1
Truyền thống yêu nước - đánh giặc giữ nước, ý nghĩa
trong xây dựng quân đội hiện nay.
MỞ ĐẦU
Lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời với những chiến tích vẻ vang, rất
đáng tự hào của dân tộc đã tạo nên cho nhân dân ta truyền thống yêu nước cao
quí. Truyền thống đó là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn cổ vũ và động viên
mọi người Việt Nam vươn lên trong sự nghiệp xây dựng đất nước và kháng
chiến quyết liệt, bảo vệ Tổ quốc. Chính lịch sử đó, đã là cái nền móng bền
vững của truyền thống vinh quang “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ
nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng” của quân đội nhân dân Việt Nam.
Nhưng, không phải tự nhiên với thời gian và thử thách, truyền thống yêu
nước Việt Nam được hình thành, củng cố và phát huy, mà phải trãi qua một
quá trình giáo dục chủ động và bền bỉ, tổ tiên, ông cha chúng ta mới đạt được
thành tựu to lớn đó để đến ngày nay, Đảng và Nhà nước ta kế thừa và không
ngừng phát triển ngang tầm với yêu cầu của thời đại. Giáo dục truyền thống
yêu nước là một nhiệm vụ cần được tiến hành thường xuyên đối với mọi
người, đặc biệt là đối với thanh niên. Vì điều dễ hiểu là, lòng yêu nước của
một con người không phải chờ khi có giặc ngoại xâm mới được huy động,
phát động; hơn nữa, chiến tranh dù có lâu dài cũng chỉ chiếm một khoảng thời
gian ngắn trong lịch sử của một dân tộc. Lòng yêu nước của một con người
phải được biểu hiện trong suốt cuộc đời, thời bình cũng như lúc có chiến
tranh và cũng chỉ có được trên cơ sở tình yêu quê hương, đất nước, quí trọng
thành quả lao động vì đất nước mình, con người đó mới sẵn sàng chiến đấu xả
thân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, quê hương.
Giờ đây, sau nhiều năm chiến tranh cách mạng, giành và giữ nền độc lập,
nhân dân ta đang bắt tay xây dựng một đất nước ngày càng giàu đẹp, khắc
phục nghèo nàn, lạc hậu để hội nhập quốc tế và khu vực. Phát triển nền kinh
2
tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, làm giàu chính đáng
đang được khích lệ, đang động viên và lôi cuốn nhân dân ta nói chung và
thanh niên nói riêng vào sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới. Điều đó
không phải không có khả năng làm phai nhạt ý thức về truyền thống yêu
nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó, ở bên ngoài, các thế lực thù
địch vẫn hàng ngày, hàng giờ dùng mọi thủ đoạn chống phá bằng “diễn biến
hoà bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ… nhằm thực hiện mưu đồ đem tối,
thâm độc của chúng. Do đó, nghiên cứu về truyền thống yêu nước - đánh giặc
giữ nước. Trên cơ sở đó giáo dục truyền thống yêu nước, ý chí bảo vệ Tổ
quốc luôn luôn là một vấn đề quan trọng, là một sự nghiệp cơ bản và mang
tính thời sự cấp thiết. Trong phạm vi bài thu hoạch chỉ xin đề cập đến truyền
thống yêu nước - đánh giặc giữ nước, ý nghĩa trong xây dựng quân đội hiện
nay.
1. Truyền thống yêu nước gắn với đánh giặc giữ nước trong lịch sử dân tộc.
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam, mỗi chúng ta đều nhận thấy rằng, trãi qua
hàng ngàn năm trường tồn và phát triển, tổ tiên chúng ta đã từng vượt qua biết
bao khó khăn, thử thách lớn lao trong dựng nước và giữ nước để làm nên
những chiến công hiển hách, những kỳ tích lịch sử, bảo vệ nền độc lập dân
tộc và đưa đất nước phát triển đến ngày nay. Những chiến công và sự tích anh
hùng đó là nhân tố cơ bản tạo nên rất nhiều truyền thống tốt đẹp, cũng là niềm
tự hào chính đáng để dân tộc ta tiếp tục vươn lên, ngang tầm với thời đại, hoà
nhập nhanh vào thế giới văn minh. Một trong những truyền thống tốt đẹp đó,
truyền thống yêu nước là tình cảm tư tưởng cao quí nhất, thiêng liêng nhất,
cội nguồn của trí tuệ sáng tạo và lòng dũng cảm của con người Việt Nam,
cũng là chuẩn mực đạo đức cơ bản của cả dân tộc. Truyền thống đó được
biểu hiện ở hai mặt chủ yếu là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Truyền thống không phải là một cái gì có sẵn, nãy sinh trong một thời và
bất biến mà là những chuẩn mực, qui tắc ứng xử xã hội của một cộng đồng lớn
3
hay nhỏ, được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ sống trong một không gian ít thay
đổi lớn và ăn sâu vào ý thức, tình cảm, tư tưởng của con người, được dư luận xã
hội gìn giữ và phát huy. Truyền thống yêu nước - đánh giặc giữ nước của dân
tộc ta cũng vậy, là một sản phẩm của lịch sử, khởi đầu với lòng yêu nước.
Khi đề cập đến lòng yêu nước của dân tộc ta, Hồ Chủ tịch đã khẳng định
trong báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao
động Việt Nam tháng 2/1951: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
một truyền thống quí báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm
lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,
to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và cướp nước”1. Toàn bộ lịch sử dân tộc ta đã chứng minh chân lý sáng
ngời đó, dân tộc ta đã trãi qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh kiên cường để
dựng nước và giữ nước. Mỗi trang sử của dân tộc đều nói lên ý chí tự lực, tự
cường, kiên cường bất khuất của nhân dân ta bắt nguồn từ lòng yêu nước
nồng nàn, sâu sắc của mỗi người dân Việt Nam.
Từ bao đời nay, để trường tồn và phát triển, dân tộc ta đã phải kiên
cường đấu tranh với thiên nhiên, với kẻ thù xâm lược, để dựng nên một đất
nước riêng biệt, giàu đẹp, có nền văn hoá giàu bản sắc, có cương giới rõ ràng
như lời bài “thơ thần” thời Lý đã khẳng định:
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đặng hành khan thủ bại hư.”
Cũng chính vì tình cảm gắn bó với quê hương đất nước, nơi chôn rau cắt
rốn của mình, nơi mà đôi tay, bộ óc, trái tim của mỗi người Việt Nam đã tạo
nên những thành quả lao động giàu đẹp và một nền văn hoá độc đáo nên nhân
dân ta rất thiết tha yêu quê hương, đất nước của mình, và đã không tiếc công
1
Hồ Chí Minh: Về dấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb. QĐND, H. 1970, tr.239.
4
sức, xương máu để xây dựng đất nước ta thành một quốc gia riêng và dùng
mọi sức mạnh để bảo vệ nó.
Tình cảm và ý thức đó chính là lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc của dân
tộc Việt Nam. Tinh thần yêu nước nồng nàn đó luôn gắn liền với tinh thần
yêu tự do, độc lập, không chịu là nô lệ, không chịu mất nước, không chịu áp
bức bóc lột. Tinh thân yêu nước đó là một tinh thần yêu nước rất cao độ, có
nội dung phong phú. Do đó, mà dân tộc ta luôn phát triển mạnh mẽ, yêu nước
là phải tự lực, tự cường, phải kiên cường, bất khuất, đó là cội nguồn của sức
mạnh trong đánh giặc giữ nước.
Mấy ngàn năm trở lại đây, sự phát triển của lịch sử đã đặt đất nước ta,
một nước đất không rộng, người không đông trong điều kiện thường xuyên bị
các thế lực phong kiến hùng mạnh bên ngoài nhòm ngó. Cuộc sống độc lập,
tự chủ thường xuyên bị đe doạ. Chính trong hoàn cảnh đó, lòng yêu nước rất
cao đã làm cho dân tộc ta sớm có ý thức mạnh mẽ về quyền làm chủ đất nước,
quyền làm chủ vận mệnh của dân tộc mình, đó là tinh thần tự lực, tự cường,
tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khất cao độ của dân tộc ta. Tinh thần ấy
được biểu hiện rất rõ trong trong tư tưởng của cha ông ta.
Trong đoạn mở đầu Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi đã khẳng định:
“Như nước Đại Việt,
Đất văn hiến xưa,
Cõi bờ sông núi đã riêng,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần, dựng nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, đều chủ một phương.
Tuy cường nhược có lúc khác nhau,
Mà hào kiệt bao giờ cũng có…”2
2
Hoàng Minh: Bình Ngô đại cáo, Tìm hiểu về Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 193.
5
Nhờ có tinh thần tự lực, tự cường rất cao như vậy nên dân tộc ta tuy
thường xuyên bị các thế lực lớn mạnh uy hiếp, xâm lược, nhưng lòng yêu
nước không bao giờ bị mai một mà trái lại vẫn tồn tại và phát triển cho tới
ngày nay. Không những thế còn phát triển lên tầm cao mới. Mặc dầu trong
lịch sử dân tộc có những thời kỳ rất dài, đất nước ta bị nước ngoài đặt ách
thống trị nhưng rồi với lòng yêu nước nồng nàn dân tộc ta vẫn quật khởi vùng
lên, liên tục đấu tranh kiên quyết nên đã giành được độc lập và giữ vững nó
trong nhiều thế kỷ. Sau này đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét: “Nhân dân ta vốn
có tinh thần tự lập, tự cường rất cao. Tinh thần ấy được giữ vững và phát
triển qua hàng ngàn năm lịch sử. Nó đã trở thành một truyền thống sâu sắc,
một sức mạnh vật chất kỳ diệu của dân tộc ta…”.
Vì yêu nước nồng nàn nên trước hoạ ngoại xâm thì cầm vũ khí đứng lên
đấu tranh là con đường sống duy nhất đúng của dân tộc ta. Từ xưa đến nay,
dân tộc ta luôn luôn bị các thế lực phong kiến và đế quốc lớn mạnh gấp nhiều
lần uy hiếp và xâm lược, mưu toan xoá bỏ quyền làm chủ đất nước, thủ tiêu
nền độc lập dân tộc, mưu toan đồng hoá dân tộc, làm tiêu tan tinh thần yêu
nước, tình cảm dân tộc, mưu toan cướp bóc mọi tài nguyên, chiếm đoạt những
giá trị tinh thần của nhân dân ta.
Kinh nghiệm của nhiều thế kỷ đấu tranh đã làm cho tổ tiên ta nhận thức
một cách rất sâu sắc để trường tồn và phát triển, muốn thoát khỏi kiếp nô lệ
ngựa trâu, dân tộc ta không còn con đường nào khác là phải kiên cường bất
khuất, phải cầm vũ khí vùng lên đấu tranh một mất, một còn với kẻ thù xâm
lược. Đó là một vấn đề rất lớn, có tính chất sống còn đối với vận mệnh dân
tộc, mà Nguyễn Trãi, đã tổng kết trong hai câu mở đầu của Bình Ngô đại cáo:
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân;
Quân điếu phạt trước là khử bạo…”3
3
Hoàng Minh: Bình Ngô đại cáo, Tìm hiểu về Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. QĐND, H. 1977, tr. 193.
6
Muốn “yên dân” thì trước hết phải dùng “quân điếu phạt” để “khử
bạo”. Ngoài ra không còn con đường nào khác. Tất cả các hành vi đầu hàng,
thoả hiệp, tin tưởng ở sự “vỗ về của thượng quốc” cầu xin ở kẻ thù,… đều là
phản bội, là ảo tưởng và đều dẫn đến mất nước. Trong lời kêu gọi tướng sĩ
trước khi xuất quân đại phá quân Thanh, Nguyễn Huệ đã nói: “… Từ đời nhà
Hán đến nay, chúng (tức phong kiến phương Bắc) đã mấy phen cướp bóc
nước ta, giết hại nhân dân, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi, ai
cũng muốn đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng Nữ Vương, đời Tống có Đinh
Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê
Thái Tổ; các ngài không nỡ ngồi nhìn chúng làm điều tàn bạo, nên đã thuận
lòng người, dấy nghĩa quân, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được
chúng về phương Bắc… Mọi việc lợi hại, được mất ấy, đều là chuyện cũ rành
rành của các triều đại trước…”.
Đó là kinh nghiệm, là truyền thống, là sự “lợi hại, được mất” của dân
tộc ta, thực tiễn lịch sử đã chứng minh rất rõ rệt. Sớm hiểu như vậy, dân tộc ta
đã kiên cường anh dũng, đã bao lần đứng lên cầm vũ khí kiên quyết đấu tranh
đánh bại mọi kẻ thù đến xâm lược hoặc đang thống trị, vô luận đó là kẻ thù
nào, dù là phong kiến phương Bắc, là đế chế Mông Cổ khổng lồ và gần đây là
các đế quốc, thực dân sừng sỏ trên thế giới như Pháp, Mỹ…
Khi cầm vũ khí đứng lên diệt giặc cứu nước, nhân dân ta hiểu rằng chiến
tranh là vấn đề mất còn, sống chết trước đối với mọi người và trong chiến tranh
sẽ không thể tránh khỏi tổn thất nhất định, nhưng là sự hy sinh cần thiết. Vốn có
tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần độc lập, tự cường rất cao và ý chí kiên
cường bất khuất lại trải qua thực tiễn đấu tranh của bao thế kỷ, nhân dân ta đã
nhận thức sâu sắc rằng: trước quân thù hung bạo, trước nguy cơ mất nước thì
phải đặt sự mất, còn của đất nước, của cả dân tộc lên trên hết, phải biết chiến đấu
vì sự sống còn của cả dân tộc, trong đó có sự sống còn của chính bản thân, của
gia đình mỗi người dân. Cho nên nhân dân ta dám chịu mọi hy sinh, mọi tổn thất
7
để giành lấy bằng được sự sống của cả dân tộc. Tinh thần dám hy sinh, dám xả
thân vì nước, thà chết chứ nhất định không chịu làm nô lệ, “cảm tử cho Tổ quốc
quyết sinh” đã là động cơ thôi thúc mỗi người dân ta trải qua bao thế kỷ cầm vũ
khí xông lên kiên quyết chiến đấu chống quân thù.
Nhưng không những chỉ có quyết đánh, mà muốn giành và giữ vững độc
lập, dân tộc ta còn phải quyết thắng một cách hết sức vẻ vang. Trong suốt cả
quá trình lịch sử, “nền độc lập của nước ta gắn liền với những chiến công
oanh liệt của cha ông ta chống lại nhiều đạo quân xâm lược rất mạnh…”.
Các chiến thắng oanh liệt trên sông Cầu đời Lý; ở Vạn Kiếp, Bạch Đằng đời
Trần; ở Chi Lăng, Xương Giang đời Lê; ở Ngọc Hồi, Đống Đa thời Tây Sơn,
đều bắt nguồn từ lòng yêu nước và tinh thần anh hùng bất khuất của dân tộc
ta.
Từ xưa đến nay, nhân dân lao động là lực lượng lao động chủ yếu dựng
nước và giữ nước, đồng thời họ cũng là người bị bọn phong kiến, thực dân áp
bức, bóc lột nhiều nhất. Một mặt họ yêu quí tất cả những gì họ đã làm nên,
mặt khác họ hiểu rằng nếu nước mất thì nhà tan, nếu bị quân thù đến thống trị
thì một cổ đôi tròng, họ sẽ là những người bị áp bức, bóc lột cùng cực nhất.
Cho nên họ coi sự nghiệp đánh giặc giữ nước là sự nghiệp của chính mình,
chứ không phải là sự nghiệp của giai cấp quí tộc, của những nhà cầm quyền
phong kiến. Họ đánh giặc là để bảo vệ sự sống còn của chính bản thân, để bảo
vệ những thành quả lao động mà họ đã cần cù, vất vả làm nên.
Cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, nhân dân ta cũng
anh hùng, bất khuất trong đấu tranh giai cấp và đấu tranh giải phóng dân tộc,
bảo vệ đất nước. Họ đã từng đấu tranh chống bọn phong kiến áp bức bóc lột,
đã từng đứng lên lật đổ các triều đại thối nát. Và trước hoạ ngoại xâm, họ đã
nêu cao tinh thần bất khuất, kiên cường xả thân vì nước, sẵn sàng chịu dựng
mọi hy sinh lớn lao nhất để đánh bại kẻ thù. Họ không những chỉ giúp đỡ,
8
phục vụ quân đội đánh giặc mà còn tự tay cầm vũ khí đánh giặc với trăm
phương, ngàn kế của mình.
“…Đặc biệt nhân dân ta trước đây đã từng nêu cao tinh thần quật khởi
trong các cuộc khởi nghĩa lật đổ các triều đại phong kiến trong nước cũng
như trong kháng chiến giữ nước chống lại nạn ngoại xâm”4.
Nhưng trước đây nhân dân ta, mà chủ yếu là nông dân chưa có ý thức đầy
đủ về đấu tranh giai cấp trong khi đứng lên đánh đổ phong kiến, họ cũng chưa
hiểu là phải xoá bỏ chế độ phong kiến, họ lật đổ triều đại phong kiến này rồi lại
gây dựng nên một triều đại phong kiến khác. Và tinh thần dân tộc của nhân dân
không phải lúc nào cũng được phát huy đầy đủ cũng có lúc nó bị lu mờ. Chỉ đến
khi có Đảng, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin, có giai cấp công nhân
thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhân dân ta mới
có thể phát huy cao độ tinh thần yêu nước và sức mạnh to lớn của mình trong
đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc.
Những trang sử vô cùng vẻ vang của dân tộc đã nói lên: dân tộc ta rất
anh hùng. Không có lòng yêu nước nồng nàn và chí khí anh hùng của nhân
dân, uy vũ không thể khuất phục, khó khăn không nản chí, dám hy sinh tất cả
tính mạng, tài sản… để đánh giặc, thì không sao có thể tạo nên được một sức
mạnh vô địch để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự
mạnh; không sao lập nên những chiến công hết sức oanh liệt, những kỳ tích
thần kỳ.
Không có nhân dân anh hùng thì dân tộc ta không sao có được những
anh hùng kiệt xuất mà đến nay sử sách vẫn lưu danh. Hai Bà Trưng, Bà Triệu
đã phá bỏ những giàng buộc của lễ giáo phong kiến đứng lên cầm quân đánh
giặc, cứu nước tiêu biểu cho truyền thống của phụ nữ Việt Nam “giặc đến
nhà đàn bà cũng đánh”. Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, trước sức mạnh như
vũ bão của quân Nguyên, đã không hề khiếp nhược, luôn luôn nêu cao quyết
4
Võ Nguyên Giáp: Nắm vững đường lối quân sự của Đảng, tiến lên giành những thắng lợi mới.
9
tâm kháng chiến. Trần Bình Trọng thà chết không hàng giặc. Lê Lợi, Nguyễn
Trãi linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trãi qua bao khó khăn nguy
hiểm, anh dũng chiến đấu, đưa cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc tới thắng
lợi hoàn toàn. Nguyễn Huệ, người nông dân áo vải anh hùng, đã đánh đổ bọn
cầm quyền phong kiến thối nát trong nước, đánh bại chiến tranh xâm lược của
nhà Thanh, lập nên những chiến công vô cùng hiển hách,…
Lịch sử dân tộc đã chỉ ra rằng, ngay từ thế kỷ XIII với ba lần chống
Mông – Nguyên xâm lược thắng lợi, truyền thống yêu nước, bảo vệ Tổ quốc
thực sự đạt đến đỉnh cao. Khác với thời Lý, lần này quân dân Đại Việt đã
bước vào một cuộc thử lửa cực kỳ nguy hiểm vì kẻ thù xâm lược vô cùng
hung bạo, đi đến đâu đất bằng đến đó; cả nước Kim, cả nhà Tống đều chịu
diệt vong. Nhưng “biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng”, cả nước
đứng dậy cùng nhau chống giặc. Từ đây xuất hiện hai dòng yêu nước trong
truyền thống dân tộc: yêu nước của giai cấp thống trị và của nhân dân. Chính
vì vậy, khi Tổ quốc lâm nguy, giờ cứu nước đã đến, cả nước cùng đứng lên và
đoàn kết lại thành một bức tường thành vững chắc chặn đứng bước tiến của
quân thù. Lời hịch thống thiết của Trần Hưng Đạo: “Ta thường tới bữa quên
ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa
xả thịt lột ra, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi
ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng” 5…thực sự
tiêu biểu cho tình cảm sâu sắc đối với đất nước, tổ tiên và phẩm giá của con
người tự do. Lòng yêu nước đó được biểu hiện trong quyết tâm, tiêu diệt kẻ
thù, cứu nước của quân dân nhà Trần. Quả vậy, vua Trần Thái Tông đã tự làm
tướng đốc chiến, xông lên trước trận tiền, làm gương cho tướng sĩ; Tể tướng
Trần Quang Khải chỉ huy quân đánh bại giặc ở bến Chương Dương; Chiêu
văn vương Trần Nhật Duật chỉ huy quân đánh tan quân Nguyên ở cửa Hàm
Tử; thiếu niên như văn hầu Trần Quốc Toản, mới 15 tuổi không được dự hội
5
Hoàng Minh: Tìm hiểu về Tổ tiên ta đánh giặc, Nxb. QĐND, H.1977, tr.187.
10
nghị Bình Than bàn kế sách đánh giặc, giận bóp nát quả cam trong tay lúc nào
không biết, về quê, mộ quân luyện tập võ nghệ, giương cao lá cờ nghĩa “Phá
cường địch, báo hoàng ân”. Thực là hùng khí nổi bật niềm tự hào của một
dân tộc anh hùng. Những hành động cao quí đậm phẩm chất anh hùng, giàu
lòng yêu nước đó chính là nền móng vững chắc của niềm tin vào sự tất thắng
của dân tộc mà thái sư Trần Thủ Độ đã nói với vua Trần Thái Tông: “Đầu
thần chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo !”; Hoặc Tiết chế Trần Hưng Đạo
can gián vua Trần Thái Tông: “Xin Bệ hạ chém đầu thần trước rồi hãy
hàng”. Niềm tin vào sự tất thắng của những người lãnh đạo cuộc kháng chiến
dựa chủ yếu vào truyền thống yêu nước và quyết tâm giữ vững nền độc lập
của nhân dân. Chính cảm nhận được tinh thần và ý chí sắt đá bảo vệ Tổ quốc,
quê hương của nhân dân mà Trần Hưng Đạo và các tướng lĩnh nhà Trần đã
sáng suốt nhìn nhận thế mạnh, thế yếu của kẻ thù, từ đó sáng tạo ra chiến lược
và chiến thuật để tiêu diệt chúng và đè bẹp hoàn toàn ý đồ xâm lược của kẻ
thù.
Truyền thống yêu nước, bảo vệ Tổ quốc được phát huy cao độ đã góp
phần tô điểm thêm truyền thống đoàn kết dân tộc đã hình thành trong lịch sử.
Chính truyền thống yêu nước là hạt nhân tinh thần của khối đoàn kết toàn
dân, và đến lượt mình, đoàn kết trên dưới một lòng vì nước, chống giặc đã trở
thành một động lực to lớn thúc đẩy cuộc kháng chiến đến thắng lợi huy
hoàng. Như Lênin nói: “Sự tự nguyện tự giác đặt lợi ích cá nhân dưới lợi ích
chung của nhân dân, của Tổ quốc và của loài người là cơ sở đạo đức của chủ
nghĩa anh hùng”6. Những người con của đất Việt thời Trần kể trên thực sự đã
hợp lại thành một thế hệ anh hùng của một dân tộc anh hùng.
Cũng cần nhận thức rằng: quyết định vận mệnh dân tộc, làm nên lịch sử
phải là cả một dân tộc anh hùng, một tập thể anh hùng. Đồng thời, luôn phải
ghi nhớ công lao to lớn của các anh hùng dân tộc. Họ trở thành anh hùng vì
6
V.I. Lênin: Toàn tập, bản Tiếng Việt, Nxb. Tiến bộ, tập 29, tr.389-390.
11
họ đã hy sinh phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì có dân ủng hộ,
vì biết dựa vào dân và chính có nhân dân anh hùng họ mới làm nên được
những kỳ tích anh hùng.
Tinh thần yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường, kiên cường bất
khuất là một truyền thống lâu đời hết sức tốt đẹp và quí báu của dân tộc ta. Đó
là cội nguồn của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đứng lên cầm vũ khí
kiên quyết đánh đến cùng, chống mọi kẻ thù; là con đường duy nhất đúng đắn
cho sự trường tồn của dân tộc. Chúng ta vô cùng tự hào và rất trân trọng
truyền thống yêu nước - đánh giặc giữ nước của dân tộc ta.
Như vậy, tinh thần yêu nước không phải là tình cảm tự nhiên, nảy sinh
cùng với sự xuất hiện của con người. Tinh thần yêu nước là sản phẩm của một
quá trình lịch sử xã hội của một cộng đồng người nhất định. Nó bắt nguồn từ
tình cảm tự nhiên sâu sắc của mỗi con người đối với những người ruột thịt,
đối với ngôi nhà, làng xóm, quê hương nơi mà họ đã sinh ra và lớn lên; đối
với mảnh đất mà họ đã đổ biết bao mồi hôi, nước mắt để thuần hoá và từ đó
kiếm được “bát cơm, manh áo”, duy trì lâu dài cuộc sống của mình và các thế
hệ nối tiếp, đối với những sinh hoạt tinh thần mà họ đã cùng những người
đồng hương sáng tạo nên và chung vui sau những giờ lao động vất vả, mệt
nhọc. Những tình cảm đó đã cô đúc lại tạo nên ở con người họ sự gắn bó, yêu
thương mãnh đất quê hương của mình và bên cạnh đó là ý thức về nghĩa vụ,
trách nhiệm đối với việc giữ gìn, bảo vệ và phát triển quê hương mình. Mà cái
quê hương đó, trước đây chỉ là làng xóm, nơi “chôn nhau, cắt rốn” cụ thể của
mỗi con người, nay mở rộng ra thành đất nước, nơi sinh sống của những
người cùng chung số phận, cùng một tiếng nói và một nền văn hoá. Tinh thần
yêu nước không chỉ là tình cảm đối với cộng đồng người cùng số phận tự
nguyện chung sống với nhau mà còn là tình cảm gắn bó với lãnh thổ, nơi sinh
sống của cái cộng đồng đó và ngược lại, không chỉ là tình cảm, nghĩa vụ,
trách nhiệm đối với lãnh thổ quê hương, đất nước của mình mà còn là tình
12
cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm đối với những con người sống trên đất nước đó.
Tuy nhiên, để có được tinh thần yêu nước sâu sắc cũng như để có được truyền
thống yêu nước mang bản sắc dân tộc thì cần phải có một sự nối tiếp kiên trì
của nhiều thế hệ, truyền lại và kế thừa, phát triển qua lớp lớp thế hệ của mỗi
cồng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác theo bề dày lịch sử.
2. Truyền thống yêu nước, bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng
mới.
Truyền thống yêu nước - đánh giặc giữ nước của dân tộc ta đã từng bước
được hình thành và phát triển trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc, đã được lớp lớp thế hệ người Việt kế thừa và hun đúc nên, trở thành bản
sắc riêng có và là nguồn cội cho mọi thắng lợi của cả dân tộc trong dựng nước
và giữ nước, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đặc
biệt trong giữ nước, bảo vệ Tổ quốc truyền thống yêu nước chính là vấn đề cơ
bản có tính qui luật bảo đảm cho sự cố kết cộng đồng, phát huy sức mạnh
toàn dân tộc trong khởi nghĩa vũ trang, đấu tranh cách mạng nhấn chìm cả lũ
bán nước và cướp nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định.
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc ta có Đảng lãnh đạo, kết
hợp chặt chẽ quyền lợi giai cấp và quyền lợi dân tộc, kết hợp tinh thần yêu
nước với tinh thần quốc tế vô sản chân chính, quán triệt quan điểm cách mạng
bạo lực, tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp vô sản, dân tộc ta càng có
điều kiện phát huy cao độ truyền thống yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự
cường, kiên cường bất khuất. Chúng ta càng thấm thía rằng: Để chống bạo lực
phản cách mạng thì không có con đường nào khác là phải dùng bạo lực cách
mạng để đánh bại kẻ thù dân tộc và giai cấp, giành lấy những quyền lợi sống
còn cho nhân dân, cho dân tộc. Đồng thời, truyền thống yêu nước - đánh giặc
giữ nước của dân tộc đã phát triển thành chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa
(XHCN) và gắn bó chặt chẽ với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN.
13
Chủ nghĩa yêu nước XHCN là sự tổng hoà của hai dòng tư tưởng lớn
nhất của nhân loại: đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng
xã hội khỏi ách người bóc lột người, vì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; là
sự tổng hoà của truyền thống lịch sử lâu đời mạnh mẽ nhất của dân tộc Việt
Nam với những tư tưởng tiến bộ nhất của nhân loại trong thời đại mới. Điều
đó làm cho truyền thống yêu nước Việt Nam trở thành sức mạnh vĩ đại, nhấn
chìm và cuốn trôi không những bọn cướp nước và bán nước mà cả nạn nghèo
nàn lạc hậu, dốt nát – một thứ giặc nội xâm, như Bác Hồ đã dạy.
Chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh là sự thống nhất tình yêu Tổ
quốc và tình yêu CNXH. Tuy nhiên để có được chủ nghĩa yêu nước XHCN,
con người Việt Nam ngày nay phải có thêm nhiều phẩm chất tinh thần khác
nữa, phải có sự phát triển toàn diện. Nội dung của chủ nghĩa yêu nước XHCN
phong phú hơn và chứa đựng nhiều mối quan hệ bản chất so với nội dung chủ
nghĩa yêu nước truyền thống. Ngày nay, sự phát triển của tinh thần yêu nước
XHCN đòi hỏi phải có một trình độ giác ngộ XHCN chung của con người;
giải quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, thể hiện trình độ
làm chủ cao của con người đối với xã hội, đối với tự nhiên và bản thân mình;
xác định một thái độ đúng đối với lao động sáng tạo ra cuộc sống mới; thể
hiện tinh thần cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu cao, bảo vệ Tổ quốc XHCN;
giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quốc gia và quốc tế, lòng yêu nước
nồng nàn, kết hợp với tinh thần quốc tế trong sáng,…Nói các khác, sự hình
thành và phát triển của chủ nghĩa yêu nước XHCN chỉ có thể nằm trong sự
hình thành và phát triển chung của truyền thống yêu nước Việt Nam, gắn bó
mật thiết với sự hình thành và phát triển của con người Việt Nam với những
đặc trưng cơ bản mà Nghị quyết đại hội VIII của Đảng và Nghị quyết Trung
ương 5 (khoá VIII) về xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
trong giai đoạn cách mạng mới đã đề ra.
3. Ý nghĩa trong xây dựng quân đội hiện nay.
14
Đối với quân đội ta, để phát huy truyền thống yêu nước - đánh giặc giữ
nước trong giai đoạn hiện nay, việc giáo dục xây dựng hệ tư tưởng Mác –
Lênin nói chung và chủ nghĩa yêu nước XHCN nói riêng có ý nghĩa rất quan
trọng để tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bồi dưỡng nhân tố chính trị
và sức mạnh tinh thần mới cho quân đội. Chỉ có như vậy, quân đội mới nâng
cao được chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu, có đủ sức mạnh tinh
thần để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó trong mọi tình huống.
Ngày nay, cuộc đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc XHCN là: “bảo vệ vững chắc
Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà
nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an
ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội;
giữ vững sự ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại
mọi âm mưu, hoạt động chống phá thù địch, không để bị động bất ngờ”7.
Bảo vệ Tổ quốc với tính chất, nội dung phong phú như vậy, chỉ có chủ
nghĩa yêu nước XHCN kết hợp chặt chẽ trong nội dung lòng yêu nước truyền
thống nồng nàn và mãnh liệt với lòng yêu chế độ XHCN đang ra đời, ngày
càng phát triển, hoàn thiện hơn trong tương lai, một chủ nghĩa yêu nước có sự
gắn bó máu thịt, thân thiết giữa nhân dân với quân đội, giữa nhân dân và quân
đội với chế độ XHCN thì mới có thể tạo ra sức mạnh và động lực tinh thần
trực tiếp đưa nhân dân và quân đội ta vượt qua mọi khó khăn gian khổ, ác liệt
để giành thắng lợi.
Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN ngày nay còn đòi hỏi
mỗi cán bộ chiến sĩ quân đội ta phải kết hợp tinh thần yêu nước với trình độ
giác ngộ cao về chủ nghĩa Mác – Lênin; quán triệt sâu sắc đường lối chính
sách, đường lối quân sự của Đảng ta, biết phân biệt rõ đối tượng, đối tác một
cách mềm dẻo, linh hoạt; nhận thức rõ các vấn đề chính trị phức tạp trên thế
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H. 2006, tr.108109.
7
15
giới và trong khu vực. Nói một cách khác, mỗi một người Việt Nam muốn trở
thành một chiến sĩ yêu nước triệt để và sâu sắc, đấu tranh không mệt mỏi cho
sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thì nhất thiết phải nâng cao bản lĩnh chính trị, đứng
vững trên lập trường giai cấp công nhân để giải quyết tốt mối quan hệ độc lập
dân tộc và CNXH.
Dân tộc ta là một dân tộc anh hùng ! tinh thần yêu nước là một hiện
tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam và trở thành truyền
thống lâu đời của dân tộc ta. Trong thời đại Hồ Chí Minh, yêu nước đã trở
thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng, chủ nghĩa đó là một hệ quả tất yếu, là
một nội dung bên trong không thể thiếu được của chủ nghĩa yêu nước Việt
Nam. Bước và giai đoạn cách mạng hiện nay, nhân dân ta đang và sẽ tiếp tục
phát huy truyền thống yêu nước phát triển lên tầm cao mới.
Là một quân đội anh hùng, con em của nhân dân một dân tộc anh hùng,
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN vừa qua, chủ nghĩa yêu nước trong quân đội ta
đã thể hiện một cách đậm nét, cùng toàn Đảng, toàn dân đánh bại mọi kẻ thù
bán nước và cướp nước.
Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi phải tiếp tục phát triển trong quân đội
ta một chủ nghĩa anh hùng cách mạng sâu sắc và rộng rãi hơn bao giờ hết.
Chủ nghĩa anh hùng đó là chủ nghĩa anh hùng trong đấu tranh vũ trang trên
chiến trường trong tương lai, chủ nghĩa anh hùng trong hoạt động hàng ngày
của quân đội để rèn luyện nên những phẩm chất và kỷ năng mới đáp ứng yêu
cầu ngày càng cao của nhiệm vụ xây dựng quân đội nhân dân cách mạng,
chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó cũng là chủ nghĩa anh hùng cách
mạng trong lao động sản xuất và nhất là trong công tác vận động quần chúng,
thực hiện chức năng cách mạng của một đội quân công tác, đánh bại mọi âm
mưu thủ đoạn “diễn biến hoà bình” và bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc
16
và các thế lực thù địch, củng cố và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc, xây
dựng thành công CNXH trên đất nước ta.
KẾT LUẬN
Truyền thống yêu nước và tinh thần dân tộc là cái vốn quí nhất và là
đặc điểm của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử. Truyền thống
yêu nước và tinh thần dân tộc ấy đã hình thành trong nhân dân ta ngay từ thời
dựng nước và phát triển liên tục trong quá trình đấu tranh lâu dài chống ngoại
xâm. Tổ tiên chúng ta đã biết nắm giữ lấy truyền thống, phát huy truyền thống
ấy để đấu tranh giữ nước, bảo vệ Tổ quốc. Điều đó đã cắt nghĩa vì sao dân tộc
Việt nam đã lập được những chiến công lừng lẫy và trường tồn cùng lịch sử.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta
không những đã vận dụng thành công những kinh nghiệm quý báu nhất trong
chiến tranh cách mạng của các nước trên thế giới mà còn kế tục và phát triển
lên trình độ cao truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc,
đặc biệt truyền thống yêu nước - đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của
nhân dân ta, truyền thống đấu tranh anh dũng và quật cường của các cuộc
khởi nghĩa nông dân trong lịch sử. Chủ nghĩa Mác – Lênin không phủ định
lịch sử và tinh hoa của một dân tộc; ngược lại càng thúc đẩy sự phát triển
những tinh hoa đó lên một trình độ mới, đó là chủ nghĩa yêu nước – bảo vệ
Tổ quốc XHCN. Tinh thần quật cường của dân tộc ta, cũng như những tri
thức về thao lược nghệ thuật quân sự của cha ông ta đã góp phần xây dựng
nên đường lối nghệ thuật quân sự và lý luận quân sự, quốc phòng của Đảng ta
trong điều kiện lịch sử hiện đại.
Mấy ngàn năm trường tồn và phát triển, chiến đấu quyết liệt và chiến
thắng oanh liệt mọi loại kẻ thù đã khẳng định: dân tộc Việt Nam là một dân
tộc kiên cường và mưu lược, anh dũng và thông minh, bất khuất và sáng tạo.
Truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự lực, tự cường, đoàn kết chống giặc,
17
mưu cao kế hiểm của tổ tiên ta là những truyền thống hết sức quí báu, mà các
thế hệ người Việt đã tiếp thu, kế thừa và phát triển thành công.
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của truyền thống yêu nước, chiến đấu và
chiến thắng kẻ thù để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truyền thống yêu nước là
nguồn cội của mọi chiến thắng: Lý Thường Kiệt đã từng đánh thắng một đạo
quân trên 30 vạn người; Trần Quốc Tuấn trong 30 năm trời ròng rã đã ba lần
đánh thắng một kẻ thù mạnh nhất của thời đại đó trên thế giới, đã đánh tan
một đội quân xâm lược đông đến cả gần 100 vạn người; rồi Nguyễn Huệ –
người anh hùng áo vải đã từng chiến đấu quyết liệt, táo bạo, thần tốc để chỉ
trong một trận đánh thắng trên 20 vạn quân Thanh xâm lược. Những chiến
công vang dội, hiển hách của tổ tiên ta bao giờ cũng là niềm tự hào chính
đáng và là kho kinh nghiệm phong phú và quí báu của toàn dân tộc.
Từ khi có Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, nhân dân ta đã
vùng lên làm cách mạng Tháng Tám thành công; kháng chiến thắng lợi, liên
tiếp đánh thắng hai cường quốc thực dân, đế quốc là Pháp và Mỹ; tiến hành
thắng lợi các cuộc chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc XHCN, viết nên
những trang sử hào hùng trong thế kỷ XX, phát triển truyền thống yêu nước
của dân tộc lên tầm cao mới – chủ nghĩa yêu nước Việt Nam XHCN, gắn độc
lập dân tộc với CNXH.
Quân đội ta - quân đội của dân, do dân và vì dân; do Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện đã tiếp thu, kế thừa và phát
triển truyền thống yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc làm nên những
chiến công vang dội. Ngày nay, các thế hệ cán bộ chiến sĩ quân đội cần phải
tiếp tục phát triển chủ nghĩa yêu nước của dân tộc lên tầm cao mới, phấn đấu
hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao
phó.