MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÔNG NGHIỆP HÓA CỦA ĐẢNG QUA
CÁC THỜI KỲ
TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ:Sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng về công nghiệp hóa giai
đoạn (1986-1995 ) so với thời kỳ trước đổi mới
MỞ ĐẦU
Công cuộc đổi mới ở Việt Nam HƠN 30 năm qua đã đạt được những
thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, đang tạo ra tiền đề vững chắc để Đảng
và nhân dân ta phấn đấu đưa đất nước SỚM trở thành một nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Những thành tựu đã đạt được của công cuộc đổi mới
xuất phát từ nguồn gốc cơ bản quyết định là do Đảng ta có đường lối đúng
đắn, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vận dụng
sáng tạo vào điều kiện cụ thể Việt Nam, trong đó đổi mới chủ trương công
nghiệp hóa là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong đường lối đổi mới của
Đảng. Tuy nhiên, đổi mới tư duy của Đảng về công nghiệp hóa được tổng
kết từ quá trình lãnh đạo thực hiện chủ trương công nghiệp hóa những
năm 1976- 1985 và những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước. Đặc biệt,
trong những năm 80 và đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại trên thế giới phát triển mạnh mẽ tác động đến mọi
quốc gia dân tộc thúc đẩy nhanh chóng quá trình công nghiệp hóa của nhiều
nước, từ đó xuất hiện các mô hình công nghiệp hóa khác nhau và mang lại
hiệu quả cao, nhất là đối với các nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình
Dương. Từ bài học thành công và những khuyết điểm, sai lầm trong chủ
trương và tổ chức thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nhiều năm
trước đây, đồng thời trước sự tác động mới của các yếu tố thời đại, Đại
hội VI, Đại hội VII của Đảng đã tiến hành đổi mới toàn diện đặc biệt Đại
hội VII đã hình thành chủ trương công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện
đại, sau đó được các hội nghị Trung ương khóa VII và Đại hội VIII phát triển
thành chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội IX, Đại hội
2
X, Đại hội XI tiếp tục bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn. Với chủ trương
đúng đắn đã đưa nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng khá cao, góp phần
quan trọng vào sự ổn định về chính trị xã hội, tăng cường khả năng quốc
phòng, an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta
trên trường quốc tế. Đây là sự phát triển cơ bản tư duy lý luận về công nghiệp
hóa của Đảng ta. Để hiểu rõ về vấn đề này trong giai đoạn đầu đổi mới tôi
chọn chủ đề“Sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng về công nghiệp hóa
giai đoạn (1986-1995 ) so với thời kỳ trước đổi mới”làm chủ đề tiểu luận.
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA
1.1. Khái niệm cong nghiệp hóa.
Công nghiệp hoá là một khái niệm mà được nhiều chuyên gia kinh
tế đề cập đến, nhiều nghiên cứu định nghĩa về vấn đề này. Lôgic và lịch
sử đều khẳng định rằng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hiện đại, CNH là
bước đi tất yếu mà mỗi dân tộc sớm muộn đều phải trải qua. Trong thời
đại ngày nay công nghiệp hoá bao gồm cả hiện đại hóa làm xuất hiện cụm
từ kép "công nghiệp hoá, hiện đại hoá". Không nên chỉ hiểu CNH, HĐH
theo nghĩa hẹp, theo nghĩa nó là một quá trình hình thành cách thức sản
xuất chỉ tiêu kỹ thuật và công nghệ hiện đại riêng trong lĩnh vực tiểu công
nghiệp mà nên hiểu theo nghĩa rộng: quá trình đó diễn ra trong tất cả các
ngành của nền kinh tế quốc dân.
Kinh nghiệm CNH ở nhiều nước trên thế giới cho thấy "cốt lõi" của
CNH trong thời đại ngày nay là sự đổi mới trang bị kỹ thuật (phần cứng: máy
móc thiết bị...) và công nghệ (phần mềm: phương pháp, quy tắc, quy trình,
phương thức, kinh nghiệm, kỹ năng...), chuyển từ kỹ thuật và công nghệ lạc
hậu năng suất thấp lên trình độ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến có năng suất và
2
3
hiệu quả kinh tế xã hội cao trong tất cả các lĩnh vực, các ngành của nền kinh
tế quốc dân. Theo tư duy và quan điểm mới hiện nay có thể hiểu nội dung chủ
yếu của CNH ở các nước cũng như nước ta là: trang bị kỹ thuật công nghệ
hiện đại và theo đó xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý trong tất cả các ngành
của nền KTQD. Tóm lại có thể hiểu là: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá
trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử
dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và
phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến
bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc (1993) công nghiệp hoá là một quá
trình phát triển nền kinh tế. Trong quá trình này nguồn của cải quốc dân được
động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành trong nước với kỹ thuật
hiện đại. Đặc điểm của cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn luôn thay
đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng có khả năng
đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới
sự tiến bộ kinh tế xã hội. Hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản toàn
diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ
chỗ theo những quy trình công nghệ thủ công là chính sang chỗ sử dụng một
cách phổ biến những quy trình công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến
hiện đại dựa trên sự phát triển khoa học kỹ thuật tạo ra năng suất lao động
hiệu quả và trình độ văn minh kinh tế xã hội cao.
Trong văn kiện hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành trung ương khoá
VII có viết: Quá trình CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện
các hoạt động kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một
cách phổ biến sức lao động cùng công nghệ và phương tiện hiện đại tạo ra
năng suất lao động cao. Đối với nước ta đó là một quá trình thực hiện chiến
3
4
lược phát triển kinh tế xã hội nhằm cải tiến một xã hội nông nghiệp lạc hậu
thành một xã hội công nghiệp gắn với việc hình thành từng bước quan hệ sản
xuất tiến bộ. Ngày càng thể hiện đầy đủ hơn bản chất ưu việt của chế độ mới.
Như vậy CNH, HĐH không chỉ là một quá trình tất yếu khách quan đối với
nước ta mà chúng ta có sẵn những cơ sở lý luận vững chắc để áp dụng vào
thực tế nền kinh tế nước ta.
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hóa ở nước ta phải
kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong quá trình
phát triển. Quá trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà còn
phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu trong từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ
nền kinh tế quốc dân theo hướng kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Quá trình ấy
không chỉ tuần tự trải qua các bước cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, mà
còn sử dụng kết hợp kỹ thuật thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại,
tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
1.2.Quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin về công nghiệp hoá.
- Quan điểm của Mác và Ăng-ghen
Trong quá trình nghiên cứu của mình, mặc dù Mác và Ăng-ghen
không viết một chuyên luận nào về công nghiệp hoá, nhưng trong các công
trình nghiên cứu của mình, các ông cũng đã đề cập đến cách mạng công
nghiệp trong nền sản xuất tư bản như: trong đại công nghiệp, điểm xuất phát
của cuộc cách mạng trong phương thức sản xuất là tư liệu lao động, trước hết
là máy công cụ. Máy móc thúc đẩy phân công lao động xã hội, giảm lao động
cơ bắp và làm cho việc nâng cao trình độ học vấn trở thành bắt buộc đối với
người lao động. Mác dự đoán: theo đà phát triển của đại công nghiệp, việc tạo
ra của cải thật sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao
động đã chi phí mà chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và của
tiến bộ kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản
4
5
xuất. Công nghiệp hoá đã làm chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực nông
nghiệp và Mác đã dự đoán công nghiệp hoá sẽ làm chuyển dịch lao động
trong nông nghiệp sang các lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ:
Theo Các Mác:“Đối với lĩnh vực nông nghiệp, tác động của công
nghiệp hoá có tính chất cách mạng hơn bất cứ nơi nào khác, hiểu theo nghĩa
là công nghiệp lớn làm cho không còn nông dân nữa, tức là còn cái thành trì
của xã hội cũ nữa, và thay thế nông dân bằng người làm thuê. Do đó mà ở
nông thôn, những nhu cầu cải biến xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp, được
nâng lên ngang với trình độ ở thành thị” và “chỉ có nền công nghiệp lớn sử
dụng máy móc, mới tạo cho nền kinh doanh nông nghiệp tư bản chủ nghĩa” .
Phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa ra đời là nấc thang phát triển
cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tất yếu phải xây dựng cho
mình một cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại hơn. Cho đến nay, hầu hết các
nước tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi và chọn con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội đều có nền công nghiệp chưa phát triển. Vì vậy, để
có nền tảng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội tất yếu phải thực hiện
CNH.
Trong bộ Tư bản, C.Mác đã phân tích kỹ sự phát triển của cách mạng
công nghiệp và cho thấy quy luật tất yếu phải thực hiện cuộc cách mạng
công nghiệp.
- Quan điểm của Lênin
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, công nghiệp hoá xã hội
chủ nghĩa là vấn đề có tính quy luật phổ biến với tất cả các nước đi lên chủ
nghĩa xã hội. Chính vì vậy, ngay sau khi Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng
Mười thành công, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới và lịch sử phong trào
công nhân quốc tế, V.I. Lênin đã soạn thảo một chương trình hành động xây
dựng tiềm lực phát triển của chủ nghĩa xã hội trong phạm vi một nước với ba
5
6
nội dung cơ bản: công nghiệp hoá đất nước, hợp tác hoá nông nghiệp và cách
mạng vǎn hoá, tư tưởng. Cả ba nội dung này đan kết với nhau trong một chỉnh
thể thống nhất và việc thực hiện chúng sẽ đem lại một diện mạo toàn vẹn của
xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong đó, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò
nền tảng của công nghiệp và công nghiệp hoá. Người xác định nó vừa như
một tiền đề, vừa như một đặc trưng nổi bật của xã hội tương lai. Lênin cho
rằng: "Chủ nghĩa cộng sản là Chính quyền Xô viết cộng với điện khí hoá toàn
quốc... Chỉ khi nào nước ta đã điện khí hoá, chỉ khi nào công nghiệp, nông
nghiệp và vận tải đã đứng vững trên cơ sở kỹ thuật của đại công nghiệp hiện
đại, thì lúc đó, chúng ta mới có thể đạt được thắng lợi hoàn toàn"[ 7- tr.195].
Điều này có nghĩa là "cơ sở kinh tế duy nhất có thể có được của chủ nghĩa xã
hội là nền đại công nghiệp cơ khí. Ai quên điều đó, người đó không phải là
người cộng sản... Đại công nghiệp hiện đại có nghĩa là điện khí hoá toàn nước
Nga"2 . ở đây, dưới góc độ khái quát hoá, Lênin đã đồng nhất điện khí hoá
với công nghiệp hoá. Quá trình thực hiện công nghiệp hoá sẽ tạo ra "cơ sở vật
chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có
khả nǎng cải tạo cả nông nghiệp"3. Nắm bắt nội dung cốt lõi của quan niệm
duy vật lịch sử về lịch sử,
1.3. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công nghiệp hoá.
Nhận thức rõ tính tất yếu phải thực hiện CNH trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam, ngay từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “nhiệm vụ quan trọng nhất của
chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,
đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp
hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội
chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới,
mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài” [ 8- tr.13].
6
7
Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò đòn bẩy của sản xuất công nghiệp
trong quá trình vận động của xã hội loài người. Quan niệm của Người về công
nghiệp hoá gắn chặt với quan niệm chung về chủ nghĩa xã hội và con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nǎm 1946, khi trả lời các nhà báo nước
ngoài về các đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội với tư cách một chế độ
xã hội và một trình độ phát triển của nền vǎn minh hiện đại, Hồ Chí Minh đã
nhận định ngắn gọn nhưng hết sức sáng rõ: "Muốn cho chủ nghĩa cộng sản
thực hiện, cần phải có kỹ nghệ, nông nghiệp và tất cả mọi người đều được
phát triển hết khả nǎng của mình. ở nước chúng tôi, những điều kiện ấy chưa
đủ". Kỹ nghệ (thực chất là công nghiệp) được Hồ Chí Minh xem như là một
trong ba điều kiện quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa
cộng sản. Do những đặc thù riêng, Việt Nam còn chưa hội đủ các tiền đề sẵn
có, nhất là kỹ nghệ. Từ đó, Hồ Chí Minh đã xác định rõ vị trí, vai trò, tính tất
yếu của công nghiệp hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Dựa vào
kinh nghiệm công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông
Âu, phân tích mối quan hệ biện chứng giữa điểm xuất phát và mục đích cuối
cùng, mục đích trước mắt và mục đích lâu dài, giữa thời kỳ quá độ với những
bước quá độ nhỏ..., vào đầu nǎm 60, Hồ Chí Minh đã luận chứng một cách rõ
ràng, khúc triết, ở tầm khái quát lý luận cao về tính tất yếu của công nghiệp
hoá Việt Nam. Người cho rằng: "Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc
hậu. Đó là chỗ bắt đầu đi của chúng ta... Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi
dào, khi chúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách rộng rãi: dùng máy
móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp. Máy sẽ chắp thêm tay cho
người, làm cho sức người tǎng thêm gấp trǎm, nghìn lần và giúp người làm
người việc phi thường. Muốn có nhiều máy, thì phải mở mang các ngành
công nghiệp làm ra máy, ra gang, thép than dấu... Đó là con đường phải đi của
của chúng ta, con đường công nghiệp hoá nước nhà. Hồ Chí Minh nêu bật
7
8
mục đích cuối cùng của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa đem lại đời sống
dồi dào, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân trong buổi nói chuyện với Đại hội
Đảng bộ thành phố Hà Nội, Người chỉ rõ: "Muốn bảo đảm đời sống sung
sướng mãi mãi, phải công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng công
nghiệp nặng. Như thế phải vừa cải thiện đời sống, vừa tích luỹ. Cải thiện đời
sống từng bước theo khả nǎng, đồng thời phải tích luỹ để kiến thiết".
II. SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY, LÝ LUẬN CỦA ĐẢNG VỀ CÔNG
NGHIỆP HÓA GIAI ĐOẠN (1986-1995) SO VỚI THỜI KỲ TRƯỚC
ĐỔI MỚI
1.1. Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới (1960 – 1986)
* Chủ trương của Đảng về công nghiệp hóa
- Mục tiêu và phương hướng của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa
Đường lối công nghiệp hóa đất nước đã được hình thành từ Đại hội III
(tháng 9-1960) của Đảng. Quá trình công nghiệp hóa của nước ta diễn ra
trong bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế luôn diễn biến phức tạp và
không thuận chiều. Thực hiện công nghiệp hóa được 4 năm (1960 – 1964) thì
đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc. Đất nước phải trực
tiếp thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Miền Bắc vừa chiến đấu
chống chiến tranh phá hoại, vừa xây dựng kinh tế, miền Nam thực hiện cách
mạng giải phóng dân tộc. Khi đất nước vừa thống nhất (1975), cả nước đi lên
chủ nghĩa xã hội được vài năm thì lại xảy ra chiến tranh biên giới phía bắc, rồi
kết thúc cuộc chiến này lại kéo theo sự cấm vận của Mỹ. Như vậy, trước thời
kỳ đổi mới, nước ta có khoảng 25 năm tiến hành công nghiệp hóa theo 2 giai
đoạn: từ 1960 đến 1975 công nghiệp hóa ở miền Bắc và từ 1975 – 1985 công
8
9
nghiệp hóa trên phạm vi cả nước, hai giai đoạn này có mục tiêu, phương
hướng rõ rệt.
Ở miền Bắc, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc
hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua phát triển chủ nghĩa tư bản,
mặt khác, vừa phải xây dựng CNXH vừa phải chiến đấu chống Mỹ. Điểm
xuất phát của Việt Nam khi bước vào thực hiện CNH rất thấp. Năm 1960,
công nghiệp chiếm tỷ trọng18,2% và 7% lao động xã hội; tương ứng nông
nghiệp chiếm tỷ trọng 42,3% và 83%. Sản lượng lương thực/người dưới 300
kg; GDP/người dưới 100 USD. Trong khi phân công lao động chưa phát triển
và LLSX còn ở trình độ thấp thì QHSX đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa
và quốc doanh hóa là chủ yếu ( đến năm 1960: 85,8% nông dân vào HTX;
100% hộ tư sản được cải tạo, gần 80% thợ thủ công cá thể vào HTX tiểu thủ
công nghiệp). Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng III xác định rõ mục tiêu cơ
bản của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nền kinh tế xã hội
chủ nghĩa cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài, phải thực hiện qua nhiều
giai đoạn.
Về cơ cấu kinh tế, Đảng xác định: kết hợp công nghiệp với nông nghiệp
và lấy công nghiệp nặng làm nền tảng. (Tỷ trọng giá trị công nghiệp tăng từ
18,2% /1960 lên 22,2%/1965; 26,6%/1971; 28,7%/1975)
Về chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, Hội nghị TW lần thứ 7 (khóa
III) nêu phương hướng chỉ đạo xây dựng và phát triển công nghiệp là:
Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý.
Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp.
Ra sức phát triển công nghiệp nhẹ song song với việc ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng. (Vốn đầu tư cho công nghiệp nặng trong thời kỳ 1960 –
1975 tăng 11,2 lần, cho công nghiệp nhẹ tăng 6,9 lần, nông nghiệp tăng 6 lần)
9
10
Ra sức phát triển công nghiệp trung ương, đồng thời đẩy mạnh phát
triển công nghiệp địa phương. (Hình thành các trung tâm công nghiệp như
Hải Phòng, Quảng Ninh, Việt Trì, Thái Nguyên, Nam Định…)
=> Về thực chất, đây là sự lựa chọn mô hình chiến lược CNH thay thế
nhập khẩu mà nhiều nước, cả nước XHCN và nước TBCN đã và đang thực
hiện lúc đó. Chiến lược này được duy trì trong suốt 15 năm ở miền Bắc (1960
– 1975) và 10 năm tiếp theo trên phạm vi cả nước ( 1976 – 1986).
Trên phạm vi cả nước, sau đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước độc
lập thống nhất và quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Chiến lược “Ưu tiên phát triển
công nghiệp nặng…” tiếp tục được khẳng định lại sau 16 năm tại Đại hội IV
của Đảng (1976) nhưng chính sách thì đã có thay đổi chút ít “Đẩy mạnh công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ
nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát
triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông
nghiệp cả nước thành một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp vừa xây dựng
kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung
ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”.
Những thay đổi trong chính sách CNH dù còn chưa thật rõ nét song
cũng đã tạo một sự thay đổi nhất định trong phát triển:
Số xí nghiệp công nghiệp quốc doanh tăng từ 1913 cơ sở năm 1976 lên
2627 cơ sở năm 1980 và 3220 cơ sở năm 1985.
1976 – 1978 công nghiệp phát triển khá. Năm 1978 tăng 118,2% so với
năm 1976.
Tuy nhiên, do trên thực tế chúng ta chưa có đủ điều kiện để thực hiện
(nguồn viện trợ từ nước ngoài đột ngột giảm, cách thức quản lý nền kinh tế
nặng tính quan liêu, bao cấp, nhiều công trình nhà nước xây dựng dở dang vì
10
11
thiếu vốn, công nghiệp trung ương giảm, nhiều mục tiêu không đạt được…)
nên đây vẫn là sự biểu hiện của tư tưởng nóng vội trong việc xác định bước
đi, và sai lầm trong việc lựa chọn ưu tiên giữa công nghiệp và nông nghiệp.
Kết quả là thời kỳ 1976 – 1980 nền kinh tế lâm vào khủng hoảng, suy thoái,
cơ cấu kinh tế mất cân đối nghiêm trọng.
Đại hội lần thứ V của Đảng (3-1982) đã xác định trong chặng đường
đầu tiên của thời kỳ quá độ ở nước ta phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng
đầu, ra sức phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng; việc xây dựng và
phát triển công nghiệp nặng trong giai đoạn này cần làm có mức độ, vừa sức,
nhằm phục vụ thiết thực, có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
Đại hội V coi đó là nội dung chính của công nghiệp hóa trong chặng đường
trước mắt. Đây là bước điều chỉnh rất đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt
Nam. Nhờ vậy, nền kinh tế quốc dân trong thời kỳ này đã có sự tăng trưởng
khá hơn so với thời kỳ 5 năm trước đó. Cụ thể là:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế 1981: 2,3% 1985: 5,7%
Tốc độ tăng trưởng công nghiệp 1981: 9,5%
Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp 1981: 5,3% 1985: 3%
Năm 1985, công nghiệp nhóm A chiếm 32,7%, công nghiệp nhẹ 67,3%,
tiểu thủ công nghiệp 43,5%, công nghiệp địa phương 66%, công nghiệp quốc
doanh và công tư hợp doanh 56,5%.
Tỷ trọng công nghiệp tăng từ 20,2%/1980 lên 30%/1985.
Nhập khẩu lương thực giảm hẳn so với 5 năm trước (từ 5,6 triệu tấn
thời kỳ 1976-1980 xuống 1 triệu tấn thời kỳ 1981-1985).
Tuy nhiên, trên thực tế chính sách này vẫn không có mấy thay đổi so
với trước. Mặc dù nông nghiệp được xác định là mặt trận hàng đầu nhưng Đại
hội vẫn xác định “Xây dựng cơ cấu công nghiệp – nông nghiệp hiện đại, lấy
hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển làm nòng cốt”. Sự điều chỉnh
11
12
không dứt khoát đó đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam không tiến xa được
bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểm mới, tình hình kinh
tế-xã hội và đời sống nhân dân sau 5 năm không những không ổn định được
mà còn lâm vào khủng hoảng trầm trọng.
- Đặc trưng chủ yếu của công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới
Nhìn chung trong thời kỳ 1960-1985 chúng ta đã nhận thức và tiến
hành công nghiệp hóa theo kiểu cũ với các đặc trưng cơ bản sau đây:
Công nghiệp hóa theo mô hình nền kinh tế khép kín, hướng nội và thiên
về phát triển công nghiệp nặng.
Chủ yếu dựa vào lợi thế về lao động, tài nguyên đất đai và nguồn viện trợ
của các nước xã hội chủ nghĩa, chủ lực thực hiện công nghiệp hóa là Nhà nước
và doanh nghiệp nhà nước; việc phân bổ nguồn lực để công nghiệp hóa chủ yếu
bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu trong nền kinh tế thị trường.
Nóng vội, giản đơn, chủ quan duy ý chí, ham làm nhanh, làm lớn,
không quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội.
*Kết quả, ý nghĩa, hạn chế và nguyên nhân
- Kết quả thực hiện chủ trương và ý nghĩa
Công nghiệp hóa thời kỳ trước đổi mới diễn ra trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung, những tiền đề vật chất cần thiết cho công nghiệp hóa còn hết
sức hạn chế và trong điều kiện có chiến tranh phá hoại. Mặc dù vậy, quá trình
công nghiệp hóa vẫn đạt được những kết quả quan trọng.
So với năm 1955, số xí nghiệp tăng lên 16,5 lần. Nhiều khu công nghiệp
lớn đã hình thành, đã có nhiều cơ sở đầu tiên của các ngành công nghiệp nặng
quan trọng như điện, than, cơ khí, luyện kim, hóa chất được xây dựng.
Đã có hàng chục trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp,
dạy nghề đã đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật xấp xỉ 43 vạn
người, tăng 19 lần so với 1960 là thời điểm bắt đầu công nghiệp hóa.
12
13
Trong điều kiện đi lên từ điểm xuất phát thấp, lại bị chiến tranh tàn phá
nặng nề, thì những kết quả đạt được trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng – tạo
cơ sở ban đầu để nước ta phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp theo.
- Hạn chế và nguyên nhân
Hạn chế: Bên cạnh những kết quả đạt được, công nghiệp hóa thời kỳ
trước đổi mới còn nhiều hạn chế. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn hết sức lạc hậu.
Những ngành công nghiệp then chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng
bộ, chưa đủ sức làm nền tảng vững chắc cho nên kinh tế quốc dân.
Lực lượng sản xuất trong nông nghiệp mới chỉ bước đầu phát triển,
nông nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã
hội. Đất nước vẫn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, kém phát triển, rơi vào
khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Những hạn chế trên xuất phát từ nguyên nhân:
Về khách quan, chúng ta tiến hành công nghiệp hóa từ một nền kinh tế
lạc hậu, nghèo nàn và trong điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng
nề, vừa không thể tập trung sức người sức của cho công nghiệp hóa.
Về chủ quan, chúng ta mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác
định mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất kỹ thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ
cấu đầu tư… Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý trí trong nhận
thức và chủ trương công nghiệp hóa.
2.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa giai đoạn đổi mới (1986-1995)
* Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa.
- Đại hội VI của Đảng phê phán sai lầm trong nhận thức và chủ trương
công nghiệp hóa thời kỳ 1960-1986
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12-1986) với tinh thần
“nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đã nghiêm khắc
13
14
chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kỳ
1960-1985, mà trực tiếp là mười năm từ 1975 đến 1985:
Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về
xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh
tế…Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần
thiết nên chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có
đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư,
thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ
ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về
xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn , không tập trung
sức giải quyết về căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
Không thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết của Đại hội lần thứ V như:
Nông nghiệp vẫn chưa thật sự coi là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng
không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
- Quá trình đổi mới tư duy về công nghiệp hóa từ Đại hội VI đến Đại
hội VII
Từ việc chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm, Đại hội VI đã cụ thể hóa nội
dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên
là thực hiện cho bằng được 3 chương trình lương thực, thực phẩm; hàng tiêu
dùng và hàng xuất khẩu trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên
của thời kỳ quá độ. Ba chương trình này liên quan chặt chẽ với nhau. Phát
triển lương thực thực phẩm và hàng tiêu dung là nhằm bảo đảm nhu cầu thiết
yếu cho đời sống nhân dân sau mấy chục năm chiến tranh ác liệt và trong bối
cảnh của nền kinh tế còn đang trong tình trạng thiếu hụt hàng hóa nghiêm
trọng, góp phần ổn định kinh tế-xã hội; phát triển hàng xuất khẩu là yếu tố
14
15
quyết định để khuyến khích sản xuất và đầu tư trong nước, tạo nguồn thu
ngoại tệ để nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Xác định thứ tự ưu
tiên đó đã cho phép phát huy sức mạnh nội lực và tranh thủ sức mạnh từ bên
ngoài để phát triển kinh tế xã hội.
=> Thực chất, đây là sự thay đổi trong lựa chọn mô hình chiến lược
CNH, chuyển từ mô hình hướng nội (thay thế nhập khẩu) trước đây bằng mô
hình hỗn hợp (hướng về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu) đang được
áp dụng phổ biến và khá thành công tại các nước Châu Á lúc bấy giờ.
Như vậy, chính sách CNH của Đại hội VI đã:
Đưa ra một thứ tự ưu tiên mới: nông nghiệp-công nghiệp hàng tiêu
dùng, hàng xuất khẩu- công nghiệp nặng.
Tạo một sự chuyển biến quan trọng cả về quan điểm nhận thức cũng
như tổ chức chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa đất nước. Đó là sự chuyển
biến hướng chiến lược CNH từ:
Cơ chế KHHTT sang cơ chế thị trường có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước.
Cơ chế khép kín sang cơ chế mở cửa kinh tế.
Từ xây dựng ngay từ đầu một cơ cấu kinh tế đầy đủ, tự cấp tự túc sang
cơ cấu bổ sung kinh tế và hội nhập.
Mục tiêu “ ưu tiên phát triển công nghiêp nặng” đã chuyển sang “ lấy
nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng
tâm”. Từ đó dẫn đến sự đổi mới trong cơ cấu đầu tư: “Đầu tư có trọng điểm
và tập trung vào những mục tiêu và các ngành quan trọng, trước hết đầu tư
cho sản xuất nông nghiệp, hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, cho chế biến nông
sản và một số ngành công nghiệp nặng trực tiếp phục vụ 3 chương trình kinh
tế lớn”
Phát huy nguồn lực của nhiều thành phần kinh tế.
15
16
Tiếp theo, Đại hội VII (năm 1991) Đảng ta tiếp tục có những nhận thức
mới, ngày càng toàn diện và sâu sắc hơn về công nghiệp hóa gắn với hiện đại
hóa. Đại hội đã xác định rõ vai trò “mặt trận hàng đầu” của nông nghiệp, và
trên thực tế đầu tư cho nông nghiệp từ ngân sách đã tăng lên. Đại hội đề cập
đến lĩnh vực Dịch vụ kinh tế-kỹ thuật trong việc đáp ứng yêu cầu sản xuất,
đời sống và hợp tác quốc tế; đưa ra chiến lược phát triển kinh tế vùng phù hợp
với chiến lược chung cả nước. Thực hiện đường lối công nghiệp hóa của Đại
hội VII, nền kinh tế đã có những bước phát triển cao hơn, có chất lượng hơn,
đi vào thực chất hơn so với nhiều năm trước:
Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1991: 5,8% 1995: 9,5%
Tương ứng công nghiệp tăng: 1991: 5,3 % 1995: 15,5%
Nông nghiệp tăng 1991: 2,2% 1995: 4,8%
Xuất khẩu tăng 1991: -13,2% 1995: 34,4%
Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp 1991: 67% 1995: 12,7%
Cơ cấu kinh tế: 1991: 40,5 – 23,8 – 35,7(%)
1995: 27,2 – 28,8 – 44 (%)
Vốn đầu tư cho công nghiệp giai đoạn 1991 – 1995 chiếm 38,4% tổng
đầu tư xã hội (20,8 tỷ USD)
* Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mục tiêu lâu dài của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cải biến nước ta
thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh
vững chắc, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Để thực hiện mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục
tiêu cụ thể. Đại hội VI đã xác định 5 mục tiêu kinh tế - xã hội cụ thể cho
16
17
những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là: sản xuất đủ tiêu dùng và có
tích lũy; bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất; xây
dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; tạo chuyển biến tốt về mặt xã hội;
bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.
Những năm đầu của công cuộc đổi mới, Đảng ta đã chủ trương:
Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, bố trí lại cơ cấu sản xuất, tập trung sức vào 3
chương trình kinh tế ưu tiên là lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và
hàng xuất khẩu.
Xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển hẳn sang hạch toán
kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, hướng mạnh về
xuất khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong nước sản xuất có hiệu
quả; thu hút nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Phát triển đồng bộ các mặt văn hóa, xã hội; chăm lo hạnh phúc con
người, phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo đảm công bằng, bình đẳng
về nghĩa vụ và quyền lợi công dân, kết hợp tốt tăng trưởng với tiến bộ xã hội.
Mở rộng dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ và phát huy năng lực sáng
tạo của các cơ sở sản xuất kinh doanh, động viên khai thác tiềm năng của các
thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư.
Việc thực hiện tốt ba chương trình mục tiêu phát triển trong kế hoạch 5
năm 1986-1990 được coi là sự thành công bước đầu trong việc cụ thể hóa và
triển khai thực hiện đường lối đổi mới của Đảng đã được Đại hội VI thông
qua. Đến Đại hội VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) đã nâng cao và phát triển
đường lối chính sách đổi mới do Đại hội VI đặt nền móng, hướng vào việc
17
18
hình thành đồng bộ kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển của giai đoạn mới.
Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2000, trong đó chỉ tiêu bao quát nhất là đưa GDP vào năm 2000 gấp 2 lần so
với năm 1990. Đại hội cũng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ tổng quát cho
kế hoạch 5 năm 1991-1995 là: “Vượt qua khó khăn, thử thách, ổn định và
phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất
công xã hội, đưa đất nước cơ bản ra khỏi khủng hoảng kinh tế hiện nay”.
Việc sau đó thực hiện vượt mức các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của kế hoạch 5 năm 1991-1995, trong bối cảnh tình hình quốc tế và trong
nước có rất nhiều khó khăn, mang ý nghĩa hết sức quan trọng. Đất nước đã
vượt qua tình trạng trì trệ, suy thoái kéo dài trong nhiều năm trước đó; đồng
thời tạo được các điều kiện thuận lợi cho bước phát triển cao hơn trong 5 năm
cuối của thời kỳ Chiến lược 10 năm 1991-2000. Hội nghị Đảng giữa nhiệm
kỳ khóa VII đã điều chỉnh mục tiêu của Chiến lược 10 năm là: đến năm 2000,
GDP bình quân đầu người cao gấp đôi năm 1990. Thực chất, đó là việc
chuyển từ mục tiêu lấy ổn định kinh tế - xã hội làm trọng tâm trong thời kỳ kế
hoạch 5 năm 1991-1995 sang mục tiêu lấy phát triển làm trọng tâm trong kế
hoạch 5 năm 1996-2000; đặt ra yêu cầu rất cao, rất toàn diện theo chiều sâu
của công cuộc đổi mới và cải cách kinh tế.
Tóm lại: tư duy, lý lận của Đảng về CNH sau đổi mới giai đoạn (19861995) có những sự phát triển to lớn:
Thứ nhất, về cách giải quyết mối quan hệ giữa phát triển LLSX và xây
dựng QHSX XHCN trong quá trình công nghiệp hóa. Trong tiến trình cách
mạng XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam có nhiệm vụ phải vừa lãnh đạo phát
triển LLSX vừa lãnh đạo xây dựng QHSX XHCN. Đây là một mối quan hệ
18
19
lớn được Đảng ta đặc biệt quan tâm và liên tục có nhiều đổi mới rất quan
trọng, có tính đột phá, nhất là từ Đại hội Đảng VI đến nay.
Trong thời kỳ đầu sau giải phóng, miền Bắc bước vào xây dựng chủ
nghĩa xã hội, chúng ta đã nhấn mạnh thái quá vai trò “tích cực” của quan hệ
sản xuất, dẫn đến chủ trương quan hệ sản xuất phải đi trước, mở đường để tạo
động lực cho sự phát triển lực lượng sản xuất. Ngoài ra, do CNH trong nền
kinh tế hiện vật (có trao đổi), không thừa nhận thị trường và cạnh tranh nên
rất hạn chế trong việc tìm động lực phát triển LLSX từ khoa học và kỹ thuật.
Bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta đã ngày càng khẳng định rõ: Phải từng
bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng thành
công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.
Thứ hai, về bước đi, tốc độ của công nghiệp hóa. Thời kỳ trước đổi
mới, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh CNH, xây dựng một cơ cấu kinh tế công
– nông nghiệp hiện đại, trù liệu thời gian CNH XHCN mất khoảng 20 năm…
Thời kỳ đổi mới, Đảng xác định: quá trình CNH phải được tiến hành từng
bước phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội; trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ chưa thể đẩy
mạnh CNH, mà là tạo tiền đề cần thiết để đẩy mạnh CNH ở chặng đường tiếp
theo; cơ cấu kinh tế hợp lý với từng thời đoạn; con đường CNH ở nước ta cần
và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước.
Tư duy CNH của Đảng thời đổi mới xác định: con đường CNH ở nước
ta cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Đây là yêu cầu cấp
thiết của nước ta nhằm thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển so với nhiều
nước trong khu vực và trên thế giới. Một nước đi sau có điều kiện tận dụng
những kinh nghiệm kỹ thuật, công nghệ và thành quả của các nước đi trước, tận
dụng xu thế của thời đại và qua hội nhập quốc tế để rút ngắn thời gian. Như
vậy, đường lối CNH chuyển từ CNH XHCN với cách làm nóng vội, bỏ qua các
19
20
bước đi trung gian cần thiết, đã chuyển sang thực hiện CNH vừa có bước đi
tuần tự, giai đoạn trước tạo tiền đề cho sự phát triển của giai đoạn sau theo trật
tự tuyến tính, vừa cho phép phát triển “rút ngắn” trên cơ sở đi tắt, đón đầu các
thành tựu phát triển nhảy vọt về khoa học và công nghệ của thế giới.
Thứ ba, xây dựng cơ cấu kinh tế (mối quan hệ giữa công nghiệp nặng,
công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, kinh tế trung ương, kinh tế địa phương, sản
xuất, phân phối, tiêu dùng); cơ chế và mô hình nền kinh tế trong quá trình
CNH. Quan điểm công nghiệp hoá và hiện đại hoá dựa trên nhận thức mới,
khác với quan niệm trước đây về công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa theo cơ
cấu kinh tế khép kín, nhất thiết phải đi từ công nghiệp nặng.
Thực chất của công nghiệp hoá là không ngừng đổi mới trang thiết bị,
kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đạt tới năng suất lao động cao trong tất cả các
ngành kinh tế quốc dân. Cách làm phải phù hợp với điều kiện thực tế, tích cực
nâng cao trình độ công nghệ và trang bị kỹ thuật trong nước, đồng thời tranh
thủ tiếp nhận công nghệ và trang bị kỹ thuật mới từ bên ngoài. Trong điều
kiện thiếu vốn, nhiều lao động, phải kết hợp công nghệ nhiều trình độ, vừa sử
dụng và cải tiến công nghệ truyền thống, vừa tranh thủ tối đa công nghệ tiên
tiến, kết hợp phát triển theo chiều rộng và chiều sâu, làm quy mô vừa và nhỏ
là chính, song không loại trừ quy mô lớn khi cần thiết và có hiệu quả. Đó là
cơ sở để xác định bước đi của công nghiệp hoá trong cơ cấu kinh tế, giải
quyết hợp lý mối quan hệ giữa nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và
công nghiệp tư liệu sản xuất.
Quan niệm mới về CNH đòi hỏi phải đẩy mạnh cách mạng khoa học và
công nghệ, bao gồm cả khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật
và đưa được các khoa học đó vào cuộc sống, nhằm đổi mới công nghệ, kể cả
công nghệ quản lý (cách nói cách mạng khoa học – kỹ thuật như lâu nay dễ
dẫn tới coi nhẹ vai trò rất quan trọng của khoa học xã hội). Cái nền để nâng
cao năng lực khoa học và công nghệ của đất nước là sự nghiệp giáo dục và
đào tạo, vừa nâng cao dân trí, vừa chú trọng nhân tài. Khoa học và công nghệ,
20
21
giáo dục và đào tạo là một mặt rất quan trọng trong việc phát huy nhân tố con
người, không thể coi như một yếu tố hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát
triển kinh tế hoặc như một chính sách về bảo đảm xã hội.
Như vậy: (1) từ chủ trương xác lập nóng vội cơ cấu kinh tế công – nông
nghiệp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH, từ nền
kinh tế “khép kín”, “hướng nội”, quan hệ chỉ khép kín trong hệ thống XHCN,
chuyển sang thực hiện một nền kinh tế mở đa dạng, đa phương phù hợp thông
lệ quốc tế, hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp với thay thế nhập khẩu; chuyển
từ CNH thực hiện trong khuôn khổ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu
bao cấp sang tuân theo thị trường, gắn thị trường trong nước với thị trường
thế giới thành một chỉnh thể hữu cơ, có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN
- Kết quả, ý nghĩa, của đổi mới đường lối công nghiệp hóa giai đoạn từ
(1986-1995).
Sau hơn 10 năm đổi mới, đất nước ta đã thu được những thành tựu to
lớn, trong đó có những thành tựu nổi bật của công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Một là, cơ sở vật chất – kỹ thuật của đất nước được tăng cường đáng
kể, khả năng độc lập tự chủ của nền kinh tế được nâng cao. Từ một nền kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật chất yếu kém đi lên, đã có nhiều
khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung được hình thành, nhiều khu hoạt
động có hiệu quả, tỉ lệ ngành công nghiệp chế tác, cơ khí chế tạo và nội địa
hóa sản phẩm ngày càng tăng, số xí nghiệp tăng 16,5 lần so với năm 1955.
Ngành công nghiệp sản xuất tư liệu như luyện kim, cơ khí, vật liệu xây dựng,
hóa chất cơ bản, khai thác và hóa dầu đã và đang có những bước phát triển
mạnh mẽ. Một số sản phẩm công nghiệp đã cạnh tranh được trên thị trường
trong và ngoài nước. Ngành xây dựng tăng trưởng nhanh và có bước tiến
đáng kể theo hướng hiện đại.
Hai là, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đã đạt được những kết quả quan trọng: tỷ trọng công nghiệp và xây
21
22
dựng tăng, tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm. Cơ cấu kinh tế vùng
đã có điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so sánh của từng vùng.
Ba là, những thành tựu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã góp phần
quan trọng đưa nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao, tạo cơ sở ban đầu để
phát triển nhanh các giai đoạn tiếp theo. Điều đó đã góp phần quan trọng vào
công tác xóa đói giảm nghèo. Thu nhập đầu người bình quân hàng năm tăng
lên đáng kể.
Bốn là: Có hàng chục trường Đại học, Cao đẳng, trung học chuyên
nghiệp dạy nghề được xây dựng và hoạt động hiệu quả, đã đào tạo được đội
ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật gần 43 vạn người tăng 19 lần so với năm 1960
thời điểm băt đầu của công nghiệp hóa.
Những thành tựu trên có ý nghĩa rất quan trọng; là cơ sở, là tiền đề cho
việc phát triển công nghiệp hóa, hiện đại háo những giai đoạn tiếp theo, để
phấn đấu đạt mục tiêu: sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 góp
phần xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.3. Những giải pháp cơ bản.
Từ thực tiễn chủ trương, đường lối xây dựng công nghiệp hóa của Đảng
giai đoạn (1986-1995), để góp phần thực hiện thắng mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay cần tiến hành đồng bộ các giải
pháp cơ bản sau:
Thứ nhất, làm tốt công tác lãnh đạo của Bộ chính trị, Ban bí thư và
quản lý, điều hành của nhà nước trong xử lý các mối quan hệ. Cụ thể
là: phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và tri thức. Sự
phát triển của khoa học, công nghệ là điều kiện cần để hình thành và phát
triển kinh tế tri thức. Cần đầu tư hơn nữa cho phát triển khoa học, công
nghệ; tạo ra chính sách phát triển khoa học, công nghệ. cần đầu tư cao vào
những ngành mũi nhọn của quốc gia như: công nghệ thông tin, nhất là công
22
23
nghệ phần mềm; công nghệ số hoá, công nghệ năng lượng mới, vật liệu
mới, công nghệ sinh học...
Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ CNH,
HĐH . Công nghệ thông tin là chìa khoá để đi vào kinh tế tri thức. Muốn rút
ngắn quá trình CNH, HĐH , rút ngắn khoảng cách với các nước, phải khắc
phục khoảng cách về công nghệ thông tin.
Thứ hai, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, đào tạo nhân lực cho
kinh tế tri thức.
Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa hướng đến việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, hướng đến
kinh tế tri thức. Cụ thể là: cần có chế tài xử lý nghiêm minh những hành vi
tham nhũng làm thất thoát tài sản nhà nước; khen thưởng xứng đáng đối với
những sáng kiến, phát minh có giá trị thực tiễn ứng dụng vào sản xuất;
nghiêm túc thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc của các cơ quan nhà nước trong
chỉ đạo thực hiện...
Thứ tư, tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
từ chiều rộng sang kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng với chiều
sâu. Cần kết hợp hợp lý phát triển kinh tế theo hai mô hình này, một mặt khai
thác những lợi thế sẵn có về lao động, tài nguyên; mặt khác phải “đi tắt, đón
đầu”, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo mô hình “hiện đại”, “rút
ngắn” để phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam.
23
24
KẾT LUẬN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện vô cùng cần thiết trong
suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Trong báo cáo Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khoá VII có viết: CNH nhằm đạt tới mục tiêu biến đổi
nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiên đại, cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của
sản xuất, nguồn nhân lực con người được phát huy, mức sống tinh thần vật
chất ngày càng cao, quốc phòng vững chắc,dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng văn minh.
Nghiên cứu đường lối CNH, HĐH của Đảng Cộng sản Việt Nam và
quá trình thực hiện đường lối đó trong thời kỳ đổi mới đặc biệt trong giai
đoạn (1986-1995 so với thời kỳ trước đổi mới sẽ giúp chúng ta hiểu và nhận
thức sâu sắc hơn về sự phát triển tư duy, lý luận của Đảng đối với sự nghiệp
CNH, HĐH của đất nước. Từ đó, có thái độ tích cực hơn, hành động hiệu quả
hơn, thể hiện cụ thể thực tế vào vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
hiện tại cũng như trong tương lai nhằm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu đưa kinh tế
tăng trưởng, phát triển nhanh và bền vững góp phần sơm xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội con đương Đảng, Bác và Nhân dân ta đã lựa chọn.
24
25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương: Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng
sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, H.2006.
2. Công nghiệp hóa từ nông nghiệp lý luận, thực tiễn và triển vọng áp
dụng ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, H.2001.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, H.1991.
4. Đảng cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7
BCHTW khóaVII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý
luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội
6. Đào Duy Tùng, Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam, Nxb chính trị quốc gia, H.1994.
7. V.I. Lênin toàn tập (1979), tập 42, Nxb Tiến bộ
8. Hồ Chí Minh toàn tập (1996), tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội
25