CƠNG TÁC XÃ HỘI TRONG PHỊNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH
Đề tài: Nâng cao nhận thức về phịng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ tại xóm Đồng
Hịa, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ngun.
LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Có thể nói, gia đình được coi là nơi yên bình nhất của con người, là nơi mà con người tìm
được sự chia sẻ và yêu thương, là nơi tiếp sức cho con người có nhiều nghị lực để vượt
qua những áp lực trong công việc và các thử thách hay khó khăn bên ngồi xã hội. Quan
hệ gia đình giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, anh chị em với nhau là quan hệ tình
cảm thiêng liêng và ấm áp. Từ trước đến nay, gia đình luôn luôn được coi là tổ ấm, là nơi
thỏa mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất của các thành viên và bảo vệ họ trước
những căng thẳng trong cuộc sống. Gia đình là tế bào của xã hội, nơi duy trì nịi giống, là
mơi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn
và phát huy văn hoá truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội. Gia đình tốt đẹp thì
xã hội mới tốt đẹp.
Thế nhưng có phải gia đình nào cũng là thiên đường khi mà bạo lực gia đình là vấn đề
mang tính chất tồn cầu, nó xảy ra ở hầu hết ca quốc gia trên thế giới. Theo số liệu điều
tra của liên đoàn Phụ nữ tồn quốc, bạo lực gia đình đang de dọa cuộc sống của 30%
trong tổng số 270 triệu gia đình sống trên lục địa (Theo tạp chí khoa học về phụ nữ, số
4/2003).
Quả thực, đó là một con số khơng nhỏ. Riêng ở Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại
đây, vấn đề này mói được nghiên cứu ở một số cơng trình của Hội liên hiệp phụ nữ và
một số tác giả ở trong nước. Hậu quả của bạo lực gia đình gây ra là đặc biệt nghiêm
trọng, nó khơng chỉ gây ra tổn thương đến cuộc sống, sức khỏe, danh dự của cá thành
viên trong gia đình, mà cịn vi phạm tới các chuẩn mực đạo đức xã hội, tiếp tay cho sự
gia tăng của các tệ nạn như mại dâm, ma túy, người lang thang… Qua đó cho thấy bạo
lực gia đình khơng cịn là việc nội bộ tự giải quyết trong mỗi gia đình, mà đã trở thành
một tệ nạn cần có sự quan tâm của tồn xã hội.
Người già, phụ nữ và trẻ em là 3 nhóm đối tượng dễ bị bạo lực gia đình nhất. Có thể nói
rằng vấn đề đấu tranh giải phóng cho phụ nữ là một trong những vấn đề vô cùng quan
trọng khong những với xã hội mà nó cịn là vấn đề bức xúc trong gia đình Việt Nam nói
chung và gia đình ở tỉnh Thái Ngun nói riêng.
Xóm Đồng Hịa, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Ngun là 1 xóm thuộc vùng
trung du miền núi Bắc bộ. Hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở đây
ngày càng được nâng cao nhưng mặt bằng dân trí vẫn cịn thấp và phát triển khơng đều.
Nhiều quan niệm, tư tưởng phong kiến, nhất là tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn chưa
được xóa bỏ. Người phụ nữ vẫn phải chịu thiệt thòi cả về mặt vật chất lẫn tinh thần, vẫn
phải chịu sự bất bình đẳng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và trong gia đình. Với
những lí do nêu trên, tơi đã chọn đề tài: “Nâng cao nhận thức cho phụ nữ tại xóm Đồng
Hịa, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
I. Cơ sở lý luận của cơng tác xã hội trong phịng chống bạo lực gia đình.
I.1 Khái quát chung về bạo lực gia đình
Các khái niệm chung:
Trong tiếng Việt, bạo lực được hiểu là "sức mạnh dùng để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật
đổ". Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên
thực tế bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói
chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng
rất phong phú, được chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận:
bạo lực nhìn thấy và bạo lực khơng nhìn thấy được; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em…
Dưới góc độ xã hội học, gia đình được coi là tế bào của xã hội. Khơng giống bất kỳ
nhóm xã hội nào khác, gia đình có sự đan xen các yếu tố sinh học, kinh tế, tâm lý, văn
hóa,…Những mối liên hệ cơ bản của gia đình bao gồm vợ, chồng, cha mẹ và con, ông
bà và cháu, anh chị em với nhau, những mối liên hệ khác như: cơ, dì, chú, bác với
cháu, cha mẹ chồng với con dâu, cha mẹ vợ với con rể…Mối quan hệ gia đình được
thể hiện ở các khía cạnh: có đời sống tình dục, sinh con và ni dạy con cái, lao động
tạo ra của cải vật chất để duy trì đời sống gia đình và đóng góp xã hội. Mối liên hệ
này có thể dựa trên những căn cứ pháp lý hoặc có thể dựa trên các căn cứ thực tế một
cách tự nhiên, tự phát.
Dưới góc độ pháp lý “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền
giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”(Điều 8 Luật Hơn nhân và gia đình 2000).
Tuy nhiên, trong thực tế đời sống cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm gia
đình: gia đình là tập hợp những người có cùng tên trong sổ hộ khẩu; gia đình là tập hợp
những người cùng chung sống với nhau dưới một mái nhà…
Từ những góc độ nhìn nhận khác nhau, gia đình được chia thành rất nhiều dạng thức khác
nhau: gia đình hiện đại, gia đình truyền thống; gia đinh đa thế hệ…Xuất phát từ những
khái niệm khác nhau về gia đình dẫn tới những quan niệm khác nhau về thành viên gia
đình.
Thành viên gia đình có thể được hiểu là những người gắn bó với nhau bằng quan hệ hơn
nhân, huyết thống, ni dưỡng; hoặc cũng có quan điểm cho rằng thành viên gia đình là
những người cùng ghi tên trong một sổ hộ khẩu, hoặc là những người cùng chung sống
trong một gia đình.
Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa truyền thống là tất cả những người trong cùng dòng
họ, trong một đại gia đình từ ơng bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, cháu chắt, con dâu, con
rể, cháu dâu, cháu rể…
Thành viên gia đình hiểu theo nghĩa hiện đại là những người cùng chung sống trong một
gia đình, có đời sống chung về mặt vật chất và tinh thần như cha mẹ và con cái, vợ và
chồng, những người sống cùng khác. Những người này có một khoảng thời gian sống
chung với nhau ổn định, có sự quan tâm chia sẻ với nhau những cơng việc gia đình và xã
hội, từ đó hình thành nên mối liên hệ đặc biệt về tâm lý, tình cảm, tạo nên cách ửng xử
giữa họ với nhau.
Khái niệm bạo lực gia đình:
Theo định nghĩa của Hội đồng Liên hiệp quốc thì bạo lực gia đình bao gồm bất kỳ một
hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới nào dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến những tổn
hại về thân thể, tình dục hay tâm lý, hay những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe
dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do,
dù
nó
xảy
ra
nơi
cơng
cộng
hay
cuộc
sống
riêng
tư.
Bạo lực gia đình là một dạng thức của bạo lực xã hội, là “hành vi cố ý của thành viên gia
đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành
viên khác trong gia đình” (Điều 1 Luật Phịng, chống bạo lực gia đình 2007).
Các dạng bạo lực:
- Bạo lực về thể chất: là hành vi ngược đãi, đánh đập thành viên gia đình, làm tổn
thương tới sức khỏe, tính mạng của họ.
- Bạo lực về tinh thần: là những lời nói, thái độ, hành vi làm tổn thương tới danh
dự, nhân phẩm, tâm lý của thành viên gia đình.
- Bạo lực về kinh tế: là hành vi xâm phạm tới các quyền lợi về kinh tế của thành
viên gia đình (quyền sở hữu tài sản, quyền tự do lao động…)
- Bạo lực về tình dục: là bất kỳ hành vi nào mang tính chất cưỡng ép trong các
quan hệ tình dục giữa các thành viên gia đình, kể cả việc cưỡng ép sinh con.
Mỗi hình thức bạo lực có thể được biểu hiện dưới nhiều hành vi khác nhau. Luật
Phịng, chống bạo lực gia đình đã quy định các hành vi bạo lực bao gồm:
- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ, tính
mạng;
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ơng, bà và
cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
- Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của
thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
- Cưỡng ép thành viên gia đình lao động q sức, đóng góp tài chính q khả năng của
họ; kiểm sốt thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài
chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
I.2 Các hoạt động công tác xã hội trong phịng chống bạo lực gia đình
1.2.1 Quản lý ca
Quản lý ca còn được gọi là quản lý trường hợp.
Theo hiệp hội các nhà quản lý ca của Mỹ năm 2007: Quản lý ca là quá trình tương tác,
điều phối bao gồm các hoạt động đánh giá, lên kế hoạch, tổ chức điều động và biện hộ về
chính sách /quan điểm và dịch vụ, nguồn lực nhằm đáp ứng nhu cầu của thân chủ sao cho
sự cung cấp dịch vụ tới các nhân có hiệu quả với chi phí giảm và có chất lượng.
Hiệp hội CTXH thế giới định nghĩa quản lý ca là sự điều phối mang tính chuyên nghiệp
các dịch vụ xã hội và dịch vụ khác nhằm giúp cá nhân/ gia đình đáp ứng nhu cầu được
bảo vệ hay chăm sóc.
1.2.2 Tham vấn
-
-
-
Tham vấn là một q trình trợ giúp tâm lý, trong đó nhà tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ
năng chuyên môn và thái độ nghề nghiệp để thiết lập mối quan hệ tương tác tích cực với
thân chủ nhằm giúp họ nhận thức được hoàn cảnh vấn đề để thay đổi cảm xúc, suy nghĩ
và hành vi và tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình.
Những điều lưu ý khi tham vấn trong phịng, chống bạo lực gia đình:
-
-
Với nhà tham vấn:
+ Gần gũi, thân thiện, nói năng hoạt bát, biết kiên trì lắng nghe.
+ Có kiến thứ sâu rộng về cuộc sống của người phụ nữ và cuộc sống gia đình, kiến
thức về tâm lý, văn hóa dân tộc.
+ Có tấm lòng bao dung, thương người, mềm dẻo trong tư duy.
+ Có mối quan hệ sâu, rộng với nhiều cá nhân, tổ chức để có thể liên hệ, giới
thiệu, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình khi thấy cần thiết.
Để nạn nhân bị bạo lực gia đình tự tin, NVXH cần:
+ Nói cho nạn nhân biết chị ấy khơng đáng bị đánh đập như thế.
+ Chỉ cho nạn nhân thấy được những thế mạnh của bản thân.
+ Nói cho nạn nhân biết rằng chị ấy không đơn độc trong cuộc chiến phịng, chống
bạo lực gia đình.
+ Khuyến khích nạn nhân dũng cảm vượt lên số phận, không đầu hàng, không cam
chịu số phận, không thể chấp nhận mãi mãi là nạn nhân của bạo lực gia đình.
1.2.3 Trang bị kỹ năng sống
a. Đối với người bị bạo lực:
• Kỹ năng tự vệ :
- Bạo lực gia đình đang là vấn đề nhức nhối của toàn xã hội và hậu quả của nó để
lại vơ cùng lớn. Trước hết bạo lực gia đình gây ra tổn thương về mặt thể chất lẫn tinh
thần của người bị bạo lực. Có thể kể đến một số hành vi của người bạo lực như : túm tóc,
đạp, đấm, đá, tát, dùng các vật dụng khác để đánh....
- Chúng ta không thể lường trước được các tình huống có thể xảy ra cho nên cần
trang bị kỹ năng tự vệ để bảo vệ bản thân.
- Một số kỹ năng tự vệ để thoát thân như khi bị kéo tóc,khi bị đánh bằng mũ bảo
hiểm, khi bị túm cổ áo và đánh,khi bị kéo lôi tay đi….
• Kỹ năng ứng xử :
Nguyên nhân của BLGĐ thường bắt nguồn từ những mâu thuẫn bất hòa trong gia đình,
ban đầu từ “lời qua tiếng lại” ai cũng tranh lấy phần hơn dẫn đến xơ xát. Ơng bà chúng ta
thường nói “chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sơi bớt lửa chẳng đời nào khê” chị em hãy
bình tĩnh nghiệm lại xem những lần dẫn đến BLGĐ đó có phải một phần là do mình thiếu
kiềm chế? Có to tiếng, q lời hay khơng? Có thách đố khơng? Thậm chí có nhào vơ cắn
xé.
Vì vậy cần rèn luyện kỹ năng ứng xử :
- Rèn luyện cho được chữ “nhẫn”, “cái gốc trăm nết, nết nhẫn là cao”, “vợ chồng biết
nhẫn gia cảnh ấm êm, thiên tử biết nhẫn nước không sinh hại” . Vợ chồng nên nhẫn nhịn
nhau, nhất là lúc nóng giận “nóng mất ngon, giận mất khơn”, hãy biết kiềm chế khi nào
qua cơn giận hãy lựa lời mà nói với nhau thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn.
- Phụ nữ là trung tâm trong mỗi gia đình “đàn ơng xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” nên phụ nữ
cần phải biết “giữ lửa” trong ngôi nhà của mình, phải biết dùng tình cảm vị tha, chân
thành của người phụ nữ để ln hâm nóng sự u thương, trách nhiệm của các thành viên
trong gia đình, chính tình cảm mới là sợi dây vơ hình khơng có gì thay thế được để tạo ra
chất keo kết dính con người lại với nhau như lời Phật dạy “món nợ lớn nhất của đời
người là tình cảm”
- Rèn luyện đức tính “dịu dàng”, sự dịu dàng của người phụ nữ chính là chất men kết
dính giữa vợ chồng ,có gì phải bình tĩnh dùng lời lẽ từ tốn để nói, khơng chửi bới thơ tục,
sỉ nhục người khác.
- Biết ứng xử đúng lúc, khi chồng giận thì vợ bớt lời, khi chồng có biểu hiện nóng tính thì
hãy tìm cớ tránh đi chỗ khác; chồng đánh hãy tìm cách thốt ra ngồi để bảo vệ mình,
hãy biết tìm đến người thân có uy tín trong gia đình chồng, gia đình mình nhờ can ngăn.
•
Kỹ năng tự chăm sóc bản thân :
Phụ nữ khi bị bạo lực gia đình thường bị tổn thương cả thể chất lẫn tinh thần. Vì vậy khi
bị đánh đập có thương tích trước hết người phụ nữ cần trang bị kiến thức kỹ năng tự
chăm sóc bản thân mình như :
- Biết bảo vệ những phần cơ thể quan trọng như đầu, mặt, bụng...
- Cần ăn uống đủ chất, đảm bảo sức khỏe để phịng và chống bạo lực gia đình.
- Biết băng bó, sát trùng vết thương ngay lập tức.
- Khi có dấu hiệu cơ thể có vấn đề cần tìm đến bác sĩ để được hỗ trợ.
•
Kỹ năng quan sát :
Bạo lực gia đình là một hành vi có tính chu kỳ và khả năng lặp lại rất cao. Vì thế người bị
bạo lực cần có kỹ năng quan sát để tránh trường hợp xấu nhất.
- Quan sát thái độ và hành vi của người chồng để có cách ứng xử phù hợp.
- Khi thấy chồng đi về có dấu hiệu say rượu, bực bội cáu gắt,...có nguy cơ xảy ra bạo lực
thì phải tìm cách để bảo vệ bản thân.
•
Kỹ năng quản lý chi tiêu:
- Cần có sự chi tiêu hợp lý trong gia đình, khơng phung phí.
- Cần có sự trao đổi ý kiến, tham khảo ý kiến của nhau trong gia đình.
- Khơng bắt vợ hoặc chồng nộp số tiền quá lớn vượt quá khả năng. ( đối với người bạo
hành)
b. Đối với người bạo hành:
•
Kỹ năng kiềm chế:
- Cần nghĩ đến trách nhiệm của bản thân là người trụ cột của gia đình, là người mang lại
hạnh phúc và có trách nhiệm gánh vác bảo vệ các thành viên trong gia đình.
- Tránh các suy nghĩ tiêu cực, ghen tng, phải tin vào bạn đời của mình.
- Hạn chế lời qua tiếng lại để thể hiện cái tơi của bản thân.
- Giữ bình tĩnh trong mọi tình huống.
- Để kiềm chế được cảm xúc trước hết cần học cách giải tỏa cảm xúc, stress để có thể
nhìn nhận mọi việc theo hướng tích cực.
•
Kỹ năng giải quyết vấn đề.
- Khi gặp vấn đề cùng nhau giải quyết phá vỡ khúc mắc hiểu lầm không sử dụng vũ lực.
- Cần tìm nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, không quy chụp suy nghĩ của bản thân lên
người khác.
1.2.4 Nâng cao nhận thứ về phòng, chống bạo lực gia đình
- Thơng tin, tun truyền về phịng, chống bạo lực gia đình: Biện pháp này nhằm mục
đích thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, góp phần tiến tới xóa bỏ bạo lực gia
đình và nâng cao nhận thức về truyền thống tốt đẹp của con người, gia đình Việt Nam.
+ Việc thơng tin, tun truyền phải đảm bảo chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực; phù
hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân
tộc, tơn giáo; khơng làm ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của
nạn nhân bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình. Nội dung thơng tin,
tun truyền cần tập trung vào chính sách, pháp luật về phịng, chống bạo lực gia đình,
bình đẳng giới, quyền và nghĩa vụ của các thành viên gia đình; truyền thống tốt đẹp của
con người, gia đình Việt Nam; tác hại của bạo lực gia đình; biện pháp, mơ hình, kinh
nghiệm trong phịng, chống bạo lực gia đình; kiến thức về hơn nhân gia đình; kỹ năng
ứng xử, xây dựng gia đình văn hóa và các nội dung khác có liên quan đến phịng, chống
bạo lực gia đình.
+ Thực hiện việc thơng tin, tun truyền về phịng, chống bạo lực gia đình bằng nhiều
hình thức như: tuyên truyền trực tiếp; qua các phương tiện thông tin đại chúng; lồng ghép
trong việc giảng dạy, học tập tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;
thông qua các hoạt động văn học, nghệ thuật, sinh hoạt cộng đồng và các loại hình văn
hóa quần chúng khác.
- Hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình:
Hịa giải các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên trong gia đình là trách nhiệm của
gia đình, người đứng đầu hoặc người có uy tín trong dịng họ, người có uy tín trong cộng
đồng dân cư, cơ quan, tổ chức nơi công tác hoặc nơi sinh sống của các thành viên gia
đình; của tổ hịa giải ở cơ sở. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm phối hợp với Ủy
ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viện của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp
trong việc hướng dẫn, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ hòa giải ở cơ sở thực hiện hòa
giải các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các thành viên gia đình.
- Tư vấn, góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư về phịng ngừa bạo lực gia đình:
Nhà nước tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động tư
vấn về gia đình ở cơ sở cho các thành viên trong cộng đồng dân cư, trong đó tập trung
vào các đối tượng: người có hành vi bạo lực gia đình; nạn nhân bạo lực gia đình; người
nghiện rượu, ma túy, đánh bạc; người chuẩn bị kết hôn. Nội dung tư vấn chủ yếu là cung
cấp thông tin, kiến thức, pháp luật về hơn nhân, gia đình và phịng, chống bạo lực gia
đình; hướng dẫn kỹ năng ứng xử trong gia đình; kỹ năng ứng xử khi có mâu thuẫn, tranh
chấp
giữa
các
thành
viên
gia
đình.
+ Việc góp ý, phê bình trong cộng đồng dân cư nhằm làm chuyển biến nhận thức của
người có hành vi bạo lực gia đình để họ khơng tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình. Tuy
nhiên, biện pháp này chỉ áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên có bạo lực gia đình
đã được tổ hòa giải ở cơ sở hòa giải mà tiếp tục có bạo lực gia đình và do người đứng đầu
cộng đồng dân cư áp dụng (trưởng thôn, bản…). Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm giúp
đỡ, tạo điều kiện cho người đứng đầu cộng đồng dân cư tổ chức việc góp ý, phê bình
trong cộng đồng dân cư đối với người có hành vi bạo lức gia đình./.
Ví dụ:
_Chiều (28/6), Sở VH-TT và DL tỉnh Nghệ An đã tổ chức lễ kỷ niệm 15 năm ngày Gia
đình Việt Nam (28/6/2001- 28/6/2016) và hưởng ứng Tháng hành động quốc gia về
phịng, chống bạo lực gia đình. Sau 15 năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính
phủ về cơng tác gia đình, tồn tỉnh đã có 626.420 gia đình văn hóa, đạt 82%, khu dân cư
văn hố đạt tỉ lệ gần 62%. Đến nay 21/21 xã, thị, 100% xã, phường có ban ban chỉ đạo
cơng tác gia đình. Số vụ bạo lực gia đình giảm đáng kể.
_ Tại Quảng Ngãi thời gian qua để hạn chế tình trạng bạo lực gia đình, Sở đã ban hành
văn bản chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức
của người dân về PCBLGĐ; triển khai nhân rộng mô hình Câu lạc bộ Gia đình phát triển
bền vững, nhóm PCBLGĐ; mơ hình CLB Gia đình văn hố; triển khai Đề án Tuyên
truyền giáo dục, đạo đức, lối sống trong gia đình... Nhờ đó, số vụ BLGĐ có chiều
hướng giảm.
_ Tại Bắc Kan thực hiện dự án thí điểm về nâng cao nhận thức và phịng chống bạo lực
gia đình, sau 01 năm Ban Quản lý dự án đã hướng dẫn cho Ban Chủ nhiệm 8 câu lạc bộ
trên địa bàn tỉnh về kỹ năng điều hành sinh hoạt CLB với các chủ đề: “Bình đẳng giới”
và “Phịng chống bạo lực gia đình”. Tại 2 xã thực hiện thí điểm dự án là xã Dương Phong
(Bạch Thông) và xã Như Cố (Chợ Mới) đã hoạt động có hiệu quả, trực tiếp tham gia giải
quyết được 02 vụ bạo lực gia đình.
Dự án cũng đã triển khai 04 lớp tập huấn kỹ năng về xây dựng gia đình hạnh phúc, các
mối quan hệ và ứng xử trong gia đình, có 120 thành viên của 08 câu lạc bộ tham gia. Tổ
chức toạ đàm “Hãy nói lời yêu thương” tại 2 xã Như Cố và Dương Phong. Ngồi ra, dự
án cịn tổ chức truyền thông và diễu hành cổ động cấp tỉnh, với trên 500 người tham gia.
Dự án đã giúp nâng cao năng lực cán bộ trong cơng tác phịng chống bạo lực gia đình;
nhận thức về bình đẳng giới và bạo lực gia đình của đại bộ phận các hộ gia đình tham gia
dự án đã được nâng lên đáng kể…
1.3
Các mơ hình dịch vụ trong phịng chống bạo lực gia đình
1. Mơ hình CLB
2. Mơ hình: “ Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng”
3. Mơ hình “Ngơi nhà bình n”
4. Mơ hình: “ Ngơi nhà bình mình ”
5. Mơ hình: các tổ hịa giải, đường dây nóng
Cụ thể như sau:
1. Mơ hình CLB :
- Tại xã n Phú (Hàm n, Tun Quang), năm 2011, mơ hình can thiệp phịng, chống
BLGĐ ra đời đã góp phần đẩy lùi, ngăn chặn và hàn gắn những hậu quả mà BLGĐ gây
ra. UBND xã đã lựa chọn 5 thôn để thành lập CLB gia đình phát triển bền vững gồm:
thơn 1A Thống Nhất, thôn 6 Thống Nhất, thôn 4 Minh Phú, thôn 2 Thống Nhất, thôn 1B
Thống Nhất với tổng số 121 hội viên. Đồng thời thành lập 5 nhóm phịng chống BLGĐ
tại các thơn có CLB gia đình phát triển bền vững, mỗi nhóm có 5 thành viên.
Mỗi Câu lạc bộ có từ 20-25 thành viên tham gia, các Câu lạc bộ sinh hoạt định kỳ hàng
tháng, với các nội dung như xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc;
nét đẹp, cách ứng xử trong gia đình; lên án, phê phán các hành vi BLGĐ và các biện
pháp phịng chống BLGĐ, kiến thức chăn ni, phát triển kinh tế…thực hiện nội quy,
quy ước thôn. Nội dung sinh hoạt được thay đổi, hình thức đa dạng phong phú, 5 CLB
gia đình phát triển bền vững đã tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, lồng ghép với
công tác hoà giải và tuyên truyền phổ biến giáo dục phápluật,thu hút trên 400 lượt người
tham gia.
Qua 5 năm triển khai mơ hình can thiệp phịng, chống BLGĐ, trên địa bàn xã Yên Phú
đã giảm hẳn các vụ BLGĐ. Từ năm 2011 đến nay, các CLB phòng, chống BLGĐ xã
Yên Phú đã hịa giải thành cơng cho 14 mâu thuẫn gia đình, góp phần xây dựng, cửng cố
nền tảng gia đình phát triển bền vững, an ninh trật tự địa phương được ổn định.
- Tại Quảng Bình, Ban Chỉ đạo Cơng tác gia đình tỉnh thường xuyên hướng dẫn tổ chức,
hoạt động triển khai và nhân rộng mơ hình phịng, chống BLGĐ bằng hình thức thành
lập địa chỉ tin cậy tại cộng đồng, hướng dẫn trạm y tế bố trí nơi tạm lánh, tư vấn và điều
trị cho bệnh nhân là nạn nhân BLGĐ, thành lập các câu lạc bộ gia đình phát triển bền
vững. Năm 2015, đã thành lập thêm 09 Câu lạc bộ Gia đình phát triển bền vững và 04
nhóm phịng, chống BLGĐ được UBND xã Xn Hóa, huyện Minh Hóa ra quyết định,
nâng tổng số Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững lên tới 108 Câu lạc bộ và 103
nhóm phịng, chống BLGĐ, 185 số cơ sở tư vấn về BLGĐ và 643 địa chỉ tin cậy tại
cộng đồng.
Theo thống kê của các huyện, thị xã, thành phố, nhìn chung, tổng số vụ bạo lực năm
2015 giảm so với cùng kỳ, xảy ra 191 vụ BLGĐ, trong đó thành thị 19 vụ bạo lực, nơng
thơn xảy ra 172 vụ bạo lực; nạn nhân BLGĐ chủ yếu là phụ nữ, bao gồm bạo lực tinh
thần 92 vụ và bạo lực thể chất 80 vụ. Có những trường hợp có biểu hiện dễ dẫn đến bạo
lực đã được tuyên truyền, vận động, giải thích và nhắc nhở kịp thời. Biện pháp xử lý đối
với người gây BLGĐ là góp ý trong cộng đồng dân cư, đưa ra xử lý 89 vụ, tạm xử phạt
hành chính 8 vụ, áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc 04 vụ, không có vụ bạo lực nào đưa ra
xử
lý
hình
sự.
Thơng qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở phổ biến khoảng 3.500 chương trình tun
truyền vận động nhân dân tích cực thực hiện Luật Bình đẳng giới, Luật Phịng, chống
BLGĐ; nêu gương điển hình xây dựng gia đình văn hóa; hoạt động văn hóa văn nghệ,
hội thi về phịng chống BLGĐ..
- Tại Thừa Thiên - Huế, hiện tồn tỉnh có 113 mơ hình phòng chống BLGĐ, 288 câu lạc
bộ gia đình phát triển bền vững, thiết lập 113 đường dây nóng, 247 cơ sở tư vấn và 579
địa chỉ tin cậy hỗ trợ nạn nhân BLGĐ. Ngoài ra, nhiều địa phương cũng có những phong
trào hay như tại làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ, H.Phú Lộc) có giải thưởng Nàng dâu hiếu
thảo để tôn vinh các Nàng dâu biết hiếu thảo; CLB phịng, chống BLGĐ ở thơn 1, xã
Hương Lộc, H. Nam Đông... Theo báo cáo của các địa phương, chỉ có 0.13% số hộ trên
địa bàn tỉnh xảy ra BLGĐ được chính quyền cấp thơn, tổ dân phố báo cáo. Trong đó,
bạo lực ở nơng thơn cao hơn thành thị, tập trung phần lớn là bạo lực thân thể, nạn nhân
chủ yếu là nữ ở trong độ tuổi từ 19 đến 59 tuổi…
- Tại Bình Thuận, Ban Chỉ đạo Cơng tác gia đình tỉnh đã chủ động phối hợp với các
ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp,
ngành, gia đình, cộng đồng và tồn xã hội cùng tham gia phòng, chống BLGĐ, từng
bước ngăn chặn và giảm dần số vụ BLGĐ trên địa bàn tỉnh. Hiện toàn tỉnh có 99/127 xã,
phường, thị trấn thành lập Ban Chỉ đạo mơ hình phịng, chống BLGĐ; 114 thơn, khu
phố thành lập Câu lạc bộ gia đình phát triển bền vững với hơn 2 ngàn hội viên; 240
nhóm phịng, chống BLGĐ với khoản 1.200 tình nguyện viên tham gia; 398 “Địa chỉ tin
cậy” và 257 đường dây nóng trong mơ hình phịng, chống BLGĐ tại cộng đồng. Q
trình thực hiện đã góp phần ngăn chặn, giảm thiểu tình trạng BLGĐ, thể hiện rõ là số vụ
BLGĐ giảm theo các năm thừ 1.863 vụ/1.925 nạn nhân trong năm 2009 xuống còn 449
vụ/449 nạn nhân vào tháng 6 năm 2015. 70% nạn nhân bị bạo hành được tiếp nhận, tư
vấn và chăm sóc sức khỏe tại cơ sở y tế. Hiện tồn tỉnh có 99/127 xã, phường thành lập
Ban chỉ đạo mơ hình Phịng chống BLGĐ; 398 “địa chỉ tin cậy” và 257 “đường dây
nóng” được thành lập ở cộng đồng
để kịp thời giải quyết và hỗ trợ nạn nhân bị bạo hành…
=> Đến nay cả nước đã hình thành hơn 18 nghìn CLB với hơn 31 nghìn địa chỉ tin cậy ở
cộng đồng, hơn 20 nghìn nhóm hoạt động phịng chống BLGĐ. Có thể nói hoạt động
phịng chống BLGĐ, nhiệm vụ phịng chống BLGĐ được thực hiện bắt đầu từ cơ sở đã
triển khai có hiệu quả Luật phịng chống BLGĐ, góp phần giảm BLGĐ trên tồn quốc.
1.4 Vai trị của cơng tác xã hội trong phịng chống bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng, làm tổn thương về thể xá và tâm lý
của nạn nhân, tốn kém tiền của do chi phí khám và điều trị bệnh tật. Không những thế,
trong thời gian điều trị bệnh, nạn nhân khơng những phải chi phí, tốn tiề cho việc khám
và chữa bệnh mà còn phải nghỉ việc nên khơng có thu nhập cho bản thân, gia đình và xã
hội. Lúc này, nhân viên cơng tác xã hội có thể cung cấp một số dịch vụ xã hội để hỗ trợ
nạn nhân bạo lực gia đình:
- Lập kế hoạch trợ giúp cho nạn nhân và điều phối các dịch vụ hỗ trợ cho nạn nhân dựa
trên nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của họ. Đảm bảo giải quyết tất cả những vấn
đề khó khăn mà thân chủ đang gặp phải.
- Trong quá trình tìm hiều và phân tích vấn đề của nạn nhân, nhân viên xã hội sẽ là cầu
nối giữa nạn nhân với Ngôi nhà bình yên; TW Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Các trung
tâm bảo trợ xã hội, các nhà xã hội… để đảm bảo nạn nhân có được chỗ ở an toàn trong
suốt thời gian can thiệp; giúp đỡ nạn nhân từ q trình bắt đầu và sau khi tái hịa nhập
cộng đồng, đảm bảo có chỗ ăn ở an tồn.
- Nhân viên xã hội tiến hành đánh giá mức độ tổn thương tâm lý, xác định phương pháp
tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục hồi sang chấn cho nạn nhân
bị bạo lực gia đình. Những trường hợp có vấn đề về tâm lý quá lớn, nhân viên xã hội
không đủ khả năng giải quyết thì sẽ đựơc kết nối, chuyển giao đến các cơ quan và tổ chức
có khả năng, đủ thẩm quyền.
- Nhiều nạn nhân bị bạo lực bị ảnh hưởng rất năng nề về thể chất, sức khỏe, nếu không
được chữa trị sẽ gây nên những hậu quả xấu. Nhân viên xã hội sẽ cung cấp dịch vụ chăm
sóc sức khỏe thể chất và tinh thần thông qua các đối tác cung cấp các dịch vụ chăm sóc
sức khỏe chuyên nghiệp. Họ sẽ kết nối những cơ sở cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí
để các nạn nhân bị bạo lực được khám và điều trị bệnh, thậm chí tìm kiếm các trung tâm
giám định y tế để giám định về tỷ lệ thương tật cho họ. Như đã đề cập ở trênm, hầu hết
các nạn nhân bị bạo lực đều bị xâm hại, xâm phạm về quyền và lợi ích. Vì vậy đội ngũ
nhân viên làm cơng tác xã hội sẽ giúp nạn nhân tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tư vấn pháp lý
nhằm đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng phụ nữ bị bạo hành thơng qua các văn phịng
trợ giúp pháp lý, các văn phòng luật sư và cơ quan tư pháp. Đồng thời, tìm kiếm các
nguồn lực, xin kinh phí học nghề tại các đối tác đào tạo nghề, hỗ trợ cá nhân và tham vấn
nghề nghiệp định kỳ trong thời gian học nghề, xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và chuẩn
bị hành trang, sẵn sàng làm việc sau khi hỗ trợ.
- Song song với các hoạt động trên, nhóm phụ nữ bị bạo hành sẽ được trang bị các kỹ
năng tìm kiếm thông tin việc làm và phỏng vấn, tiếp cận với nhà tuyển dụng. Chính đội
ngũ nhân viên xã hội sẽ phối hợp với các tổ chức, cơ quan đơn vị giới thiệu việc làm, tổ
chức nhân đạo từ thiện để tạo việc làm cho nạn nhân. Một trong những vấn đề rất khó
khăn và nhiều thách thức đối với các nạn nhân đó là vấn đề tái hịa nhập. Tuy nhiên, đội
ngũ nhân viên công tác xã hội sẽ tiến hành lập kế hoạch tái hòa nhập, tiến hành liệu pháp
nhóm và hướng dẫn kĩ năng sống, tích cực hướng dẫn học tham gia các hoạt động vui
chơi giải trí, cung cấp kinh phí hỗ trợ và theo dõi tái hịa nhập.
1.5 Luật pháp, chính sách trong phịng chống bạo lực gia đình
KHUNG PHÁP LÝ QUỐC TẾ
Công ước của Liên hợp quốc về chống mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ
(CEDAW) :
CEDAW là cơng ước tồn diện nhất về quyền con người của phụ nữ.Nó quy định
sự bình đẳng giữa nam và nữ về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa.
• Cơng ước khơng có những quy định cụ thể về BLGĐ, nhưng Ủy ban CEDAW
đã
nhấn mạnh trong khuyến nghị chung số 19 rằng bạo lực trên cơ sở giới,
bao gồm cả BLGĐ, là “hình thức phân biệt đối xử khiến hạn chế nghiêm trọng khả
năng thụ hưởng các quyền và tự do của người phụ nữ một cách bình đẳng với nam
giới”.
• Các quốc gia khơng chỉ có nghĩa vụ khơng sử dụng
bạo lực mà còn chịu mọi
trách nhiệm về các hành vi “cá nhân” nếu khơng làm trịn nghĩa vụ phịng ngừa
và trừng phạt các hành vi này. Đây chính là nguyên tắc “trách nhiệm đầy đủ”.
•
Tuyên bố của Liên hợp quốc về xố bỏ bạo lực đối với phụ nữ :
• Thừa nhận rằng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội là phổ biến
và có
ở mọi mức thu nhập, giai cấp, văn hóa và là “biểu hiện của mối quan hệ quyền lực bất
bình đẳng mang tính lịch sử giữa nam và nữ”.
• Đưa ra một định nghĩa rõ ràng và toàn diện
về bạo lực đối với phụ nữ và những
quyền cần được đảm bảo để xóa bỏ mọi hình thức bạo lực đối với phụ nữ.
• Phụ nữ được quyền thụ hưởng bình đẳng và được bảo vệ tất cả các quyền con người,
bao gồm quyền sống, bình đẳng, tự do, an tồn cá nhân, quyền được bảo vệ bình đẳng
trước pháp luật và quyền khơng bị tra tấn hay đối xử, trừng phạt một cách độc ác, vơ
nhân đạo hoặc hèn hạ.
• Các quốc gia có nghĩa vụ lên án bạo lực đối với phụ nữ và không được viện dẫn
bất kỳ tập quán, truyền thống hay lý do tôn giáo này nhằm từ chối trách nhiệm xóa bỏ
bạo lực.
• Các quốc gia phải thực hiện trách nhiệm đầy đủ để phòng ngừa, điều tra và trừng trị
các hành vi bạo lực đối với phụ nữ theo pháp luật quốc gia, dù các hành vi đó là do
Nhà nước hay cá nhân thực hiện.
• Các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập những biện pháp phòng ngừa để tăng cường bảo vệ
phụ nữ trước mọi hình thức bạo lực và đảm bảo rằng phụ nữ không bị tổn thương thêm
do sự thiếu nhạy cảm giới của hệ thống luật pháp, các hoạt động hành pháp và các can
thiệp khác. Các quốc gia phải có biện pháp đảm bảo rằng phụ nữ bị bạo lực và con cái
(nếu có) nhận được sự trợ giúp đặc biệt, như phục hồi sức khoẻ, trợ giúp chăm sóc con
cái, điều trị, tư vấn, các dịch vụ y tế và xã hội, các cơ sở và chương trình trợ giúp.
• Các quốc gia phải thực hiện các biện pháp đảm bảo rằng những cán bộ hành pháp
và công chức chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách phịng ngừa, điều tra và xử lý
bạo lực đối với phụ nữ phải được tập huấn để nhạy cảm hơn về các nhu cầu của phụ nữ.
Định nghĩa của Liên hợp quốc về “bạo lực đối với phụ nữ”
Điều 1: “bạo lực đối với phụ nữ” là bất kỳ một hành động bạo lực trên cơ sở giới
mà gây hậu quả hoặc có khả năng gây hậu quả tổn thương hoặc đau đớn về thể chất, tình
dục hoặc tâm lý đối với phụ nữ, bao gồm cả việc đe dọa thực hiện những hành động đó,
ép buộc hoặc tước đoạt tự do một cách độc đoán, xảy ra trong xã hội hay trong cuộc sống
riêng tư.
Điều 2: “bạo lực đối với phụ nữ” được hiểu là bao gồm nhưng không giới hạn
trong những hành vi sau đây:
(a) Bạo lực thể chất, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình, bao gồm cả đánh
đập, lạm dụng tình dục đối với trẻ em gái trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi
mơn, hiếp dâm trong hôn nhân, cắt bộ phận sinh dục nữ và các tập tục khác gây tổn hại
cho phụ nữ, bạo lực không thuộc quan hệ hôn nhân và bạo lực liên quan đến bóc lột;
(b) Bạo lực thể chất, tình dục, tâm lý xảy ra trong cộng đồng nói chung, bao gồm
cả hiếp dâm, lạm dụng tình dục, quấy rối và đe doạ tình dục tại nơi làm việc, trong các cơ
sở giáo dục và hay bất kỳ nơi đâu, buôn bán phụ nữ và bắt buộc bán dâm
(c) Bạo lực thể chất, tình dục và tâm lý được thực hiện hoặc được dung túng bởi
Nhà nước ở bất cứ nơi đâu.
Tóm lại, Cơng ước CEDAW muốn nhấn mạnh đến xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử
đối với tất cả Phụ nữ trên thế giới, không phân biệt quốc gia hay tôn giáo và đây
được coi là văn bản pháp lý quốc tế rất có hiệu lực trong công tác PCBLGĐ ở VN.
KHUNG PHÁP LÝ VIỆT NAM
HIỆN TẠI : Ở VN có những văn bản Luật liên quan đến cơng tác PCBLGĐ:
1.
2.
3.
4.
5.
Luật dân sự, 2005
Luật bình đẳng giới, 2006
Luật PCBLGĐ, 2007
Luật hơn nhân và gia đình, 2014
Luật hình sự, 2015
KHUNG PHÁP LÝ THÚC ĐẨY BÌNH ĐẲNG GIỚI
I.
Hiến pháp nước CHXHCNVN, 2013:
Khoảng 1, Điều 20:
“ Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về
sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình
hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm
danh dự, nhân phẩm.”
- Điều 26
1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới.
2. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển tồn diện, phát huy
vai trị của mình trong xã hội.
-
3. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.
- Điều 30
1. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố
cáo. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi
danh dự theo quy định của pháp luật.
II. Luật bình đẳng giới,2006
Điều 18:
“1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên
quan đến hơn nhân và gia đình.
2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng
trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực
trong gia đình.
3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng
biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con
ốm theo quy định của pháp luật.
4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau để
học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển.
5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ cơng việc gia đình.”
III. Luật hơn nhân và gia đình, 2014
-
Điều 17. Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong
gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định
trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan.
-
-
-
-
-
Điều 21. Tơn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng
Vợ, chồng có nghĩa vụ tơn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
cho nhau.
Điều 23. Quyền, nghĩa vụ về học tập, làm việc, tham gia hoạt động chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội
Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau chọn nghề nghiệp; học
tập, nâng cao trình độ văn hóa, chun mơn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Điều 103. Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình
“1. Các thành viên gia đình có quyền, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, tơn
trọng nhau. Quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản của các thành viên gia
đình quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được pháp
luật bảo vệ.
2. Trong trường hợp sống chung thì các thành viên gia đình có nghĩa vụ tham gia
cơng việc gia đình, lao động tạo thu nhập; đóng góp cơng sức, tiền hoặc tài sản
khác để duy trì đời sống chung của gia đình phù hợp với khả năng thực tế của
mình.
3. Nhà nước có chính sách tạo điều kiện để các thế hệ trong gia đình quan tâm,
chăm sóc, giúp đỡ nhau nhằm giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia
đình Việt Nam; khuyến khích các cá nhân, tổ chức trong xã hội cùng tham gia vào
việc giữ gìn, phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam.”
IV. LUẬT DÂN SỰ, 2005
Điều 37. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tơn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Điều 40. Quyền bình đẳng của vợ chồng
Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong
gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng,
tiến bộ, hạnh phúc, bền vững.
Điều 613. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phịng vệ
chính đáng
“1. Người gây thiệt hại trong trường hợp phịng vệ chính đáng khơng phải bồi
thường cho người bị thiệt hại.
2. Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phịng vệ chính đáng phải bồi thường
cho người bị thiệt hại.”
Điều 614. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế
cấp thiết
1. Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết khơng phải bồi thường cho người bị
thiệt hại.
2. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì
người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của
tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.
3. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường
cho người bị thiệt hại
-
Điều 615. Bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
-
1. Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng
mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, gây thiệt hại cho
người khác thì phải bồi thường.
2. Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác
lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của họ mà
gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.
KHUNG PHÁP LÝ BẢO VỆ NẠN NHÂN BỊ BLGĐ
Luật phóng, chống bạo lực gia đình,2007
Nội dung :
1. Định nghĩa về BLGĐ
2. Các hành vi được coi là BLGĐ
3. Xử lý người có hành vi BLGĐ
4. Bảo vệ nạn nhân
5. Các dịch vụ hỗ trợ
6. Phát hiện báo tin về BLGĐ
7. Hòa giải
KHUNG PHÁP LÝ BUỘC NGƯỜI GÂY BẠO LỰC CHỊU TRÁCH NHIỆM
1. Bộ luật hình sự, 2015:
Khoản c, d Điều 123
Điều 125
Điều 128
Khoản 1, Điều 130
Khoản , Điều 133
Khoản 1, Điều 134
Điều 185
Khoản 1, Điều 141
Khoản 1, Điều 143
Khoản 1, Điều 155
Khoản 1, Điều 157,165,166,178
2. Luật xử lý vi phạm hành chính, 2012
( Văn bản Luật kèm theo)
3. Nghị định 167/2013/NĐ-CP:
( Văn bản Luật kèm theo)
II.
Cơ sở thực tiễn
1. Tình hình bạo lực trên thế giới
-
-
-
-
Hơn 700 trăm triệu phụ nữ trên thế giới là nạn nhân của bạo lực gia đình.
Kết quả thơng báo ngày 15 tháng 9 năm 2011 sau một cuộc thống kê của Hiệp hội
Quốc gia chấm dứt nạn bạo hành gia đình (Nationnal to End Domestic Violence –
NNEDV) thực hiện trong bang Washington của Mỹ.
Trung bình một ngày, nhân viên làm việc trong lĩnh vực bạo lực gia đình phục vụ
cho trên 67.000 nạn nhân và trả lời trên 22.000 cuộc điện thoại nạn nhân gọi đến
đường dây nóng khẩn cấp.
91% những vụ thiệt mạng liên quan đến bạo lực gia đình là những người trưởng
thành trên 18 tuổi, những người tuổi quá 50 chiếm 13% số người thiệt mạng nói
trên. Bốn trẻ em dưới 18 tuổi nằm trong tỷ lệ 9% số người bị mất mạng.
Theo một nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dựa trên các cuộc phỏng
vấn ở 24.000 phụ nữ tại 10 nước: Nhật Bản, Thái Lan, Namibia, Peru… năm 2005
cho thấy, xã hội đã bỏ qua vấn đề bạo lực gia đình trong một thời gian dài. “Một
đứa trẻ lớn lên trong mơi trường bạo lực gian đình có khuynh hướng chấp nhận
điều đó là bình thường và sau chúng sẽ thực hiện điều đó” – Joy Phumaphi, phó
chủ tịch ban sức khỏe gia đình và cộng đồng của WHO.
2. Tình hình bạo lực tại Việt Nam
-
Trong năm 2005, 66% các vụ ly hôn ở Việt Nam liên quan đến bạo hành gia đình.
Trong 5 năm từ 2000- 2005, có 186.954 vụ ly hơn do bạo lực gia đình, hành vi
đánh đập, ngược đãi chiếm 53,1% trong các nguyên nhân dẫn tới ly hơn.
Năm 2005, có tới hơn 39/7 nghìn vụ ly hơn có ngun nhân từ bạo hành trong
tổng số gần 65 nghìn vụ án về hơn nhân và gia đình, chiếm tỷ lệ 60.3%.
82% hộ dân nông thôn và 80% hộ ở thành phố có xảy ra bạo lực.
Theo số liệu khảo sát của các cơ quan chức năng tại 3 xã Hưng Hội, Hưng Thành
và Vĩnh Hưng A thuộc huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu năm 2012 cho thấy có 25%
gia đình có hành vi bạo lực tinh thần, 15% vợ bị chồng đánh, gần 80% bị chồng
chửi, 70% bị chồng bỏ mặc trong cuộc sống gia đình, 30% cặp vợ chồng có hiện
tượng ép buộc quan hệ tình dục hoặc buộc phải đẻ con trong khi sức khỏe người
phụ nữ không đảm bảo, hoặc buộc phá thai.
3. Bài học kinh nghiệm tại xóm Đồng Hịa, xã Nga My, huyện Phú Bình, tỉnh
Thái Nguyên
Qua tìm hiểu trong thời gian thực hành mơn học tại địa bàn xóm cũng như sự
giúp đỡ của cán bộ xóm, tơi thấy có 1 số kinh nghệm để giảm thiểu bạo lực gia
đình:
+ Xã đã lồng ghép nội dung Phong chống bạo lực gia đình v các hoạt động của các
phong trào xây dựng “ Gia đình văn hóa” và cuộc vận động “ Tồn dân đồn kết xây
dựng đời sống văn hóa khu dân cư”, phong trào “ Xây dựng nông thôn mới”. Cụ thể hóa
nội dung thi đua như phong trào “ Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”, “ Nuôi con
khỏe, dạy con ngoan”, “ xóm phố bình n, gia đình hạnh phúc”, phong trào “ xóa đói
giảm nghèo”. Đồng thời gắn nội dung phịng chống bạo lực gia đình với việc đăng ký và
bình xét danh hiệu “ Gia đình văn hóa”.
+ Tổ chức tập huấn cho cán bộ
+ Tuyên truyền qua loa, đài phát thanh của xã, In ấn, phát hành tờ rơi các thông
điệp, khẩu hiệu tuyên truyền phịng chống bạo lực gia đình.
+ Hàng năm trong xã tổ chức tổ chức Tuần lễ cao điểm chiến dịch truyền thơng
phịng chống bạo lực gia đình và Bình đẳng giới từ ngày 10/11 – 25/11
III.
Vận dụng
1. Trường hợp cụ thể
Cô H ( 40 tuổi), chồng cô- chú L ( 44 tuổi). Cô chú lấy nhau và sinh được 3 người
con. Gia đình làm nơng là chủ yếu, ngồi ra lúc nơng nhàn chú L có đi xây để
kiếm thêm thu nhập. Cô H bán gà ở chợ. Kinh tế khơng q khó khăn, gia đình có
của ăn của để. Hai cô con gái của cô chú đã lập gia đình, hiện tại chỉ có người con
trai năm nay học lớp 11 ở cùng bố mẹ.
Hai người con gái của cô chú lấy chồng khá sớm. Chị cả sinh năm 1994 đã lấy chồng
được 4 năm, con gái thứ hai sinh năm 1998 vừa lấy chồng tháng 4/2016. Qua tìm hiểu,
tơi được biết lí do hai người con gái lấy chồng sớm là do bị bố đánh. Chú L là người hiền
lành, chịu khó nhưng khi uống rượu vào thì thay đổi tâm tính, mắng chửi, đánh đập vợ
con. Qua lời kể của hàng xóm, trong 1 lần say rượu chú L đã đuổi cô H và các con ra
khỏi nhà vào nửa đêm. Chú L thường sử dụng nắm đấm, gậy để đánh vợ con. Người con
trai út vì thể mà khơng tình cảm với bố, ln cố tính tránh xa bố mình. Hồn cảnh gia
đình khơng khó khăn nhưng vì chú H nát rượu như thế nên khơng khí gia đình ln căng
thẳng, sự gắn kết ca thành viên trong gia đình khơng có.
2. Các hoạt động cơng tác xã hội thực tế trong phịng chống bạo lực gia đình
-
-
Hình thứ bạo lực của chú L đối với cô H là bjao lực thể chất, bại lực tinh thần.
Đánh giá tổng thể về cô H và gia đình (bao gồm thu thập đánh giá thơng tin về cô
H, chú L và 3 người con)
Lập kế hoạch trợ giúp cho cô H và điều phối các dịch vụ hôc trợ cho cô H dựa trên
nguyên tắc ưu tiên và đáp ứng nhu cầu của cô H. Đảm bảo giải quyết tất cả những
vấn đề khó khăn mà cơ H đang gặp phải.
Trong quá trình tìm hiểu và phân tích vấn đề của cơ H, NVXH sẽ là cầu nối giữa
nạn nhân với các cá nhân, tổ chức có thể giúp đỡ như Hội phụ nữ xóm, các Trung
tâm bảo trợ xã hội, các nhà xã hội,… để đảm bảo cơ H có được chỗ ở an tồn
-
-
-
-
-
-
-
trong suốt thời gian can thiệp, giúp đỡ cô H từ q trình bắt đầu và sau khi tái hịa
nhập cộng đồng.
NHXH tiến hành đánh giá mức độ tổn thương tâm lí, xác định xác định phương
pháp tham vấn và trị liệu, cung cấp dịch vụ trị liệu tâm lý để phục hồi sang chấn
cho cô H. Nếu trường hợp vấn đề về tâm lý của cô H quá lớn, nhân viên xã hội
khơng đủ khả năng giải quyết thì sẽ đựơc kết nối, chuyển giao đến các cơ quan và
tổ chức có khả năng, đủ thẩm quyền.
- Nhân viên xã hội sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần
thông qua các đối tác cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chuyên nghiệp. Họ
sẽ kết nối những cơ sở cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí để cơ H được khám và
điều trị bệnh, thậm chí tìm kiếm các trung tâm giám định y tế để giám định về tỷ lệ
thương tật cho cô H.
- Nhân viên xã hội sẽ giúp cô H tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ tư vấn pháp lý nhằm
đảm bảo quyền lợi cho cho cơ H thơng qua các văn phịng trợ giúp pháp lý, các
văn phòng luật sư và cơ quan tư pháp.
Trang bị cho cô H thêm các kỹ năng sống:
+ Kỹ năng tự vệ
+ Kỹ năng ứng xử
+ Kỹ năng chăm sóc bản thân
+ Kỹ năng quan sát
+ Kỹ năng quản lý chi tiêu
+ Kỹ năng kiềm chế
+Kỹ năng giải quyết vấn đề
- - Nhân viên công tác xã hội sẽ tiến hành lập kế hoạch tái hòa nhập, tiến hành
liệu pháp nhóm và hướng dẫn kĩ năng sống, tích cực hướng dẫn học tham gia các
hoạt động vui chơi giải trí,sinh hoạt các câu lạc bộ, cung cấp kinh phí hỗ trợ và
theo dõi tái hòa nhập.
Đồng thời, NVXH sẽ trang bị kỹ năng kiềm chế cảm xúc cho chú H để chú bình
tĩnh.
IV.
Đánh giá sự áp dụng các kiến thức, kĩ thuật và kĩ năng trong phòng chống
bạo lực gia đình
1. Đánh giá của bản thân
Những điều đã làm được:
+ Đã biết và áp dụng một số kỹ năng , kỹ thuật vào khi làm việc với cá nhân, gia
đình, nhóm, cộng đồng
+ Nâng cao được nhận thức trong cộng đồng
+ Cung cấp cho nạn nhân bị bạo lực gia đình một số chương trình, dịch vụ để hỗ
trợ nạn nhân
Những điều chưa làm được:
+ Một số kỹ năng, kỹ thuật còn chưa sử dụng tốt
+ Thiếu kiến thức chuyên môn
+ Thiếu kinh nghiệm thực tế
2. Đề xuất kiến nghị
-
Đối với Đảng, Nhà nước:
+ Cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra của các cấp ủy Đảng, chính quyền
đối với cơng tác Phịng chống bạo lực gia đình.
+Thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật, chia sẻ về Phịng
chống bạo lực gia đình, xử lý kịp thời các hành vi bạo lực gia đình theo quy định
của pháp luật, tổ chức các đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra theo chun đề về
Phịng chống bạo lực gia đình.
+ Đưa mục tiêu Phòng chống bạo lực vào kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng
năm ở các cấp trung ương và địa phương.
+ Biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong
cơng tác Phịng chống bạo lực gia đình.
-
Đối với các cơ quan chức năng
+ Phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận
thức của cán bộ, nhân dân, phụ nữ về gia đình và vấn đề bạo lực gia đình.
+ Tăng cường các hoạt động tuyên truyền về Giới và Bình đẳng giới, kiến thức về
Phịng chống bạo lực gia đình và Luật phịng chống bạo lực gia đình,…
+ Tích cực tổ chức tập huấn kiến thức, kỹ năng về phịng chống bạo lực gia đình
cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của các Ban, ngành, đoàn thể, các cấp
đặc biệt là báo cáo viên, tuyên truyền viên của Hội phụ nữ.
Với cá nhân, gia đình, cộng đồng:
+ Có ý thức trong tun truyền, nâng cao ý thức trong cơng tác Phịng chống bạo
lực gia đình
+ Ngăn chặn, bảo vệ, giúp đỡ cho nạn nhân bị bạo lực gia đình
KẾT LUẬN
Bạo lực gia đình là một vấn đề của gia đình, cộng đồng và xã hội. Vì vậy,
chúng ta cần sớm xây dựng những giải pháp đồng bộ để ngăn chặn cũng như
loại bỏ tệ nạn này ra khỏi cộng đồng văn hóa xã hội. Bạo lực gia đình để lại
nhiều hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và xã hội. Do đó mà việc xóa bỏ bạo
lực gia đình khơng chỉ là trách nhiệm của riêng ai mà địi hỏi phải có sự phối
hợp của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội và quốc gia trong
phòng, chống bạo lực gia đình. Chỉ khi nào cơng tác phịng, chống bạo lực
được triển khai có hiệu quả thì lúc đó gia đình mới được coi là chốn yên bình
và hạnh phúc của các thành viên trong gia đình và chúng ta mới có thể đạt
được mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, bình đẳng và phát triển
bền vững.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài thu hoạch môn Công tác xã hội trong phịng chống bạo lực gia đình.
2. Website: www.doc.edu.vn
3. Website: www.123doc.org
-