Tải bản đầy đủ (.doc) (16 trang)

Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (276.32 KB, 16 trang )

SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TỈNH ĐỒNG NAITRUNG TÂM KHUYẾN NÔNG
TỈNH ĐỒNG NAI

ĐỀ TÀI KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ KINH TẾ, KỸ THUẬT VÀ THỊ TRƯỜNG
ĐỂ XÁC ĐỊNH HỆ THỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI CHỦ LỰC PHỤC VỤ
PHÁT TRIỂN NGÀNH NÔNG NGHIỆP HÀNG HÓA BỀN VỮNG TẠI ĐỒNG NAI

Chủ nhiệm đề tài: Trần Hải Sơn, Nguyễn Vinh Hùng

 

NHÓM CHUYÊN ĐỀ 10

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ SẢN PHẨM
CHUYÊN ĐỀ 10.1

PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ

Năm 2016


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Đặt vấn đề
Trong những năm qua, ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đã đạt được
nhiều thành tự đáng ghi nhận: Giá trị sản xuất liên tục tăng với tốc độ bình quân
5 - 6%/năm; trong đó, thủy sản tăng 12%/năm, chăn nuôi tăng trên 10%/năm. Cơ
cấu ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch khá rõ nét theo hướng tăng nhanh
tỷ trọng ngành chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp; trong trồng trọt, cây lâu năm có


giá trị kinh tế cao đang có xu hướng tăng nhanh thay thế cây hàng năm có giá trị
thấp; đã hình thành những vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế
cao; giá trị sản lượng và thu nhập trên 1 đơn vị diện tích tăng gấp gần 5 lần so với
năm 1988…Tuy nhiên, sự tăng trưởng của nông nghiệp trong thời gian qua vẫn
chủ yếu phát triển theo chiều rộng, thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên
mức độ thâm dụng (một cách lãng phí) các nguồn tài nguyên hữu hạn như đất đai,
nguồn nước, lao động…) nên giá trị và hiệu quả chưa cao, không đáp ứng được
nhu cầu của người dân và các ngành kinh tế khác trong tình hình mới; thực trạng
này đòi hỏi phải tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng,
giá trị gia tăng và phát triển bền vững.
Có nhiều nguyên nhân làm cho tính hiệu quả trong nông nghiệp ở Đồng
Nai nói riêng và cả nước nói chung không cao; trong đó có nguyên nhân quan
trọng hàng đầu là sản xuất sản phẩm nông nghiệp chưa gắn kết được với thị
trường; người sản xuất ít có thông tin về thị trường tiêu thụ hay nói cách khác là
chuỗi giá trị ngành hàng các sản phẩm nông nghiệp còn rời rạc, đứt đoạn và ít có
cơ hội nâng cấp chuỗi.
Thực hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ
Tướng Chính Phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất
gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn và Quyết định số 150 của
UBND tỉnh Đồng Nai; theo đó, để việc liên kết sản xuất, gắn với tiêu thụ sản
phẩm nông nghiệp đạt hiệu quả, rất cần một chuyên đề nghiên cứu sâu về chuỗi
giá trị ngành hàng để phân tích, đánh giá những tồn tại trong quá trình liên kết sản
xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm; qua đó đề ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng
cấp chuỗi giá trị ngành hàng.
Ở Đồng Nai, cà phê là một trong những ngành hàng chủ lực, năm 2013
tổng diện tích trồng cà phê trên địa bàn tỉnh 21.804ha, chiếm 6,2% diện tích gieo
trồng các loại cây nông nghiệp; sản lượng 34.725 tấn. Ngoài các giải pháp về
giống, quy trình canh tác, ứng dụng công nghệ cao sẽ góp phần gia tăng năng
suất, chất lượng cà phê; việc nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà
phê tỉnh Đồng Nai sẽ góp phần tạo cơ hội để nâng cao giá trị gia tăng, tổ chức lại

sản xuất để ngành cà phê Đồng Nai nói riêng và cả nước nói chung phát triển hiệu
quả và bền vững.

Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 1


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

I. KHÁI NIỆM VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG
Theo chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright: Chuỗi giá trị ám chỉ đến
một loạt những hoạt động cần thiết để mang một sản phẩm (hoặc một dịch vụ) từ
lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau đến người tiêu
dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng (Kaplinsky 1999; Kaplinsky và
Morris 2001). Một chuỗi giá trị tồn tại khi tất cả những người tham gia trong
chuỗi đều hoạt động để tạo ra tối đa giá trị trong toàn chuỗi.
Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng là một phức hợp những hoạt động do nhiều
người tham gia khác nhau thực hiện (người sản xuất sơ cấp, người chế biến,
thương nhân, người cung cấp dịch vụ v.v…) để biến nguyên liệu thô thành thành
phẩm được bán lẻ. Chuỗi giá trị theo nghĩa rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất
nguyên vật liệu và chuyển theo các mối liên kết với các đơn vị sản xuất, kinh
doanh, lắp ráp, chế biến v.v… Chuỗi giá trị bao gồm các chức năng trực tiếp
như sản xuất hàng hóa cơ bản, thu gom, chế biến, bán sỉ, bán lẻ, cũng như các
chức năng hỗ trợ như cung cấp vật tư nguyên liệu đầu vào, dịch vụ tài chính,
đóng gói và tiếp thị (SonjaVermeulenere et al., 2008). Khái niệm chuỗi giá trị
bao gồm cả các vấn đề về tổ chức và điều phối, chiến lược và mối quan hệ
quyền lực của các tác nhân khác nhau trong chuỗi.
Chuỗi giá trị còn gắn liền với các khía cạnh xã hội và môi trường. Việc
thiết lập (hoặc sự hình thành) các chuỗi giá trị có thể gây sức ép đến nguồn tài

nguyên thiên nhiên (như nước, đất đai), có thể làm thoái hóa đất, mất đa dạng
sinh học hoặc gây ô nhiễm. Đồng thời, sự phát triển của chuỗi giá trị có thể ảnh
hưởng đến các mối ràng buộc xã hội và tiêu chuẩn truyền thống.
Cách tiếp cận của chuỗi giá trị theo nguyên tắc là xem xét từng tác nhân
tham gia trong chuỗi và quan hệ một bước tiến, một bước lùi, bắt đầu từ sản xuất
nguyên vật liệu cho đến người tiêu dùng cuối cùng với 4 kỹ thuật phân tích
chính như sau.
1. Sơ đồ hóa mang tính hệ thống
- Những tác nhân tham gia sản xuất, phân phối, tiếp thị, và bán một (hay
nhiều) sản phẩm cụ thể.
- Đánh giá các đặc điểm của các tác nhân tham gia, cơ cấu lợi nhuận và
chi phí, dòng hàng hóa trong suốt chuỗi, các đặc điểm của việc làm, địa chỉ tiêu
thụ và khối lượng bán hàng trong và ngoài nước.
- Những chi tiết như thế có thể được tập hợp từ việc phối hợp khảo sát cơ
bản, phỏng vấn nhóm, đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), các
phỏng vấn không chính thức, dữ liệu thứ cấp.
2. Xác định sự phân phối lợi ích giữa những tác nhân tham gia trong
chuỗi, bao gồm:
- Phân tích chênh lệch giá và lợi nhuận trong chuỗi.
- Xác định ai được lợi từ việc tham gia chuỗi.
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 2


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

- Những tác nhân nào có thể hưởng lợi từ việc hỗ trợ hay tổ chức lại sản
xuất.
3. Nghiên cứu vai trò nâng cấp bên trong chuỗi

- Cải tiến trong chất lượng và thiết kế sản phẩm giúp các nhà sản xuất thu
được giá trị cao hơn hoặc qua việc đa dạng hóa các dòng sản phẩm cung cấp.
- Đánh giá lợi nhuận của những người tham gia trong chuỗi cũng như
thông tin về những ràng buộc hiện diện mới đây.
- Vấn đề về quản trị, cấu trúc các quy định, rào cản gia nhập ngành, ngăn
cấm thương mại, và các tiêu chuẩn.
4. Nhấn mạnh vai trò của quản lý
- Có cấu của các mối quan hệ và cơ chế điều phối tồn tại giữa các tác
nhân trong chuỗi giá trị.
- Góc độ chính sách: xác định các sắp xếp về thể chế nhằm cải thiện
năng lực hoạt động của chuỗi, xóa bỏ các bóp méo trong phân phối, và gia
tăng giá trị gia tăng trong ngành.
II. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ
1. Thế giới
- Cây cà phê sau khi phát hiện, được thuần hóa và lan ra các nước, từ
Ethiopia qua Yemen sang các nước Trung cận Đông, nhanh chóng vượt biển Đỏ
sang Á Rập. Tiếp đó, từ thế kỷ XVI các nhà buôn đưa cà phê nhập khẩu vào Châu
Âu,… Đây chính là thời điểm đánh dấu sự ra đời ngành cà phê thế giới, rồi cây cà
phê lan dần sang Châu Á, Châu Đại Dương; trong đó người Hà Lan có công đưa
cây cà phê đến trồng ở Sri Lanca, Colombia và Indonesia vào năm 1670. Cuối thế
kỷ XVII cây cà phê đã có vị trí vững chắc đối với việc trồng và buôn bán sản
phẩm cà phê trên thế giới; hiện nay, theo thống kê của Tổ chức Cà phê Quốc tế
(ICO), có 79 quốc gia trồng cà phê với diện tích thu hoạch: 9,86 triệu ha, năng
suất BQ: 0,88 tấn/ha, sản lượng năm 2013 đạt: 8,67 triệu tấn (144,61 triệu bao).
- Những nước sản xuất và xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới gồm:
+ Brazil: Trồng cà phê từ năm 1760 (cách nay 250 năm), nơi trồng đầu tiên
là Rio de Janeiro. Brazil đứng nhất thế giới về diện tích trồng, sản lượng và số
lượng - giá trị xuất khẩu cà phê trên thế giới. Năm 2013 đạt sản lượng cao nhất:
3,05 triệu tấn (chiếm 35,15% sản lượng cà phê thế giới), bình quân nhiều năm
Brazil chiếm 30% sản lượng cà phê thế giới; sự biến động sản lượng cà phê của

Brazil có ảnh hưởng đến cung cầu và giá bán cà phê của thế giới. Đặc biệt ở Brazil
sản xuất cà phê chè chiếm đến 75% và cà phê vối chỉ có 25% sản lượng, nên Việt
Nam cần xem Brazil là nước cạnh tranh rất quyết liệt với cà phê Việt Nam cả về
số lượng, chất lượng và giá bán trên thị trường.
+ Colombia: Quốc gia sản xuất và xuất khẩu cà phê lớn thứ ba thế giới
(sau Brazil và Việt Nam), cây cà phê được trồng ở Colombia vào năm 1723,
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 3


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

hiện nay sản lượng cà phê của quốc gia này là: 0,57 triệu tấn, sản lượng cà phê
đạt cao nhất vào năm 1991: 1,09 triệu tấn. Đặc biệt, Colombia sản xuất ra loại cà
phê chè có chất lượng cao xếp vào nhóm “dịu Colombia” rất được thị trường thế
giới ưa chuộng với giá bán khá cao. Hơn nữa, Chính phủ Colombia đang có
chính sách hỗ trợ về tài chính phục hồi 300.000 ha cà phê già cỗi để duy trì lại
sản lượng 1,0 triệu tấn vào niên vụ 2014/2015 nhằm giành lại vị trí thứ 2 thế
giới về sản xuất cà phê của Việt Nam.
+ Indonesia: Bắt đầu trồng cà phê chè vào năm 1696 và phát triển mạnh từ
năm 1880, đến năm 1976, do bệnh rỉ sắt hoành hành gây thiệt hại nặng, quốc gia
này đã dần thay thế bằng cà phê vối; đến nay (năm 2013 Diện tích cà phê đạt
khoảng 1,24 triệu ha, sản lượng 0,76 triệu tấn).
+ Guatemala và Honduras: Guatemala là nước sản xuất cà phê chè lớn
thứ 2 ở Trung Mỹ, cây cà phê được trồng vào năm 1730 và phát triển khá mạnh,
năm 1999 sản lượng đạt: 307.000 tấn. Sản xuất cà phê của Honduras xếp thứ 9
trên thế giới; đặc biệt là sản lượng tăng rất nhanh, năm 1990 chỉ có 56.000 tấn, đến
năm 2013 đạt 253.186 tấn (gấp 4,52 lần) và là quốc gia sau 30 năm (1977 – 2007)
có tốc độ tăng trưởng sản lượng cà phê bình quân 4,49%/năm (xếp thứ 2 thế giới

sau Việt Nam). Mặt khác, trong 5 năm (2005 – 2010) chính phủ đã đầu tư 159
triệu USD để trồng lại 50% diện tích cà phê già cỗi và đưa năng suất cà phê bình
quân tăng gấp 2 lần (từ 0,48 tấn/ha lên 1,0 tấn/ha).
- Ngành hàng cà phê thế giới hình thành từ cuối thế kỷ XVII, nay đã là
thập niên đầu của thế kỷ XXI (2001 – 2010), trải qua hơn 4 thế kỷ đã khẳng định
vị trí vai trò quan trọng của sản xuất và buôn bán cà phê với số lượng - giá trị
cũng như cả tổ chức buôn bán ngày càng lớn mạnh.
- Trên thế giới có “Tổ chức Cà phê quốc tế - ICO” và Việt Nam là thành
viên chính thức ngày 26/03/1991. ICO không có chức năng - quyền hạn liên
quan đến cung - cầu và giá bán cà phê trên thị trường mà chỉ là tổ chức tư vấn
phát triển cà phê cho các quốc gia thành viên.
- Xuất nhập khẩu cà phê: Có 79 nước sản xuất cà phê với sản lượng 10 niên
vụ gần đây từ 120 triệu bao đến 144 triệu bao (7,2 – 8,7 triệu tấn); trong đó 50
quốc gia xuất khẩu cà phê sản xuất với sản lượng sản lượng 6,5 – 7,6 triệu tấn.
- Tốc độ tăng sản lượng cà phê bình quân 20 năm (1983 – 2013) là
2,4%/năm (có 19 quốc gia sản lượng tăng và 31 quốc gia sản lượng giảm).
- Trên thế giới đã hình thành một số sàn giao dịch cà phê ở các nước nhập
khẩu - tiêu thụ nhiều cà phê, tại nước Anh là Luân Đôn và Hoa Kỳ là New York;
đây là sự khác biệt của ngành cà phê so với các nông sản khác như: gạo, cao su, hạt
tiêu, nhân điều, ca cao,… Do phát triển mạnh của dịch vụ tài chính - ngân hàng nên
các nhà đầu tư đã từng bước can thiệp sâu hơn vào 2 sàn giao dịch cà phê Luân
Đôn và New York thông qua việc nắm giữ số lượng cổ phiếu đủ lớn của các nhà
nhập khẩu - rang xay cà phê lớn trên thế giới (8 công ty tập đoàn lớn, trong đó có

Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 4


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực


Nestlé) dẫn đến tình trạng đầu cơ làm sai lệch quy luật cung - cầu và giá bán cà
phê, nhất là đối với hợp đồng giao dịch có kỳ hạn.
- Xuất nhập khẩu cà phê: Có 79 nước sản xuất cà phê với sản lượng 10 niên
vụ gần đây từ 120 triệu bao đến 144 triệu bao (7,2 – 8,7 triệu tấn); trong đó 50
quốc gia xuất khẩu cà phê sản xuất với sản lượng sản lượng 6,5 – 7,6 triệu tấn.
Tổng sản lượng cà phê buôn bán dao động từ 5,3 – 5,8 triệu tấn/năm với giá trị
cao nhất đạt 10,0 tỷ USD/năm.
- Mười quốc gia xuất khẩu cà phê lớn trên thế giới là: Brazin, Việt Nam,
Colombia, Indonesia, Etiopia, Ấn Độ, Mexico, Guatemala, Peru, Honduras.
- Mười quốc gia nhập khẩu nhiều cà phê nhất thế giới gồm: Hoa Kỳ, Đức,
Italy, Nhật, Pháp, Bỉ, Tây Ban Nha, Anh, Hà Lan.
2. Việt Nam:
- Cây cà phê được các nhà truyền đạo công giáo đưa vào trồng đầu tiên ở
Việt Nam năm 1857 (cách nay 153 năm), nơi trồng thử nghiệm đầu tiên là khu
đất quanh nhà thờ Gio Linh (tỉnh Quảng Trị) và Sen Bàng (tỉnh Quảng Bình);
tiếp đó cà phê được trồng ở tu viện Kẻ Sở (huyện Kim Bảng - tỉnh Hà Nam) vào
năm 1870. Sau này có nhiều tu viện trồng cà phê như: Châu Sơn (huyện Nho
Quan - tỉnh Ninh Bình), Phan Chu Trinh (Buôn Ma Thuột - tỉnh Đắk Lắk). Thời
gian trồng thử nghiệm kéo dài 31 năm (1857 – 1888).
- Kể từ năm 1888, cà phê được trồng đại trà ở các đồn điền thuộc sở hữu
của chủ tư bản Pháp như: Borel Leonte ở Chi Nê (nay thuộc tỉnh Hòa Bình),
Condoux - Gombert ở tỉnh Nghệ An, Michel Phillip ở tỉnh Quảng Trị, Rossi Delfante ở tỉnh Đắk Lắk,… Đến năm 1945, tổng diện tích cà phê toàn quốc lên
đến 10.700 ha (Bắc Kỳ: 4.100 ha, Trung Kỳ: 5.900 ha, Nam Kỳ: 700 ha), năng
suất bình quân cà phê chè: 0,4 – 0,5 tấn/ha và cà phê vối: 0,5 – 0,6 tấn/ha.
Phần lớn sản lượng cà phê xuất khẩu sang Pháp qua cảng Le Havre với nhãn
hiệu “Arabica du Tonkin” được đánh giá cao về chất lượng. Ngành hàng cà phê
Việt Nam bắt đầu được hình thành.
- Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA) thành lập năm 1990 và
chỉ sau 1 năm (vào ngày 26/3/1991 đã tham gia Tổ chức Cà phê Quốc tế - ICO).

- Năm 2000 diện tích cà phê cả nước đạt 561.993 ha, tăng 518.108 ha so
với năm 1985; tuy nhiên, giai đoạn 2000 - 2007 diện tích cà phê luôn biến động
do giá cà phê sụt giảm chỉ bằng ½ so với năm 1999 (năm 1999 giá cà phê bình
quân: 1.213USD/tấn, xuống còn 420 – 674 USD/tấn trong thời gian 5 năm 2000
– 2001 – 2002 – 2003 – 2004).
- Từ năm 2008 - 2013 diện tích cà phê luôn có xu hướng tăng qua các
năm, Đến năm 2013 diện tích cà phê của cả nước là 623.092 ha; năng suất đạt
2,20 tấn/ha và tổng sản lượng đạt 1,26 triệu tấn. Tây Nguyên được xác định là
địa bàn trọng điểm phát triển cà phê của cả nước với diện tích năm 2013 là:
559.225 ha (chiếm 89,75% diện tích cà phê cả nước).
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 5


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Niên vụ 2012-2013 (từ tháng 10-2012 đến 9-2013), tổng lượng cà-phê
nước ta xuất khẩu đạt 1.417.878 tấn, đạt tổng kim ngạch hơn 3,038 tỷ USD,
giảm 11,2% về khối lượng và giảm 10,3% về giá trị so với niên vụ 2011-2012.
Tuy vậy, đây là năm thứ ba ngành cà phê nước ta đạt được khối lượng xuất khẩu
hơn 1,3 triệu tấn và kim ngạch hơn 3 tỷ USD. Hơn nữa, với mức giá cà phê nhân
xô trung bình từ 38 triệu đến 39 triệu đồng/tấn, người trồng cà phê vẫn có lãi.
Về thị trường, trong niên vụ 2012-2013, Đức đã vượt Hoa Kỳ để trở thành
thị trường nhập khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam, chiếm 10% thị phần; Hoa
Kỳ đứng thứ hai với 8% thị phần.
3. Tỉnh Đồng Nai
Năm 1901, tỉnh Biên Hòa có 8 colons kinh doanh cà phê: công ty Paris
Phước Tân (tổng Long Vĩnh Thượng) có 25.000 gốc cà phê; Romans có 2.260
gốc ở làng Bình Dương (tổng Long Vĩnh thượng); Lorenzo có 3.800 gốc ở làng

Xuân Lộc (tổng Bình Lâm thượng); Button có 6.000 gốc ở làng Bình Thạnh (tổng
Phước Vĩnh trung); Nativel có 10.000 gốc ở làng Bình Trước (tổng Phước Vĩnh
Thượng); Crestien trồng 30.000 gốc ở làng Chánh Hưng (tổng Chánh Mỹ hạ);
Torbilla không rõ trồng ở đâu và có bao nhiêu gốc.
Năm 1923, tỉnh Biên Hòa có khoảng 300 ha cà phê, năng suất 270 kg/ha.
Năm 1959, tỉnh Biên Hòa có 50 ha cà phê thu 15 tấn hạt, tỉnh Long Khánh có
600 ha, thu sản lượng 240 tấn.
Do chủ trương lập các dinh điền, chính quyền Sài Gòn khuyến khích tư
nhân mở đồn điền cà phê, nên các chủ sở đầu tư thâm canh: bón phân hóa học,
tuyển chọn giống (giảm diện tích cà phê chè, tăng cà phê vối), trồng cây che phủ
và tỉa xén cành hàng năm, trang bị dàn tưới phun.
Trong giai đoạn 1975 - 1980, mặc dù giá cả cà phê thế giới tăng cao gấp
2,3 lần nhưng cà phê ở Đồng Nai vẫn chưa phát triển nhanh vì chưa mở rộng
được thị trường xuất khẩu và còn lo giải quyết vấn đề lương thực sau chiến
tranh. Trong giai đoạn 1981 - 1996, diện tích cà phê tăng rất nhanh (nhất là giai
đoạn 1985 - 1990) do giá cả thị trường thế giới cao, thị trường xuất khẩu được
khai thông và đặc biệt là do chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đã khơi
dậy tiềm năng trong dân chúng.
Phần lớn giống cà phê được trồng hiện nay ở Đồng Nai là nhóm giống cà
phê vối (Robusta) thuộc 2 chủng coffeae canephara var robusta và coffeae
canphora var koulilou đã được du nhập vào Đồng Nai từ những năm đầu thế kỷ
XX. Nhóm cà phê chè không nhiều vì không thích hợp lắm đối với điều kiện
sinh thái ở Đồng Nai. Nhóm cà phê mít càng ít vì giá trị thương phẩm thấp.
Tổng diện tích cà phê năm 2013 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là:
21.804 ha, sản lượng 34.725 tấn, năng suất đạt 1,86 tấn/ha. Diện tích cà phê
phân bố chủ yếu trên địa bàn các huyện: Cẩm Mỹ (6.576 ha), Định Quán
(4.464 ha), Trảng Bom (4.129 ha), Tân Phú (3.264 ha) là những vùng có đất
đỏ bazan, chủ động nước tưới nhờ các công trình hồ chứa, đập dâng hoặc
các giếng khoan khai thác nước ngầm.
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê


Trang 6


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Bảng 1: Diện tích – năng suất – sản lượng cà phê năm 2013

89

Diện tích
thu hoạch
85

1,06

Sản
lượng
90

Tân Phú

3.264

2.655

2,28

6.048


3

Định Quán

4.464

3.205

1,89

6.061

4

Xuân Lộc

1.144

1.049

2,69

2.826

5

Long Khánh

1.097


921

2,32

2.134

6

Thống Nhất

550

469

1,02

478

7

Long Thành

491

491

1,80

884


8

Trảng Bom

4.129

3.928

1,28

5.028

9

Cẩm Mỹ

6.576

5.829

1,92

11.176

21.804

18.632

1,86


34.725

STT

Hạng Mục

1

Vĩnh Cửu

2

Toàn tỉnh

Diện tích

Năng suất

Cà phê ở Đồng Nai ra hoa vào khoảng từ tháng 1 đến tháng 2 và đến
tháng 10 bắt đầu thu hoạch. Quả cà phê sau khi thu hoạch được chà dập vỏ
ngoài trước khi đem phơi để quả cà phê mau khô. Hạt khô đem chà vỏ lụa và
quạt sạch để thu được nhân cà phê thô. Các đại lý mua nhân cà phê thô đem
đánh bóng và phân loại (nhất, nhì) để cung ứng cho các nhà xuất khẩu hoặc tiêu
dùng
Công nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2012 như sau:
+ Đối với cà phê nhân: có 15 cơ sở chế biến với tổng công suất thiết kế
190.000 tấn/năm; trong đó số cơ sở có công suất chế biến <5.000 tấn/năm là 11
cơ sở và số cơ sở có công suất từ 20.000 – 100.000 tấn/năm là 4 cơ sở với tổng
công suất thiết kế 145.000 tấn/năm.
+ Đối với cà phê bột: Có tổng số 22 cơ sở với công suất thiết kế 4.120

tấn/năm; trong đó đa số là cơ sở chế biến nhỏ lẽ với công suất <50 tấn/năm (20
cơ sở, tổng công suất 400 tấn) và 2 cơ sở chế biến cà phê bột với quy mô lớn
>500 tấn/năm; tổng công suất 3.720 tấn/năm.
+ Chế biến cà phê tiêu dùng: tổng công suất chế biến cà phê hòa tan là
4.080 tấn/năm và cà phê hòa tan 3 trong 1 là 31.000 tấn/năm.
Theo quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp tỉnh Đồng Nai đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030, diện tích cà phê của tỉnh Đồng Nai là:21.190 ha,
trong đó diện tích kinh doanh đạt 18.679 ha, năng suất 2,07 tấn/ha..
Có nhiều giải pháp để thực hiện phương án phát triển ngành nông nghiệp
nói chung và ngành hàng cà phê nói riêng; song, giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị
gia tăng từng ngành hàng được xem là giải pháp cấp bách, vô vùng quan trọng
để tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung và ngành hàng cà phê nói riêng. Để
thực hiện giải pháp này, sau đây ta xem xét kỹ hơn về chuỗi giá trị ngành hàng
cà phê tỉnh Đồng Nai.
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 7


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

III. PHÂN TÍCH CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG CÀ PHÊ ĐỒNG NAI
- Sản phẩm cà phê sản xuất ra gồm 2 loại: Sản phẩm phụ là vỏ cà phê có
thể được bán cho các doanh nghiệp sản xuất phân vi sinh; sau đó được bán trở lại
cho người trồng cà phê, thông qua nhà cung ứng vật tư nông nghiệp. Sản phẩm
chính là cà phê nhân, sau khi được thu gom, đến các đại lý, sản phẩm được phân
phối theo 2 kênh cung ứng cho các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc cung ứng cho
các doanh nghiệp rang xay, chế biến cà phê thành sản phẩm tiêu dùng như cà phê
bột, bánh kẹp cà phê... bán ở thị trường trong nước hoặc xuất khẩu. Như vậy, sơ
đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê được thể hiện như sau:

Hình 1 Sơ đồ chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Bảng 2 Hoạt động và các tác nhân tham gia chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
Các khâu
trong chuỗi
Hoạt động
của từng

Cung ứng
đầu vào
Vật tư NN
Lao động
Đất đai

Sản phẩm

Tiền vốn
Vật tư NN,
đất đai,
lao động,
tiền vốn…

Sản xuất
Làm đất
Gieo trồng
Chăm sóc
Thu
hoạch
Cà phê
nhân + vỏ

cà phê

Thu gom
1
Thu gom
Vận
chuyển
Tạm trữ

Thu gom
2 (Đại lý)
Thu gom
Vận
chuyển
Tạm trữ

V.v…
Cà phê
nhân đã
được thu
gom về
đại lý

V.v…
Cà phê
nhân đã
được
bán cho
nhà chế


Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

CB SP
phụ

CB SP
chính

Phân vi
sinh

Cà phê
bột

Tạm trữ

Cà phê
nhân đã
được
tạm trữ

Thương
mại

Cà phê
nhân, bột
đã được
XK hoặc
bán trong


Trang 8


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Tác nhân

Hỗ trợ giá
trị

biến
hoặc nhà
nước
xuất
khẩu
Thương
DN chế DN chế Doanh
Trang trại
Nhà XK
Nhà cung
Thương
lái tại
biến
nghiệp
cấp vật tư Nông dân lái tại ấp,
biến cà
Thương
huyện,
phân vi
tạm trữ

đầu vào

phê
nhân
tỉnh
sinh

phê
Đảng, chính phủ và chính quyền các cấp, Hiệp hội Cà phê ca cao Việt Nam (Vicofa)
Bộ Nông nghiệp, Sở Nông nghiệp và PHNT, phòng nông nghiệp các huyện
Các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể
Các bộ ngành liên quan, ngân hàng, các cơ quan truyền thông…

- Giá trị gia tăng và cơ cấu giá trị gia tăng của từng chủ thể tham gia chuỗi:
Theo kết quả điều tra kinh tế nông hộ, và kết quả sản xuất kinh doanh của các tổ
chức, cá nhân tham gia chuỗi giá trị sản phẩm cà phê, các khoản chi phí, doanh
thu và giá trị gia tăng của từng chủ thể trong chuỗi như sau:
Bảng 3 GTGT và cơ cấu GTGT của từng chủ thể tham gia chuỗi
STT
1
2
3
4
5
6

Chủ thể
Nhà cung ứng vật tư
Nông dân
Nhà thu gom 1

Nhà thu gom 2
DN tạm trữ và XK
Nhà xuất khẩu

Đầu tư
(đồng)

Doanh thu
(đồng)

13.852
29.400
37.555
39.071
43.439
41.845

14.429
37.000
38.118
39.853
45.150
43.050

GTGT
(đồng)
577
7.600
563
781

1.711
1.205

% GTGT
XK

5,38
70,85
5,25
7,28
11,23

% GTGT TT

5,14
67,66
5,02
6,96
15,23
-

Đối với hồ cà phê xuất khẩu (không qua tạm trữ), tổng giá trị gia tăng là
10.727 đồng/kg; trong đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 577 đồng
(5,38%); người trồng cà phê hưởng 7.600 đồng (70,85%); người thu gom 1 hưởng
563 đồng (5,25%); đại lý cà phê hưởng 781 đồng (7,28%) và nhà xuất khẩu cà
phê hưởng 1.205 đồng (11,23%). Đối với cà phê tạm trữ, tổng giá trị gia tăng
11.232 đồng; trong đó, nhà cung ứng vật tư nông nghiệp hưởng 577 đồng
(5,14%); người trồng cà phê hưởng 7.600 đồng (67,66%); người thu gom 1 hưởng
563 đồng (5,02%); đại lý cà phê hưởng 781 đồng (6,96%); doanh nghiệp tạm trữ
và xuất khẩu cà phê hưởng 1.711 đồng (15,23%).

+ Đối với nhà cung ứng vật tư: ở Đồng Nai chủ yếu là các đại lý cung ứng
giống, phân bón, thuốc trừ sâu các loại; thực chất họ là những người nông dân, có
vốn, có nhà mặt đường và tự phát mở địa lý; do đó, khả năng tư vấn cho người
trồng cà phê về kỹ thuật canh tác còn rất hạn chế và hầu như không thể tư vấn về
thị trường và chất lượng cà phê.
+ Đối với những người thu gom cấp 1: thực chất vẫn là nông dân, có vốn
có phương tiện vận chuyển và có quan hệ với các đại lý cấp 2; qua đó, thu mua cà
phê nhân của nông hộ (có thể tạm trữ một phần), vận chuyển và bán cho đại lý
cấp 2. Qua khảo sát thực tế những người thu gom cấp 1 hầu như cũng không có
nhiều thông tin về thị trường và yêu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm;
những thông tin ít ỏi đó cũng chỉ đến với người thu gom cấp 1 khi vào mùa vụ thu
hoạch. Do đó, họ không thể tư vấn nhiều cho nông dân.
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

Trang 9


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

+ Đối với người thu gom 2: Đây là những đại lý khá lớn, họ có vốn, có nhà
kho và quan hệ nhiều với các cơ sở chế biến, xuất khẩu cà phê; tuy nhiên, tồn tại
lớn nhất đối với các đại lý thu gom 2 là dường như họ không quan tâm đến người
sản xuất. Do đó, các thông tin về quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm hầu như
không được người thu gom 2 quan tâm. Mặt khác, do sự cạnh tranh gay gắt trong
thị trường cà phê nên những thông tin họ có được về thị trường cà phê hầu như họ
giữ kín; đây là điểm mấu chốt của vấn đề làm cho chuỗi giá trị bị chia cắt, gián
đoạn.
+ Đối với các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cà phê, một mặt, họ ít
thông tin về thị trường cà phê thế giới; mặt khác, công nghệ chế biến còn lạc hậu
nên phần lớn chỉ là sơ chế và xuất khẩu cà phê nhân; đó là một trong những

nguyên nhân làm các tác nhân phía trước hạn chế về thông tin và ngăn cách các
khâu trong chuỗi.
IV. GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CẤP CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH HÀNG CÀ
PHÊ ĐỒNG NAI
1 Định hướng nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng nông nghiệp
- Chuỗi giá trị sản phẩm là một loạt các hoạt động sản xuất kinh doanh có
quan hệ với nhau từ việc cung ứng vật tư đầu vào, sản xuất, thu gom, chế biến
và cuối cùng là bán sản phẩm cho người tiêu dùng.
- Trong chuỗi giá trị có các khâu, các khâu có thể mô tả cụ thể bằng các
hoạt động, người thực hiện các chức năng của các khâu trong chuỗi gọi là tác
nhân. Trong chuỗi giá trị còn có các nhà hỗ trợ chuỗi giá trị; nhiệm vụ của các
nhà hỗ trợ chuỗi là tạo môi trường thuận lợi để các tác nhân thực hiện tốt chức
năng của mình trong khâu.
- Phân tích chuỗi giá trị giúp ta xác định được những khó khăn của từng
khâu trong chuỗi; từ đó, đưa ra các giải pháp khắc phục để sản phẩm đáp ứng
được yêu cầu cả thị trường và phát triển bền vững. Phân tích chuỗi giá trị còn
giúp các nhà hỗ trợ xác định được các nút thắt cần hỗ trợ đối với các tác nhân
trong các khâu của chuỗi và có những tác động để tháp gỡ, hỗ trợ phát triển.
- Nâng cấp chuỗi giá trị là thực hiện các giải pháp để tháo gỡ những khó
khăn trong chuỗi nhằm đảm bảo sản phẩm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của
thị trường để phát triển chuỗi một cách bền vững. Để nâng cấp chuỗi GT thành
công cần tiến hành củng cố và phát triển các mối liên kết ngang và liên kết dọc.
- Liên kết ngang là mối liên kết giữa các tác nhân trong cùng một khâu
(các hộ nông dân cùng sản xuất một ngành hàng liên kết để xây dựng cánh đồng
lớn, thành lập các HTX...) để giảm chi phí sản xuất, tăng giá bán, số lượng bán...
Giải pháp để thúc đẩy liên kết ngang được đề xuất đối với tái cơ cấu ngành nông
nghiệp Đồng Nai gồm:  Xác định cụ thể các tiêu chí cánh đồng lớn  xây
dựng thành công các cánh đồng lớn theo tiêu chí  Mỗi cánh đồng lớn, vận
động để thành lập 1 hợp tác xã  Gắn tái cơ cấu ngành nông nghiệp với đẩy
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê

10

Trang


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

mạnh thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Tổ chức cho các hộ nông dân được tham quan, học tập các mô hình sản xuất
kinh doanh, mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao an toàn, các mô hình
kinh tế hợp tác... Tập huấn, nâng cao kiến thức về thị trường cho nông dân,
chỉ rõ các lợi ích kinh tế khi tham gia vào tổ nhóm, HTX. Tổ chức các cuộc đối
thoại trực tiếp với các tác nhân khác trong chuỗi  Ban hành và thực hiện tốt
các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi, công nghệ cao, an toàn...
- Liên kết dọc là liên kết giữa các tác nhân trong các khâu khác nhau của
chuỗi. Có được liên kết dọc sẽ làm giảm chi phí chuỗi (chi phí trung gian), sự
liên kết dọc làm gắn kết lợi ích giữa các tác nhân trong các khâu, qua đó giảm
được những chi phí không cần thiết và cùng hướng tới mục tiêu nâng cao chất
lượng sản phẩm; tất cả thông tin thị trường đều được các tác nhân nắm được để
cùng nhau đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường. Liên kết dọc cũng là cơ hội để
chuỗi giá trị ngành hàng mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Có nhiều giải pháp
để thúc đẩy liên kết dọc; trong đó, các giải pháp quan trọng gồm:  Khuyến
khích các tác nhân chuỗi (nông dân, đại diện hợp tác xã, các doanh nghiệp...)
tham gia các hội chợ thương mại và tổ chức triển lãm... nhằm tập hợp các tác
nhân trong cùng một chuỗi  Tổ chức các cuộc họp hoặc hội thảo giữa các tác
nhân trong chuỗi nhằm xây dựng quan hệ kinh doanh (tổ chức hội nghị khách
hàng) xây dựng Webside giao dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho cả đôi bên
trong việc tìm kiếm người mua và người bán tiềm năng  Xây dựng và thực
hiện chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều vào sản

xuất, kinh doanh NN.
Ngoài việc củng cố và phát triển các mối liên kết ngang và liên kết dọc
cần có các giải pháp để tăng cường vai trò của các tác nhân hỗ trợ giá trị như:
Các viện, trường, các trung tâm nghiên cứu và các nhà khoa học, các hội, hiệp
hội và các cơ quan quản lý Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn.
Từ những phân tích trên và những đánh giá về thực trạng chuỗi giá trị các
ngành hàng ở phần trên; chúng tôi đề xuất sơ đồ chuỗi giá trị theo các mối liên
kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản như sau:
NHÀ chế
NƯỚC
Hình2 : Sơ đồ các mối liên kết trong sản xuất,
biến và tiêu thụ nông sản
- Các bộ, ngành
- Sở NN và PTNT
- Phòng NN huyện

KHUYẾN NÔNG

NHÀ
KHOA
HỌC

NHÀ NÔNG
HTX
Tổ HT
Hộ nông dân
DN sản xuất NN

DOANH NGHIỆP THU
MUA, CHẾ BIẾN, BẢO

QUẢN TIÊU THỤ
NÔNG SẢN

Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
11
DOANH NGHIỆP CUNG ỨNG VẬT TƯ NÔNG NGHIỆP
Giống Xăng dầu Phân bón Thuốc BVTV, TY TAGS

NHÀ
KHOA
HỌC

Trang


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

Ghi chú:

Thông tin lãnh đạo, chỉ đạo

Quan hệ hợp đồng

Quan hệ tư vấn và thông tin phản hồi

Theo đó, các mối liên kết được thể hiện như sau:
Liên kết ngang: Các nhà nông, sản xuất cùng một ngành hàng, cùng địa
phương, liên kết với nhau để xây dựng cánh đồng lớn (theo tiêu chí cánh đồng
lớn đã trình bày ở trên); mỗi cánh đồng lớn thành lập một hợp tác xã, với nhiều
mục tiêu; trong đó, có mục tiêu quan trọng là có tư cách pháp nhân để thương

thảo và ký kết hợp đồng với các doanh nghiệp.
Liên kết dọc: Doanh nghiệp thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông
sản liên kết với doanh nghiệp sản xuất, cung ứng vật tư nông sản và cử đại diện
thương thảo, ký kết hợp đồng với nông dân cả về cung ứng vật tư, tư vấn sản
xuất và tiêu thụ nông sản
Các tác nhân hỗ trợ giá trị bao gồm: Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, Sở
Nông nghiệp PTNT, phòng nông nghiệp huyện khuyến nông các cấp, khuyến
nông, bảo vệ thực vật, các hội, hiệp hội, các tổ chức đoàn thể, ngân hàng và các
cơ quan truyền thông; Các viện, trường, các trung tâm nghiên cứu và các nhà
khoa học khác... Trong đó, Nhà nước mà trực tiếp là Sở Nông nghiệp và PTNT
tỉnh, phòng nông nghiệp và PTNT huyện là cơ quan chủ trì thực hiện, tổ chức
liên kết, chịu trách nhiệm trong việc xây dựng vùng nguyên liệu.
2. Nhóm giải pháp về xây dựng cánh đồng lớn, phát triển hợp tác, liên kết
sản xuất gắn với tiêu thụ NS theo QĐ 62/2013/QĐ-TTg của Thủ
tướng CP.
2.1. Xây dựng cánh đồng lớn:
Căn cứ Quyết định số 58/2014/QĐ-UBND ngày 24/11/2014 của UBND
tỉnh Đồng Nai ban hành quy định về chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển
hợp tác liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn trên
địa bàn tỉnh Đồng Nai; theo đó, tiêu chí cánh đồng lớn như sau:
Tiêu chí bắt buộc
a. Phù hợp với quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp
b. Áp dụng đồng bộ quy trình sản xuất
c. Đáp ứng một trong các hình thức liên kết sản xuất và tiêu thụ thông qua
hợp đồng giữa nông dân, các tổ chức đại diện của nông dân, với doanh nghiệp.
d. Quy mô diện tích tối thiểu của cánh đồng lớn
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
12

Trang



Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

+ Nhóm rau, hoa, cây dược liệu: 10 ha liền thửa
+ Nhóm cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày (lúa, bắp, đậu, mì,
mía…) 50ha liền thửa.
+ Nhóm cây ăn quả (xoài, bưởi, sầu riêng, chôm chôm, chuối, mít, thanh
long…), cây công nghiệp lâu năm (Cà phê, điều cao su, ca cao, mắc ca…) 50 ha;
riêng cây tiêu: 20 ha, không nhất thiết phải liền thửa nhưng phải nằm trong cùng
một vùng sản xuất chuyên canh tập trung.
Tiêu chí khuyến khích lựa chọn dự án
Trường hợp có nhiều dự án (đảm bảo tiêu chí bắt buộc), ưu tiên dự án có:
a. Vùng sản xuất có hạ tầng kỹ thuật (thủy lợi, điện, giao thông nội
đồng…) đáp ứng yêu cầu SX hàng hóa tập trung thuận lợi cho sơ chế chế biến
và tiêu thụ SP.
b. Quy mô diện tích lớn hơn, tập trung và áp dụng cơ giới hóa SX theo
GAP… và có đại lý, cơ sở thu mua, bảo quản, chế biến NS gần nơi SX.
Căn cứ các tiêu chí nêu trên, có thể xác định được số lượng cánh đồng lớn
đối với từng ngành hàng. Các địa phương đã tiến hành quy hoạch số lượng và
quy mô cánh đồng lớn đối với từng loại cây trồng trên địa bàn; theo đó, số lượng
và quy mô cụ thể từng cánh đồng lớn đối với ngành hàng cà phê được quy hoạch
như sau:
Bảng 4 : Quy hoạch cánh đồng lớn ngành hàng cà phê
STT

Tên cánh đồng lớn

I


Thị xã Long Khánh

1

Quy mô (ha)

STT

Tên cánh đồng lớn

Quy mô (ha)

1.096,00

3

Phú Tân

1.748,00

Bảo Quang

401,00

4

Phú Lợi

253,00


2

Hàng Gòn

216,00

7

Ngọc Định

3

Bàu Trâm

115,00

8

Phú Túc

4

Bàu Sen

90,00

9

Thanh Sơn


5

Bảo Vinh

76,00

12

Phú Cường, Túc Trưng

6

Xuân Lập

55,00

14

Suối Nho

7

Bình Lộc

61,00

IV

Huyện Xuân Lộc


8

Xuân Tân

83,00

1

Lang Minh

290,00

II

Huyện Tân Phú

3.070,00

2

Xuân Bắc

400,00

1

Phú lộc

1.200,00


3

Xuân Thọ

85,00

2

Núi tượng

300,00

7

Xuân Hiệp

85,00

3

Phú lập

300,00

8

Xuân Tâm

155,00


4

Phú Thịnh

250,00

13

Thị Trấn Gia Ray

5

Tà Lài

200,00

V

Huyện Trảng Bom

3.370,00

6

Phú Xuân

300,00

1


Bàu Hàm

1.131,00

7

Thị Trấn Tân Phú

100,00

2

Sông Thao

950,00

8

Nam Cát Tiên

130,00

3

Sông Trầu

498,00

9


Phú Bình

80,00

11

Cây Gáo

791,00

10

Phú Trung

60,00

VI

Huyện Thống Nhất

150,00

11

Trà Cổ

150,00

1


Hưng Lộc (Hưng Thạnh)

150,00

Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
13

50,00
152,00
1.155,00
90,00
142,00
1.091,00

76,00

Trang


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực
III

Huyện Định Quán

4.466,00

VIII

Huyện Cẩm Mỹ


200,00

1

Phú Hòa

396,00

2

Xuân Tây

100,00

2

Phú Vinh

480,00

5

Xuân Quế

100,00

CỘNG TOÀN TỈNH

13.443,00


Tuy nhiên, việc quy hoạch ở các địa phương mới chỉ dừng lại ở xác định
số lượng và quy mô cánh đồng lớn.
Để được công nhận là cánh đồng lớn cần xây dựng và thực hiện hàng loạt
các giải pháp để đáp ứng các tiêu chí về quy trình sản xuất đồng bộ, đáp ứng các
hình thức liên kết và các tiêu chí khuyến khích khác Các giải pháp cụ thể là:
Hoàn chỉnh hệ thống cơ sở hạ tầng theo yêu cầu của từng loại ngành hàng. Vận
động nông dân tham gia phong trào xây dựng cánh đồng lớn, tham gia tập huấn
về kỹ thuật canh tác và quy trình sản xuất. Vận động các hộ nông dân trong từng
cánh đồng lớn thành lập tổ hợp tác hoặc hợp tác xã để làm dịch vụ thực hiện các
công đoạn trong quá trình sản xuất (làm đất, tưới, chăm sóc, bón phân, thu
hoạch, chế biến...); đồng thời đảm bảo tư cách pháp nhân để tham gia liên kết
với các doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào hoặc tiêu thụ sản phẩm đầu ra.
Vận động các doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều vào quá trình sản xuất
ngành hàng

KẾT LUẬN
+ Cây cà phê được trồng ở tỉnh Đồng Nai từ khá lâu đời và ngày càng tỏ ra
thích hợp đối với các vùng đất có nguồn gốc bazan trên địa bàn tỉnh Đồng Nai;
trải qua khá nhiều giai đoạn thăng trầm nhưng diện tích trồng cà phê trên địa bàn
tỉnh vẫn có xu thế tăng; điều này chứng tỏ cây cà phê đã và đang mang lại hiệu
quả kinh tế cho người trồng cà phê trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, cần phải khẳng
định tỷ suất lợi nhuận và chất lượng cà phê ở Đồng Nai luôn thấp hơn so với cà
phê trồng ở Tây nguyên; do đó, ở Đồng Nai chỉ nên phát triển cà phê ở những nơi
có đầy đủ điều kiện thuận lợi (đặc biệt là nguồn nước tưới dồi dào).
+ Thực trạng chuỗi giá trị ngành hàng cà phê Đồng Nai còn nhiều tồn tại và
hạn chế; trong đó, đáng kể là sự liên kết lỏng lẻo giữa các tác nhân tham gia
chuỗi, nhiều khi mối liên kết bị đứt đoạn. Các tác nhân tham gia chuỗi không
đồng quyền về tiếp nhận thông tin, là nguyên nhân làm cho sự không đồng quyền
trong phân chia lợi nhuận và giá trị gia tăng. Ngoài ra còn có các nguyên nhân
khác như: Năng lực chế biến chưa được phát huy tối đa, công nghệ chế biến còn

lạc hậu… chính những nguyên nhân này làm cho cơ hội để nâng cập chuỗi giá trị
ngành hàng ngày càng giảm thấp.
+ Khắc phục tình trạng trên, cần thực hiện tái cơ cấu tổ chức sản xuất, thực
hiện Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25/10/2013 của Thủ tướng Chính
Phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu
thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; đồng thời đề suất sơ đồ chuỗi giá trị mới
đối với ngành hàng cà phê theo hướng các doanh nghiệp (cung ứng vật tư và thu
Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
14

Trang


Đề tài KH: Nghiên cứu các yếu tố KT - KT và TT để xác định cây trồng vật nuôi chủ lực

mua chế biến tiêu thụ sản phẩm) liên kết chặt chẽ với người trồng cà phê thông
qua các hợp đồng cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
+ Giải pháp để thực hiện nâng cấp chuỗi giá trị ngành hàng cà phê là xây
dựng cánh đồng lớn, phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông
sản theo Quyết định 62/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ; đồng thời
khuyến khích các doanh nghiệp tham gia ngày càng nhiều vào sản suất kinh
doanh nông nghiệp thông qua các hợp đồng với người trồng cà phê.
TP. Biên Hòa, ngày tháng 3 năm 2015

Chuyên đề: Phân tích chuỗi giá trị ngành hàng cà phê
15

Trang




×