽ có một bài văn hoàn chỉnh.
2. TRÍCH ĐOẠN LÀNG
Đề: Phân tích tình yêu làng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của

nhà văn Kim Lân
Gợi ý làm bài:
Ông Hai yêu cái làng Chợ Dầu của mình bằng cả tấm lòng. Điều đó được thể hiện
ở các nội dung: Ông thường xuyên khoe về cái làng của mình. Nó đã trở thành
một cái “tật” đáng yêu của ông. Ông buồn rầu khi phải xa cái làng của mình. Khi
nghe tin làng theo giặc, ông đau khổ, xấu hổ và trở thành một con người hoàn toàn
khác. Lúc nghe tin cải chính, ông vui mừng hớn hở, và lại tiếp tục đi “khoe” làng
của mình. Như vậy, để làm được đề văn này, chúng ta cần bám sát diễn biến tâm
lý của nhân vật ông Hai trước, trong và sau khi nghe tin về làng của mình. Có như
vậy, bài văn sẽ sinh động hấp dẫn hơn.
Bài làm tham khảo
Làng là truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân được viết trong kháng chiến
chống Pháp. Tác phẩm đã khắc họa tình yêu làng, yêu nước một cách hồn nhiên,
trong sáng và thánh thiện của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng
Tám. Tình cảm đó được khắc họa một cách đậm nét và sinh động qua hình tượng
nhân vật ông Hai trong Làng.
Ấn tượng đầu tiên mà ông Hai để lại cho người đọc chính là “tật” khoe làng
của ông. Ngày nào cũng vậy, ông Hai thường sang nhà bác Thứ để nói chuyện về
cái làng của mình. Đối với ông Hai, làng ông là nhất. Bất cứ thứ gì làng ông cũng
đều nhất hết. Trong con mắt của ông Hai, không đâu bằng làng quê, nơi chôn nhau
cắt rốn của mình. Tuy nhiên, cái “tật” khoe làng của ông Hai cũng thay đổi cùng
với sự thay đổi về nhận thức của người nông dân sau cách mạng tháng Tám.
Trước cách mạng, ông tự hào vì làng ông có cái sinh phần của cụ tổng đốc to nhất
vùng. Cái chân của ông bị tật cũng vì tham gia xây dựng cái sinh phần đó. Ông tự
hào vì mình đã góp phần để làm nên niềm tự hào của quê hương.
Ông Hai khoe làng ông toàn lát đá xanh: “trời mưa trời gió đi từ đầu làng
đến cuối xóm, bùn không dính đến gót chân…”

12



Sau cách mạng, ông khoe làng ông có “phòng thông tin tuyên truyền rộng
rãi, khang trang nhất vùng…”
Đặc biệt, ông Hai khoe làng một cách nhiệt thành. Ông không cần người
khác phải chú ý lắng nghe, cũng không cần biết họ có nghe hay không; ông chỉ nói
để thỏa niềm tự hào, nỗi nhớ da diết của mình đối với cái làng đã gắn bó với ông
gần trọn cuộc đời.
Kháng chiến chống Pháp nổ ra. Ông Hai hăng hái đào hào, đắp ụ với anh
em dân quân du kích. Ông lại đem hết sức mình để bảo về quê hương. Nhưng rồi,
đòi hỏi của kháng chiến, của bà con hàng xóm buộc ông phải đi tản cư. Ở nơi tản
cư, ông Hai nhớ quê quay quắt. Từ một người hoạt bát, vui vẻ, ông trở nên hay cáu
bẳn. Nỗi nhớ quê, nhớ anh em còn ở lại chiến đấu cứ dày vò ông. Nỗi nhớ ấy
chính là biểu hiện sinh động của lòng yêu quê hương, yêu cái làng Chợ Dầu thân
yêu của ông Hai.
Tình yêu ấy còn được thể hiện ở sự quan tâm đặc biệt của ông đối với
kháng chiến. Dù ông chưa đọc được nhiều nhưng vẫn cố gắng ra phòng thông tin
tuyên truyền để nghe đọc báo đã cho thấy điều đó. Ông “chúa ghét” những đứa
cậy mình biết chữ mà không đọc to lên để ông có thể biết được tình hình. Cái sự
“ghét” rất tự nhiên và đáng yêu của ông Hai cho thấy tình yêu nước, sự gắn bó
thủy chung của người nông dân Việt Nam với cuộc kháng chiến thần thánh của
dân tộc.
Nhưng có lẽ, tình yêu làng của ông Hai thể hiện rõ nhất khi ông nghe được
tin làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Khi nghe được tin ấy, ông Hai như người mất
hồn. Bao nhiêu niềm tin, bao nhiêu niềm tự hào về quê hương bỗng chốc sụp đổ.
Nếu việc khoe làng cho độc giả thấy được tình yêu làng tha thiết của ông thì nỗi
đau khổ khi làng theo giặc lại thể hiện một cách sâu sắc tình yêu nước, gắn bó với
kháng chiến của ông Hai.
Từ khi nghe tin làng theo giặc, ông Hai như người mất hồn. Ông chỉ dám
quanh quẩn ở nhà và rất sợ ai đó nhắc đến cái làng của mình. Cuộc trò chuyện với
đứa con út đã làm nổi bật tâm trạng của ông Hai. Ông trò chuyện với con, hỏi con

về làng của mình, những lời đáp ngây thơ, hồn nhiên của con như cứa vào trái tim
ông. Khó có thể nói hết được tâm trạng của người đã gắn bó gần trọn cuộc đời với
cái làng của mình, luôn coi làng mình là một “thiên đường”, không đâu có thể
sánh bằng phải đối diện với một sự thật khác: làng theo giặc.
Dù thất vọng, dù đau khổ đến cùng cực nhưng ông Hai vẫn kiên quyết đi
theo kháng chiến, theo cụ Hồ Chí Minh: “Làng thì yêu thật nhưng làng mà theo
tây rồi thì cũng phải thù”.
Phải có một tình yêu nước lớn lao như thế nào, người ta mới có thể “thù”
cái làng của mình được. Chi tiết này đã cho người đọc thấy được tình yêu nước tha
thiết của ông Hai nói riêng, của người nông dân trong kháng chiến chống Pháp nói
chung.
13


Đau khổ, thất vọng bao nhiêu, ông Hai càng vui sướng và hạnh phúc bấy
nhiêu khi nghe được tin cải chính làng mình theo giặc. Sau khi đi nghe ông chủ
tịch xã lên cải chính tin làng mình theo giặc, ông Hai như người chết sống lại. Ông
lại tiếp tục đi “khoe” làng nhưng lần này, ông khoe chuyện cái nhà của mình bị
giặc đốt: “Bác Thứ đâu rồi? Bác Thứ làm gì đấy? Tây nó đốt nhà tôi rồi bác Thứ
ạ! Đốt sạch! Ông chủ tịch xã tôi vừa lên cải tính. Cải chính cái tin làng Chợ Dầu
theo giặc ấy mà! Láo! Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả!”
Đến đây, nhiều người sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi một người nông dân như
ông Hai lại có được tâm trạng vui sướng và hạnh phúc khi nghe tin nhà mình bị
đốt sạch, đốt hết! Cả cuộc đời của người nông dân may ra cũng chỉ làm được một
căn nhà. Giờ giắc nó đốt mất rồi, gia đình, vợ con sẽ sống ở đâu? Nhưng với ông
Hai, đó lại là một niềm vui vô bờ. Thậm chí, ông còn nhấn mạnh chuyện Tây nó
“đốt sạch…”. Ông Hai vui không phải vì bị mất của, ông vui vì một nhẽ khác đáng
trân trọng và tự hào hơn rất nhiều: làng ông không theo giặc. Cái tin Tây đốt phá
làng và nhà ông đã thành tro bụi càng chứng tỏ làng ông không theo giặc. Niềm
vui đó lớn lao hơn rất nhiều việc nhà ông bị cháy. Điều đó càng làm nổi bật tình

yêu làng, yêu nước chung thủy, thiết tha của ông Hai.
Nói tóm lại, truyện ngắn Làng của Kim Lân đã khắc họa một cách sinh
động tình yêu làng, yêu quê hương chân thành, đáng quý của người nông dân
trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược. Nó trả lời cho câu hỏi: Vì sao dân
tộc Việt Nam có thể chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Đề 2: Phân tích truyện ngắn Làng của nhà văn Kim Lân
Gợi ý làm bài: Đề bài này có thể làm như nội dung của bài trên. Bởi trong trường
hợp này, diễn biến tâm trạng của ông Hai xuyên suốt, thể hiện toàn bộ nội dung
của truyện.
Đề 3: Vì sao ông Hai khoe nhà mình bị cháy, làng mình bị đốt? Bằng việc phân
tích diễn biến tâm trạng của ông Hai từ khi nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc đến
khi được tin nhà mình bị đốt để trả lời cho câu hỏi trên.
Gợi ý làm bài: Đây là dạng đề phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật. Cần
bám sát nội dung của truyện để đưa ra những nhận định đúng đắn và hợp lý nhất.
Ông Hai đau khổ, xấu hổ khi nghe tin làng theo giặc. Tâm trạng ấy thể hiện tình
yêu nước tha thiết của ông. Và cũng chính vì lòng yêu nước ấy mà ông cảm thấy
hạnh phúc và sung sướng khi nghe tin làng theo giặc. Ông lại đi khoe làng mình,
khoe nhà mình bị đốt để chứng tỏ làng ông, và bản thân ông không theo giặc. Nỗi
đau mất nhà không lớn bằng nỗi đau mất nước. Chính vì vậy, ông cảm thấy hạnh
phúc khi giặc đốt nhà mình. Đó là cách tốt nhất để ông chứng tỏ lòng yêu nước
của mình.
Về cơ bản, bài viết vẫn là phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai.

14


3. LẶNG LẼ SA PA CỦA NGUYỄN THÀNH LONG
Đề 1: Phân tích truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long
Bài viết tham khảo
Lặng lẽ Sa Pa là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Thành Long.

Tác phẩm đã khắc họa thành công hình ảnh những con người Việt Nam XHCN
trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ anh hùng của dân tộc.
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Thành Long đặt cho tác phẩm của mình là
Lặng lẽ Sa Pa. Sự lặng lẽ đó không phải đến từ thiên nhiên mà đến từ chính những
con người bình thường đang cống hiến công sức một cách thầm lặng nhưng vô
cùng lớn lao vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhờ có sự lặng lẽ đó,
dân tộc Việt Nam mới đủ sức làm nên những điều kỳ diệu làm chấn động năm
châu. Bởi vậy, chúng ta càng cảm thấy tự hào hơn với những con người lặng lẽ ấy.
Truyện chỉ vẻn vẹn có 4 nhân vật xuất hiện trực tiếp: bác lái xe, người họa sỹ già,
cô kỹ sư trẻ và anh thanh niên làm việc trên đỉnh Yên Sơn. Điều đặc biệt là các
nhân vật đều không có một tên gọi cụ thể. Tác giả dùng các đặc điểm về nghề
nghiệp để gọi tên nhân vật. Đây là một dụng ý nghệ thuật độc đáo của Nguyễn
Thành Long. Nhờ cách gọi tên đó, các nhân vật được miêu tả đều đại diện cho một
thế hệ, một tầng lớp trong xã hội. Ông họa sỹ già, bác lái xe, đại diện cho tầng lớp
đi trước, những người đã cống hiến cả cuộc đời mình một cách thầm lặng cho tổ
quốc. Anh thanh niên và cô kỹ sư trẻ là đại diện của thế hệ thanh niên tràn đầy
hoài bão và ước mơ được cống hiến sức lực của mình vào công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước. Tất cả họ tạo nên một xã hội thu nhỏ mà ở đó, tất cả mọi người
đều đang cố gắng đem hết sức mình để dựng xây tổ quốc.
Nhân vật để lại ấn tượng mạnh nhất với người đọc chính là anh thanh niên.
Nguyễn Thành Long để anh thanh niên xuất hiện thông qua lời kể của bác lái xe.
Đó là một “người cô độc nhất thế gian” và anh ta rất “thèm” người. Chính cái cảm
giác “thèm” người ấy đã tạo ấn tượng mạnh mẽ đối với ông họa sỹ già và cô kỹ sư
trẻ. Chính vì vậy, sự xuất hiện của anh đã gây sự tò mò cho độc giả. Xe dừng lại,
anh thanh niên xuất hiện với vẻ nhanh nhẹn, tự nhiên, không có gì đặc biệt cả.
Tuy nhiên, điều khiến mọi người khâm phục anh chính là nghị lực sống và quyết
tâm vượt qua những khó khăn khi phải sống một mình ở trên đỉnh núi Yên Sơn,
tách biệt hoàn toàn với thế giới nhộn nhịp ngoài kia. Vẻ đẹp của anh thanh niên
toát lên từ lòng yêu đời, yêu nghề và ý thức trách nhiệm đối với công việc và đất
nước. Đối với anh, sống một mình trên đỉnh núi quanh năm mây phủ không phải là

cô đơn bởi: “khi làm việc, ta với công việc là đôi, sao lại gọi là cô đơn được”.
Anh thanh niên là người cởi mở, khao khát được gặp gỡ và trò chuyện với mọi
người. Dù mới chỉ gặp ông họa sỹ già và cô kỹ sư trẻ chưa lâu nhưng anh luôn tỏ
ra gần gũi và thân thiết như những người trong gia đình. Sự đồng cảm trong công

15


việc và lý tưởng đã kéo họ lại gần nhau, coi nhau như những người thân trong gia
đình.
Trong cuộc sống lẻ loi của mình, anh coi sách là người bạn thân thiết. Những cuốn
sách góp phần bồi bổ tâm hồn, giúp anh yêu đời, yêu nghề hơn. Đối với anh, được
sống và làm việc trên đỉnh Yên Sơn là niềm hạnh phúc vô bờ.
Dù đã và đang cống hiến cả tuổi trẻ của mình cho công việc khí tượng nhưng anh
thanh niên vẫn cảm thấy mình còn kém cỏi. Khi người họa sỹ già tỏ ý muốn vẽ
mình, anh đã vui vẻ giới thiệu cho ông họa sỹ những người, theo anh là đáng vẽ
hơn rất nhiều. Sự khiêm tốn đó càng làm tăng vẻ đẹp của người thanh niên trong
Đề 2: Phân tích nhân vật anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành
Long
Gợi ý làm bài: Với một bài phân tích nhân vật, học sinh cần chỉ ra các đặc điểm
nổi bật của nhân vật cần phân tích. Rồi bằng các dẫn chứng, lý lẽ để làm nổi bật
các đức tính, phẩm chất đó của nhân vật. Với đề bài này, chúng ta có thể thấy
được các đặc điểm cơ bản của anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa. Thứ nhất, anh
là một người “cô độc nhất thế gian”. Tình yêu nghề, ý thức trách nhiệm đã giúp
anh vượt qua được những khó khăn để gắn bó với công việc khí tượng với đỉnh
Yên Sơn vắng lặng. Anh Thanh niên còn là người chu đáo, biết vun vén cuộc sống
của bản thân. Dù ở một mình nhưng anh vẫn nuôi gà, trồng hoa để làm đẹp cho
cuộc sống của mình. Đặc biệt, anh Thanh Niên hiện lên là một người cởi mở, thích
giao lưu, trò chuyện với mọi người. Sự xuất hiện của anh là tiêu biểu cho thế hệ
thanh niên Việt Nam đang ngày đêm sống, chiến đấu vì bình yên tổ quốc.


3. Phân tích nhân vật ông Sáu trong Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng
để thấy được tình cảm cha con trong chiến tranh
BÀI LÀM
Chiếc lược ngà là một trong những tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Nguyễn
Quang Sáng. Nhân vật ông Sáu để lại những ấn tượng vô cùng tốt đẹp trong lòng
người đọc. Tình cảm mà ông dành cho cô con gái bé nhỏ khiến độc giả vô cùng
xúc động. Đó là biểu hiện thiêng liêng nhất của tình cha con trong chiến tranh.
Ông Sáu là một người chiến sỹ anh dũng. Ông phải sống xa nhà suốt 8 năm
và chưa một lần gặp mặt cô con gái bé nhỏ. Dù mấy lần người vợ có lên thăm ông
ở chiến khu nhưng vì đường xa không thể đưa con gái đi theo được. Dù rất muốn
gặp con gái nhưng ông cũng đành phải rằn lòng để chờ ngày trở về.

16


Cái khao khát được gặp con gái bị dồn nén suốt 8 năm khiến ông không thể
giữ được bình tĩnh khi được về thăm nhà. Khi ghe chưa cập bến, ông đã nhảy lên
bờ và chạy đến bên cô bé chừng tám tuổi đang chơi trước sân mà linh tính mách
bảo đó chính là con gái ông.
Ông Sáu giơ hai tay phía trước để đón cô con gái vào lòng. Cứ ngỡ, sau
chừng ấy năm xa cách, con bé sẽ xà vào lòng ông, sẽ ôm ông thật chặt cho thỏa
nỗi nhớ mong. Nhưng không, Thu tỏ ra sợ hãi và chạy vào trong nhà gọi má. Vết
sẹo dài trên mặt của ông đã làm con bé hoảng sợ. Ông Sáu buông thõng hai tay
một cách đầy bất lực.
Trong suốt ba ngày ở nhà, ông Sáu cùng vợ cố gắng tìm mọi cách để Thu
đến gần với ông hơn. Nhưng càng cố gắng, bé Thu càng cố đẩy ông ra xa mãi. Má
yêu cầu thu gọi ông Sáu vào ăn cơm nhưng nó nhất định không gọi. Khi bị dọa
đánh, Thu mới miễn cưỡng gọi nhưng lại nói trống không. Lần khác, má giao cho
Thu việc nấu cơm và có «gợi ý » việc nhờ ông Sáu chắt nước giùm. Tuy nhiên,

Thu nhất định không chịu. Sự ương ngạnh ấy của bé Thu khiến ông Sáu cảm thấy
đau khổ. Còn đau khổ nào bằng một nào bằng một người cha hết lòng yêu thương
con lại bị chính cô con gái ấy chối từ.
Có lẽ vì vậy, trong bữa cơm cuối cùng với con gái, khi ông gắp cho con
miếng trứng cá, bị Thu hất ra ngoài, ông đã đánh con gái một cái vào mông. Hành
động này khiến ông ân hận mãi. Thế mới biết, tình yêu của người cha dành cho
con gái lớn lao và ấm áp biết chừng nào.
Dù vậy, sự ương ngạnh của bé Thu cũng không hề đáng trách. Bởi đó là
biểu hiện rõ ràng nhất của tình yêu mà Thu dành cho ba. Vì quá yêu ba nên nó
kiên quyết giữ tiếng gọi ba ở trong lòng và không gọi bất cứ ai khác là « ba ».
Nguyễn Quang Sáng đã rất tài tình khi sáng tạo chi tiết vết sẹo trên mặt của
ông Sáu. Đây chính là dấu tích của chiến tranh. Nó cũng chính là nguyên nhân làm
cho bé Thu không nhận ông Sáu là ba. Vết sẹo có thể coi là một trong những chi
tiết đắt giá nhất của Chiếc lược ngà. Nó vừa tạo ra những tình tiết cười ra nước
mắt, vừa có sức nặng tố cáo. Chính chiến tranh đã khiến cha con ông Sáu phải xa
nhau. Và cũng chính hậu quả của chiến tranh khiến hai cha con không gặp được
nhau dù đã ở cùng nhau suốt ba ngày.
Khi được bà ngoại nói cho biết vì sao có vết sẹo trên mặt ba, Thu cảm thấy
rất hối hận. Nó trằn trọc không ngủ được và thở dài như người lớn. Sáng hôm sau
Thu đòi về sớm. Có lẽ nó muốn về thật nhanh để được gặp ba. Nhưng trớ trêu
thay, ngay cái giây phút được gặp ba ấy, cũng là giây phút hai cha con phải chia
tay.
Giây phút chia tay, ông Sáu không dám đến gần con dù có lẽ ông rất muốn
ôm con vào lòng. Nhưng tất cả mọi người đều bất ngờ khi nghe tiếng gọi
« ba...a... » của Thu. « Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và xé cả ruột
gan mọi người, nghe thật xót xa ».
17


Đây là tiếng gọi đầu tiên và cũng là tiếng gọi cuối cùng ông Sáu được nghe

từ miệng cô con gái duy nhất của mình. Nó cũng là lần đầu tiên tiếng gọi « ba »
của Thu bị dồn nén suốt 8 năm qua « nổ tung » ra thành tiếng. Có lẽ vì thế mà nó
càng làm cho người đọc xót xa. Có lẽ, nhiều người sẽ không cầm nổi nước mắt khi
đọc những dòng này. Bởi đó độc giả có thể cảm nhận được tình cảm cha con sâu
nặng và thiêng liêng trong tiếng gọi bình dị ấy !
Thu tìm mọi cách để giữ ba ở nhà. Nó dùng cả hai tay, hai chân, để quặp
chặt lấy ông Sáu. Thu hôn lên khắp mặt ông, hôn lên vết sẹo đã khiến bé không
nhận ra ba mình trong suốt những ngày qua. Nhưng ông Sáu không thể ở nhà dù
rất muốn được ôm con gái lâu hơn !
Trước khi đi, Thu muốn ông Sáu mua cho một cây lược. Đây là yêu cầu
đầu tiên mà Thu nói với ba của mình. Đây cũng là yêu cầu duy nhất mà bé có thể
nói được với ba. Cuộc chia tay đầy xúc động của cha con ông Sáu khiến chúng ta
không khỏi ngậm ngùi. Độc giả càng thấm thía hơn sự thiêng liêng, bền chặt của
tình phụ tử.
Tuy nhiên, tình yêu của ông Sáu dành cho con gái được thể hiện đậm nét
nhất ở phần sau của truyện. Ở chiến khu, ông Sáu đau khổ và hối hận mãi vì đã
đánh Thu một cái. Thế mới biết, khi phải đánh con, cha mẹ mới là người chịu đau
nhiều nhất !
Một hôm, ông Sáu kiếm được một khúc ngà voi. Ông vui sướng bắt tay vào
làm cho con gái một cây lược. Có lẽ, ông muốn cây lược của con gái phải rất đặc
biệt và do chính đôi bàn tay ông làm ra. Tình yêu dành cho con đã biến ông Sáu
trở thành một « nghệ nhân ». Ông cần mẫn và tỉ mẩn làm từng cái răng lược như
một người thợ bạc.
Khi làm xong cây lược, ông càng mong được trở về nhà. Mỗi khi nhớ con
gái, ông thường mang cây lược ra ngắm rồi trà lên mái tóc mình cho thêm bóng,
thêm đẹp. Cây lược không chỉ là kết tinh tình cảm mà ông Sáu dành cho con. Nó
còn trở thành cầu nối tình cảm giữa cha con ông Sáu.
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Quang Sáng đặt tên cho truyện ngắn
của mình là Chiếc lược ngà. Bởi chiếc lược chính là minh chứng hùng hồn nhất
cho tình yêu mà ông Sáu dành cho cô con gái duy nhất của mình.

Tuy nhiên, một lần nữa, chiến tranh lại không cho ông Sáu thực hiện được
ước nguyện gặp con gái. Ông đã hi sinh trước khi có điều kiện trở về nhà lần thứ
hai. Trước khi chết, dường như tình phụ tử mới giúp ông có đủ sức lực để đưa tay
vào trong ngực, rút cây lược và trao lại cho bác Ba. Ánh nhìn của ông Sáu như
một di chúc không lời muốn người bạn đem cây lược về cho Thu. Cây lược trở
thành di vật duy nhất mà ông Sáu để lại cho con gái. Di vật đó chính là tình yêu vô
bờ bến, vô điều kiện mà ông dành cho đứa con gái duy nhất của mình.
Nguyễn Quang Sáng đã rất thành công khi xây dựng những tình huống
truyện vừa éo le, vừa độc đáo. Qua những tình huống đó, độc giả có thể cảm nhận
18


được sự thiêng liêng và bền chặt của tình cha con trong chiến tranh. Đặc biệt, chi
tiết vết sẹo trên mặt của ông Sáu có thể coi là một sáng tạo đắt giá của Nguyễn
Quang Sáng. Nó vừa tạo giá trị tố cáo cho truyện, vừa đem đến những giá trị nhân
văn sâu sắc mà thấm thía cho Chiếc lược ngà.
Gấp lại những trang truyện đầy xúc động, điều đọng lại trong lòng độc giả
chính là sức sống kỳ diệu của tình phụ tử. Chiến tranh có thể hủy hoại cuộc sống
của con người nhưng có một thứ mà chiến tranh không thể tiêu diệt được. Đó
chính là tình phụ tử, là tình cảm gia đình gắn bó tha thiết.

Đề 4 : Phân tích nhân vật Phương Định trong Những ngôi sao xa xôi của nhà
văn Lê Minh Khuê
Gợi ý : Khi phân tích nhân vật này cần làm rõ 2 luận điểm cơ bản
- Vẻ đẹp hình thức của Phương Định
- Vẻ đẹp tâm hồn của Phương Định nói riêng, của thế hệ thanh niên thời chống Mỹ
nói chung
BÀI LÀM
Những ngôi sao xa xôi là một trong những truyện ngắn đầu tay của nhà văn
nữ Lê Minh Khuê. Qua truyện ngắn này, Lê Minh Khuê muốn là nổi bật lên vẻ

đẹp, sự dũng cảm của các cô gái thanh niên xung phong mà nổi bật nhất là nhân
vật Phương Định.
Truyện kể về nhốm nữ trinh sát mặt đường gồm ba cô gái Nho, Thao và
Phương Định. Công việc của họ là đo khối lượng đất đá và phá những quả bom
chưa nổ trên một trọng điểm của tuyến đường Trường Sơn lịch sử. Công việc nguy
hiểm ấy có thể cướp đi mạng sống của họ bất cứ lúc nào. Dù sống ở nơi mà sự
sống và cái chết chỉ cách nhau có một sợi chỉ nhưng cả ba cô gái đều luôn yêu đời,
hồn nhiên và đầy mơ mộng. Họ gắn bó, yêu thương và đùm bọc nhau dù mỗi
người có một sở thích, một tính cách khác nhau. Đặc biệt, nhân vật Phương Định
để lại trong lòng độc giả những ấn tượng không thể phai mờ.
Phương Định là một cô gái Hà Nội vào chiến trường đã ba năm nhưng vẫn
giữ được vẻ đẹp hồn nhiên, duyên dáng của một thiếu nữ Hà thành. Phương Định
cũng rất có ý thức về vẻ đẹp của mình. Cô tự nhận xét : « Nói một cách khiêm tốn,
tôi là một cô gái khá » với bím tóc dầy, tương đối mềm, một cái cổ cao kiêu hãnh
như đài hoa loa kèn. Đặc biệt, đôi mắt của Phương Định được các anh bộ đội nhận
xét rằng : « Cô có đôi mắt sao mà nhìn xa xăm ».

19


Phương Định thích làm đẹp, thích ngắm mình trong gương nhưng lại rất
tinh tế và kín đáo. Khi các cô gái khác xúm nhau đối đáp với anh lái xe khéo mồm
nào đó thì cô thường đứng ra xa và nhìn đi nơi khác trông có vẻ kiêu kỳ nhưng
thực ra cô chỉ làm bộ vậy thôi. Bởi trong mắt Phương Định, người đẹp nhất là
những người chiến sỹ giải phóng quân.
Không chỉ đẹp, Phương Định còn rất thích hát. Cô thuộc rất nhjiều bài hát
và rất thích « chế lời » cho những ca khúc ấy.
Tuy nhiên, điều để lại ấn tượng mạnh mẽ nhất của nhân vật Phương Định
chính là những nét tính cách vô cùng đáng yêu, đáng trân trọng.
Đầu tiên, đó là tinh thần trách nhiệm cao với công việc, chiến đấu dũng

cảm không sợ hi sinh của Phương Định cũng như những đồng đội của mình. Sự
dũng cảm của Phương Định được thể hiện qua những lần phá bom. Cách kể
chuyện dứt khoát và có phần hài hước càng làm nổi bật sự dũng cảm bên trong cô
gái xinh đẹp ấy.
Ngay cả khi đối mặt với nguy hiểm chết người, Phương Định vẫn muốn
mình đẹp hơn trong mắt những anh lính cao xạ. Cô không đi khom bởi cô biết
những anh lính không thích các cô gái đi khom trong khi có thể đoàng hoàng mà
bước tới.
Trong lần phá bom, Phương Định dùng xẻng nhỏ. Quả bom nóng lên, chiếc
xẻng chạm vào đất đá phát ra những tiếng sắc đến gai người. Quả bomg có thể nổ
bất cứ lúc nào. Nhưng Phương Định không hề tỏ ra sợ hãi. Cái mà cô suy nghĩ
không phải là cái chết mà là làm thế nào để quả bom nổ đúng dự định. Và nếu nó
không nổ thì làm thế nào để « tiếp cận » và kích nổ lần thứ hai. Nói cách khác,
Phương Định luôn cố gắng tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ dù có phải trả
giá bằng tính mạng. Đó có thể coi là biểu hiện rõ ràng của lòng yêu nước của thế
hệ thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Điểm đáng yêu thứ hai của Phương Định chính là tinh thần đồng chí, đồng
đội gắn bó tha thiết. Phương Định rất quan tâm đến hai người bạn chiến đấu của
mình. Chỉ có quan tâm bằng một tình yêu thương vô đièu kiện, Phương Định mới
có thể hiểu được tính cách và sở thích của từng người.
Khi Nho bị thương, cả chị Thao và Phương Định đều hoảng hốt. Chị Thao
vấp ngã vì cố chạy đến chỗ Nho. Người đọc xúc động khi thấy chị Thao nghẹn
ngào chứng kiến Phương Định moi đất bế nho lên. Ngược lại, Phương Định tìm
mọi cách để cứu chữa cho Nho. Cô nhanh chóng đung nước để rửa vết thương,
pha sữa cho Nho uống. Và khi mưa xuống, những viên đá đầu tiên mà Phương
Định nhắt ở cửa hang là dành cho Nho. Có lẽ, chính lúc Nho bị thương, tình đồng
đội lại càng trở nên gắn bó và thắm thiết hơn lúc nào hết. Tình cảm đó không được
thốt ra bằng lời mà được thể hiện quả những hành động, cử chỉ chăm sóc nhau chu
đáo, thấm thía nghĩa tình.


20


Không chỉ vậy, Phương Định còn là một cô gái có tâm hồn nhạy cảm, trong
sáng và lãng mạn. Cơn mưa đá đột ngột đến trên cao điểm đầy bom đạn ấy khiến
Phương Định nhớ về những kỷ niệm ngày còn sống yên bình trong căn nhà nhỏ
giữ lòng Hà Nội. Những kỷ niệm cũ ùa về trong tâm hồn cô. Đó là kỷ niệm về mẹ,
về tiếng rao bán xôi buổi sáng, tiếng trẻ con đùa nghịch, về những đêm trời mưa,
đường phố như những dòng sông đen. Đặc biệt, trong ký ức của Phương Định,
những ngôi sao hiện lên trong bầu trời thành phố chợt hiện về trong trái tim cô. Đó
có lẽ là những mơ mộng, những hoài bão mà một cô gái Hà thành như Phương
Định đã « cất giấu » trước khi lao vào chiến trường, chiến đấu vì tổ quốc.
Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà Lê Minh Khuê đặt cho tác phẩm của
mình là Những ngôi sao xa xôi. Có lẽ, chính những cô gái như Phương Định, Nho,
Thao là những ngôi sao xa xôi rực sáng lung linh giữ bầu trời cách mạng Việt
Nam.
Qua nhân vật Phương Định, độc giả càng hiểu kỹ hơn về thế hệ trẻ Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Họ sẵn sàng « sẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước mà lòng phơi phới dậy tương lai ».
Điểm nổi bật nhất trong truyện ngắn này là cách lựa chọn ngôi nghể. Việc
để nhân vật Phương Định là người kể chuyện khiến cho những sự việc, nhân vật
trở nên chân thực và sống động hơn. Đặc biệt, qua ngôn ngữ kể chuyện đầy cá tính
và hài hước, người đọc cũng có thể hình dung được vẻ đẹp tâm hồn, sự vô tư,
trong sáng nhưng cũng rất cá tính của Phương Định.
Có thể nói, qua Những ngôi sao xa xôi, Lê Minh Khuê đã làm nổi bật lên vẻ
đẹp của những cô gái thanh niên xung phong trong cuộc kháng chiến chống Mỹ
mà tiêu biểu là nhân vật Phương Định. Đó có thể coi là một hình ảnh đẹp cho thế
hệ trẻ Việt Nam học tập và noi theo.
Đề 5 : Phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
Đồng chí của Chính Hữu là một trong những bài thơ đặc sắc của phong trào

thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Qua tác phẩm này, Chính Hữu đã dựng
lên bức « tượng đài nghệ thuật bằng thơ » về hình ảnh người lính nông dân Việt
Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
Mở đầu bài thơ, Chính Hữu chia sẻ về cơ sở của tình đồng chí
Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá,
Tôi với anh đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau
Súng bên súng đầu sát bên đầu

21


Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!
Họ đến từ những miền quê khác nhau. Anh từ nơi « nước mặn đồng chua »,
tôi đến từ chỗ « đất cày lên sỏi đá ». Dù quê hương khác nhau, nhưng cả « anh »
và « tôi » đều có chung cái nghèo. Có lẽ, cái cảnh ngộ chung ấy khiến cho những
người lính dễ thông cảm và chia sẽ với nhau nhiều hơn.
Từ những phương trời xa lạ, họ tập hợp cùng nhau. Tình yêu nước, ý chí
chiến đấu bảo vệ quê hương đã kéo họ đến với nhau. Chính Hữu rất tinh tế khi sử
dụng từ « đôi » chứ không phải từ hai. Bởi « đôi » là một sự gắn bó không thể tách
rời. Người đọc cũng có thể dễ dàng nhận ra, nếu đổi vị trí của từ « tôi » và từ
« anh » thì ý nghĩa của câu thơ vẫn không hề thay đổi. Rõ ràng, tôi và anh là một
« đôi » không thể tách rời. Bởi «tôi » với anh cùng sát cánh bên nhau trong những
ngày luyện tập.
Không chỉ vậy, những người lính cùng nhau chia sẻ những thiếu thốn của
cuộc đời người lính trong những năm tháng đầu tiên của cuộc kháng chiến chống
Pháp. «Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ ». Những thiếu thốn khó khăn ấy lại
càng khiến họ hiểu nhau hơn, trở thành tri kỷ của nhau.

Và, hai tiếng « đồng chí » bất lên một cách tự nhiên đầy tình cảm. Bởi đó
không chỉ đơn thuần là tiếng gọi của những người cùng chí hướng. Đó còn là kết
tinh của sự cảm thông, sự sẻ chia và đồng cảm. Vì thế, hai tiếng « đồng chí » vang
lên ở câu thơ thứ 7 như một phát hiện, một kết luận đầy trìu mến và yêu thương.
Có lẽ vì vậy, tình đồng chí có sức mạnh rất lớn giúp những người lính vượt
qua những khó khăn của đời lính để chiến đấu và chiến thắng.
Đầu tiên, những người chiến sỹ trong kháng chiến chống Pháp chia sẻ với
nhau những tâm sự sâu kín trong lòng
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Những người lĩnh ra đi gửi lại quê hương «mảnh ruộng chưa cày » cho
người thân. Họ ra đi với một thái độ dứt khoán. Từ « Mặc kệ » thể hiện thái độ
kiên quyết của người lính khi khoáng áo xanh ra chiến trường. Nhưng dù đã «mặc
kệ » nhưng họ vẫn cảm nhận được cái « lung lay » của căn nhà tranh xiêu vẹo
trong gió. Nỗi nhớ quê hương, nỗi nhớ nhà vẫn cứ đong đầy trong khóe mắt.
Những người lính chia sẻ với nhau nỗi nhớ ấy. Chính Hữu không nói đến
« tôi ». Bởi nỗi nhớ của anh cũng chính là nỗi nhớ của tôi. Những tâm sự của anh
cũng chính tâm sự của tôi. Có lẽ, khi chia sẻ những người lính sẽ cảm thấy vơi đi
phần nào nỗi nhớ nhà.

22


Không chỉ vậy, tình đồng chí, đồng đội còn giúp những người lính vượt qua
những khó khăn của đời lính
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần anh có vài miếng vá

Miệng cười buốt giá
Chân không giầy
Thương nhau tay lắm lấy bàn tay
Tôi với anh cùng nhau vượt qua những cơn sốt rét rừng khủng khiếp. Cả tôi
và anh đều ‘biết’, đều trải qua những trận sốt rét thập tử nhất sinh. Và điều đó
khiến họ yêu nhau hơn, gắn bó với nhau hơn.
Không chỉ vậy, những người lính nông dân còn chia sẻ với nhau những
thiếu thốn về vật chất trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Đó
là những khó khăn của áo rách, quần vá, của ‘chân không giầy’ trong những đêm
buốt giá.
Kho khăn là vậy nhưng họ vẫn ‘cười’. Cái cười buốt giá ấy mới đáng quý
làm sao. Người đọc có thể cảm nhận được nụ cười gượng gạo trên những đôi môi
nứt nẻ vì giá rét của những người lính. Trong khó khăn, thiếu thốn họ vẫn cười họ
cười vào cái lạnh thấu xương của đêm rừng. Họ cười vào những thiếu thốn khó
khăn của áo rách, quần vá, của chân không giầy. Cái cười ấy cho độc giả cảm
nhận được sự lạc quan trong tâm hồn của những người chiến sỹ.
Đặc biệt, trong thiếu thốn họ vẫn nắm tay nhau. Chỉ cần cái nắm tay ấy,
mọi thiếu thốn về vật chất trở nên vô nghĩa. Họ nắm tay nhau nhau để truyền cho
nhau hơi ấm, truyền cho nhau sức mạnh vượt qua những khó khăn của cuộc đời
người lính. Cái nắm tay ấy như xiết chặt hơn tình đồng chí đồng đội gắn bó keo
sơn.
Đặc biệt, vẻ đẹp rực rỡ và lãng mạn của khổ thơ cuối đem đến cho bài thơ
vẻ đẹp lãng mạn trên cái hiện thực khốc liệt của cuộc kháng chiến. Trong đêm
đông « rừng hoang sương muối’, những người lính vẫn đừng cạnh nhau ‘chờ’ giặc
tới. ‘Chờ’ diễn tả trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Và có lẽ khi đứng cạnh nhau như
vậy, những người lính vẫn nắm chặt tay nhau. Cái nắm tay thấm đẫm tình đồng
đội ấy giúp họ vượt qua được những khó khăn của cuộc kháng chiến để chiến đấu
và chiến thắng quân thù.
Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới

Đầu súng trăng treo
23


Trong khoảnh khắc chờ giặc tới ấy, xuất hiện ba hình ảnh : người lính,
vầng trăng và cây súng. Đây có thể coi là hình ảnh lãng mạn nhất của bài thơ.
Những người lĩnh vẫn đứng cạnh nhau, nắm tay nhau để truyền cho nhau hơi ấm
vượt qua cái rét thấu xương của rừng hoang sương lạnh. Trong khoảnh khắc ấy,
vầng trăng xuất hiện một cách vô cùng ý nghĩa.
Sự xuất hiện của vầng trăng không chỉ tạo cho bài thơ sự lãng mạn mà nó
còn có ý nghĩa biểu tượng vô cùng sâu sắc. Vầng trăng là biểu tượng của cuộc
sống thanh bình, cây súng là biểu tượng của chiến tranh. Những người chiến sỹ
mong muốn có một cuộc sống hòa bình và họ sẵn sàng chiến đấu để giành lấy
cuộc sống ấy. Hình ảnh ở khổ cuối của bài thơ giúp chúng hiểu hơn về nguyên
nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Chúng ta càng thêm
yêu hơn, thêm cảm phục hơn những người chiến sỹ đã hi sinh để chúng ta có được
cuộc sống yên bình như hôm nay.
Có thể nói, Chính Hữu đã dựng lên bức tượng đài nghệ thuật bằng thơ về
hình ảnh người lính nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Đọc bài
thơ, thế hệ trẻ ngày nay như hiểu hơn về sức mạnh kỳ diệu giúp cho dân tộc ta
chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Đề 6 : Cảm nhận của em về « Bài thơ về tiểu đội xe không kính » của Phạm
Tiến Duật
BÀI LÀM
Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một trong những sáng tác tiêu biểu của
nhà thơ Phạm Tiến Duật. Thông qua hình ảnh những chiếc xe không kính, Phạm
Tiến Duật ca ngợi vẻ đẹp của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường
Sơn lịch sử.
Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính.
Không có kính không phải vì xe không có kính

Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Phạm Tiến Duật đã rất dũng cảm khi đưa hình ảnh thực đến « trần trụi » là
những chiếc xe không kníh vào trong thơ. Cách giới thiệu đầy chất văn xuôi của
Phạm Tiến Duật khiến nhiều người bất ngờ. Thì ra, nguyên nhân xe không kính là
vì « bom giật, bom rung ». Những từ ngữ khô khốc và đanh cứng lại giúp độc giả
cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh cũng như những nguy hiểm mà những
người lính lái xe phải trải qua trên tuyến đường « xẻ dọc Trường Sơn đi cứu
nước » của mình.
Không chỉ không có kính, những chiếc xe trên tuyến đường Trường Sơn
còn trở nên méo mó, biến dạng vì bom đạn

24


Không có kính, rồi xe không có đèn,
Không có mui xe, thùng xe có xước,
Hình ảnh những chiếc xe không kính giúp ngươi đọc cảm nhận được sự
khốc liệt của tuyến đường Trường Sơn trong cuộc kháng chiến chống Mĩ. Sức
mạnh hủy diệt của bom đạn, của chất độc hóa học đã thiêu rụi sự sống trên con
đường huyết mạch từ Bắc vào Nam. Tuy nhiên, nó vẫn phải khuất phục trước tình
yêu nước, ý chí quyết tâm chiến dấu và chiến thắng của những người lính trong
cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.
Trên cái nền hiện thực khốc liệt của chiến tranh ấy, hình ảnh những người
lính lái xe hiện lên với những vẻ đẹp mang tầm thời đại.
Đầu tiên, là phong thái ung dung, tự tại trước những khó khăn nguy hiểm.
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

Như sa, như ùa vào buồng lái
Giữa không gian ngập tràn « bom giật, bom rung » ấy, những người lĩnh
vẫn ung dung ngồi trong buồng lái hướng về phía trước. Họ bình thản ‘Nhìn đất,
nhìn trời, nhìn thẳng’. Điệp ngữ nhìn cùng nhịp thơ đều đặn, chắc nịch như diễn tả
tư thế hiên ngang, bất chấp mọi nguy hiểm khó khăn của người lính.
Xe không kính có lẽ không khiến họ cảm thấy khó chịu mà ngược lại, nó
còn giúp người lính đến gần với thiên nhiên hơn. Điệp ngữ ‘nhìn thấy’ tiếp tục cho
độc giả cảm nhận được sự tiện dụng của việc xe không kính. Họ nhìn thấy gió,
thấy sao trời, thấy cánh chim và thấy con đường như đang chạy thẳng vào tim.
Con đường chạy thẳng vào tim vừa là hình ảnh tả thực nhưng cũng là hình ảnh ẩn
dụ. Con đường cách mạng, con đường giải phóng miền Nam vẫn đang rực sáng
trong trái tim họ, giúp họ vượt qua mọi khó khăn, trắc trở của cuộc sống để tiến về
phía trước.
Người lính lái xe trong bài thơ còn được tái hiện với lòng dũng cảm, tinh
thần lạc quan, coi thường mọi khó khăn nguy hiểm. Giọng thơ thản nhiên khi nói
đến bom giật bom rung phần nào đó cho chúng ta thấy sự dũng cảm của những
người lính. Đối mặt với bom đạn, với cái chết, họ bình thản đến lạ lùng.
Không chỉ thế, những khó khăn, nguy hiểm trên đường đi cũng không làm
khó được những người lính can trường :
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

25


×