Tải bản đầy đủ (.pdf) (51 trang)

Tư tưởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ thuật của phạm phú thứ (Tóm tắt trích đoạn)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (688.42 KB, 51 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ YẾN

TƢ TƢỞNG CANH TÂN VỀ KINH TẾ,
KHOA HỌC KỸ THUẬT CỦA PHẠM PHÚ THỨ

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

HÀ NỘI – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ YẾN

TƢ TƢỞNG CANH TÂN VỀ KINH TẾ,
KHOA HỌC KỸ THUẬT CỦA PHẠM PHÚ THỨ
Chuyên ngành

: Triết học

Mã số

: 60 22 03 01

Giảng viên hướng dẫn


: TS. Trần Thị Hạnh

Chủ tịch hội đồng

Giảng viên hƣớng dẫn

PGS. TS Nguyễn Anh Tuấn

HÀ NỘI – 2016

TS. Trần Thị Hạnh


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 3
2. Tình hình nghiên cứu đề tài. .................................................................. 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu......................................................... 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.......................................................... 7
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu. ................................. 7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn. ........................................... 8
7. Kết cấu của luận văn. .............................................................................. 8
PHẦN NỘI DUNG .......................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA
PHẠM PHÚ THỨ ........................................................................................... 9
1.1. Một số điều kiện chính trị - xã hội cho sự hình thành tƣ tƣởng
canh tân của Phạm Phú Thứ. ..................................................................... 9
1.1.1 Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX ....................................... 9
1.1.2 Bối cảnh chính trị - xã hội - tư tưởng trên thế giới và khu vực châu Á 16
1.2. Một số tiền đề lý luận hình thành tƣ tƣởng canh tân của Phạm Phú

Thứ .............................................................................................................. 19
1.2.1 Truyền thống yêu nước Việt Nam................................................... 19
1.2.2 Nho học ở Việt Nam thế kỷ XIX .................................................... 21
1.2.3 Ảnh hưởng tư tưởng phương Tây vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX
................................................................................................................. 22
1.2.4 Tư tưởng canh tân Việt Nam cuối thế kỷ XIX ............................... 25
1.3. Cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của Phạm Phú Thứ .................. 28
1.3.1 Cuộc đời và sự nghiệp.................................................................... 28
1.3.2 Tác phẩm ........................................................................................ 39
Tiểu kết chương 1....................................................................................... 44

1


CHƢƠNG 2: NỘI DUNG TƢ TƢỞNG CANH TÂN VỀ KINH TẾ
KHOA HỌC KỸ THUẬT CỦA PHẠM PHÚ THỨ.................................. 45
2.1. Khái quát tƣ tƣởng canh tân của Phạm Phú Thứ .......................... 45
2.1.1 Các giai đoạn phát triển tư tưởng canh tân Phạm Phú Thứ ........ 45
2.1.2 Sơ lược về tư tưởng canh tân Phạm Phú Thứ .............................. 47
2.2 Tƣ tƣởng canh tân về kinh tế của Phạm Phú Thứ.......................... 54
2.2.1 Canh tân nội thương ...................................................................... 54
2.2.2 Canh tân ngoại thương ................................................................. 56
2.2.3 Một số biện pháp để thực hiện canh tân về kinh tế ........................ 58
2.3. Tƣ tƣởng canh tân về khoa học kỹ thuật của Phạm Phú Thứ....... 61
2.3.1 Tin tưởng vào sự phát triển khoa học kỹ thuật nước nhà .............. 61
2.3.2 Đào tạo nguồn nhân lực về khoa học kỹ thuật.............................. 64
2.3.3 Xây dựng một hệ thống “thuật ngữ khoa học tổng hợp” .............. 66
2.3.4 Phổ biến khoa học kỹ thuật rộng rãi .............................................. 66
2.4. Một số giá trị và hạn chế trong tƣ tƣởng canh tân về kinh tế, khoa
học kỹ thuật của Phạm Phú Thứ. ............................................................ 69

2.4.1 Giá trị lý luận và thực tiễn ............................................................. 69
2.4.2 Một số hạn chế trong tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ ........ 72
Tiểu kết chương 2....................................................................................... 74
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78

2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Canh tân, đổi mới đất nước là yêu cầu cấp thiết đối với tất cả các quốc
gia, các dân tộc vì đa phần những tư tưởng canh tân đều phản ánh quá trình
vươn lên không cam chịu sự tụt hậu của các dân tộc. Những cải cách ấy dù
lớn hay nhỏ bao giờ cũng mang lại những tiến bộ nhất định, đem lại cho xã
hội nhiều lợi ích tốt đẹp. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà cải cách sau bao
giờ cũng mang tính chất tiến bộ hơn những cải cách trước và phù hợp với yêu
cầu phát triển lịch sử trong thời kỳ đó.
Nhìn lại lịch sử dân tộc thế kỷ XIX, khi vua Gia Long lên ngôi (1802)
đến khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, các vua triều Nguyễn thực hiện nhiều
chính sách về kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao... trong đó có một số cải
cách sai lầm làm cho nước ta lâm vào tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Tình hình
đó đã tác động tới tầng lớp trí thức nhất là những người theo tư tưởng Nho
giáo. Trong giai đoạn này, hàng loạt các tư tưởng cải cách ra đời với các tên
tuổi nổi bật như: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Bùi
Viện, Nguyễn Huy Tế, Đặng Huy Trứ... đã góp phần hình thành dòng yêu nước
theo xu hướng canh tân đất nước nửa sau thế kỷ XIX. Tuy thất bại, nhưng
những tư tưởng này vẫn là tiền đề và ảnh hưởng không nhỏ đến phong trào
Duy Tân đầu thế kỷ XX. Từ đó, xu hướng canh tân liên tục phát triển qua các
thời kỳ, với những biểu hiện khác nhau, ngày càng được nâng cao và cho đến

tận công cuộc đổi mới hiện nay tạo nên một truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Dòng tư tưởng canh tân ở Việt Nam thế kỷ XIX đã được nhiều thế hệ
nhà nghiên cứu và đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Tuy nhiên, nhu cầu
đổi mới của thực tiễn đã đặt ra những nhiệm vụ mới cho công tác nghiên cứu
về dòng tư tưởng này. Do sự bổ sung tư liệu, phân tích đánh giá kỹ hơn về tư
tưởng của các nhà canh tân qua đó làm rõ một số vấn đề về tư tưởng canh

3


tân thế kỷ XIX trên phương diện lý luận như: Các điều kiện ra đời của tư
tưởng canh tân, những nội dung mới trong tư tưởng cải cách thời kỳ này,
nguyên nhân của các tư tưởng đó không được chấp nhận… là việc có ý
nghĩa góp phần vào việc thuyết minh cho sự hình thành một đường lối cải
cách phù hợp với thực tiễn đất nước hiện nay. Vì thế, việc nghiên cứu các tư
tưởng cải cách ở Việt Nam thế kỷ XIX như một dòng tư tưởng nối tiếp của
tư duy dân tộc dưới góc độ lịch sử tư tưởng vẫn cần phải tiếp tục, bởi đây là
những vấn đề có ý nghĩa lý luận đòi hỏi phải có những kiến giải mới. Điều
này cho phép chúng ta có điều kiện hình thành nhận thức đúng đắn về dòng
tư tưởng canh tân giai đoạn này.
Trong dòng canh tân thế kỷ XIX, Phạm Phú Thứ được coi là những
người có tư tưởng vượt trội bởi tính toàn diện và khả thi, đặc biệt là tư tưởng
canh tân về kinh tế và khoa học kỹ thuật. Và trong công cuộc đổi mới hiện
nay đang đặt ra cho chúng ta yêu cầu cần kế thừa, phát huy những kinh
nghiệm trong lịch sử để xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Việc tìm
hiểu tư tưởng canh tân Phạm Phú Thứ về kinh tế, khoa học kỹ thuật không chỉ
giúp chúng ta hiểu thêm về cuộc đời sự nghiệp tư tưởng canh tân của ông mà
còn làm rõ hơn về trào lưu canh tân thế kỷ XIX.
Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài: “Tư tưởng canh tân về
kinh tế, khoa học kỹ thuật của Phạm Phú Thứ”.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Cùng là các nhà canh tân thế kỷ XIX nhưng những tác phẩm, công trình
nghiên cứu về tư tưởng Phạm Phú Thứ rất ít so với những nhà canh tân cùng
thời như: Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ... những tư
tưởng của ông chỉ được quan tâm trong giai đoạn cuối thế kỷ XX. Tuy nhiên,
khi hoàn tất công tác sưu tầm công bố, những tác phẩm của ông ra đời thì đã có

4


hàng loạt những cuộc hội thảo, những công trình nghiên cứu, bài viết về tư
tưởng của ông. Chúng ta có thể kể đến các công trình tiêu biểu như:
Tác phẩm “Tây hành nhật ký” (Nhật ký đi Tây) của Phạm Phú Thứ đã
được Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 1999, đã tạo dấu ấn tốt trong lòng
độc giả khi đọc những trang viết của ông kể về quá trình đi nước ngoài của
ông và sau này có một số bài thơ, bản tấu của ông dâng lên triều đình về tư
tưởng canh tân. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân đã nhận xét về tác phẩm
này như sau: “Tây hành Nhật ký vì là nhật ký nên không sắp xếp có hệ thống.
Nhưng tất cả đều trực tiếp trình bày thế nào là bộ mặt của thế giới mới, thế
nào là đất nước phát triển và muốn phát triển phải làm gì. Đây là những việc
có thể làm được hay phải làm trong tương lại gần hay xa”. Tuy nhiên, tác
phẩm này chưa khái quát hết cuộc đời sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.
Năm 2013, Nhà xuất bản Đà Nẵng cho ra mắt bộ sách Phạm Phú Thứ
toàn tập một tổng hợp thơ văn đồ sộ trên 2000 trang, trong đó, công bố toàn
bộ bản dịch Việt ngữ hai bộ Giá viên toàn tập và Giá viên biệt lục của ông.
Đọc tác phẩm ta có thể khai thác được nhiều sử liệu hành văn quý giá để làm
sáng tỏ thêm một giai đoạn lịch sử nước nhà đầy biến động trên mọi phương
diện, để thấy trong tư tưởng của Phạm Phú Thứ có nhiều đóng góp về tư duy
thời đại sâu sắc, tư tưởng đổi mới rõ nét.
Khi cuốn tuyển tập này ra đời có lẽ là niềm may mắn của ông và cũng

là cho cả thế hệ hậu sinh bởi khi cầm bộ sách này trong tay thì hình ảnh cụ
Phạm không còn bị khuất lấp trong lớp sương mù thời gian mà hiện ra rõ ràng
trước mắt chúng ta với một tâm thế mới.
Bên cạnh, những tác phẩm của Phạm Phú Thứ còn có một số nhà nghiên
cứu đã viết về tư tưởng canh tân của ông tiêu biểu như: Thái Nhân Hoà với các
tác phẩm Trúc Đường Phạm Phú Thứ với xu hướng canh tân, Nhà xuất bản Trẻ
(năm 1999); xu hướng canh tân - Phong trào duy tân - Sự nghiệp đổi mới: Từ

5


giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, do Nhà xuất bản Đà Nẵng phát hành năm
2005; Nhân vật và sự kiện lịch sử cận - hiện đại do Nhà xuất bản Văn hoá Sài
Gòn phát hành năm 2007. Trong các cuốn sách này tác giả muốn khắc họa rõ
nét những thăng trầm của Phạm Phú Thứ trên con đường quan lộ, nổi bật lên là
nhân cách ngời sáng, một tư tưởng canh tân rất rõ nét và có hệ thống.
Năm 1994, Hội khoa học lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức
hội thảo với chủ đề “Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân” với rất nhiều tham
luận về các lĩnh vực liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Phú Thứ.
Buổi tọa đàm đề cập đến những khía cạnh của tư tưởng canh tân cùng với
những cống hiến thực tiễn của một người trí thức đã làm quan triều đình trong
một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Nối tiếp những nghiên cứu về Phạm Phú Thứ có rất nhiều bài viết đăng
trên báo và tạp chí đã nói về tư tưởng canh tân của ông như bài viết “Ngăn
dòng canh tân ở giữa thế kỷ XIX – vua hay Đình thần”, của Nguyễn Quang
Ân đăng trên Tạp chí Cửa Việt, số (6) (1992); “Sơ bộ bàn về cuộc hội thảo
một danh nhân nước nhà: cụ Phạm Phú Thứ” của tác giả Bảo Định Giang
Báo Văn hóa nghệ thuật - Bộ Văn hóa thông tin, Hà Nội, số (35) (1994);
Nguyễn Thị Hương Giang “Phạm Phú Thứ - người có tư tưởng canh tân đất
nước cuối thế kỉ XIX”.

Để làm sâu sắc hơn đề tài tôi cũng đã khảo cứu các luận án tiến sĩ, luận
văn thạc sĩ, đề tài nghiên cứu khoa học, các bài viết đăng trên Tạp chí Triết
học, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử… của các tác giả chuyên nghiên cứu về lịch
sử và lịch sử tư tưởng Việt Nam như: Lê Văn Quán, Nguyễn Tài Thư, Lê Sĩ
Thắng, Lê Thị Lan, Phạm Thu Thủy… Trong mỗi công trình, bài viết, các tác
giả đề cập, phân tích một hoặc một vài nội dung tư tưởng của Phạm Phú Thứ
hay tư tưởng các nhà nho cùng thời để làm sâu sắc thêm cho nội dung luận
văn của mình.

6


Qua khảo sát tình hình nghiên cứu chúng ta thấy điểm rõ nét nhất là tư
tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm
và tìm hiểu, tuy nhiên chưa có đề tài nào tìm hiểu cụ thể những tư tưởng canh
tân của Phạm Phú Thứ ở hai lĩnh vực kinh tế và khoa học kỹ thuật. Đây cũng
là lý do khiến tôi chọn nghiên cứu đề tài này trong luận văn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
* Mục đích: Làm rõ nội dung tư tưởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ
thuật của Phạm Phú Thứ, từ đó chỉ ra giá trị và hạn chế của tư tưởng này.
* Nhiệm vụ:
+ Làm sáng rõ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của việc hình
thành, phát triển tư tưởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ thuật của Phạm
Phú Thứ.
+ Hệ thống hoá và phân tích những nội dung tư tưởng canh tân về kinh
tế, khoa học kỹ thuật của Phạm Phú Thứ.
+ Đánh giá vai trò và ý nghĩa của tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng: Tìm hiểu tư tuởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ thuật
của Phạm Phú Thứ.

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn đề: cơ sở
hình thành, nội dung tư tưởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ thuật của
Phạm Phú Thứ thông qua các tư tưởng của ông.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài đã sử dụng phương pháp luận duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử; các phương pháp nghiên cứu: thống nhất
logic và lịch sử; thống nhất quy nạp và diễn dịch, thống nhất phân tích và
tổng hợp…

7


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Góp phần tìm hiểu, hệ thống hoá, làm sâu sắc hơn nhận thức về tư
tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ và tạo cơ sở cho nhận thức và đánh giá các
nội dung tư tưởng cải cách sau này.
- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy
về cuộc đời và sự nghiệp canh tân của Phạm Phú Thứ nói riêng và xu hướng
canh tân ở Việt Nam thế kỷ XIX nói chung.
7. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu
luận văn gồm 2 chương, 7 tiết:
Chương 1: Cơ sở hình thành, phát triển tư tưởng canh tân Phạm Phú Thứ.
Chương 2: Nội dung tư tưởng canh tân về kinh tế, khoa học kỹ thuật
của Phạm Phú Thứ.

8


PHẦN NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CANH TÂN CỦA
PHẠM PHÚ THỨ
1.1. Một số điều kiện chính trị - xã hội cho sự hình thành tƣ tƣởng
canh tân của Phạm Phú Thứ.
1.1.1. Bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX
Thế kỷ XIX là thế kỷ có nhiều biến động trong xã hội Việt Nam. Trước
khi bị thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ
quyền, đạt được những tiến bộ nhất định về kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, ở
giai đoạn này, chế độ phong kiến Việt Nam đang có những biểu hiện khủng
hoảng, suy yếu nghiêm trọng.
Năm 1802, Nguyễn Ánh đặt niên hiệu Gia Long, chọn Phú Xuân làm
kinh đô, lập ra triều Nguyễn. Nhà nước quân chủ tập quyền được củng cố.
Vua Nguyễn trực tiếp điều hành mọi việc hệ trọng trong nước, từ trung ương
đến địa phương.
- Tình hình kinh tế
Ngay từ khi thiết lập triều Nguyễn, vua Gia Long đã hết sức cảnh giác
với âm mưu can thiệp của thực dân pháp bằng việc thi hành chính sách đóng
cửa giới hạn buôn bán trong khuôn khổ kiểm soát của triều đình.
Minh Mạng được chọn làm người kế vị vua Gia long, tiếp tục thực thi
các đường lối chính trị mà các thế hệ trước đã đặt ra. Về đối nội, vua thực
hiện chính sách yên dân củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền cao
độ. Về đối ngoại, Minh Mệnh tiếp tục chính sách đóng cửa hạn chế buôn bán
với phương Tây của Gia Long. Kiên quyết cự tuyệt các quan hệ ngoại giao
với các nước phương Tây, ông cho rằng có như vậy mới tránh được sự can
thiệp của nước ngoài bảo vệ được đất nước.

9


Tình hình trong nước diễn biến rất phức tạp, các khủng hoảng kinh tế

đã xuất hiện trước khi vua Gia Long thống nhất đất nước. Khi nhà Nguyễn lên
nắm chính quyền đã tìm các biện pháp phục hồi nền nông nghiệp đã bị suy
yếu từ lâu. Có thể nói, nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này chịu ảnh hưởng
trực tiếp và sâu sắc của chính sách “trọng nông, ức thương” mà triều Nguyễn
triệt để thi hành.
Các biện pháp cụ thể để khôi phục nền nông nghiệp nước nhà đó là
khuyến nông khai hoang, phát triển diện tích đất nông nghiệp. Với những cố
gắng của nhà Nguyễn nhằm phục hồi nền nông nghiệp đã phần nào phục hồi
nền nông nghiệp tiêu điều mà thế kỷ trước để lại, giúp ổn định phần nào đời
sống nhân dân. Tuy nhiên, những chính sách này không đủ sức mở đường cho
nền nông nghiệp phát triển lên một trình độ cao hơn và cho tới khi Pháp xâm
lược, kinh tế nông nghiệp Việt Nam vẫn nằm trong tình trạng vô cùng lạc hậu.
Về thương nghiệp: Thực hiện chính sách “ức thương” nhằm hạn chế sự
phát triển thương mại trong nền kinh tế. Nhà Nguyễn lấy lý do nếu để thương
mại phát triển dễ bị xâm lược, nếu đóng cửa nhà nước kiểm soát ngoại thương
đảm bảo được an ninh đất nước. Chính sách này thể hiện đặc trưng của lối tư
duy phong kiến, khép kín.
Tiểu thủ công nghiệp: Nhà Nguyễn nắm giữ những công xưởng đúc
súng, đúc tiền, đóng tàu… những chính sách này phần nào kìm hãm đáng kể
sự phát triển của các ngành tiểu thủ công nghiệp. Do vậy, sản xuất tiểu thủ
công nghiệp chưa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế và vẫn phụ thuộc vào
nông nghiệp.
Qua khảo sát sơ bộ các chính sách kinh tế của triều Nguyễn và những
biểu hiện cụ thể của nền kinh tế thời kỳ này chúng ta có thể nhận định: cho tới
khi bị Pháp xâm lược, Việt Nam có nền kinh tế nông nghiệp nghèo nàn, lạc
hậu, kém phát triển.

10



- Tình hình chính trị
Thế kỷ XIX có thể phân làm hai thời kỳ rõ rệt, được đánh dấu bằng
thời điểm Pháp xâm lược Việt Nam: Trước và sau năm 1858.
Về chính trị giai đoạn đầu: là sự thiết lập nhà nước phong kiến trung
ương tập quyền, củng cố địa vị thống trị trên toàn lãnh thổ của nhà Nguyễn.
Giai đoạn đầu nhà Nguyễn luôn phải đối phó với mưu đồ khôi phục nhà Lê.
nhà Nguyễn đã chọn Nho giáo làm nền tảng tư tưởng cho đường lối đối nội
nhằm đề cao chính quyền trung ương tập quyền củng cố uy quyền tuyệt đối
nhà vua. Đây là lựa chọn tất yếu do hoàn cảnh lịch sử lên ngôi của Gia Long.
Hệ thống chính trị trong giai đoạn này được thiết lập chặt chẽ đứng đầu vua,
hệ thống quan lại được tuyển chọn thông qua các kỳ thi Nho giáo.
Thực hiện chính sách “ngoại Nho, nội Pháp”, thi hành chính sách xây
dựng kinh tế, khôi phục văn hóa nhằm ổn định xã hội và trấn áp các cuộc nổi
dậy các phần tử chống đối nhằm củng cố địa vị thống trị trên toàn lãnh thổ
Việt Nam.
Khi vua Minh Mệnh lên ngôi đã tiến hành cải cách hành chính chia cả
nước thành 31 tỉnh thành, tiếp tục đường lối cai trị của Gia Long nhưng theo
chiều hướng cực đoan hơn. Nhưng những biện pháp mà ông đưa ra không
giúp đất nước phát triển mà còn làm cho đất nước rối ren hơn, theo sự ghi
chép của chính sử triều Nguyễn đã có tới 234 cuộc khởi nghĩa, thời Thiệu Trị
có 58 cuộc. Đến đời Tự Đức thì sự lụn bại của nhà nước phong kiến đã đạt tới
đỉnh cao nhất. Chỉ tính từ năm Tự Đức lên ngôi 1848 đến năm 1862 đã có hơn
40 cuộc khởi nghĩa lớn.
Đường lối đối ngoại của triều Nguyễn mang đầy dấu vết Hán hóa bộc lộ
trong chính sách “bế quan tỏa cảng”. Nhà Nguyễn cho rằng nếu quan hệ ngoại
giao rộng rãi sẽ tạo thêm cơ hội cho người nước ngoài can thiệp vào nền độc lập
của Việt Nam, như trường hợp nhiều nước châu Á đương thời. Với lý do đó,

11



triều đình từ chối mọi nỗ lực đàm phán mong thiết lập quan hệ ngoại giao của
nhiều nước phương Tây, đặc biệt là Pháp trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX.
Ngày 1 - 9 - 1858, Pháp nổ súng vào Bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng, bắt
đầu sự can thiệp vũ trang xâm lược nước ta. Lịch sử dân tộc bước vào một
giai đoạn mới. Trước sự xâm lược của Pháp, yêu cầu triều đình Tự Đức có
biện pháp để bảo vệ nền độc lập dân tộc: sự phân chia hai phe chủ hòa và chủ
chiến diễn ra khá gay gắt trong giai đoạn này nhưng trên cương vị người đứng
đầu đất nước Tự Đức lại nhanh chóng nghiêng về phía chủ hòa. Triều đình
Huế với tư tưởng “thủ hiểm”, chỉ đào hào đắp lũy để cố thủ và hi vọng “trì
cừu” cho quân Pháp mệt mỏi mà phải rút, nhưng rồi cuối cùng đại đồn thất
thủ và từ chủ trương “thủ để hòa” chuyển sang “hòa vô điều kiện” để rồi
tường bước dâng toàn bộ lãnh thổ cho Pháp.
- Tình hình văn hóa – xã hội.
Gia Long lên ngôi lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng cho triều đại.
Việc đưa Nho giáo trở lại vị trí độc tôn đã bộc lộ sự lạc hậu về tư tưởng của
triều Nguyễn. Khi lấy Nho giáo làm cơ sở tư tưởng cho triều đại, các vua nhà
Nguyễn chỉ đề cao những quan niệm Nho giáo phù hợp với mục đích chính trị
của mình nhưng chính quyết định này làm cho văn hóa Việt Nam thời kỳ này
thiếu sự đa dạng, phong phú.
Cơ cấu xã hội trong giai đoạn này có 4 giai tầng xã hội: sĩ, nông, công,
thương. Mâu thuẫn chủ yếu trong giai đoạn này là mâu thuẫn giữa nông dân
và địa chủ, quan lại phong kiến.
Đến nửa sau thế kỷ XIX, mâu thuẫn trong xã hội có diễn biến phức tạp
hơn đó là mâu thuẫn toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân pháp và mâu
thuẫn giữa nông dân với địa chủ, phong kiến. Theo như nhận xét của Nguyễn
Trường Tộ, tình hình trong nước lúc đó đang rối loạn: “Trời sanh tai biến để
cảnh báo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của, sức lực của dân đã kiệt quệ, việc

12



cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi, trong triều đình quần thần chỉ làm trò hề
cho vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền
tài, chia đảng phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều;
ngoài các tỉnh thì quan tham lại nhũng xưng hùng xưng bá tác phúc, tác oai,
áp bức tàn nhẫn kẻ thế cô, bòn rút mỡ dân, đục khoét tủy nước” [4, tr.11].
Như vậy, trước sự đe dọa của tư bản phương Tây, đặc biệt là của Pháp,
nhà Nguyễn đã thi hành một đường lối ngoại giao “không phương Tây”,
mang tính chất “khép kín”. Chính sách này dù ở dưới hình thức nào thì cũng
không che đậy được hết những hạn chế và tác hại của nó. Chính sách này về
cơ bản đã đi ngược lại xu thế phát triển của thế giới, không đáp ứng được yêu
cầu lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Trên thực tế, theo nghiên cứu giới sử
học cho rằng “chính sách bế quan tỏa cảng là một chính sách ngoại giao tiêu
cực, sai lầm bởi “ngôi nhà Việt Nam” lúc bấy giờ là “cái nhà mục nát”, quân
cướp đã quá mạnh thì có đóng cửa, rào đâu cũng vô ích”.
* Sự xâm lược Việt Nam và bước đầu tổ chức cai trị của thực dân Pháp.
Cuối thế kỷ 18, Chủ nghĩa tư bản phương Tây phát triển hệ thống đứng
đầu Anh - Pháp - Mỹ. Anh có hệ thống thuộc địa ở hầu khắp các châu lục. Mở
đầu xu hướng bành trướng Chủ nghĩa thực dân phương Tây sang phương Đông.
Trong khu vực Đông Nam Á một số nước bị Hà Lan thống trị,
Philippin lần lượt bị Tây Ban Nha và Mỹ thống trị, Xiêm biến thành khu vực
đệm giữa các vùng thuộc địa của các nước đế quốc và bị lệ thuộc nhiều mặt
vào các nước Tư bản. Lào, Camphuchia, Việt Nam đều bị Pháp thôn tính.
Như vậy, đến cuối thế kỷ XIX trừ Nhật Bản hầu hết các nước Châu Á đều bị
các nước tư bản Phương Tây xâm lược, bị biến thành thuộc địa và nửa thuộc
địa cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa cho tư bản chính quốc.

13



Trước sự uy hiếp của chủ nghĩa tư bản, triều đình Huế ngày càng tỏ ra
hèn nhát, lúng túng và bất lực. Ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã do dự, không
kiên quyết chống lại quân xâm lược.
Về tổ chức chính trị, hành chính:
Công việc đầu tiên của thực dân Pháp sau khi chiếm được Việt Nam là
áp đặt trên thuộc địa mới này một hệ thống hành chính có khả năng thực hiện
các chính sách, chủ trương của mình. Áp dụng chính sách chia để trị, thực dân
Pháp phân Việt Nam ra làm ba miền. Trung Kỳ, nơi triều đình Huế vẫn còn
tồn tại, đổi tên thành An Nam, một danh xưng mà chính quyền đô hộ Trung
Quốc đã đặt cho Việt Nam; hai miền Bắc Kỳ và Nam Kỳ vẫn giữ tên cũ. Mỗi
miền có một viên thống sứ đứng đầu và đều phụ thuộc trực tiếp vào cái gọi là
Đông Dương thuộc Pháp. Triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là hình thức.
Chính sự chậm trễ trong nhận thức và đánh giá kẻ thù, sự bế tắc trong
hoạch định chiến lược giữ nước đã chứng tỏa năng lực hạn chế của nhà vua và
đa số triều thần lúc bấy giờ.
Về hệ thống giáo dục và văn hóa:
Chính sách giáo dục - văn hóa của thực dân Pháp không chú ý đến việc
nâng cao dân trí mà chủ yếu đào tạo ra một hàng ngũ người Việt có thể giúp
việc đắc lực cho công cuộc bình định và cai trị. Chữ Quốc ngữ đã được dùng
tại Nam Kỳ từ năm 1862 và lần lần lan tràn ra cả nước. Đến năm 1896, chính
quyền thực dân Pháp đưa chữ Quốc ngữ vào các cuộc thi tuyển quan lại. Năm
1903, đến lược môn Pháp văn được đưa vào. Các cuộc thi hương truyền thống
bị bãi bỏ vào đầu thế kỷ 19 (năm 1915 ở Bắc Kỳ, năm 1918 ở Trung Kỳ).
Thay thế vào đó là một nền giáo dục gọi là Pháp - Việt được lập ra. Tiếng
Pháp thành chuyển ngữ chính. Chương trình học lần lần xa rời văn hóa truyền
thống Việt Nam mà lại chú trọng văn học Pháp.

14



Chữ Quốc ngữ chiếm vị trí quan trọng. Báo chí và sách vở bằng chữ
Quốc ngữ xuất hiện làm truyền bá càng nhanh cách viết này và cả phong trào
chống Pháp cũng dùng chữ này để truyền bá tư tưởng độc lập tự chủ trong
dân chúng.
Mọi hoạt động yêu nước của nhân dân ta đều bị cấm đoán. Chúng xây
dựng nhà tù nhiều hơn trường học. Nếu có chăng nữa cũng chỉ là những cơ sở
đào tạo ra đội ngũ tay sai cho chính quyền thực dân và những công nhân lành
nghề phục vụ cho chương trình khai thác thuộc địa.
Về mặt xã hội, thực dân Pháp dung túng cho các tệ nạn xã hội: cờ bạc,
mại dâm… Chúng còn gieo rắc tư tưởng sùng bái nước Pháp, coi nước Pháp
là “Mẫu quốc”, là người đi “khai hóa văn minh”, thường xuyên tổ chức các
hoạt động văn hóa - thể thao để lôi cuốn nhân dân ta đặc biệt là tầng lớp thanh
thiếu niên làm cho họ quên đi nỗi nhục mất nước.
Thực dân Pháp tìm mọi cách bưng bít và ngăn chặn ảnh hưởng của nền
văn hóa tiến bộ trên thế giới vào Việt Nam và thi hành chính sách “ngu dân”
để dễ bề thống trị.
Chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông
Dương nói chung là một chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột
về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về
văn hóa, giáo dục, chứ không phải đem đến cho nhân dân một sự “khai hoá
văn minh” một sự khai hoá và cải tạo thực sự theo kiểu phương Tây. Bản chất
của “sứ mạng khai hoá” đó chính là sự khai thác thuộc địa diễn ra dưới lưỡi
lê, họng súng, máy chém ...
Nếu chúng ta so sánh Việt Nam với nhiều nước trong khu vực cùng thời
kỳ, chúng ta sẽ thấy rõ vai trò quyết định của nhân tố chủ quan, của người lãnh
đạo đối với vận mệnh đất nước. Nhìn lại giai đoạn Việt Nam và Nhật Bản trong
nửa đầu thế kỷ XIX đều thực hiện chính sách “đóng cửa” và tiến hành “hướng

15



nội” để xây dựng đất nước. Nhưng khi đối mặt với chủ nghĩa thực dân thì có
hai kết quả khác nhau: Việt Nam rơi vào sự thống trị của chủ nghĩa thực dân
còn Nhật Bản thoát khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân và trở thành một
nước độc lập tự chủ. Thực ra chính sách “hướng nội” của Nhật Bản là để xây
dựng tiểm lực kinh tế quốc phòng. Trong khi đó chính sách của Việt Nam
không thể thúc đẩy một nền kinh tế hàng hóa, cũng như xây dựng một lực
lượng quốc phòng đủ sức đối đầu với phương Tây. Trên cơ sở đó, giữa thế kỷ
XIX, khi cả Việt Nam và Nhật Bản đã có sự chuẩn bị đầy đủ nên đã có sự
chuyển đổi hình thái kinh tế xã hội từ phong kiến sang tư bản chủ nghĩa trong
khi đó “Việt Nam vẫn giữ nguyên thể trạng của chế độ phong kiến vốn đã lạc
hậu và gặp khủng hoảng nghiêm trọng” [13, tr.258].
1.1.2. Bối cảnh chính trị - xã hội – tư tưởng trên thế giới và khu vực châu Á
Từ nửa sau thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển nhanh từ
giai đoạn tự do cạnh tranh sang giai đoạn độc quyền (giai đoạn đế quốc chủ
nghĩa). Nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đặt ra yêu cầu bức thiết về thị
trường. Đó chính là nguyên nhân sâu xa dẫn tới những cuộc chiến tranh xâm
lược các quốc gia phong kiến phương Đông, biến các quốc gia này thành thị
trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, mua bán nguyên vật liệu, khai thác sức
lao động và xuất khẩu tư bản của các nước đế quốc.
Chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tư khai thác thuộc địa đem lại
lợi nhuận tối đa cho tư bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làm cho
quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biến đổi một cách căn bản. Các nước
thuộc địa bị lôi cuốn vào con đường tư bản thực dân. Sự áp bức và thôn tính
dân tộc của chủ nghĩa đế quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộc địa
thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân tộc của nhân dân các thuộc địa càng
quyết liệt. Và chính bản thân chủ nghĩa đế quốc xâm lược, thống trị các thuộc
địa lại tạo cho các dân tộc bị chinh phục những phương tiện và phương pháp


16


để tự giải phóng. Sự thức tỉnh về ý thức dân tộc và phong trào đấu tranh dân
tộc để tự giải phóng khỏi ách thực dân, lập lại các quốc gia dân tộc độc lập
trên thế giới chịu tác động sâu sắc của chính sách xâm lược, thống trị của chủ
nghĩa đế quốc thực dân.
Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý quan trọng, giàu tài
nguyên, chế độ phong kiến đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nên không
tránh khỏi bị các nước phương Tây nhòm ngó, xâm lược.
Từ nửa sau thế kỷ XIX, tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược Đông
Nam Á: Anh chiếm Mã Lai, Miến Điện; Lào, Campuchia và Việt Nam đều bị
Pháp thôn tính; Tây Ban Nha rồi Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan và Bồ Đào Nha
chiếm Inđônêxia. Xiêm (Thái Lan) là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ
được độc lập, nhưng cũng trở thành “vùng đệm” của tư bản Anh và Pháp, bị
lệ thuộc nhiều mặt vào các nước tư bản.
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sách khai thác và bóc lột thuộc
địa của thực dân phương Tây đã tác động mạnh mẽ đến tình hình các nước
Đông Nam Á. Những chuyển biến quan trọng về kinh tế, chính trị, xã hội đã
diễn ra ở hầu khắp các nước trong khu vực.
Về kinh tế, Đông Nam Á tuy được đưa vào hệ thống kinh tế của chủ
nghĩa tư bản, nhưng chỉ là thị trường tiêu thụ hàng hóa và nơi cung cấp
nguyên liệu cho các nước chính quốc.
Về chính trị, mặc dù thể chế ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm
chung là do chính quyền thực dân khống chế. Toàn bộ quyền hành đều tập
trung trong tay một đại diện của chính quyền thuộc địa hay chịu ảnh hưởng
của các nước tư bản thực dân.
Về xã hội, sự phân hóa giai cấp diễn ra ngày càng sâu sắc. Giai cấp tư sản
dân tộc lớn mạnh dần cùng với sự phát triển của kinh tế công thương nghiệp.
Giai cấp công nhân ngày càng trưởng thành về số lượng và ý thức cách mạng.


17


Cuối thế kỷ XIX, công nghiệp tư bản phương Tây cùng với tàu to súng
lớn trực chỉ phương Đông để tiến hành những cuộc chiến tranh vơ vét thuộc
địa một cách tàn khốc và đẫm máu. Hơn lúc nào hết, các quốc gia phong kiến
phương Đông lúc này bị đặt vào tình thế nan giải “tự do hay là chết”. Trước
tình thế đó, trong khi Nhật Bản nhanh chóng thỏa hiệp với bên ngoài để tiến
hành canh tân đất nước, đưa dân tộc thoát khỏi giặc ngoại xâm, Thái Lan với
chính sách “uốn theo chiều gió” để thực hiện kế sách “đánh đu” đã bảo toàn
được độc lập dân tộc (mặc dù trên danh nghĩa)... thì vua quan nhà Nguyễn ở
Việt Nam vẫn khư khư giữ lấy chính sách “bế quan tỏa cảng”, bỏ qua đề nghị
cải cách hợp thời của các nhà duy tân trong nước.
Với những chính sách đối phó với giặc ngoại xâm chúng ta có thể rút ra
một số bài học rút ra từ sự thành bại của các cuộc cải cách ở châu Á:
Các quốc gia cần chủ động mở cửa cải cách sẽ góp phần hóa giải nguy
cơ mất độc lập và phát triển đi lên nếu không sẽ tụt hậu và rơi vào số phận bi
thảm. Từ giữa thế kỉ XIX, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã trở thành xu
thế của thời đại, và các quốc gia ngoài tư bản đều có thể có cơ hội phát triển
đi lên cùng thời đại nếu hội nhập vào xu thế đó. Tuy nhiên sự phát triển của
chủ nghĩa tư bản không chỉ có mang đến những cơ hội thuận chiều mà còn đặt
ra những thách thức về độc lập chủ quyền đối với các quốc gia, vậy làm thế
nào để vừa có thể bảo vệ được độc lập chủ quyền quốc gia vừa có thể đưa đất
nước phát triển đi lên.
Qua thực tiễn các cuộc cải cách, có thể nhận thấy rằng Nhật Bản và
Xiêm đã chủ động mở cửa cải cách thành công nên đã góp phần bảo vệ được
chủ quyền độc lập của quốc gia và đưa đất nước tiến vào quỹ đạo tư bản chủ
nghĩa tuy ở những mức độ khác nhau. Như vậy ở vào thời điểm giao thời của
lịch sử của các quốc gia châu Á, chủ động mở cửa cải cách chính là một giải

pháp hội nhập tích cực nhằm tận dụng những cơ hội thuận lợi tự cường đất

18


nước góp phần vào việc hóa giải nguy cơ mất độc lập chủ quyền. Tuy nhiên
để chủ động mở cửa cải cách tiếp thu cái mới từ bên ngoài thì cần phải có
những điều kiện tiếp nhận từ bên trong, trên cơ sở những nhận thức thức thời
khôn ngoan và tỉnh táo của chính quyền đương thời. Trong trường hợp này,
chính quyền Xiêm và Nhật Bản đã tỏ ra thức thời hơn hẳn Việt Nam hay
Trung Quốc, họ đã chủ động mở cửa với các nước phương Tây ngay từ đầu
thế kỉ XVI, do đó đã tạo ra được những tiền đề vật chất và xã hội nhất định để
dễ dàng tiếp nhận và cải cách mạnh mẽ sau này. Trái lại, do bị tư tưởng Nho
giáo chi phối sâu sắc nên chính quyền phong kiến Trung Quốc và Việt Nam
về cơ bản đã đóng cửa tuyệt giao với bên ngoài, không những thế lại coi nhẹ
kinh tế công - thương nghiệp đề cao kinh tế nông nghiệp, từ đó có nhiều chính
sách cực đoan làm thui chột những mầm mống kinh tế mới khiến nó không
thể phát triển lên được để có thể hình thành một cơ sở vật chất xã hội khả dĩ
có thể hậu thuẫn cho các chính sách cải cách.
1.2. Một số tiền đề lý luận hình thành tƣ tƣởng canh tân của Phạm
Phú Thứ
1.2.1. Truyền thống yêu nước Việt Nam
Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con người
như tình yêu quê hương, xứ sở. Yêu nước là một tình cảm xã hội, mà nội
dung là tình yêu và lòng trung thành đối với Tổ quốc, lòng tự hào về quá khứ
và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc. Yêu nước
cũng có quá trình phát triển cùng với lịch sử phát triển của quốc gia dân tộc,
theo quá trình đó thì tình cảm yêu nước có tính chất cảm tính ấy dần dần trở
thành lý tính có nội dung tư tưởng, lý luận.…
Có thể nhận định rằng: theo suốt lịch sử, tổ tiên chúng ta đã biết phát

huy cao độ sức mạnh nội sinh, tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc, phù
hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước và con người Việt Nam. Nhờ đó

19


mới có thể giữ vững nền độc lập, chủ quyền và xây dựng đất nước. Tư tưởng
yêu nước là nội dung cốt lõi của tư tưởng Việt Nam, của nhân sinh quan và
thế giới quan Việt Nam; là lý luận và đường lối chính trị, quân sự của Nhà
nước phong kiến dân tộc Việt Nam.
Bước sang thế kỷ XIX, tình hình đất nước có nhiều biến động, Nguyễn
Ánh, với sự giúp đỡ của Pháp đã đánh bại triều Tây Sơn, dựng lên triều
Nguyễn năm 1802. Các vua triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mệnh đến Tự
Đức đã bảo thủ, không chú ý đến phát triển kinh tế, công thương nghiệp và
củng cố quốc phòng để chuẩn bị cho dân tộc đối phó với những nguy cơ đe doạ
bị xâm lược từ bên ngoài. Theo họ, Nho giáo là chân lý duy nhất và
xã hội phong kiến là vĩnh viễn không thay đổi, các học thuyết khác, không phải
là Nho giáo, đều là tà thuyết.
Các nước Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Miến Điện, Ấn Độ
lần lượt bị tư bản phương Tây xâm lược và bị thống trị bằng bộ máy cai trị của
chúng. Nhân dân các nước đó đã đấu tranh rất anh dũng và đạt đến đỉnh cao của
cao trào đấu tranh chống xâm lược phương Tây ở khu vực này thế kỷ XIX.
Ở nước ta, triều Nguyễn đã nhận thấy những diễn biến như vậy
ở những nước trong khu vực mà vẫn cửa đóng then cài và thực hiện chính
sách bế quan toả cảng. Nguy cơ bị xâm lược đã lộ rõ, thế mà từ những người
đứng đầu đến các nhà Nho và quan lại ở cấp thấp không nhận thức được. Ở
đây các tư tưởng bảo thủ, lạc hậu của Nho giáo đã thấm sâu vào hệ tư tưởng
phong kiến triều Nguyễn và trở thành vật cản trở sự vươn lên của nhận thức,
của tư duy cả triều đại đó. Hạn chế của hệ tư tưởng phong kiến triều Nguyễn
lấy Nho giáo làm nòng cốt đã ảnh hưởng đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc,

làm cho nó không đủ sức soi sáng cho vấn đề cơ bản liên quan đến sự nghiệp
cứu nước của dân tộc ta hồi nửa cuối thế kỷ XIX.

20


Chủ nghĩa yêu nước cuối thế kỷ XIX đã thể hiện rất phong phú. Tất cả
những biểu hiện của chủ nghĩa yêu nước giai đoạn này đều phản ánh sự trăn
trở đối với xã hội để tìm ra con đường giải phóng dân tộc, cứu nhân dân ra hỏi
cảnh nô lệ. Mặc dù thất bại trước nhiệm vụ lịch sử, nhưng chủ nghĩa yêu nước
giai đoạn này đã đặt cơ sở, tiền đề quan trọng cho các thế hệ mai sau tiếp tục
đấu tranh giành độc lập cho dân tộc.
1.2.2. Nho học ở Việt Nam thế kỷ XIX
Như chúng ta đã biết Vương triều Nguyễn được thành lập vào đầu thế
kỷ XIX. Các vua Nguyễn đã ra sức xây dựng và củng cố chế độ quân chủ
quan liêu chuyên chế lấy Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng, nói cách khác, là
làm nền tảng ý thức hệ cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền.
Xuất phát từ thực tiễn đất nước với những tiền đề kinh tế, chính trị - xã
hội và tư tưởng, Nho giáo từng được độc tôn dưới triều Lê Sơ và từ đó cho
đến khi nhà Nguyễn nắm quyền thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Nho
giáo vẫn luôn luôn chiếm ưu thế hàng đầu trong đời sống văn hoá tinh thần
của xã hội. Sự độc tôn Nho giáo dưới triều Nguyễn là tất yếu lịch sử, bởi vì
nhà Nguyễn không thể tìm được cơ sở lý luận khác với Nho giáo vốn là nền
tảng lý luận cho đường lối trị nước an dân trong lịch sử.
Tác động của Nho giáo được thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, văn
hoá và xã hội. Về mặt chính trị, Nho giáo nắm địa vị thống trị trên cơ sở “đức
trị” và “pháp trị” theo tinh thần “ngoại Nho nội Pháp” trong đường lối trị
nước. Về mặt văn hoá, triều Nguyễn là triều đại có nhiều nỗ lực trong việc
phát triển giáo dục, làm sử và xuất bản nhiều bộ sách có giá trị. Về mặt xã
hội, Nho giáo đóng vai trò quan trọng trong việc giáo huấn đạo đức, đề cao tư

tưởng trung, hiếu, tam tòng, tứ đức. Mặt khác, triều đình đã đứng trên lập
trường Nho giáo để chống lại sự truyền bá và bành trướng của Thiên Chúa
giáo ở Việt Nam. Chính vì sự độc tôn Nho giáo ở Việt Nam trong thời gian

21


dài nên không có gì lạ khi trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX có hàng loạt tư
tưởng của các nhà canh tân mang màu sắc Nho giáo.
Phạm Phú Thứ sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho giáo yêu
nước, thân sinh là cụ Phạm Phú Sung; hai chú là Phạm Phú Nghĩa và Phạm
Phú Hữu đều giỏi chữ nho, lại có hiểu biết nên ngay từ thủa nhỏ, Phạm Phú
Thứ đã được làm quen với bút nghiên, kinh sách của thánh hiền. Vốn thông
minh, lại ham học hỏi, thưở nhỏ ông học vỡ lòng về Hán học trong gia đình
với cụ thân sinh.
Như vậy, Phạm Phú Thứ vốn là một vị đại khoa, một tiến sĩ Nho học,
đã làm quan trải qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều và ngoài địa
phương, nhất là thời gian ông về Kinh diên làm “Khởi cư trú” (soạn sách cho
nhà vua) thì ông đã làm tốt vai trò của mình với tư cách là bậc thầy về Nho
giáo. Điều đó có nghĩa là ông được đào tạo chính quy trong khuôn khổ phong
kiến, theo mô hình một nhà nho chính thống.
Vấn đề này nhà sử học Trần Văn Giáp đã nhận định Trúc Đường Phạm
Phú Thứ có một số tác phẩm văn và thơ chữ Hán, dưới thời Tự Đức, vừa là tài
liệu tham khảo về sử cận đại, vừa phản ánh được sự chuyển biến tư tưởng của
pháo Nho học thời đó sau khi đã qua châu Âu đã nói lên sự đóng góp to lớn
của ông đối với văn học nước nhà sau thế kỷ XIX. Qua đó chúng ta phần nào
hiểu được giá trị của bộ sách đối với nền văn học nước nhà và chứng tỏ ông là
bậc thầy trong việc sử dụng chữ Hán. Có thể khẳng định: Không riêng gì
Phạm Phú Thứ, hầu hết các nhà canh tân thời kỳ này đều có vốn tri thức sâu
sắc.

Như vậy, có thể nói vốn liếng kiến thức về Hán học và những hiểu biết
về lịch sử cũng như luật lệ Đông phương là rất lớn, là cơ sở những tiền đề lý
luận có ảnh hưởng đến hệ thống tư tưởng của Phạm Phú Thứ sau này.
1.2.3. Ảnh hưởng tư tưởng phương Tây vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX

22


Văn hóa phương Tây chính là nhân tố khách quan quyết định đối với sự
xuất hiện các tư tưởng canh tân cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX nói chung và
của Phạm Phú Thứ nói riêng: “Hai nhân tố khách quan đã dẫn đến sự xuất
hiện các đề nghị cải cách ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX là sự xâm lược của
thực dân Pháp và sự tiếp xúc với văn minh phương Tây” [53, tr. 46].
Phạm Phú Thứ vốn là một vị đại khoa, một tiến sĩ Nho học, làm quan
trải qua nhiều chức vụ quan trọng trong triều và ngoài địa phương, điều đó có
nghĩa là ông được đào tạo chính quy trong khôn khổ phong kiến, theo mô
hình một nhà nho chính thống. Nhưng khi tiếp xúc văn minh phương Tây,
ông hoàn toàn không hề có chút mặc cảm tự ti, choáng ngợp trước sức mạnh
cơ khí của chủ nghĩa tư bản, trái lại đã biết chủ động chọn lựa cái hay, cái tốt
của nền văn minh đó để áp dụng cho nước ta.
Có thể nói chính những chuyến công du của ông đã tác động rất lớn đến
tư tưởng của ông. Ông đã ghi chép rất cẩn thận những điều mắt thấy tai nghe
khi đi sứ. Cụ thể:
Năm 1851, sau một chuyến công du sang Trung Quốc, được tận mắt
chứng kiến sự phát triển của thương nghiệp tư bản ở mảnh đất tô giới Quảng
Châu, ông đã nhen nhóm tư tưởng canh tân phát triển kinh tế. Được ông viết
trong chùm thơ “Châu Giang kỳ kiến tạp vịnh” trong tập “Đông hành thi lục”
(Giá viên tập III). Chuyến đi này đã đánh thức ông khỏi giấc ngủ mê của tư
tưởng đóng cửa kéo dài suốt cả triều Nguyễn: “quanh cảnh thế giới đã thức
tỉnh giấc mộng trần tục của tôi”. Đây là lần đầu tiên ông thấy thế nào là một

thị trường tư bản chủ nghĩa ở “Mã cao”, qua Hoàng phố đến bến Lục Ước ở
Quảng châu… một bức tranh hiện thực khá sinh động.
Tuy vậy, trong cách nhìn của ông lúc bấy giờ vẫn lộ những ấn tượng
không mấy thiện cảm với chủ nghĩa tư bản đế quốc phương Tây. Đối với tiểu
thương người Hoa ông lại rất khen ngợi về lối làm ăn “hết sức chính quy” và

23


×