Tải bản đầy đủ (.doc) (124 trang)

Quản lý rừng và lửa rừng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.39 MB, 124 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới, tài nguyên
rừng đang bị thu hẹp về diện tích và tán phá nặng nề. Điều này đã tác động đến
môi trường đến mức báo động. Hướng biến động rừng cơ bản vẫn ở tình trạng suy
thoái, còn xa mức ổn định và mức cần thiết để bảo vệ môi trường. Vấn đề khắc
phục và bảo vệ rừng là đang được đặt ra nhằm giảm đến mức tối thiểu các ảnh
hưởng đến môi trường. Nguyên nhân chủ yếu là nạn phá rừng làm nương rẫy,
khai thác rừng bừa bãi, khai thác gỗ vượt chỉ tiêu cho phép do sự vô ý thức của
một số người làm cháy rừng và một phần do lũ lụt tàn phá nặng nề. Do sự phát
triển quá nóng của kinh tế, cuộc sống khó khăn của người dân, sự tha hóa, buông
lỏng trách nhiệm của những người có chức năng bảo vệ rừng….thì quan niệm của
nhiều người về những tác dụng của lâm sản là nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tình trạng phá rừng, tận diệt lâm sản đặc biệt. Tuy một số diện tích rừng thứ sinh
tự nhiên được phục hồi, nhưng nhiều diện tích rừng chưa đến tuổi thành thục đã
bị xâm hại, đốn chặt và khai thác.
Cháy rừng đã được hạn chế mạnh mẽ và việc khai thác gỗ trái phép đã
kiểm soát được một phần, nhưng tình trạng mất rừng vẫn ở mức độ nghiêm
trọng. Rừng phòng hộ đầu nguồn trên lưu vực những con sông lớn ở nước ta vẫn
đang bị phá hoại. Tuy nhiên, diện tích rừng trồng lại với mục đích kinh tế, sản
xuất cây lấy gỗ ngắn ngày, cây mọc nhanh mà chưa ưu tiên trồng rừng tại các
khu vực đầu nguồn. Nói đến tài nguyên rừng, ta không chỉ chú ý đến vấn đề
chúng bị tàn phá mà còn phải chú ý đến những tác động đến môi trường và cuộc
sống của chúng ta. Có lẽ vì vậy mà vấn đề tài nguyên rừng đang được người dân và
các cấp chính quyền địa phương quan tâm. Điều quan trọng là phải đưa ra được các
biện pháp nhằm hạn chế sự tàn phá rừng đến mức thấp nhất nhằm bảo vệ rừng, bảo
vệ lá phổi xanh của thế giới. Đó cũng là lý do mà cả xã hội đang đặc biệt quan tâm.

1


CHƯƠNG 1


HIỆN TRẠNG TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
LÂM NGHIỆP 2011-2020
1.1. Thực trạng ngành lâm nghiệp
1.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng và tiềm năng đất đai phát triển lâm nghiệp
Do việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng ở nước ta chưa bền vững và nhu
cầu lớn về khai hoang đất rừng và lâm sản cho phát triển kinh tế - xã hội, nên
diện tích và chất lượng rừng trong nhiều năm trước đây đã bị suy giảm liên tục.
Theo các tài liệu đã có được, năm 1943, Việt Nam có 14,3 triệu ha rừng, độ che
phủ là 43%, đến năm 1990 chỉ còn 9,18 triệu ha, độ che phủ rừng giảm xuống
còn 27%. Thời kỳ 1980-1990, bình quân mỗi năm có hơn 100 nghìn ha rừng đã
bị mất. Tuy nhiên, từ năm 1990 trở lại đây, diện tích rừng của nước ta đã tăng
liên tục nhờ trồng rừng và phục hồi rừng tự nhiên (trừ vùng Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ diện tích rừng vẫn có chiều hướng giảm). Theo công bố tại Quyết
định số 2089/QĐ/BNN-TCLN ngày 30 tháng 8 năm 2012, tính đến ngày
31/12/2011 diện tích rừng toàn quốc là 13.515.064 triệu ha (độ che phủ rừng là
39,7%). Trong đó 10.285.383 triệu ha rừng tự nhiên 3.229 triệu ha rừng trồng
được phân chia theo 3 loại rừng như sau:
- Rừng đặc dụng: 2.011.261 triệu ha, chiếm 14,9%.
- Rừng phòng hộ: 4.644.404 triệu ha, chiếm 36,2%
- Rừng sản xuất: 6.677.105 triệu ha, chiếm 47,6%
Tổng trữ lượng gỗ là 811,68 triệu m 3 (rừng tự nhiên chiếm 94%, rừng
trồng 6%) và khoảng 9 tỷ cây tre, nứa. Trữ lượng gỗ bình quân của rừng tự
nhiên là 76,5m3/ha và rừng trồng là 40,6 m 3/ha. Gỗ tập trung chủ yếu ở ba vùng
là Tây Nguyên chiếm 33%, Bắc Trung Bộ 23%, Nam Trung Bộ 17,4% tổng trữ
lượng. Tổng diện tích lâm sản ngoài gỗ được gây trồng là 379.000 ha, chủ yếu
tập trung ở ba vùng Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Bắc.
Với vốn rừng như trên, chỉ tiêu bình quân hiện nay ở nước ta là 0,15 ha
rừng/người và 9,16 m3/người, thuộc loại thấp so với chỉ tiêu tương ứng của thế
giới là 0,97 ha/người và 75 m3/người.
Về sản lượng gỗ khai thác, những năm gần đây, khai thác đối với rừng tự

nhiên khá hạn chế, với hạn ngạch khai thác bình quân 200.000 m 3/năm. Khai
thác tập trung vào rừng trồng, sản lượng khai thác gỗ từ 3.339 triệu m 3/năm. Các
định mức sản lượng này cung cấp một phần đáng kể nguyên liệu cho công
2


nghiệp chế biến giấy, mỏ, đồ mộc, dăm gỗ xuất khẩu, củi đun góp phần giảm
sức ép vào rừng tự nhiên.
Diện tích đất chưa sử dụng toàn quốc là 6,76 triệu ha, trong đó có đất
trống đồi núi trọc là 6,16 triệu ha chiếm 18,59% diện tích của cả nước, phân bố
giảm dần như sau: vùng Đông Bắc chiếm 28% tổng diện tích đất trống đồi núi
trọc, Tây Bắc 21%, Bắc Trung Bộ 19%, duyên hải Nam trung Bộ 13%, Tây
Nguyên 12%, Đông Nam Bộ 5%....Trong tổng diện tích đất trống đồi núi trọc có
tới 71% diện tích phân bố ở độ cao < 700m và 38% diện tích phân bố ở độ dốc
từ 16-35%. Diện tích đất trống đồi núi trọc này sẽ là tiềm năng, nhưng cũng là
thách thức cho phát triển sản xuất lâm nghiệp trong giai đoạn tới vì phần lớn là
đất dốc, bạc màu và phân bố rải rác.
1.1.2. Đánh giá kết quả các hoạt động ngành lâm nghiệp 2006 - 2010
1.1.2.1. Thành tựu chính của ngành lâm nghiệp
Trên phạm vi toàn quốc, nước ta đã vượt qua thời kỳ suy thoái diện tích
rừng. Diện tích rừng tăng 11,31 triệu ha năm 2000 và 12,61 triệu ha năm 2005
và 13,38 triệu ha năm 2010. Diện tích rừng trồng mới tăng từ 50.000 ha/năm lên
200.000 ha/năm, diện tích rừng tự nhiên được khoanh nuôi bảo vệ phục hồi
nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực phòng hộ và bảo tồn đa dạng sinh học của
rừng. Sản lượng khai thác gỗ rừng trồng tăng khoảng 2.000.000 m 3/năm, cung
cấp một phần nguyên liệu cho công nghiệp giấy, mỏ, dăm gỗ xuất khẩu và củi
đun, góp phần giảm sức ép vào rừng tự nhiên.
Công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản xuất khẩu phát triển nhanh trong
những năm gần đây (sản phẩm gỗ xuất khẩu tăng từ 61 triệu USD năm 1996 lên
1,034 triệu USD năm 2004 và 3,55 triệu USD năm 2010), đóng góp quan trọng

vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước và tạo cơ hội cho phát triển rừng trồng
nguyên liệu công nghiệp.
Ngành lâm nghiệp đã tham gia tích cực vào việc tạo thêm việc làm, tăng
thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người (Ví dụ: Bắc Kạn
thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ thoát nghèo chiếm 32,8% tổng thu nhập,
nhóm hộ khá là 16,8%, tại Tây Nguyên, thu nhập từ lâm nghiệp của nhóm hộ
khá là gần 40%, nhóm hộ nghèo là 17% đáp ứng nhu cầu gỗ gia dụng và củi cho
tiêu dùng nội địa.
• Những kết quả đạt được do những nguyên nhân sau:

3


Nhà nước quan tâm hơn đến việc bảo vệ và phát triển rừng, đã có những
chính sách và chương trình mục tiêu lớn như chính sách giao đất giao rừng,
chương trình 327, dự án trồng mới 5 triệu ha rừng…Nhận thức của xã hội, của
các tầng lớp nhân dân và chính quyền các cấp về bảo vệ và phát triển rừng được
nâng lên.
Sự tăng trưởng liên tục và bền vững của nền kinh tế quốc dân trước hết là
kinh tế nông nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp.
Khoa học và chuyển giao công nghệ về trồng rừng có tiến bộ, góp phần
nâng cao chất lượng và hiệu quả trồng rừng trong những năm gần đây.
Có sự hỗ trợ đáng kể của cộng đồng quốc tế cho công tác bảo vệ, phát
triển rừng và xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn miền núi. Có sự nỗ lực, hy sinh
lớn lao của những người làm nghề rừng trong những điều kiện làm việc khó
khăn, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.
1.1.2.2. Những tồn tại và yếu kém
Một số địa phương, rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất, khai thác bất hợp pháp, làm nương rẫy… (từ năm 2006 đến 2009
bình quân có 4.050 vụ phá rừng/năm và diện tích bị chặt phá 83.451 ha/năm) và

hiện tượng lũ ống, lũ quét, hạn hán, sụt lở đất bất thường có một phần nguyên
nhân do mất hoặc suy thoái rừng.
Tăng trưởng của ngành lâm nghiệp thấp và chưa bền vững, lợi nhuận
thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng chưa được khai thác tổng
hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và các dịch vụ môi trường. Rừng trồng
cũng như rừng tự nhiên năng suất và chất lượng thấp, chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là nguyên liệu gỗ lớn cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu.
Ngành chế biến lâm sản mấy năm gần đây tuy phát triển nhanh nhưng chủ
yếu là tự phát, chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính
cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt, chưa xây dựng
được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện
đại hóa công nghệ, nguồn gỗ nguyên liệu chưa ổn định, phụ thuộc vào nhập
khẩu (trong 4 năm qua, kim ngạch xuất khẩu chế biến lâm sản tăng đột biến
400% nhưng nguyên liệu nhập khẩu chiếm 80% tổng nhu cầu).
Tác động của ngành lâm nghiệp đối với xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế,
chưa tạo ra được nhiều việc làm.
4


Nguyên nhân của những tồn tại:
• Nguyên nhân chủ quan
Nhận thức về lâm nghiệp của các cấp, các ngành chưa đầy đủ và toàn
diện, chưa đánh giá đúng các giá trị môi trường của rừng đem lại cho xã hội,
chưa xác định rõ vị thế lâm nghiệp là một ngành kinh tế hoàn chỉnh từ khâu tạo
rừng, khai thác, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ từ rừng.
Hệ thống chính sách lâm nghiệp thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với chủ
trương xã hội hóa nghề rừng và cơ chế thị trường.
Việc thực hiện xã hội hóa ngành lâm nghiệp chưa có chuyển biến rõ rệt,
quản lý rừng và đất rừng còn nhiều bất cập, tiến độ giao đất, giao rừng chậm,

nhiều địa phương chưa mạnh dạn tổ chức giao rừng tự nhiên và rừng trồng cho
dân, đặc biệt giao cho cộng đồng, hộ gia đình và tư nhân.
Hệ thống tổ chức quản lý ngành lâm nghiệp chưa thống nhất, còn phân
tán, chia cắt. Số lượng, năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
khoa học kỹ thuật chưa đáp ứng được yêu cầu khi bước vào cơ chế thị trường và
hội nhập quốc tế.
Khoa học công nghệ chưa tạo được sức bật, làm chuyển biến căn bản hiệu
quả kinh tế của nghề rừng, chưa gắn kết với sản xuất và thị trường, chưa có định
hướng đầy đủ cho phát triển giống cây trồng lâm nghiệp, chưa đóng góp đáng kể
vào nâng cao năng xuất rừng tự nhiên và chưa có giải pháp sử dụng hợp lý hàng
triệu hecta rừng nghèo kiệt để tạo nguồn thu nhập cho người dân miền núi.
Mạng lưới tổ chức khuyến lâm còn yếu.
Cho đến nay, phát triển lâm nghiệp chủ yếu dựa vào vốn ngân sách của
nhà nước, chưa huy động tối đa các nguồn lực của khu vực ngoài quốc doanh và
dịch vụ môi trường.
• Nguyên nhân khách quan
Rừng trải rộng trên địa bàn rộng lớn, trong khi sức ép dân số lên đất rừng
và lâm sản gia tăng, nhất là đối với khu vực miền núi thiếu đất sản xuất nông
nghiệp và có di dân tự do.
Chu kỳ sản xuất của cây lâm nghiệp dài, lợi nhuận thấp, nhiều rủi ro và
phân bố chủ yếu ở những vùng miền có điều kiện kinh tế, xã hội kém phát triển,
tính cạnh tranh của cây rừng rất thấp so với nhiều cây trồng khác.
5


1.2. Chiến lược phát triển ngành lâm nghiệp 2011 - 2020
1.2.1. Bối cảnh và dự báo phát triển
1.2.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội
• Một số xu thế của thế giới tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội trong nước:
Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, hội nhập kinh tế là tất yếu và

mở rộng ra hầu hết các lĩnh vực, tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng
nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn thách thức lớn cho quốc gia. Cạnh
tranh kinh tế thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị
trường, nguồn vốn và công nghệ giữa các nước ngày càng gay gắt. Khoa học
công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin tiếp tục nhảy vọt, thúc đẩy sự hình
thành nền kinh tế tri thức đã tác động nhiều mặt và làm biến đổi sâu sắc các lĩnh
vực về đời sống xã hội của các quốc gia trên thế giới.
Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung trong khu vực và quốc tế.
Những vấn đề toàn cầu như dân số, môi trường, an ninh tài chính và lương thực,
bệnh tật… trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Nhu cầu hợp tác phát triển tăng lên,
chi phối ngay từ đầu sự lựa chọn chiến lược phát triển của tất cả các ngành kinh
tế trong nước, trong đó có lâm nghiệp.
Đối với các dòng vốn nước ngoài: Theo xu thế chung, vốn ODA sẽ theo
chiều hướng giảm đi, vốn FDI sẽ tăng lên, hướng tới những vùng lãnh thổ có
môi trường đầu tư thuận lợi và các ngành sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao.
Những xu thế phát triển này của thế giới và khu vực sẽ có tác động mạnh
mẽ đến tình hình trong nước. Đây là những cơ hội để tạo ra bước tiến mới trong
phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành lâm nghiệp nói riêng.
• Bối cảnh phát triển trong nước những năm qua:
Nước ta đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế xã hội. Mức tăng
trưởng GDP bình quân đạt 7,5% năm. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế chưa thực
sự vững chắc, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng còn thấp.
Sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao, tăng bình quân 15,7%/năm,
riêng khu vực chế biến lâm sản gần đây đã có sự khởi sắc, kim ngạch xuất khẩu
tăng 400% trong 4 năm qua. Những cải cách trong nông nghiệp và nông thôn đã
giúp tăng nhanh giá trị sản xuất, đưa Việt Nam thành một trong các nước xuất
khẩu hàng đầu thế giới về gạo, cà phê, hạt tiêu… Tuy nhiên, tốc độ đổi mới
công nghệ chậm và năng lực cạnh tranh thấp, sử dụng đất đai trong nông lâm
nghiệp còn chưa hợp lý, năng xuất chất lượng thấp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất
và công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn chậm, khoa học và

6


công nghệ chưa thực sự trở thành cơ sở và động lực phát triển sản xuất nông lâm
nghiệp.
Về mặt xã hội, đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mức sống của
người dân được cải thiện rõ rệt, tình trạng nghèo đói tiếp tục giảm. Phát triển
nguồn nhân lực đã có những chuyển biến tích cực kể cả đối với vùng nông thôn
miền núi. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao và nguy cơ tái nghèo vẫn tồn
tại, đặc biệt trong nhóm các dân tộc ít người ở các vùng sâu vùng xa, chất lượng
nguồn nhân lực chưa đáp ứng được công cuộc đổi mới.
Nhiều chính sách và đạo luật được ban hành hoặc sửa đổi để phù hợp hơn
với các cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, từng bước tạo ra môi trường pháp
lý đầy đủ, an toàn và thuận lợi hơn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, hệ thống pháp luật kinh tế còn chưa đầy đủ và đồng bộ. Công tác cải cách
hàng chính thiếu kiên quyết, bộ máy hành chính chậm đổi mới, kém hiệu lực và
hiệu quả, đội ngũ công chức còn yếu kém về năng lực và phẩm chất.
Hội nhập quốc tế có nhiều tiến triển quan trọng. Tổng kim ngạch xuất
khẩu tăng nhanh, trên 16%/năm. Chính sách tự do hóa thương mại đã tạo động
lực khuyến khích các doanh nghiệp trong, ngoài nước tham gia trực tiếp vào các
hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, bao gồm cả gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Việc
tham gia và thực hiện các cam kết, công ước quốc tế liên quan đến lâm nghiệp
như công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
(CITES), công ước RAMSA về các vùng đất ngập nước quan trọng, công ước đa
dạng sinh học (CBD), công ước liên hợp quốc về chống sa mạc hóa (UNCCD)
… đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi nhưng cũng nảy sinh không ít thách thức cho
các doanh nghiệp nông lâm nghiệp trong cạnh tranh trên thị trường thế giới và
ngay cả thị trường trong nước.
Chiến lược phát triển lâm nghiệp được xây dựng trong lúc đang bắt đầu
thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006 - 2010 với mục tiêu sớm

đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
1.2.1.2. Dự báo phát triển dân số, GDP đến năm 2020
Dự báo dân số Việt Nam có khoảng 100 triệu người vào năm 2020 (với tốc
độ tăng dân số là 1,5% trong giai đoạn 2001 - 2010 và 1,3 % cho giai đoạn 20112020) hoặc 98,6 triệu người (với tốc độ tăng dân số tương ứng là 1,4% và 1,2%).
Tốc độ tăng trưởng GDP sử dụng trong mô hình dự báo là 7,2% trong thời
kỳ 2006 - 2020. Theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm
7


2020, GDP bình quân đầu người dự kiến đạt 3000 - 3200 USD và Việt Nam sẽ
thoát ra khỏi nhóm các nước nghèo. Định hướng đến năm 2020, Việt Nam cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
1.2.1.3. Dự báo nhu cầu lâm sản và dịch vụ môi trường rừng
Dân số gia tăng kết hợp với tăng trưởng kinh tế sẽ tác động đến nhu cầu
lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp. Các phân tích và dự báo trong chiến lược tập
trung vào lâm sản, chủ yếu là gỗ.
Bảng 1.1: Dự báo nhu cầu gỗ, lâm sản ngoài gỗ và dịch vụ môi trường
Năm

Năm

Năm

2010

2015

2020


I. Gỗ nội địa và xuất khẩu (1000 m3)

14.004

18.620

22.160

1. Gỗ lớn trong công nghiệp và dân dụng

8.030

10.266

11.993

2.464

2.922

1.682

3.388

5.271

8.283

120


160

200

II. Giá trị lâm sản xuất khẩu (triệu USD)

3.700

4.800

7.800

1. Sản phẩm gỗ

3.400

4.200

7.000

2. Lâm sản ngoài gỗ

300

600

800

III. Giá trị dịch vụ môi trường* (triệu USD)


250

900

2.000

400

800

2. Gỗ nhỏ sản xuất ván nhân tạo, dăm gỗ xuất
khẩu
3. Nhu cầu gỗ nhỏ cho sản xuất bột giấy
4. Gỗ trụ mỏ

1. Cơ chế phát triển sạch
2. Phòng hộ đầu nguồn, ven biển, đô thị…

200

300

800

3. Du lịch sinh thái

50

200


400

25,7

26,0

26,0

IV. Nhu cầu củi (triệu m3)

*Chỉ tính giá trị dịch vụ môi trường có thể thu được, chưa tính tổng giá trị môi trường

(Nguồn: Quyết định số 18/2007/QĐ-TTG Phê duyệt chiến lược phát triển lâm
nghiệp 2006-2020)
1.2.2. Quan điểm, mục tiêu và kế hoạch phát triển lâm nghiệp 2011 - 2020
1.2.2.1. Quan điểm phát triển
Phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý đến bảo vệ, phát triển, sử dụng
hợp lý tài nguyên, từ trồng rừng, cải tạo rừng đến khai thác chế biến lâm sản,
dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái…. lâm nghiệp cũng như nông nghiệp
không phải chỉ là ngành sản xuất sản phẩm thô đơn thuần mà còn bao gồm cả
chế biến và kinh doanh dịch vụ. Đánh giá đóng góp của ngành phải bao gồm cả
8


giá trị gia tăng của các sản phẩm từ sản xuất, chế biến và kinh doanh, dịch vụ
của ngành. Có như vậy, ngành lâm nghiệp mới được bình đẳng như các ngành
kinh tế khác.
Phát triển lâm nghiệp phải đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh
tế, xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường.
Quản lý, sử dụng và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển

lâm nghiệp.
Rừng phải được quản lý chặt chẽ và có chủ cụ thể, chỉ khi nào các chủ
rừng (tổ chức, doanh nghiệp, hộ gia đình, cộng đồng dân cư….) có lợi ích,
quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng thì khi đó tài nguyên rừng mới được bảo vệ và
phát triển bền vững.
Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp phải dựa trên nền tảng quản lý bền
vững thông qua quy hoạch, kế hoạch bảo vệ phát triển rừng nhằm nâng cao chất
lượng rừng. Phải kết hợp bảo vệ, bảo tồn và phát triển với khai thác sử dụng
rừng hợp lý, kết hợp chặt chẽ giữa trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh phục hồi
rừng, cải tạo, làm giàu rừng với bảo vệ diện tích rừng hiện có, kết hợp lâm
nghiệp với nông nghiệp, ngư nghiệp và các ngành nghề nông thôn, đẩy mạnh
trồng rừng kinh tế đa mục đích, kết hợp việc bảo vệ, phát triển cây lấy gỗ và lâm
sản ngoài gỗ, gắn với phát triển công nghệ chế biến lâm sản nhằm đóng góp vào
tăng trưởng kinh tế, xã hội, môi trường cho sự phát triển bền vững quốc gia.
Phát triển lâm nghiệp phải trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương
xã hội hóa nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng.
Tiếp tục thực hiện và làm sâu sắc hơn việc xã hội hóa nghề rừng. Thực
hiện đa thành phần trong sử dụng tài nguyên rừng (kể cả rừng đặc dụng, rừng
phòng hộ), đa sở hữu trong quản lý, sử dụng rừng sản xuất và các cơ sở chế biến
lâm sản. Từng bước áp dụng rộng rãi hình thức cổ phần hóa các cơ sở sản xuất
lâm nghiệp, chế biến gắn với vùng nguyên liệu.
Bảo vệ rừng là trách nhiệm của các chủ rừng, vừa là trách nhiệm của các
cấp, các ngành, các tổ chức, cộng đồng dân cư thôn và của toàn xã hội, bảo vệ
rừng phải dựa vào dân, kết hợp với lực lượng bảo vệ chuyên trách và chính
quyền địa phương.
Đa dạng hóa các nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp, tăng cường thu hút
vốn của khu vực tư nhân, vốn ODA, FDI và các nguồn thu từ dịch vụ môi
trường rừng…. cho việc bảo vệ và phát triển rừng.
9



Đầu tư của nhà nước cho lâm nghiệp là phần chi trả của xã hội cho các giá
trị môi trường mà rừng đem lại. Các ngành kinh tế có sử dụng các sản phẩm,
dịch vụ của lâm nghiệp (bảo vệ môi trường, cảnh quan du lịch, cung cấp nguồn
nước…) cũng phải chi trả lại cho các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng và
được tính vào chi phí sản xuất, dịch vụ của ngành đó.
1.2.2.2. Mục tiêu và nhiệm vụ đến năm 2020
• Mục tiêu
Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 16,24 triệu ha
đất được quy hoạch cho lâm nghiệp nâng tỷ lệ đất có rừng lên 47% vào năm
2020, đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn của các thành phần kinh tế và tổ
chức xã hội vào các hoạt động lâm nghiệp nhằm đóng góp ngày càng tăng vào
quá trình phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh
học, cung cấp các dịch vụ môi trường, xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống cho
người dân nông thôn miền núi và góp phần giữ vững an ninh, quốc phòng.
• Nhiệm vụ
Kinh tế: Thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 3 loại
rừng. Quản lý tốt rừng tự nhiên hiện có, gia tăng diện tích và năng xuất rừng
trồng, tăng cường các hoạt động nông lâm kết hợp. Sản xuất, chế biến gỗ là lâm
sản ngoài gỗ có tính cạnh tranh và bền vững để đáp ứng về cơ bản nhu cầu nội
địa và tham gia xuất khẩu các sản phẩm gỗ và lâm sản khác cụ thể là:
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp (bao gồm cả công
nghiệp chế biến lâm sản và các dịch vụ môi trường) từ 4-5%/năm, phấn đấu đến
năm 2020, GDP của ngành lâm nghiệp đạt khoảng 2-3% GDP quốc gia.
Quản lý bền vững và có hiệu quả 8,4 triệu ha rừng sản xuất, trong đó 4,15
triệu ha rừng trồng, bao gồm rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung, lâm sản
ngoài gỗ…và 3,63 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên. Diện tích phục hồi
rừng tự nhiên và nông lâm kết hợp là 0,62 triệu ha. Phấn đấu ít nhất có được
30% diện tích rừng sản xuất có chứng chỉ rừng (là diện tích được đánh giá và
cấp xác nhận đạt tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững).

Quy hoạch hợp lý, quản lý và sử dụng có hiệu quả hệ thống rừng phòng
hộ khoảng 5,68 triệu ha và rừng đặc dụng 2,16 triệu ha.
Trồng rừng mới 1,5 triệu ha cho giai đoạn sau, trồng lại rừng sau khai
thác 0,3 triệu ha/năm.
Khoanh nuôi tái sinh 0,8 triệu ha rừng.
Trồng cây phân tán 200 triệu cây/năm.
10


Sản lượng gỗ khai thác trong nước 20-24 triệu m 3/năm (trong đó có 10
triệu m3 gỗ lớn) đáp ứng về cơ bản nhu cầu nguyên liệu cho các ngành công
nghiệp chế biến lâm sản, bột giấy và xuất khẩu.
Khai thác củi dùng cho khu vực nông thôn duy trì ở mức 25-26 triệu m3/năm
Xuất khẩu lâm sản đạt trên 7,8 tỷ USD (bao gồm 7 tỷ USD sản phẩm gỗ
và 0,8 tỷ USD sản phẩm lâm sản ngoài gỗ).
Nâng cao nguồn thu từ các giá trị môi trường rừng thông qua cơ chế phát
triển sạch (CDM-Clean Development Mechanism ), du lịch sinh thái, phòng hộ
chống xói mòn, bảo vệ nguồn nước… đạt 2 tỷ USD vào năm 2020.
Xã hội: Cải thiện sinh kế của người làm nghề rừng thông qua xã hội hóa
và đa dạng hóa các hoạt động lâm nghiệp, tạo công ăn việc làm, nâng cao nhận
thức, năng lực và mức sống người dân, đặc biệt chú ý đồng bào các dân tộc ít
người, các hộ nghèo và phụ nữ vùng sâu vùng xa để từng bước tạo cho người
dân làm nghề rừng có thể sống được bằng nghề rừng, góp phần xóa đói giảm
nghèo và giữ vững an ninh, quốc phòng. Các nhiệm vụ cụ thể là:
Tạo thêm 2 triệu việc làm mới trong lâm nghiệp (bao gồm cả khu vực chế
biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các làng nghề thủ công mỹ nghệ).
Tăng thu nhập, góp phần xóa đói và giảm 70% số hộ nghèo trong các
vùng lâm nghiệp trọng điểm.
Hoàn thành giao, cho thuê rừng và đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia
đình, cá nhân và cộng đồng.

Nâng số lao động lâm nghiệp được đào tạo nghề lên 50%, chú trọng các
hộ dân tộc ít người, hộ nghèo và phụ nữ ở các vùng sâu, vùng xa.
Môi trường: Bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học nhằm
thực hiện có hiệu quả chức năng phòng hộ của ngành lâm nghiệp là: Phòng hộ
đầu nguồn, phòng hộ ven biển, phòng hộ môi trường đô thị, giảm nhẹ thiên tai,
chống xói mòn, giữ nguồn nước, bảo vệ môi trường sống, tạo nguồn thu cho
ngành lâm nghiệp từ các dịch vụ môi trường (phí môi trường, thị trường khí thải
CO2, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng…) để đóng góp cho nền kinh
tế đất nước.
Nâng độ che phủ rừng lên 47% năm 2020.
Trồng 0,25 triệu ha rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
Giảm thiểu đến mức thấp nhất các vụ vi phạm vào rừng, hạn chế canh tác
nương rẫy trên đất lâm nghiệp.
11


1.2.2.3. Kế hoạch phát triển lâm nghiệp 2011 - 2020
• Mục tiêu
Bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, sử dụng tài nguyên rừng và quỹ đất
được quy hoạch cho lâm nghiệp có hiệu quả và bền vững.
Nâng độ che phủ lên 42 - 43% vào năm 2015 và 47% vào năm 2020, tăng
năng suất, chất lượng và giá trị của rừng, cơ cấu lại ngành theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng, đáp ứng cơ bản nhu cầu gỗ, lâm sản cho tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu.
Tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân có cuộc sống gắn bó
với nghề rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an ninh, quốc phòng.
• Nhiệm vụ
Bảo vệ rừng: Bảo vệ và phát triển bền vững đối với 13.388.000 ha rừng
hiện có (tính đến 31 tháng 12 năm 2010) và 750.000 ha rừng khoanh nuôi tái sinh,
1.250.000 ha rừng trồng mới trong giai đoạn 2011 - 2014, đến năm 2015 diện tích

rừng đạt khoảng 14.270.000 ha rừng, năm 2020 đạt 15.100.000 ha rừng.
Giảm căn bản tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, phát
huy có hiệu quả các chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái, tính đa dạng
sinh học của rừng, góp phần phát triển kinh tế xã hội bền vững của đất nước.
Phát triển rừng: Cả giai đoạn 2011- 2020:
Trồng rừng: 2.600.000 ha, trong đó trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng
250.000 ha (bình quân 25.000ha/năm), trồng mới rừng sản xuất 1.000.000 ha
(bình quân 100.000 ha/năm) và trồng lại rừng sau khai thác là 1.350.000 ha
(bình quân 135.000 ha/năm).
Khoanh nuôi tái sinh: 750.000 ha (chủ yếu là rừng phòng hộ, đặc dụng), trong
đó khoanh nuôi tái sinh chuyển tiếp 350.000ha, khoanh nuôi tái sinh mới 400.000 ha.
Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt: 350.000 ha (bình quân 35.000 ha/năm).
Trồng cây phân tán: 500 triệu cây (bình quân 50 triệu cây/năm).
Nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, năng suất rừng trồng sản xuất tăng
25% vào năm 2020 so với năm 2011.
Giai đoạn 2011-2015:
Trồng rừng: 1.250.000 ha, trong đó trồng mới rừng phòng hộ, đặc dụng
150.000 ha (bình quân 30.000 ha/năm), trồng mới rừng sản xuất 500.000 ha
(bình quân 100.000 ha/năm) và trồng lại rừng sau khai thác 600.000 ha (bình
quân 120.000 ha/năm).
12


Khoanh nuôi tái sinh: 550.000 ha, trong đó khoanh nuôi tái sinh rừng
chuyển tiếp 350.000 ha, khoanh nuôi tái sinh mới 200.000 ha.
Cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt: 150.000 ha (bình quân 30.000 ha/năm).
Trồng cây phân tán: 250 triệu cây (bình quân 50 triệu cây/năm).
Nâng cao chất lượng rừng tự nhiên, năng suất rừng trồng sản xuất tăng
10% vào năm 2015 so với 2011.
1.3. Giải pháp thực hiện

1.3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
Thường xuyên tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại
chúng về giá trị kinh tế xã hội, môi trường, an ninh, quốc phòng của rừng.
Tăng cường giáo dục pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng trong nhân
dân, nâng cao ý thức bảo vệ rừng của người dân, vận động các hộ gia đình sống
trong và gần rừng ký cam kết bảo vệ rừng, xây dựng và thực hiện các quy ước
bảo vệ rừng, thay đổi nhận thức, tập quán kinh doanh sản xuất lâm nghiệp quảng
canh sang thâm canh, kết hợp sản xuất gỗ nhỏ, gỗ lớn.
1.3.2. Về quản lý quy hoạch và đất lâm nghiệp
Tổ chức rà soát quy hoạch ổn định đối với 16.245.000 ha rừng và đất lâm
nghiệp (trong đó: đất rừng đặc dụng 2.271.000 ha, đất rừng phòng hộ 5.842.000
ha và đất rừng sản xuất 8.132.000 ha), quản lý quy hoạch thống nhất trên cơ sở
thiết lập lâm phần quốc gia ổn định theo hệ thống tiểu khu, khoảnh, lô trên bản
đồ và cắm mốc ranh giới 3 loại rừng trên thực địa.
Quản lý chặt chẽ, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý quy hoạch 3 loại
rừng, đẩy mạnh việc giao rừng ổn định lâu dài cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia
đình, các tổ chức của nhà nước trực tiếp quản lý khoảng 50% tổng diện tích
rừng, bao gồm toàn bộ diện tích rừng đặc dụng, 65% diện tích rừng phòng hộ và
30% diện tích rừng sản xuất.
Quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến và thương mại lâm sản gắn với
xây dựng các vùng trồng rừng nguyên liệu công nghiệp tập trung. Chú trọng quy
hoạch phát triển các làng nghề sản xuất, chế biến lâm sản, phát triển trang trại
Lâm Nghiệp. Không quy hoạch các cơ sở chế biến, xưởng xẻ ở trong và gần
rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.
Ngân sách nhà nước đảm bảo cho tổng điều tra kiểm kê rừng.
13


1.3.3. Về bảo vệ rừng
Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa lâm nghiệp theo phương châm bảo vệ rừng

là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Củng cố và xây dựng lực lượng bảo vệ rừng từ trung ương đến cơ sở và
của chủ rừng: tăng quyền hạn và trách nhiệm pháp lý của lực lượng kiểm lâm
trong công tác quản lý bảo vệ rừng và thừa hành pháp luật.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bảo
vệ và phát triển rừng: xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật
về bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng,
triển khai cơ chế bồi hoàn giá trị đa dạng sinh học và các quy định về trồng rừng
thay thế đối với diện tích rừng chuyển sang sử dụng cho mục đích khác.
1.3.4. Về giao và cho thuê rừng
Hoàn thiện chính sách khoán bảo vệ rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư thôn: ở những khu vực phù hợp với quy hoạch, người
nhận khoán rừng ổn định lâu dài được giao rừng để có điều kiện hưởng lợi trực
tiếp từ rừng. Nhà nước hỗ trợ quản lý bảo vệ rừng đối với diện tích rừng nghèo
kiệt chưa có thu theo quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30
tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành các nguyên tắc, tiêu
chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước
giai đoạn 2011 - 2015.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức rà
soát, đẩy mạnh giao, cho thuê rừng cho tổ chức, cộng đồng dân cư thôn, hộ gia
đình, cá nhân, đảm bảo tất cả diện tích rừng có chủ quản lý cụ thể. Cơ bản hoàn
thành công tác giao rừng, cho thuê rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất gắn với rừng vào năm 2015.
Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện việc lập và hoàn thiện
hồ sơ giao rừng, cho thuê rừng với mức bình quân là 200.000 đồng/ha
rừng/năm. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định mức thu chi cụ thể cho phù hợp
với điều kiện của từng khu trên địa bàn theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn.
Những diện tích rừng do ủy ban nhân dân cấp xã đang quản lý (trên

2.700.000 ha), tổ chức giao hoặc cho các cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình, tổ
chức, cá nhân, doanh nghiệp thuê. Đối với những khu vực không thể giao, cho thuê
14


thì giao cho kiểm lâm tổ chức lực lượng bảo vệ và tham mưa cho chính quyền cấp
xã thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng.
Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp nhà nước
triển khai thực hiện cơ chế đồng quản lý với cộng đồng dân cư địa phương trên
cơ sở cùng chia sẻ trách nhiệm quản lý bảo vệ rừng, phát triển rừng và cùng
hưởng lợi ích từ rừng trên cơ sở đóng góp của các bên.
1.3.5. Về khoa học, công nghệ và khuyến lâm
Xây dựng và hoàn thiện các quy trình, quy phạm kỹ thuật về phòng cháy,
chữa cháy rừng, khai thác sử dụng rừng, trồng rừng thâm canh trên các lập địa
và vùng sinh thái.
Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật, đặc biệt chú
trọng nghiên cứu chọn tạo giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng thời
nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến phù hợp và kế thừa phát huy truyền
thống để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, giá trị sản phẩm đầu ra và chất
lượng dịch vụ môi trường.
Ứng dụng trang thiết bị khai thác, chế biến, công nghệ tiên tiến phù hợp,
gắn liền nghiên cứu với sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm để nâng cao giá trị
gia tăng, giảm ô nhiễm môi trường.
Củng cố hệ thống khuyến lâm cơ sở, đặc biệt ở những xã có nhiều rừng và
đất rừng, các địa bàn vùng sâu vùng xa.
1.3.6. Về hợp tác quốc tế
Chủ động hợp tác song phương và đa phương với các tổ chức lâm nghiệp
trong khu vực và quốc tế. Tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế về lâm nghiệp
mà Việt Nam tham gia như: Công ước quốc tế về buôn bán động vật hoang dã
(CITES), công ước về da dạng sinh học (UNCBD), công ước về chống sa mạc

hóa (UNCCD), công ước khu liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC),
công ước quốc tế về vùng đất ngập nước (RAMSAR), REDD+, tổ chức quốc tế
về gỗ nhiệt đới (ITTO).
Tiếp tục triển khai các hoạt động hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là
trong khuôn khổ hợp tác ASEAN và vấn đề quản trị rừng, thực thi luật lâm
nghiệp và thương mại lâm sản. Xây dựng và triển khai các hiệp định hợp tác với
các nước trong tiểu vùng sông Mê-Kông, đặc biệt là với Lào và Campuchia.
1.3.7. Về thị trường
Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường sản
phẩm lâm nghiệp.
15


Thực hiện đổi mới trong quản lý lưu thông hàng hóa lâm sản, đảm bảo
nguồn gốc hợp pháp, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia, tạo môi
trường cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo hài hòa lợi ích của người sản xuất và
người tiêu dùng, tạo động lực thị trường, thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp trong
nước phát triển.
1.3.8. Về nhu cầu vốn và cơ chế huy động các nguồn vốn
Tổng nhu cầu vốn cả giai đoạn 2011-2020 là 49.317 tỷ đồng, trong đó:
Vốn ngân sách là 14.067 tỷ đồng, chiếm 29% tổng nhu cầu vốn, bình quân mỗi
năm 1.407 tỷ đồng; vốn ngoài ngân sách là 35.250 tỷ đồng, chiếm 71% tổng nhu
cầu vốn, bình quân mỗi năm 3.500 tỷ đồng, chủ yếu chi cho trồng rừng sản xuất
và bảo vệ rừng.
Giai đoạn 2011- 2015: tổng nhu cầu vốn là 24.562 tỷ đồng, trong đó: Vốn
ngân sách là 8.062 tỷ đồng (chiếm 33%), bình quân mỗi năm là 1.612 tỷ đồng,
vốn vay và các nguồn vốn khác đầu tư phát triển (trồng, chăm sóc, hạ tầng lâm
sinh…) chiếm 5.512 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 1.102 tỷ đồng; vốn sự nghiệp
kinh tế (khoán bảo vệ rừng và khoanh nuôi tái sinh) là 2.550 tỷ đồng, bình quân
mỗi năm là 510 tỷ đồng.

Trong 2 năm 2011- 2012, ngân sách nhà nước đã bố trí 1.925 tỷ đồng
(715 tỷ đồng năm 2011 và 1.210 tỷ đồng năm 2012). Nhu cầu vốn ngân sách 3
năm (2013-2015) là 6.137 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 2.045 tỷ đồng.
• Cơ chế huy động các nguồn vốn
Lồng ghép kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng với kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, chương trình, dự án khác trên cùng địa bàn để nâng cao hiệu
quả tổng hợp về kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh, quốc
phòng.
Vốn đầu tư phát triển từ ngân sách trung ương tập trung cho các dự án
trồng rừng phòng hộ quy mô lớn, các vườn quốc gia, các dự án ở địa bàn các
huyện theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của
Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62
huyện nghèo, vùng Tây Bắc, Tây Nguyên; hỗ trợ phát triển rừng sản xuất, hỗ trợ
xây dựng đường lâm nghiệp ở những vùng trồng rừng nguyên liệu tập trung
nhưng điều kiện giao thông còn khó khăn, các dự án nghiên cứu thử nghiệm, các
dự án đầu tư trang thiết bị công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ thông tin
trong công tác quy hoạch, quản lý, bảo vệ rừng; đầu tư nghiên cứu, áp dụng
công nghệ cao trong chọn giống, sản xuất giống gốc, công nghệ trồng rừng thâm
16


canh. Vốn ngân sách địa phương bố trí cho các dự án còn lại theo chính sách
chung.
Vốn sự nghiệp kinh tế của nhà nước bảo đảm cho việc khoán bảo vệ rừng,
khoanh nuôi tái sinh, theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp, các chi phí sự
nghiệp khác theo đúng quy định hiện hành.
Huy động tối đa nguồn lực của các thành phần kinh tế trong nước, vận
động sự hỗ trợ vốn cho kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (vốn ODA) từ các tổ
chức quốc tế.
Huy động các nguồn tài chính hợp pháp khác, bao gồm nguồn thu từ chi

trả dịch vụ môi trường rừng, thuế tài nguyên rừng…
1.4. Giải pháp về cơ chế chính sách, pháp luật
1.4.1. Một số chính sách hiện hành tiếp tục được áp dụng
Tiếp tục áp dụng cơ chế, chính sách phát triển rừng theo dự án trồng mới
5 triệu ha rừng. Trong giai đoạn 2011-2015, các nhiệm vụ bảo vệ và phát triển
rừng thực hiện theo quy định tại Quyết định số 60/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng
9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và
định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai
đoạn 2011-2015; các Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg ngày 10 tháng 9 năm
2007 về một số chính sách phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007-2015 và số
66/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 12 năm 2011 về sửa đổi bổ sung một số điều
của quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Tiếp tục áp dụng chính sách hiện hành về hỗ trợ lương thực cho đồng bào
miền núi để khắc phục nạn đốt phá rừng làm nương rẫy, chuyển đổi sang trồng
rừng trên đất nương rẫy là đất lâm nghiệp; Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày
27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh
và bền vững đối với 61 huyện nghèo, Quyết định số 73/2010/QĐ-TTg ngày 15
tháng 11 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế đầu tư xây
dựng lâm sinh, Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của
Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng.
Áp dụng chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp,
nông thôn quy định tại Nghị định số 61/2010/NĐ-CP ngày 04 tháng 06 năm
2010 về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông
thôn của Chính phủ, chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông
thôn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 04 năm 2010 của Chính
17


phủ để thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác cho mục tiêu phát triển
và bảo vệ rừng.

1.4.2. Xây dựng cơ chế, chính sách mới
Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ,
ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng các chính sách chủ yếu sau:
Chính sách đối với rừng phòng hộ, theo hướng cho phép tất cả các chủ
rừng thuộc các thành phần kinh tế trong nước bảo vệ, phát triển và sử dụng hợp
lý rừng phòng hộ có nguồn thu ổn định từ rừng.
Chính sách khai thác gỗ và lâm sản: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông
thôn quy định tiêu chuẩn, chỉ số cụ thể về khai thác lâm sản, đảm bảo quyền tự
chủ của chủ rừng trong sản xuất kinh doanh theo phương án quản lý rừng bền
vững được phê duyệt.
Triển khai cơ chế đồng quản lý rừng: từ nay đến năm 2014 thí điểm cơ
chế chia sẻ lợi ích tại một số khu rừng đặc dụng theo hướng chuyển căn bản từ
hình thức nhà nước kiểm soát hoàn toàn công tác bảo vệ rừng sang nhiều hình
thức cùng quản lý, trong đó các cộng đồng địa phương chia sẻ trách nhiệm và lợi
ích thu được với các cơ quan nhà nước.
Chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề lâm
nghiệp, nhất là đối với đồng bào dân tộc.
Chính sách khuyến khích đầu tư chế biến, tiêu thụ gỗ rừng trồng.
Cơ chế, chính sách tái cấu trúc đối với công ty lâm nghiệp thuộc sở hữu nhà nước.

18


CHƯƠNG 2
QUẢN LÝ BẢO VỆ CÁC LOẠI RỪNG
2.1. Quản lý bảo vệ rừng đặc dụng
2.1.1. Khái niệm
Rừng đặc dụng là loại rừng được xác lập theo quy định của luật bảo vệ và
phát triển rừng, có giá trị đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái
rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch

sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ,
góp phần bảo vệ môi trường.
2.1.2. Phân loại rừng đặc dụng
2.1.2.1. Vườn quốc gia
• Khái niệm
Vườn quốc gia là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp phần đất
ngập nước/biển, có diện tích đủ lớn để thực hiện mục đích bảo tồn một hay nhiều
hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện khỏi bị tác động hay bị tác động rất ít, bảo tồn
các loài sinh vật đặc hữu hoặc bị đe dọa cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Vườn quốc gia là nền tảng cho các hoạt động tinh thần, khoa học, giáo
dục, giải trí và các hoạt động sinh thái được kiểm soát và có ít tác động tiêu cực.
• Vai trò, chức năng
- Bảo tồn và duy trì trong tình trạng tự nhiên các hệ sinh thái đặc trưng,
đại diện, các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen; các đặc tính địa mạo, giá trị
tinh thần và thẩm mỹ.
- Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn.
- Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, giải trí, tinh thần và du lịch sinh thái.
- Tạo điều kiện cải thiện chất lượng đời sống của người dân sống trong và
xung quanh vườn quốc gia.
• Tiêu chí phân loại
- Khu vực bảo tồn bao gồm một hay nhiều mẫu đại diện cho các vùng sinh
thái chủ yếu, có các loài sinh vật, các hiện tượng địa chất có giá trị đặc biệt về khoa
học, giáo dục, tinh thần, giải trí hay phục hồi sức khoẻ cấp quốc gia và quốc tế.
- Mỗi vườn quốc gia phải có ít nhất 2 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 10
loài ghi trong Sách đỏ của Việt nam.
- Diện tích của vườn quốc gia cần đủ rộng để duy trì sự bền vững về
mặt sinh thái học, diện tích tối thiểu trên 7.000 ha (VQG trên đất liền), trên
19



5.000 ha (VQG trên biển) và trên 3.000 ha (VQG đất ngập nước), trong đó còn ít
nhất 70% diện tích là các hệ sinh thái tự nhiên có giá trị đa dạng sinh học cao.
- Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích vườn
quốc gia phải nhỏ hơn 5%.
2.1.2.2. Khu bảo tồn thiên nhiên
Khu bảo tồn thiên nhiên được chia thành 2 loại: Khu dự trữ thiên nhiên và
khu bảo tồn loài - sinh cảnh
 Khu dự trữ thiên nhiên
• Khái niệm
Khu dự trữ thiên nhiên là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có hợp
phần đất ngập nước/biển được thành lập để bảo tồn bền vững các hệ sinh thái chưa
hoặc ít bị biến đổi và có các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang bị đe dọa. Khu bảo tồn
thiên nhiên cũng có thể bao gồm các đặc trưng độc đáo về tự nhiên hoặc văn hoá.
Khu bảo tồn thiên nhiên được quản lý chủ yếu nhằm bảo vệ các hệ sinh thái và các
loài, phục vụ nghiên cứu, giám sát môi trường, giải trí và giáo dục môi trường.
• Vai trò, chức năng
- Bảo tồn và duy trì các mẫu chuẩn của tự nhiên, duy trì quá trình sinh thái,
các quần xã sinh vật, các loài, nguồn gen và các thắng cảnh có tầm quan trọng quốc
gia về khoa học, giáo dục, tinh thần, giải trí và du lịch sinh thái.
- Phục vụ nghiên cứu khoa học về sinh thái, sinh học và bảo tồn.
- Tham quan vì mục đích giáo dục, văn hóa, tinh thần, giải trí và du lịch
sinh thái ở mức độ đảm bảo duy trì trạng thái tự nhiên hay gần tự nhiên.
- Tạo điều kiện cải thiện đời sống của người dân sống trong và xung
quanh khu dự trữ thiên nhiên, phù hợp với các mục tiêu bảo tồn.
• Tiêu chí phân loại
- Khu vực phải có các loài sinh vật, môi trường sống và cảnh quan thiên
nhiên có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục, tinh thần, vui chơi giải trí hay
phục hồi sức khoẻ.
- Phải có ít nhất 1 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 5 loài được ghi trong
sách đỏ Việt Nam.

- Diện tích tối thiểu của khu dự trữ thiên nhiên là 5.000 ha (trên đất liền),
3.000 ha (trên biển), 1.000 ha (đất ngập nước). Trong Khu dự trữ thiên nhiên,
diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có tính đa dạng sinh học cao phải chiếm ít
nhất là 70%.
20


- Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích khu dự trữ
thiên nhiên phải nhỏ hơn 5%.
 Khu bảo tồn loài - sinh cảnh
• Khái niệm
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh là một khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc có
hợp phần đất ngập nước/biển, được quản lý bằng các biện pháp tích cực nhằm
duy trì các nơi cư trú và đảm bảo sự sống còn lâu dài của các loài sinh vật đang
nguy cấp. Khu bảo tồn loài - sinh cảnh được quản lý chủ yếu để bảo vệ môi
trường và bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các biện pháp quản lý.
• Vai trò, chức năng
- Bảo tồn và duy trì môi trường sống tự nhiên của các loài, nhóm loài,
quần thể sinh vật đặc trưng, có sự tác động phù hợp của con người.
- Phục vụ nghiên cứu khoa học, giám sát môi trường và giáo dục cộng
đồng, phục vụ cho công tác quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên.
- Tạo điều kiện cải thiện đời sống người dân sống trong và xung quanh
Khu bảo tồn loài - sinh cảnh, phù hợp với mục tiêu bảo tồn.
• Tiêu chí phân loại
- Các khu vực là sinh cảnh quan trọng (khu trú ẩn, kiếm thức ăn, sinh
sản), có ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của loài sinh vật có tầm cỡ quốc
gia hay địa phương.
- Phải có ít nhất 1 loài sinh vật đặc hữu hoặc trên 3 loài được ghi trong
Sách đỏ Việt Nam.
- Diện tích tuỳ thuộc vào yêu cầu về sinh cảnh của loài sinh vật cần bảo

vệ, nhưng ít nhất là 1.000 ha, trong đó các hệ sinh thái tự nhiên chiếm hơn 70%
tổng diện tích khu bảo tồn.
- Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất thổ cư so với diện tích khu bảo tồn
phải nhỏ hơn 10%.
2.1.2.3. Khu bảo vệ cảnh quan
• Khái niệm
Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng
cảnh là khu vực trên đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước/biển có tác động qua
lại giữa con người và thiên nhiên từ lâu đời nên đã tạo ra một khu vực có giá trị cao
về thẩm mỹ, sinh thái, văn hoá và lịch sử, đôi khi cũng có giá trị đa dạng sinh học
cao. Việc duy trì tính toàn vẹn của các mối tác động qua lại truyền thống này là
điểm cốt lõi của công tác bảo vệ, duy trì và phát triển khu bảo vệ cảnh quan.
21


• b. Vai trò, chức năng
Bảo tồn mối quan hệ hài hoà giữa thiên nhiên và con người thông qua việc
bảo vệ cảnh quan, di tích văn hoá, lịch sử, duy trì cách sống và hoạt động kinh tế
truyền thống, hài hoà với thiên nhiên và các cơ cấu văn hoá và xã hội của các
cộng đồng có liên quan.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến vui chơi, giải trí và du lịch,
phù hợp với phạm vi và đặc điểm của khu vực.
- Khuyến khích các hoạt động khoa học và giáo dục nhằm đem lại những
lợi ích lâu dài cho người dân địa phương và tăng cường sự ủng hộ của quần
chúng cho việc bảo vệ môi trường của khu vực đó.
- Mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương thông qua việc cung cấp các
sản phẩm tự nhiên (lâm, đặc sản) và các dịch vụ khác (nước sạch, nguồn thu từ
dịch vụ du lịch…).
• c. Tiêu chí phân loại
- Khu này có các cảnh quan, di tích lịch sử trên đất liền hoặc có hợp phần

đất ngập nước, biển có giá trị văn hoá, lịch sử, thẩm mỹ cao, sinh cảnh đa dạng,
với các loài sinh vật độc đáo, có các phương thức sử dụng tài nguyên, tổ chức xã
hội, phong tục, tập quán, cách sống và tín ngưỡng.
- Khu rừng do cộng đồng quản lý, bảo vệ theo phong tục, tập quán, có truyền
thống gắn bó với cộng đồng về sản xuất, đời sống, văn hoá và tín ngưỡng.
- Tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp và đất khác so với diện tích Khu bảo vệ
cảnh quan nhỏ hơn 10%.
2.1.2.4. Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
Có các hệ sinh thái đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học
của các tổ chức khoa học, đào tạo có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, thực
nghiệm khoa học lâm nghiệp theo quy định của pháp luật.
Có quy mô, diện tích phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu, thực
nghiệm khoa học, phát triển công nghệ cao, đào tạo lâm nghiệp lâu dài.
2.1.3.5. Phân khu chức năng đối với vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên
• Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt
Là khu vực có diện tích vừa đủ để bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái tự nhiên
như mẫu chuẩn hệ sinh thái quốc gia, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để theo dõi
diễn biến tự nhiên của rừng và hệ sinh thái.

22


Đối với rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước, phạm vi và quy mô của
phân khu bảo vệ nghiêm ngặt được xác định theo mục tiêu, đối tượng, tiêu chí
bảo tồn và điều kiện thủy văn.
• Phân khu phục hồi sinh thái
Là khu vực được quản lý, bảo vệ chặt chẽ để khôi phục các hệ sinh thái
rừng thông qua việc thực hiện một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần thiết.
• Phân khu dịch vụ - hành chính
Là khu vực để xây dựng các công trình làm việc và sinh hoạt của ban

quản lý, các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm, dịch vụ du lịch, vui chơi giải trí.
2.1.4. Bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng đặc dụng
2.1.4.1. Phân cấp quản lý rừng đặc dụng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức việc quản lý các vườn
quốc gia có vị trí đặc biệt về bảo tồn thiên nhiên (đặc trưng tiêu biểu về tính đa
dạng sinh học cao, đại diện cho các vùng, miền về sinh cảnh, về nguồn gen), các
vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên nằm trên địa bàn liên tỉnh.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc quản lý vườn quốc gia, khu bảo tồn
thiên nhiên nằm trong phạm vi một tỉnh, và các khu bảo vệ cảnh quan.
Tổ chức cộng đồng dân cư thôn được Nhà nước giao rừng đặc dụng mà
cấp bộ hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh không thành lập ban quản lý khu rừng, có
trách nhiệm tổ chức việc quản lý khu rừng được giao.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho ban quản lý khu rừng theo quyền hạn
của mình và theo quy định của pháp luật.
2.1.4.2. Tổ chức bộ máy của ban quản lý rừng đặc dụng
* Những khu rừng đặc dụng được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn hoặc ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập thì tổ chức bộ máy của Ban quản
lý khu rừng do cơ quan thành lập ban quản lý quyết định. Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quy định cụ thể về cơ cấu tổ chức của ban quản lý khu rừng
đặc dụng thống nhất trong toàn quốc.
* Biên chế ban đầu của ban quản lý khu rừng đặc dụng có số lượng tối
thiểu phù hợp với cơ cấu tổ chức theo quy định của Bộ Nông Nghiệp và Phát
triển nông thôn. Trong quá trình hoạt động, tùy theo yêu cầu về công tác quản lý
và căn cứ vào quy định của Nhà nước, ban quản lý rừng đặc dụng được tự điều
chỉnh về biên chế theo thẩm quyền hoặc xây dựng kế hoạch biên chế hàng năm
trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
23



Lực lượng chuyên trách về bảo vệ rừng của ban quản lý khu rừng thực
hiện theo quy định.
* Ban quản lý khu rừng đặc dụng có năng lực và điều kiện phát triển hoạt
động du lịch sinh thái, được thành lập một số bộ phận trực thuộc để thực hiện
nhiệm vụ này, theo hình thức đầu tư là đơn vị sự nghiệp có thu, được vay vốn để
đầu tư phát triển du lịch theo dự án đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Cấp quản lý khu rừng đặc dụng quyết định việc thành lập bộ phận này theo các
quy định của Nhà nước.
* Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định về tiêu chuẩn giám
đốc, phó giám đốc ban quản lý rừng đặc dụng cho phù hợp với từng loại hình
rừng đặc dụng để làm căn cứ bổ nhiệm, đào tạo, quy hoạch cán bộ nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý rừng đặc dụng.
2.1.4.3. Đầu tư và kinh phí đảm bảo duy trì bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng
Việc đầu tư bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng thực hiện theo quy định về
quản lý đầu tư và xây dựng của Chính phủ và theo các quy định dưới đây:
• Việc xác định các mục tiêu và nội dung đầu tư phải phù hợp với các đặc
thù của từng loại hình rừng đặc dụng.
Đối với các khu rừng đặc dụng ở vùng đất ngập nước là hệ sinh thái đặc
thù, việc xác định các mục tiêu và nội dung đầu tư đối với vùng đất ngập nước
thực hiện theo quy định tại Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23 tháng 09
năm 2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển vùng đất ngập nước.
• Các nội dung đầu tư chính cho rừng đặc dụng
Chi thường xuyên là các khoản chi cho lương, bảo đảm cho bộ máy hoạt
động của Ban quản lý, bảo vệ rừng: chi cho việc theo dõi, giám sát hệ sinh thái
và đa dạng sinh học, nghiên cứu và thực nghiệm khoa học, đào tạo nguồn nhân
lực, tuyên truyền giáo dục cộng đồng về bảo vệ rừng đặc dụng, bảo tồn thiên
nhiên.
Chi đầu tư là các khoản chi để xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng vốn rừng
và làm giàu rừng, cải tạo rừng, trang thiết bị cho nghiên cứu, thực nghiệm khoa
học và quản lý.

• Nguồn vốn đầu tư cho các hạng mục
Ngân sách trung ương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý.
Ngân sách địa phương đầu tư cho các khu rừng đặc dụng do địa phương
quản lý. Ngân sách trung ương hỗ trợ đầu tư có mục tiêu cho các vườn quốc gia
24


của các địa phương và rừng đặc dụng nằm ở huyện biên giới, hải đảo của các địa
phương có ngân sách khó khăn.
Nguồn vốn thu từ lợi nhuận của các hoạt động dịch vụ, hoạt động liên
doanh liên kết, bộ phận kinh doanh, công ty cổ phần kinh doanh dịch vụ trong
rừng đặc dụng (nếu có), cho thuê môi trường rừng, thu phí dịch vụ môi trường
rừng, và các dịch vụ khác của ban quản lý rừng đặc dụng.
Vốn huy động hợp pháp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư phát triển
rừng đặc dụng.
Nhà nước hỗ trợ đầu tư bảo vệ và phát triển khu rừng nghiên cứu thực
nghiệm khoa học và khu bảo vệ cảnh quan mà cấp bộ và ủy ban nhân dân cấp
tỉnh không thành lập ban quản lý (các khu rừng này được thành lập theo mô hình
các trung tâm).
Các chủ rừng và ban quản lý khu rừng đặc dụng được sử dụng nguồn thu
từ các hoạt động dịch vụ và tài trợ của các tổ chức, cá nhân, các dự án đầu tư
bảo vệ và phát triển khu rừng Nhà nước giao sau khi thực hiện nghĩa vụ tài
chính và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Các hạng mục đầu tư cho rừng đặc dụng thuộc nhiều nguồn vốn khác
nhau, cấp quản lý rừng đặc dụng phải lồng ghép nhiều nguồn vốn và căn cứ vào
quy định của nhà nước về quản lý các nguồn vốn để hướng dẫn ban quản lý rừng
đặc dụng lập dự án đầu tư, trình cấp thẩm quyền phê duyệt theo quy định của
Nhà nước.
Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư bảo vệ và phát triển rừng

đặc dụng.
2.1.4.4. Bảo vệ rừng đặc dụng
Việc bảo vệ rừng đặc dụng thực hiện theo quy định của Nghị định số
23/2006/NĐ-CP và theo các quy định sau:
• Trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên
nhiên nghiêm cấm các hoạt động sau đây:
- Các hoạt động làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của rừng.
- Các hoạt động làm ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của các loài động
vật, thực vật hoang dã hoặc loài bảo tồn.
- Thả và nuôi trồng các loại động vật, thực vật đưa từ nơi khác tới mà trước
đây loài này không có trong khu rừng đặc dụng.
- Khai thác tài nguyên sinh vật các tài nguyên thiên nhiên khác.
- Gây ô nhiễm môi trường.
25


×