Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Cơ sở xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (214.16 KB, 23 trang )

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
TỈNH ĐỒNG NAI

ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG
ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI

Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng

 
NHÓM CHUYÊN ĐỀ 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC
CHUYÊN ĐỀ 1.1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÂY TRỒNG CHỦ LỰC

Năm 2016


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

I. Sự cần thiết phải xác định sản phẩm chủ lực
Một quốc gia, một doanh nghiệp hay một địa phương muốn phát triển,
không thể thiếu những ngành hàng hay những sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao.
Những sản phẩm hay những ngành hàng này giữ vai trò chủ đạo và là yếu tố đột
phá, tạo cơ hội và những điều kiện thuận lợi cho các sản phẩm và ngành hàng
khác phát triển theo. Có thể lấy dẫn chứng về một số quốc gia đã và đang phát
triển một cách bền vững dựa vào những ngành hàng hoặc sản phẩm chủ lực như:


Nhật Bản, sau hơn 20 năm phát triển dựa vào những ngành lợi thế về chế tạo
máy, điện tử… đã kéo theo các ngành khác như công nghệ thông tin, ô tô, máy
ảnh, máy tính, sản xuất thép… và đến nay đã thực sự trở thành một cường quốc
về kinh tế. Kế đến là Trung quốc với việc dựa trên lợi thế có nguồn nhân lực dồi
dào, sản xuất sản phẩm cấp thấp, giá rẻ… đã đưa nền kinh tế phát triển một cách
thần kỳ với tốc độ tăng trưởng bình quân 9 – 10%/năm. Trong ngành nông
nghiệp Việt Nam, khi lúa gạo, cao su, hồ tiêu là những sản phẩm có lợi thế cạnh
tranh cao thì những vùng ĐBSCL, ĐNB và Tây Nguyên cũng nổi lên thành
những vùng nông nghiệp trọng điểm của cả nước.
Đồng Nai là một tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp hóa và đô thị hóa
nhanh; Đặc điểm của quá trình này là làm cho các nguồn lực trong nông nghiệp
giảm nhiều; những vấn đề mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế, nguy cơ ô nhiễm môi trường, dịch bệnh cho cây
trồng, vật nuôi, đặc biệt là những rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm đã và đang
đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với sản xuất nông nghiệp. Trong bối cảnh
đó UBND tỉnh đã phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng
cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững do ngành nông nghiệp xây dựng với
một hệ thống các giải pháp quan trọng mang tính đột phá như: nhóm giải pháp về
quy hoạch và thực hiện quy hoạch nông, lâm, ngư nghiệp; bảo quản, chế biến
nông sản, giảm tổn thất sau thu hoạch; về cơ chế chính sách; về khoa học công
nghệ; nhóm giải pháp về xác định lợi thế cạnh tranh của từng ngành hàng nông
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 1


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

nghiệp trên địa bàn tỉnh; nhóm giải pháp về thị trường tiêu thụ; nhóm giải pháp
về đào tạo và bố trí nguồn lao động; nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất và tăng

cường liên doanh liên kết; nhóm giải pháp về đổi mới cơ cấu vốn đầu tư và hoàn
thiện hệ thống cơ sở hạ tầng…Trong đó, nhóm giải pháp về xác định xác định
cây trồng, vật nuôi chủ lực trên địa bàn tỉnh được xem là nhóm giải pháp hết sức
quan trọng và cần thiết để thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng
nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Từ những lý do trên, UBDN tỉnh cho phép Sở Khoa học và Công nghệ
thực hiện đề tài khoa học: Nghiên cứu các yếu tố kinh tế, kỹ thuật và thị trường
để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực phục vụ phát triển ngành nông
nghiệp hàng hóa bền vững tại Đồng Nai; trong đó, chuyên đề cơ sở lý luận về cây
trồng chủ lực là một bộ phận cấu thành của đề tài.
II. Khái niệm về sản phẩm chủ lực
II.1. Một số quan điểm khác nhau về sản phẩm chủ lực (SPCL)
+ Bộ Khoa học và công nghệ: quyết định số 21/2001/QĐ- BKHCNMT về
việc “Ứng dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm xuất khẩu và sản
phẩm chủ lực”: SPCL là sản phẩm giúp gia tăng kim ngạch và chuyển dịch cơ cấu
xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng các sản phẩm chế biến, sản phẩm có hàm
lượng công nghệ cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ cũng như tạo điều kiện đẩy
nhanh áp dụng các công nghệ tiên tiến vào sản xuất theo phương châm lấy tiết
kiệm năng lượng, giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm làm trọng tâm
+ TP. HCM: chương trình phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực của
TP. HCM giai đoạn 2002 – 2005 (Quyết định số: 153 /2002/QĐUB): SPCL phải
có khả năng cạnh tranh cao, tiềm năng thị trường lớn, đem lại hiệu quả kinh tế
cao; đối với người sản xuất, đóng góp đáng kể cho GDP. Ngoài ra, nó phải vừa
có tính hiện đại, vừa có tính văn hóa truyền thống; vừa sử dụng nhiều nguyên
liệu trong nước vừa có thương hiệu mạnh và đặc biệt, phải bảo đảm về lao động
và thân thiện với môi trường.
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 2



Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

+ Hà Nội: “Qui chế đánh giá, xét chọn sản phẩm công nghiệp chủ lực
Thành phố Hà Nội” (Quyết định số 03/2006/QĐUB) SPCL với các đặc trưng cơ
bản là: Có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước; Được tạo ra trên
dây chuyền thiết bị có công nghệ ngang tầm khu vực, phù hợp với trình độ sản
xuất và chiến lược phát triển của Thành phố trong từng thời kỳ; Đảm bảo năng
lực sản xuất và môi trường bền vững; Tạo ra mức tăng trưởng ổn định ở mức
cao và thuộc nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng đóng góp vào tổng
GDP công nghiệp lớn.
+ Đồng Nai: “Chương trình phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực
của tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2006 - 2010” (Quyết định số 955/QĐ-UBND): Sản
phẩm công nghiệp chủ lực phải là sản phẩm đóng vai trò then chốt, quyết định
đối với việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra trong một thời kỳ nhất định.
Đây là những sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành
công nghiệp có nhịp độ tăng trưởng và tỷ lệ giá trị gia tăng cao, có vị trí chi phối
và ảnh hưởng đến sự phát triển đối với nhiều sản phẩm công nghiệp khác cũng
như có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Nói cách
khác, đối với tỉnh Đồng Nai thì sản phẩm chủ lực là sản phẩm công nghiệp có
thế mạnh về giá trị sản lượng và giá trị gia tăng; có sức tác động hay lan tỏa đến
các sản phẩm công nghiệp khác, đồng thời có khả năng tiêu thụ tốt trên thị
trường trong nước cũng như ngoài nước.
+ GS.TS. Võ Thanh Thu: SPCL phải có tương lai phát triển mạnh về
công nghệ, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước; Phải
khai thác được lợi thế của địa phương, là đặc trưng cho địa phương; Phải có
tính lan tỏa, kích thích các ngành khác, sản phẩm khác phát triển; Phải là những
mặt hàng mang hàm lượng chất xám cao, cũng như có khả năng xuất khẩu cao;
Có thể là hữu hình hoặc là vô hình.
+ TS. Lê Tấn Bửu: SPCL phải là sản phẩm trong công nghiệp chế biến

nông, thủy sản vì đây là thế mạnh của Việt Nam mà trọng điểm là ĐBSCL, đồng
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 3


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

thời chúng còn là nguồn cung sản phẩm thiết yếu thỏa mãn nhu cầu cơ bản cho
toàn xã hội.
Như vậy, trong thực tế nghiên cứu cho thấy, ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ
và mỗi thời kỳ khác nhau việc nhận thức về sản phẩm chủ lực có khác nhau.
Chính từ sự nhận thức khác nhau như vậy mà việc lựa chọn sản phẩm chủ lực và
chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực ở mỗi địa phương thời gian qua
cũng có khác nhau. Tuy nhiên, có một vấn đề mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ và
mọi thời đại đều thống nhất với nhau chính là lợi ích của việc xét chọn sản phẩm
chủ lực, đồng thời xem việc tìm ra sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát
triển là nhiệm vụ có tính chiến lược đối với mỗi quốc gia, địa phương và vùng
lãnh thổ. Chính vì điều này mà trước tiên, Luận án cần đi đến một nhận thức
chung, nhất quán về sản phẩm chủ lực.
Từ những kết quả phân tích đã trình bày ở phần trên, có thể nhận diện sản
phẩm chủ lực thông qua định nghĩa như sau: “Sản phẩm chủ lực là sản phẩm
hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu, có khả năng sản xuất và cung ứng với khối
lượng lớn và năng lực cạnh tranh cao; là trung tâm lan tỏa, lôi kéo các ngành
nghề khác cùng phát triển; đồng thời nó còn có thể là sản phẩm thể hiện tính đặc
thù riêng, mang ý nghĩa văn hóa của một quốc gia, địa phương hay vùng lãnh
thổ”.
II.2. Một số đặc trưng cơ bản của SPCL.
+ Có quy mô khối lượng lớn và tính đồng nhất cao
+ Có năng lực cạnh tranh quốc tế

+ Có sức lan tỏa mạnh
+ Mang tính đặc thù của quốc gia và vùng lãnh thổ
+ Có tính an toàn và thân thiện với môi trường
II.3. Ý nghĩa của việc xác định SPCL.

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 4


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

1) Xác định đúng sản phẩm chủ lực đồng nghĩa với việc xác định được
năng lực cạnh tranh cốt lõi của quốc gia, vùng lãnh thổ…, để từ đó có chính sách
đầu tư đúng hướng, tập trung và có chiều sâu.
2) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa xác định đúng trung tâm
lan tỏa, nguồn phát tác hấp lực từ tập trung chuyên môn hóa – hiện đại hóa sản
xuất và cung ứng, có tác động lôi kéo các ngành nghề liên quan, dịch vụ bổ trợ
phát triển.
3) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng đồng nghĩa với việc định vị đúng
nền kinh tế trong chiến lược cạnh tranh toàn cầu. Sản phẩm chủ lực của quốc gia,
vùng lãnh thổ hay địa phương thể hiện đẳng cấp, thực trạng và tương lai phát
triển kinh tế của quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đó. Căn cứ vào định vị
này, các quốc gia, vùng lãnh thổ và địa phương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng phù hợp và hiệu quả nhất, nhằm góp phần giải quyết các bất
ổn kinh tế vĩ mô và đảm bảo tăng trưởng một cách bền vững.
4) Xác định đúng sản phẩm chủ lực cũng có nghĩa là xác định đúng đối
tượng khách hàng và thị trường tiêu thụ để tăng cường áp dụng các hệ thống quản
lý và thực hành chất lượng phù hợp. Để đối mặt với sự cạnh tranh mang tính
quốc tế, các doanh nghiệp phải tạo ra được những sản phẩm bảo đảm chất lượng,

thương hiệu và uy tín, được khách hàng ưa chuộng. Muốn vậy, các nhà sản xuất
phải đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại
cũng như áp dụng các phương pháp quản lý chất lượng một cách toàn diện theo
chuẩn quốc tế, đáp ứng với những đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng.
III. Một số lý thuyết liên quan đến xác định sản phẩm chủ lực
III.1. Thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Khi nhu cầu về một loại sản phẩm tăng lên, các nhà kinh doanh sẽ mở rộng
diện tích để trồng nó và như thế sẽ sảy ra hiện tượng ở nước này (A) được sản
xuất trên đất tốt (do còn quỹ đất thích hợp); ở nước khác (B) phải sản xuất trên
đất xấu (do không còn quỹ đất thích hợp). Hiện tượng này không đảm bảo lợi
nhuận cho các nhà kinh doanh ở nước B nên họ sẽ không sản xuất nữa. Trong
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 5


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

điều kiện đó, A. Smith cho rằng có thể giải quyết bằng cách nhập khẩu sản phẩm
đó từ nước ngoài với giá rẻ hơn. Việc nhập khẩu này sẽ mang lại lợi ích cho cả
hai nước. Lợi ích này được gọi là lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương.
Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so
sánh chi phí nguồn lực để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm. Khi một nước sản
xuất sản phẩm có chi phí cao hơn (do hạn chế về nguồn lực) có thể nhập sản
phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn (do có ưu thế về nguồn lực).
Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí
sản xuất thấp sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi bán trên thị trường quốc tế.
Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí sản xuất cao sẽ có được sản
phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại
hiệu quả. Điều này gọi là bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.

Ngày nay, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam việc khai thác
lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số
loại sản phẩm, đặc biệt là công nghệ sản xuất với chi phí chấp nhận được mà phải
nhập khẩu công nghệ. Khi nhập công nghệ sản xuất, lao động trong nước sẽ học
được cách sử dụng máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học
cách sản xuất ra chúng. Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các
nước công nghiệp phát triển (có lợi thế tuyệt đối về công nghệ) và các nước đang
phát triển (có lợi thế tuyệt đối về nguồn lực) thông qua bù đắp sự yếu kém về khả
năng sản xuất tư liệu sản xuất và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước
đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối
III.2. Thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Học thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo nghiên cứu sự trao đổi hàng hóa
giữa các quốc gia dựa trên nền tảng học thuyết về giá trị lao động.
Theo học thuyết này thì ngoại thương có lợi cho mọi quốc gia miễn là xác
định đúng lợi thế so sánh. Nghĩa là việc chuyên môn hóa của mỗi nước phải dựa

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 6


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

trên lợi thế khi đối chiếu so sánh hao phí lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm giữa
các quốc gia.
Muốn xác định lợi thế so sánh ta phải xác lập lợi thế tuyệt đối. Toàn bộ
phân tích của D. Ricardo về lợi thế so sánh thực chất dựa trên sự khác nhau giữa
các nước trong công nghệ sản xuất dẫn đến năng suất vật chất và đòi hỏi lao động
đơn vị khác nhau.
Xét trên góc độ giá yếu tố đầu vào cũng dẫn đến lợi thế so sánh với nền tảng

công nghệ như nhau: các nước phát triển có cung về tư bản nhiều hơn các nước
đang phát triển dẫn đến số lượng tư bản trên mỗi nhân công lớn hơn. Ngược lại số
nhân công trên một đơn vị tư bản của các nước đang phát triển lại lớn hơn các
nước phát triển. Như vậy giá thuê tư bản ở các nước phát triển rẻ hơn tương đối so
với giá thuê nhân công; ngược lại ở các nước đang phát triển giá thuê nhân công
lại rẻ hơn tương đối so với giá thuê tư bản. Nói một cách khác, các nước phát triển
có lợi thế so sánh về giá thuê tư bản còn các nước đang phát triển có lợi thế so sánh
về giá thuê nhân công. Quốc gia nào sản xuất hàng hóa có hàm lượng nhân tố đầu
vào mà mình có lợi thế so sánh cao một cách tương đối thì sẽ sản xuất được hàng
hóa rẻ hơn tương đối và sẽ có lợi thế so sánh về những hàng hóa này.
Điều này lý giải vì sao Việt Nam lại xuất khẩu nhiều sản phẩm thô hoặc sơ
chế như dầu thô, than đá, thủy sản đông lạnh... hoặc hàng hóa có hàm lượng nhân
công cao như dệt may, giày dép... còn nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các nước
phát triển.
IV. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
IV.1. Khái niệm về tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một hoặc một số chỉ tiêu định lượng
hoặc định tính mà theo đó, người ta có thể nhận biết được sản phẩm nào có ưu
thế trong sản xuất, kinh doanh hoặc cạnh tranh trên thương trường để công nhận
là sản phẩm chủ lực. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu thì có thể tiếp
cận vấn đề này từ các khía cạnh như sau:
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 7


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

Một là, phải xem xét, đánh giá và lựa chọn sản phẩm chủ lực dựa trên cả
hai nhóm tiêu chí, tiêu chí cần và tiêu chí đủ: Nhóm tiêu chí cần là những yếu tố

nội tại của một sản phẩm cụ thể nào đó mà chúng có thể giúp sản phẩm đáp ứng
được những đòi hỏi của xã hội, đặc biệt là đáp ứng được các mục tiêu của nhà
quản lý như: có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng cao, nộp ngân sách lớn, giải quyết
nhiều lao động... Khi một sản phẩm có đủ các yếu này thì sản phẩm đó được coi
là sản phẩm chủ lực. Nhóm tiêu chí đủ: là những yếu tố mà sản phẩm chủ lực đòi
hỏi về phía xã hội. Chẳng hạn như: phải có tài nguyên, nguồn nhân lực, đầu tư
xây dựng thương hiệu, chính sách hợp lý… Trên thực tế, khi các doanh nghiệp
hay nhà nước đáp ứng tốt những đòi hỏi này thì sản phẩm bình thường vẫn có thể
trở thành sản phẩm chủ lực. Có thể nói rằng, tiêu chí cần là mục tiêu cuối cùng
mà một sản phẩm phải hướng tới, còn tiêu chí đủ là những yếu tố mà “xã hội”
phải quan tâm đảm bảo để sản phẩm đạt đến mục tiêu của mình.
Hai là, khi xem xét, đánh giá lựa chọn sản phẩm chủ lực phải cân nhắc đầy
đủ cả hai tiêu chí, tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Mặc dù mọi phương
pháp xác định sản phẩm chủ lực đều cố gắng lượng hóa đến mức tối đa để có thể
đưa ra kết quả khách quan, chính xác, nhưng trên thực tế không thể quy tất cả các
yếu tố kinh tế và xã hội thành các con số. Đó là chưa kể còn có nhiều biến số khó
lường có thể làm đảo lộn mọi tính toán. Chính vì vậy, cần thiết phải xây dựng cả
hai loại tiêu chí định tính và định lượng. Tiêu chí định lượng dựa trên các số liệu
thống kê, phân tích bằng các thuật toán, còn tiêu chí định tính chủ yếu dựa trên
các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội được xác định bằng kiến thức, kinh nghiệm
của các chuyên gia.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cũng cần phải vận dụng linh hoạt,
không cứng nhắc khi sử dụng các tiêu chí. Chẳng hạn, có tiêu chí về lý thuyết có
thể định lượng như nhu cầu thị trường, giá trị thương hiệu, nhưng nếu không thể
đo đếm, tính toán được các chỉ tiêu đo lường một cách chính xác thì đành phải sử
dụng nó như là tiêu chí định tính, với vai trò đánh giá của các chuyên gia. Tuy

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 8



Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

vậy, khi xây dựng tiêu chí, cần cố gắng lượng hóa cả các đánh giá định lượng và
định tính thành điểm số để dễ so sánh và lựa chọn.
IV.2. Yêu cầu đối với tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực chỉ bảo đảm được chất lượng tốt và
khả thi khi nó thỏa mãn các yêu cầu sau:  Tiêu chí phải bảo đảm tính định
lượng. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực có thể xây dựng dưới dạng định tính
hoặc định lượng. Tuy nhiên, để bảo đảm rõ ràng, minh bạch thì các tiêu chí cần
được lượng hóa. Những tiêu chí không thể lượng hóa được như chỉ tiêu đánh giá
độ mạnh của thương hiệu, biểu trưng văn hóa địa phương…thì cần có tiêu chí
trung gian khác làm cơ sở đánh giá.  Tiêu chí phải bảo đảm tính khách quan,
khoa học. Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực được xây dựng dựa trên các số
liệu, dữ kiện khách quan, không áp đặt theo cảm tính hay ý chí chủ quan của bất
kỳ ai. Đồng thời nó còn phù hợp với qui luật vận động của các yếu tố kinh tế, xã
hội – văn hóa.  Tiêu chí phải bảo đảm tính đặc trưng của địa phương. Tiêu
chí xác định sản phẩm chủ lực phải thể hiện được những đặc trưng của từng
vùng, miền. Đây là cơ sở phân biệt một hàng hóa của địa phương này với hàng
hóa của địa phương khác.  Tiêu chí phải bảo đảm dễ hiểu, dễ thực hiện. Xây
dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực không nên sử dụng các mô hình toán
phức tạp, triết lý cao siêu hay viện dẫn quanh co làm cho việc áp dụng tiêu chí
vào thực tế gặp khó khăn phức tạp.  Tiêu chí phải bảo đảm tính công khai.
Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực của địa phương cần được xây dựng tập thể và
công bố rộng rãi cho mọi đối tượng có liên quan đều biết. Việc xây dựng và công
bố này nhất thiết phải được thực hiện ngay từ khi ban hành chương trình hay qui
định về hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của địa phương.
IV.3. Ý nghĩa của việc xây dựng tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
 Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là thước đo giá trị nội tại và khách

quan của hàng hóa. Nó phản ảnh trung thực về khả năng đáp ứng những đòi hỏi
của thị trường, của xã hội cũng như của nhà quản lý. Thông qua các tiêu chí đánh
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 9


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

giá, người ta nhận biết được sản phẩm chủ lực đang sở hữu những tính năng, chất
lượng gì và có khả năng thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng tới đâu.
 Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực còn là những yêu sách về phía xã
hội và nhà quản lý. Nếu đáp ứng được những yêu sách này thì sản phẩm sẽ đủ
điều kiện trở thành sản phẩm chủ lực. Như vậy, cũng có thể xem hệ thống tiêu chí
đánh giá là khuôn mẫu cho các chính sách đầu tư về công nghệ, sử dụng tài
nguyên, đào tạo tay nghề và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước.
 Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, khi được thừa nhận, là một văn bản
có giá trị pháp lý, chi phối mọi hoạt động của các nhà sản xuất kinh doanh, nhà
hoạch định chính sách và nhà quản lý. Để phát triển sản phẩm chủ lực, các nhà
sản xuất phải điều chỉnh công nghệ, tổ chức lại sản xuất và áp dụng các hệ thống
quản lý chất lượng hợp chuẩn. Sẽ không còn tùy tiện, chủ quan xem thường qui
chuẩn thường thấy ở đối tượng này. Nhà hoạch định chính sách và nhà quản lý sẽ
lấy đó làm mục tiêu để định ra các biện pháp tổ chức thực hiện thích hợp.
 Tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là một bản tuyên ngôn về chất
lượng của hàng hóa, thể hiện sự cam kết về trách nhiệm của doanh nghiệp, nhà
sản xuất với cộng đồng, xã hội. Thông qua hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm
chủ lực, người tiêu dùng hiểu được rằng nhà sản xuất sẽ làm gì, làm như thế nào
và chịu trách nhiệm ra sao trong việc cung cấp các tiện ích để thỏa mãn nhu cầu
của họ ở chính trong sản trong phẩm của các nhà sản xuất.
 Hệ thống tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực là bản tuyên bố sứ mạng

của các doanh nghiệp, các nhà sản xuất kinh doanh, có giá trị lâu dài về mục đích
và giúp phân biệt được doanh nghiệp này với những doanh nghiệp khác. Có thể
gọi đó là phát biểu của một doanh nghiệp về triết lý kinh doanh, những nguyên
tắc kinh doanh, thể hiện niềm tin và tầm nhìn của doanh nghiệp.
IV.4. Nội dung của tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực
Nhóm tiêu chí định lượng
1. Quy mô ngành hàng
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 10


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

Tiêu chí này phản ánh khả năng sản xuất và cung ứng với khối lượng lớn
của sản phẩm chủ lực; có thể sử dụng các tiêu chí nhỏ như: Quy mô về số lượng
(đối với ngành trồng trọt là diện tích), quy mô về giá trị (giá trị sản lượng). Tiêu
chí này không chỉ phản ánh quy mô sử dụng các nguồn lực mà còn phản ánh quy
mô đóng góp của các ngành hàng đối với tổng giá trị sản lượng của một tỉnh hay
một vùng lãnh thổ. Nếu quy mô càng lớn, chứng tỏ sản phẩm chủ lực đang xét
càng có mức độ quan trọng đối với toàn vùng vì nó đóng góp giá trị lớn và tác
động mạnh đến kết quả sản xuất toàn vùng.
2. Giá trị sản lượng/ha
Tiêu chí này được sử dụng đối với các sản phẩm trong ngành trồng trọt
phản ánh khả năng đóng góp vào hiệu quả sản xuất và năng lực cạnh tranh của
ngành hàng. Tiêu chí này càng lớn, chứng tỏ sản phẩm chủ lực đang xét có mức
đóng góp vào quy mô lớn, có sức cạnh tranh cao và tác động mạnh đến kết quả sản
xuất của toàn vùng.
3. Mức lãi và mức thu nhập/ha
Là những tiêu chí quan trọng để đánh giá về hiệu quả sản của ngành hàng,

nó phản ánh một cách chính xác khả năng canh trạnh của ngành hàng. Tiêu chí này
được tính bởi công thức:
Lãi/ha = doanh thu/ha – tổng chi phí/ha
Hoặc
Thu nhập/ha = doanh thu/ha – tổng chi phí/ha + công lao động gia đình
Mức lãi và mức thu nhập càng lớn chứng tỏ ngành hàng có hiệu quả càng
cao và có khả năng thu hút nhiều nguồn lực để phát triển và như thế, có hội để gia
tăng khối lượng càng lớn.
4. Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm trong vùng (Grw)
Tiêu chí này cho biết mức độ tăng trưởng về sản lượng, giá trị sản lượng hoặc
giá trị gia tăng của sản phẩm chủ lực. Nó phản ảnh khả năng và triển vọng phát triển

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 11


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

của hàng hóa chủ lực trong tương lai. Tốc độ tăng trưởng của sản phẩm có thể nhận
được từ số báo cáo hàng năm của địa phương hoặc tính theo công thức:

Grw
Trong đó:

OV1 – OV0
x 100
= ___________
OV0 _____
__

__________

OV1: GTSL hoặc sản lượng của sản phẩm tại thời điểm xem xét
OV0: GTSL hoặc sản lượng của sản phẩm tại thời điểm định gốc so sánh
Tiêu chí này có thể xem xét qua nhiều năm. Nếu tốc độ tăng trưởng trung
bình càng cao chứng tỏ sản phẩm chủ lực của vùng, miền hay địa phương đang
xét càng có khả năng và triển vọng tăng trưởng tốt, ổn định và bền vững.
(Ghi chú: tiêu chí này còn có thể được xác định bởi tốc độ tăng về quy mô
của sản phẩm chủ lực như quy mô diện tích, quy mô sản lượng…)
5. Tỷ trọng của sản phẩm so với toàn vùng (Rov)
Là tỷ lệ so sánh giữa giá trị sản lượng của sản phẩm chủ lực vùng với tổng
giá trị sản lượng của vùng được tạo ra trong một thời kỳ xác định. Tiêu chí này
phản ảnh mức độ tập trung lao động xã hội của sản phẩm tại một vùng, miền hay
địa phương được thể hiện thông qua giá trị sản lượng, giá trị gia tăng. Tiêu chí
này còn phản ảnh tầm quan trọng của sản phẩm chủ lực thông qua sự đóng góp
giá trị của nó vào thành tích chung của cả vùng, miền, địa phương. Tỷ trọng này
được tính theo công thức:

Rov =

OVR
OVP

x 100

Trong đó:
OVP: Giá trị sản lượng của sản phẩm chủ lực
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 12



Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

OVR: Tổng giá trị sản lượng của toàn vùng
Nếu tỷ trọng này càng cao chứng tỏ sản phẩm chủ lực đang xét càng quan
trọng đối với vùng vì nó đóng góp giá trị lớn và có sức tác động mạnh đến kết
quả sản xuất kinh doanh của toàn vùng.
(Đối với cây trồng, tiêu chí này còn có thể được xác định bởi tỷ lệ diện tích
của cây trồng chủ lực với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp)
6. Hệ số vượt trội của sản phẩm (CGrw)
Tiêu chí này phản ảnh khả năng vượt trội của hàng hóa chủ lực đối với
toàn ngành kinh tế. Nếu hệ số này càng cao chứng tỏ hàng hóa chủ lực đang xét
giữ vai trò quyết định trong việc hình thành mức tăng trưởng chung cho toàn
ngành. Công thức xác định hệ số vượt trội có dạng:

CGrw
Trong đó:

GRWi
= ______
__ GRWs
______

GRwi: là tốc độ phát triển của sản phẩm i
GRWs: là tốc độ phát triển chung của toàn bộ ngành (khu vực) kinh tế
Sử dụng hệ số vượt trội để đánh giá mức độ ảnh hưởng của tăng trưởng sản
phẩm I đến toàn bộ ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, thương mại dịch
vụ) sản phẩm i. Nếu CGrw < 1, việc phát triển sản phẩm i sẽ làm tăng tỷ trọng
giá trị sản phẩm i trong ngành nên sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng ngành

kinh tế (kéo giảm tốc độ tăng trưởng của ngành); Nếu CGrw >1, việc phát triển
sản phẩm i sẽ làm tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm i trong ngành nên sẽ ảnh hưởng
tích cực đến tăng trưởng ngành kinh tế (đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của ngành).
7. Hệ số thu nhập của sản phẩm chủ lực (Iha)

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 13


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

Iha là hệ số để so sánh mức thu nhập bình quân1 ha của sản phẩm chủ lực
với mức thu nhập bình quân 1 ha của toàn ngành. Hệ số này để xác định tính vượt
trội của sản phẩm chủ lực về mức thu nhập: công thức tính như sau:

Ihai

Iha =
__ Ihabq
Trong đó:
Iha: Hệ số thu nhập bình quân/ha/năm
Ihai: Mức thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của sản phẩm i
Ihabq: Mức thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của ngành trồng trọt trong vùng
Nếu giá trị > 1 là sản phẩm đang có hiệu quả cao, nếu giá trị < 1 là sản
phẩm có hiệu quả thấp; nếu = 1 là mức độ hiệu quả ở mức trung bình
8. Hệ số lãi của sản phẩm chủ lực (Bha)
Iha là hệ số để so sánh mức lãi bình quân 1 ha của sản phẩm chủ lực với
mức lãi bình quân 1 ha của toàn ngành. Hệ số này để xác định tính vượt trội của
sản phẩm chủ lực về mức lãi, công thức tính như sau:


Trong đó:

Bhai
Bha =
B
__ habq

Bha: Hệ số lãi bình quân/ha/năm
Bhai: Mức lãi bình quân trên 1 ha/năm của sản phẩm i
Ihabq: Mức lãi bình quân trên 1 ha/năm của ngành trồng trọt trong vùng
Nếu Bha > 1 là sản phẩm đang có lãi cao, nếu B ha < 1 là sản phẩm có lãi
thấp; nếu Bha = 1 là mức lãi trung bình.
9. Hệ số địa phương hóa của sản phẩm chủ lực (LQir)

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 14


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

Hệ số địa phương hóa (Location Quotient) giúp đo lường mức độ tập
trung chuyên môn hóa của vùng, miền hay địa phương về lĩnh vực khu vực i
trong mối quan hệ với vùng lãnh thổ lớn hơn R (thường là một quốc gia) và trong
toàn bộ nền kinh tế (tức là, tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế của một quốc gia).
Thông qua hệ số này, người ta thấy được mức độ tập trung chuyên môn hóa của
một ngành hay sản phẩm nào đó tại một vùng, miền hay địa phương so với mức
độ tập trung chuyên môn hóa ngành, sản phẩm đó của vùng lớn hơn hay trên cả
nước. Hệ số địa phương hóa được thể hiện theo công thức:


LQir

=

Xir/ XIr

XiR/ XIR

Trong đó:
Xir: Giá trị sản lượng sản phẩm loại i của vùng, miền, địa phương r
XIr: Tổng giá trị sản lượng trong vùng, miền, địa phương r
XiR: Giá trị sản lượng sản phẩm i toàn ngành (khu vực lớn hơn hay cả nước R)
XIR: Tổng giá trị sản lượng của cả nước (hoặc khu vực lớn hơn hay cả nước R)
Thực tế nghiên cứu của các nước cho thấy nếu LQ ir < 1, cho biết vùng,
miền hay địa phương đang xét có ít tiềm năng phát triển sản phẩm i; LQir > 1, cho
biết vùng, miền hay địa phương đang xét nhiều hay ít tiềm năng phát triển sản
phẩm i và khi LQir ≥ 1,25, cho biết vùng, miền hay địa phương đang xét có tiềm
năng đặc biệt phát triển sản phẩm i để cạnh tranh toàn cầu.
10. Sức cạnh tranh của sản phẩm chủ lực (Com)
Để xác định sức cạnh tranh của sản phẩm, ta có 2 trường hợp để so sánh:
một là so sánh hiệu quả của các loại cây trồng trên cùng một loại đất; hai là so
sánh hiệu quả của loại cây trồng i tại địa bàn đang nghiên cứu với hiệu quả của
cây trồng đó được trồng ở một số địa phương khác. Như vậy, ta có 2 loại công
thức như sau:

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 15



Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

a. So sánh sức cạnh tranh của sản phẩm i với các SP khác trên cùng một
loại đất:

Ii

Com1 =
___ Ix
Trong đó:
Com1: Hệ số cạnh tranh
Ii: Thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của sản phẩm i
Ix: Thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của SP khác cùng trồng trên 1 loại đất
Nếu Com1 > 1 là sản phẩm đang có sức cạnh tranh cao, nếu Com 1 < 1 là sản
phẩm có cạnh tranh thấp; nếu Com1 = 1 là sản phẩm có sức cạnh tranh không rõ ràng.
b. So sánh sức cạnh tranh của sản phẩm trồng trên địa bàn với sản phẩm
trồng ở địa phương khác:

Com2
Trong đó:

Iir

=
I
__ ix

Com2: Hệ số cạnh tranh
Iir: Thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của sản phẩm i trồng ở vùng nghiên cứu

Iix: Thu nhập bình quân trên 1 ha/năm của sản phẩm i trồng ở địa phương
khác.
Nếu Com2 >1 là sản phẩm đang có sức cạnh tranh cao, nếu Com2 <1 là sản
phẩm có cạnh tranh thấp; nếu Com2 = 1 là sản phẩm có sức cạnh tranh không rõ ràng.
Nhóm tiêu chí định tính
Là các tiêu chí khó lượng hóa mà chỉ có thể dễ dàng thu thập thông tin
thông qua các phương pháp định tính như phỏng vấn, khảo sát.... Nhóm này có 7
tiêu chí gồm:
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 16


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

1. Quy mô thị trường: Chỉ tiêu này cho biết qui mô thị trường tiêu thụ
hàng hóa chủ lực rộng hay hẹp, nội địa hay quốc tế. Qui mô thị trường, đặc biệt
thị trường quốc tế càng rộng lớn, nói lên khả năng phát triển ổn định và bền vững
của hàng hóa chủ lực trong tương lai lâu dài.
2. Mức độ lan tỏa đến các lĩnh vực, ngành nghề khác: Chỉ tiêu này lại
cho biết sự phát triển của hàng hóa chủ lực sẽ có lợi cho những ngành nghề nào
trong nền kinh tế. Mức độ lan tỏa càng lớn chứng tỏ vai trò của hàng hóa chủ lực
càng quan trọng bởi sự tồn tại và phát triển của hàng hóa chủ lực đã góp phần
quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế trong vùng.
3. An toàn và thân thiện với môi trường: Sản xuất gắn với môi trường
đang được xem là “vũ khí” tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương
trường. Một ngành sản xuất không phá hủy cân bằng hệ sinh thái, không ô nhiễm
môi trường tự nhiên, không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng…được xã hội
thừa nhận, pháp luật bảo vệ. Đây chính là điều kiện gần như tiên quyết để phát
triển hàng hóa chủ lực một cách bền vững. Đối với cây trồng, điều kiện để bảo

đảm an toàn và thân thiện với môi trường cần phải tiến hành xây dựng bản đồ các
đơn vị đất đai, xét thích nghi với từng loại cây trồng; đối với cây trồng chủ lực
cần được trồng trên đất có mức thích nghi cao
4. Chính sách ưu đãi của Nhà nước: Nội dung bao gồm ưu đãi trong sử
dụng đất đai, vay vốn, thuế suất, đầu tư. Một ngành sản xuất nếu được nhiều
chính sách ưu đãi sẽ có nhiều thuận lợi hơn cho cạnh tranh, tổ chức đầu tư, sản
xuất cũng như cung ứng sản phẩm ra thị trường.
5. Tính truyền thống của sản phẩm chủ lực: Chỉ tiêu này cho biết khả
năng đứng vững của sản phẩm chủ lực trên địa bàn; khẳng định được kinh
nghiệm sản xuất kinh doanh của nông dân trong vùng đối với SP truyền thống;
đồng thời cũng khẳng định được thương hiệu của sản phẩm chủ lực trên địa bàn.
Tính truyền thống nói lên khả năng phát triển ổn định và bền vững của hàng hóa
chủ lực trong tương lai lâu dài.
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 17


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

6. Khả năng cơ giới hóa của sản phẩm chủ lực: Tiêu chí này cho biết khả
năng phát triển lớn về quy mô trong điều kiện ứng dụng cơ giới hóa; nếu khả năng
cơ giới hóa càng lớn thì càng có cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất, trên cơ sở đó
giảm giá thành và làm tăng sức cạnh tranh của ngành hàng; mặt khác, khi ngành
hàng có khả năng cơ giới hóa sẽ lôi kéo các ngành nghề nông thôn phát triển.
7. Khả năng về sử dụng giống mới và ứng dụng công nghệ cao của sản
phẩm chủ lực: Tiêu chí này cho biết khả năng sử dụng các loại giống mới và ứng
dụng công nghệ cao của sản phẩm chủ lực; các giống mới, ứng dựng công nghệ
cao có ưu điểm thường cho năng suất và chất lượng cao, giá thành hạ; đáp ứng tốt
yêu cầu của thị trường; đây là cơ sở để gia tăng sức cạnh tranh của sản phẩm chủ

lực. Nếu khả năng ứng dụng CNC càng lớn thì càng có cơ hội để tăng khả năng
cạnh tranh của sản phẩm.
V. Phương pháp xác định sản phẩm chủ lực
V.1. Xây dựng khung thang điểm và xác định điểm chuẩn tối đa cho
tiêu chí
Xây dựng hệ thống các tiêu chí để xác định sản phẩm chủ lực là việc làm
cần thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và là cơ sở để xem xét các yếu tố lợi thế
cạnh tranh, tiềm năng, nguồn lực cũng như các yếu tố liên quan đến điều kiện và
môi trường kinh doanh khác. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ, vì
chưa có cơ sở định lượng để xác định mức độ đạt được của các tiêu chí trên. Do
vậy, bên cạnh hệ thống các tiêu chí xác định sản phẩm chủ lực, phải xây dựng
khung thang điểm với điểm chuẩn tối đa cho hệ thống tiêu chí cũng như từng tiêu
chí cụ thể.
+ Về điểm chuẩn tối đa. Đây là biểu thị mức độ đạt được của hệ thống các
tiêu chí; là cơ sở để đưa ra quyết định việc có công nhận một sản phẩm nào đó là
sản phẩm chủ lực hay không (xét về mặt định lượng). Điểm chuẩn tối đa của hệ
thống có thể là 10, 20, 50 hoặc 100, tùy vào quyết định chủ quan của người xây
dựng. Tuy nhiên, để đảm bảo việc đánh giá chính xác đến mức phần trăm

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 18


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

(1/100), cần chọn theo thang điểm ‘bách phân’, tối đa là 100 điểm (thực tế nhiều
địa phương trong nước đã làm).
+ Về điểm chuẩn tối đa cho từng tiêu chí. Đây là biểu thị mức độ đạt được
của một tiêu chí cụ thể; là cơ sở xem xét mức độ đạt được về mặt định lượng của

một yếu tố nào đó. Do mỗi tiêu chí có mức độ quan trọng khác nhau nên khi xây
dựng thang điểm chuẩn cho mỗi tiêu chí, cần tiến hành theo phương pháp chuyên
gia thông qua phỏng vấn bằng bảng câu hỏi để thu thập thông tin, xử lý và tìm ra
trọng số cho mỗi tiêu chí.
Nếu gọi i (i=1,2,3,4,5...n), là các phương án trả lời cho mỗi câu hỏi trong
thang đo và cũng là trọng số của phương án lựa chọn; tỷ lệ người chọn trả lời
phương án là r (r=% của số người tham gia trả lời); vậy, trọng số của một tiêu chí
cụ thể nào đó chính là Σir. Từ đó, nếu gọi t là tiêu chí thứ t (với t = 1,2,3,4,5...m)
thì tổng trọng số của cả hệ thống các tiêu chi được biết là ΣΣir. Bây giờ gọi P là
tổng điểm chuẩn tối đa của hệ thống và Pt là điểm chuẩn tối đa của tiêu chí. Vậy,
điểm chuẩn tối đa của một tiêu chí được tính bằng công thức sau:
n

Σi= ir
__
______
Pt = P. m n
___
______
Σ
__ ___ __Σ__ir
V.2. Xác định sản phẩm chủ lực trên địa bàn tỉnh
___
___
1

t=1

i=1


Sau khi đã xác định hệ thống tiêu chí, xây dựng khung thang điểm với
điểm chuẩn tối đa cho hệ thống tiêu chí cũng như từng tiêu chí cụ thể; căn cứ
khung thang điểm để xác định hệ thống cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh. Yêu
cầu của việc xác định cây trồng trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2020 là 
Phải thỏa mãn các tiêu chí đã được phân tích đánh giá; phải đạt đủ thang điểm
theo yêu cầu  cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh không chỉ được xác định bằng
quy mô từng ngành hàng mà còn phải được xác định cụ thể về phân bố theo từng
huyện (thậm chí từng xã) để tránh tình trạng đầu tư không tập trung, kém hiệu
quả  Kèm theo danh sách các loại cây trồng trên địa bàn tỉnh là một hệ thống
Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 19


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

các chính sách hỗ trợ phát triển cây trồng chủ lực trên địa bàn  Chương trình
phát triển cây trồng chủ lực trên địa bàn tỉnh phải có căn cứ pháp lý, nghĩa là phải
được UBND tỉnh ban hành bằng văn bản pháp lý (Quyết định).
V.3. Xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực
Một sản phẩm hiện tại có thể chưa trở thành chủ lực của vùng do còn thiếu
các điều kiện hỗ trợ cần thiết như đầu tư, xây dựng và quảng bá thương hiệu…Do
đó, cần thống nhất xây dựng chính sách ưu tiên, hỗ trợ chung để sản phẩm đó trở
thành chủ lực của vùng. Để đảm bảo tính hiệu lực khi thực thi, việc hoạch định
chính sách phải được các cơ quan chức năng có thẩm quyền trong lĩnh vực tài
chính, kế hoạch đầu tư, quản lý nhà nước về sản xuất kinh doanh phối hợp với bộ
phận chỉ đạo chung xây dựng.
Các chính sách cần được xem xét thực hiện bao gồm:
+ Chính sách hỗ trợ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng (các công trình thủy
lợi, đường giao thông, hệ thống điện, chợ nông thôn…)

+ Chính sách giống (mới) và một số loại vật tư đầu vào.
+ Chính sách về tài chính, tín dụng.
+ Chính sách về tuyên truyền, vận động và đào tạo nguồn nhân lực
+ Chính sách hỗ trợ xây dựng cánh đồng lớn theo Quyết định số 62 của
Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 58 của UBND tỉnh.
+ Chính sách hỗ trợ thành lập các hợp tác xã, liên hiệp xã…
+ Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh
doanh trong nông nghiệp.
+ Chính sách hỗ trợ sản xuất sản phẩm nông nghiệp an toàn theo GAP.
+ Chính sách hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm hàng hóa, xúc tiến
thương mại và tiêu thụ sản phẩm.
+V.v…

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 20


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

KẾT LUẬN
Sản phẩm chủ lực là những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu giữ vị
trí chủ đạo trong phát triển kinh tế của một địa phương, một quốc gia hay vùng
lãnh thổ. Đây là những sản phẩm vừa mang ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa mang ý
nghĩa về mặt văn hóa, tâm linh của cộng đồng xã hội. Trong môi trường kinh
doanh với tính chất cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, sản phẩm chủ lực
đã trở thành nhân tố quyết định đến sự thành công trong phát triển kinh tế, xã hội
của một địa phương, quốc gia hay vùng lãnh thổ. Vấn đề đặt ra là, mỗi địa phương,
quốc gia hay vùng kinh tế phải tìm ra những sản phẩm có đủ điều kiện trở thành
sản phẩm chủ lực để tập trung đầu tư phát triển, tránh tình trạng phân tán làm suy

yếu nguồn lực kinh tế dẫn đến suy giảm sức cạnh tranh của quốc gia. Muốn vậy,
trước tiên cần có phương pháp phù hợp cho việc xác định sản phẩm chủ lực với
qui trình và tiêu chí đánh giá, xét chọn chính xác, đảm bảo tính khách quan, khoa
học, thể hiện đúng tiềm năng, lợi thế và đặc trưng văn hóa của mỗi địa phương,
vùng kinh tế. Vấn đề còn lại là chính sách hỗ trợ phát triển sản phẩm chủ lực của
các ngành, các cấp và hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng như vậy, chuyên đề này đã hệ thống hoá lý
luận về sản phẩm chủ lực, với phát triển vùng địa phương trong quá trình công

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 21


Đề tài : Nghiên cứu các yếu tố KT – KT và TT để xác định hệ thống cây trồng, vật nuôi chủ lực

nghiệp hoá hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Bên cạnh nghiên cứu phương pháp
xác định sản phẩm chủ lực và đưa ra các tiêu chí để đánh giá xét chọn sản phẩm
chủ lực trên địa bàn các vùng và địa phương, chuyên đề có sử dụng các mô hình
lý thuyết về lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh, lý luận về phát triển kinh tế địa
phương để luận giải và xác định các nội dung cơ bản về phát triển cụm sản phẩm
chủ lực cho vùng và địa phương. Ngoài ra, chuyên đề cũng nghiên cứu kinh
nghiệm trong phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản của một số nước
trong khối ASEAN có nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội để
rút ra bài học cho Việt Nam nói chung và tỉnh Đồng Nai nói riêng.

Cơ sở lý luận về cây trồng chủ lực

Trang 22




×