2.3. Hiệu quả sử dụng chi phí.
Chỉ tiêu
Tổng doanh thu
Tổng chi phí kinh doanh
Hiệu suất sử dụng chi phí (H)
2006
3,083,579.12
2,978,398.44
2007
5,199,494.85
5,004,858.46
2008
6,871,835.16
6,673,647.50
103.53
103.89
102.97
2007/2006
2008/2007
68.62%
32.16%
68.039%
33.343%
0.35%
-0.88%
Ta có công thức tính hiệu quả sửa dụng vốn như sau:
H = ∑ Doanh thu / ∑ Chi phí kinh doanh
Nhận xét:
Qua bảng số liệu, ta thấy hiệu suất sử dụng chi phí tăng, giảm không đều qua các năm.
-
Năm 2006, hiệu suất sử dụng chi phí là 103.53%, với 1 đồng chi phí bỏ ra thì tạo ra
1.0353 đồng doanh thu.
-
Năm 2007, hiệu suất sử dụng chi phí là 103.89%, tăng nhẹ so với năm 2006 ( chỉ tăng
khoảng 0.35%), 1 đồng chi phí tạo ra 1.0389 đồng doanh thu. Sự gia tăng hiệu suất sử
dụng chi phí trong năm này là do tốc độ tăng doanh thu cao hơn tốc độ tăng chi phí.
Tổng doanh thu của công ty tăng 68.62% từ 3,083,579.12 đồng lên 5,199,494.85 đồng;
đồng thời tổng chi phí kinh doanh của công ty cũng tăng 68.039% từ 2,978,398.44
đồng lên 5,004,858.46 đồng.
-
Năm 2008, hiệu suất sử dụng chi phí là 102.97%, giảm 0.88% so với năm 2007, 1 đồng
chi phí chỉ tạo ra 1.0297 đồng doanh thu. Sự giảm hiệu suất sử dụng chi phí trong năm
này là do tốc độ tăng doanh thu thấp hơn tốc độ tăng chi phí. Tổng doanh thu của công
ty tăng 32.16% từ 5,199,494.85 đồng lên 6,871,835.16 đồng; đồng thời tổng chi phí
kinh doanh của công ty cũng tăng 33.343% từ 5,004,858.46 đồng lên 6,673,647.50
đồng.
Nhìn chung, ta thấy hiệu suất sử dụng chi phí chỉ tăng trong năm 2007 khi công ty bắt
đầu mở rộng kinh doanh, nhưng theo đó từ năm 2008 hiệu suất lại có xu hướng giảm.
Chi phí kinh doanh tăng rất nhanh do công ty mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy
nhiên, chúng ta chưa thể kết luận được việc tăng chi phí này có phải là nguyên nhân
chính dẫn đến giảm hiệu suất sử dụng chi phí hay không.
1
Tsp1
Chỉ tiêu
1/. GVHB
2/. Chi phí BH
2006
2007
2008
0.897
0.897
0.879
%
2007/2008
0
0
-0.018
-2.01
-0.001
-7.69
0.005
41.67
2006/2007
0.013
0.012
0.017
0.05
0.038
0.031
-0.012
-24
-0.007
4/. Chi phí tài chính
0
0.007
0.017
0.007
-
5/. Chi phí khác
0
0
0
0
0.953
0.944
-0.007
3/. Chi phí QLDN
7/. ∑CP
0.96
%
2006
36.74
2007
33.6
2008
2006/2007
%
2007/2008
%
-3.14
-8.55
9.92
29.52
-0.11
20.37
0.42
97.67
43.52
0.54
0.43
0.85
-18.42
2.04
1.43
1.54
-0.61
-29.9
0.11
7.69
0.01
142.86
0.00
0.25
0.86
0.25
-
0.61
244
-
0
-
0.00
0.00
0.00
0
-
0
-
-0.73
-0.009
-0.94
39.33
35.71
46.77
-3.62
-9.2
11.06
30.97
Ty suất chi phí trên tổng DTBH & CCDV :
•
Tsp1 = CPi / ∑DTBH&CCDV với CPi : khoản mục CPKD: GVHB, CPBH, CPQLDN, CPTC,CP khác.
Ty suất chi phí trên tổng lợi nhuận sau thuế:
•
Tsp2 = CPi / ∑LN.
2
Nhận xét:
Qua bảng số liệu trên, ta thấy ty suất chi phí Tsp 1 giảm qua các năm, ty suất chi phí Tsp2 giảm, tăng khác
nhau. Cụ thể như sau:
Qua số liệu trên, ta thấy ty suất chi phí Tsp 1, Tsp2 cùng giảm trong năm 2007, nhưng sang năm 2008, ty
suất chi phí Tsp1 giảm trong khi Tsp2 lại tăng. Cụ thể như sau:
- Năm 2006, ty suất chi phí Tsp1 của công ty đạt 0.96 và ty suất chi phí Tsp2 đạt 39.33.
- Năm 2007, ty suất chi phí Tsp 1 của công ty đạt 0.953 giảm 0.007, tương ứng giảm 0.73% so với năm
2006 và ty suất chi phí Tsp 2 đạt 35.71, giảm 3.62, tương ứng giảm 9.2% so với năm 2006. Ta thấy
Tsp1, Tsp2 đều nhỏ hơn 0, phản ánh hiệu quả kinh doanh của công ty trong năm 2007 rất tốt.
Tuy nhiên, không phải tất cả các khoản mục chi phí đều có ty suất tốt.
+ Ta thấy hầu hết các khoản mục ty suất chi phí Tsp 1, Tsp2 như GVHB, chi phí BH, chi phí QLDN, chi
phí khác trong năm 2007 đều có xu hướng giảm hoặc không thay đổi, điều này rất tốt, phản ánh hiệu quả
kinh doanh tốt của công ty trong năm 2007.
+ Tuy nhiên, ty suất chi phí tài chính lại không tốt, có xu hướng tăng ở cả Tsp 1 và Tsp2. Cụ thể ty suất chi
phí tài chính Tsp1 năm 2007 tăng lên 0.007 trong khi năm 2006 là 0. Tương tự ty suất chi phí tài chính
Tsp2 cũng tăng lên 0.25 với mức 0 ở năm 2006. Điều này cho thấy hoạt động tài chính của công ty đang
có vấn đề, công ty cần phải xem xét và kiểm soát hoạt động tài chính của mình.
- Năm 2008, ty suất chi phí nói chung không tốt lắm khi Tsp 1 tiếp tục giảm nhưng Tsp2 lại tăng. Cụ thể, ty
suất chi phí Tsp1 của công ty đạt 0.944 giảm 0.009, tương ứng giảm 0.94% so với năm 2007 và ty suất chi
phí Tsp2 đạt 46.77, tăng 11.06, tương ứng tăng 30.97% so với năm 2007. Điều này cũng phù hợp với chỉ
số hiệu suất sử dụng chi phí của công ty đã được phân tích ở trên.
+ Năm nay, ngoài chi phí khác có ty suất chi phí Tsp 1, Tsp2 giảm hoặc không đổi là tốt, các chi phí khác
đều có ty suất được đánh giá là không tốt.
+ Chi phí tài chính tiếp tục có ty suất chi phí Tsp 1, Tsp2 đều tăng, chứng tỏ mức độ tăng chi phí tài chính
lại cao hơn kế hoạch dự kiến và vẫn chưa giải quyết được khó khăn. Cụ thể, ty suất chi phí tài chính Tsp 1
năm 2008 tăng lên 0.017 tăng 0.01, tương ứng tăng 142.86% so với năm 2007. Tương tự ty suất chi phí tài
chính Tsp2 cũng tăng lên 0.86 tăng 0.61, tương ứng tăng 244% so với năm 2007.
3
Ngoài ra, chi phí bán hảng cũng có ty suất chi phí Tsp 1, Tsp2 đều tăng, cùng với việc tăng cường sản xuất,
công ty bắt đầu gặp khó khăn trong việc bán sản phẩm. Ty suất chi phí bán hàng Tsp 1 năm 2008 tăng lên
0.017 tăng 0.005, tương ứng tăng 41.67% so với năm 2007. Tương tự ty suất chi phí bán hàng Tsp 2 cũng
tăng lên 0.85 tăng 0.42, tương ứng tăng 97.67% so với năm 2007.
+ Chi phí GVHB và chi phí QLDN có Tsp1 tiếp tục giảm nhưng Tsp2 lại tăng, đây cũng là một .
Ty suất chi phí GVHB Tsp1 của công ty đạt 0.897 giảm 0.018, tương ứng giảm 2.01% so với năm 2007 và
ty suất chi phí GVHB Tsp2 đạt 43.52, tăng 9.92, tương ứng tăng 29.52% so với năm 2007.
Ty suất chi phí QLDN Tsp 1 của công ty đạt 0.031 giảm 0.007, tương ứng giảm 18.42% so với năm 2007
và ty suất chi phí QLDN Tsp2 đạt 1.54, tăng 0.11, tương ứng tăng 7.69% so với năm 2007.
Tóm lại, năm 2007 công ty có kết quả hoạt động kinh doanh và kiểm soát chi phí tốt. Tuy nhiên năm
2008, công ty bắt đầu bộc lộ các yếu kém khi bảng báo cáo thể hiện hiệu suất sử dụng chi phí giảm mà chỉ
tiêu ty suất các loại chi phí cũng không tốt.
2.4. Vòng quay của vốn.
Năm
1/1/2006
31/12/2006
31/12/2007
31/12/2008
a
b
c
d
Hàng tồn kho
420,450
749,568
1,029,276
1,130,361
Các khoản phải thu
132,838
107,706
120,162
210,092
Tổng nguồn vốn
898,802
1,114,989
1,445,891
1,839,751
Năm
2006
(a+b)/2
2007
(b+c)/2
2008
(c+d)/2
Hàng tồn kho bình quân
585,009
889,422
1,079,819
Khoản phải thu bình quân
120,272
113,934
165,127
1,006,896
1,280,440
1,642,821
Vốn bình quân
- Vòng quay của vốn kinh doanh
Năm
2006
2007
4
2008
2007/2006
2008/2007
Vốn kinh doanh bình quân
1,006,896
1,280,440
1,642,821
27.17%
28.30%
Doanh thu thuần (M)
3,080,007
5,197,814
6,869,332
68.76%
32.16%
3.059
4.059
4.181
32.69%
3.01%
Vòng quay vốn kinh doanh
Nhận xét:
Nhìn chung, vòng quay vốn kinh doanh của công ty gỗ Đông Dương ngày càng tăng, có thể thấy công ty
có cố gắng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn.
- Năm 2006: vốn kinh doanh của công ty luân chuyển hơn 3 lần, cụ thể là 3.059 lần.
- Năm 2007: vòng quay vốn kinh doanh của công ty đạt 4.059 lần, tăng 32.69% so với năm 2006. Vòng
quay vốn của công ty tăng là do tốc độ tăng của doanh thu thuần cao hơn tốc độ tăng của vốn kinh doanh.
Tốc độ tăng doanh thu thuần là 68.76%, tốc độ tăng của vốn kinh doanh là 27.17%.
- Năm 2008: vòng quay vốn kinh doanh của công ty đạt 4.181 lần, tăng 3.01% so với năm 2007, mặc dù
tăng nhưng tốc độ luân chuyển vốn đang có xu hướng tăng chậm lại. Vòng quay vốn của công ty tăng
chậm lại là do tốc độ tăng của doanh thu thuần tăng chậm lại nhưng vẫn tăng hơn tốc độ tăng của vốn kinh
doanh. Tốc độ tăng doanh thu thuần năm 2008 chỉ là 32.16%, tốc độ tăng của vốn kinh doanh là 28.30%.
Tóm lại, vòng quay vốn kinh doanh của công ty đang ngày càng cải thiện. Xét trên mặt bằng chung, ngành
gỗ là ngành có vòng quay vốn kinh doanh chậm, nên chỉ số này của công ty được xem là khá tốt. Hơn
nữa, nếu đem so sánh với Công ty cổ phần Tập đoàn Kỹ nghệ Gỗ Trường Thành có hệ số vòng quay hàng
tồn kho đạt mức bình quân là 1,25 vòng/năm thì có thể kết luận công ty Đông Dương đang kinh doanh rất
tốt.
- Vòng quay của vốn lưu động
+ Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
- Số lần luân chuyển vốn lưu động (S): chỉ tiêu này nói lên trong một chu kỳ thời gian (thường là một
năm), VLĐ của doanh nghiệp thực hiện được mấy vòng luân chuyển.
S=
Trong đó:
M: tổng mức luân chuyển vốn (doanh thu thuần)
VLĐ bình quân = (V đầu kỳ + V cuối kỳ)/2
- Thời gian thực hiện 1 lần luân chuyển vốn: chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để thực hiện 1 vòng
luân chuyển.
5
t=
=
Năm
2006
2007
2008
2007/2006
2008/2007
966,860
1,253,524
1,632,511
29.6%
30.2%
Doanh thu thuần (M)
3,080,007
5,197,814
6,869,332
68.8%
32.2%
S = M/VLĐbq (vòng)
3.19
4.15
4.21
30.2%
1.5%
114.58
88.02
86.74
-23.2%
-1.5%
VLĐ bình quân
t = T/S =365/S (ngày)
Nhận xét:
Nhìn chung, vòng quay của vốn lưu động cảu công ty có xu hướng tăng qua các năm, tuy tăng không
nhiều nhưng đây cũng là dấu hiệu tốt cho hoạt động của công ty.
- Năm 2006: vốn lưu động luân chuyển 3.19 lần, 1 lần luân chuyển là 115 ngày.
- Năm 2007: vòng quay vốn lưu động của công ty đạt 4.15 lần, tăng 32.2% so với năm 2006, 1 lần luân
chuyển vốn khoảng 88 ngày. Vòng quay vốn của công ty tăng là do tốc độ tăng của doanh thu thuần cao
hơn tốc độ tăng của vốn lưu động. Tốc độ tăng doanh thu thuần là 68.76%, tốc độ tăng của vốn lưu động
là 29.6%.
- Năm 2008: vòng quay vốn lưu động của công ty đạt 4.21 lần, tăng 1.5% so với năm 2006 và cũng có xu
hướng tăng chậm lại, 1 vòng luân chuyển vốn khoảng 87 ngày. Vòng quay vốn lưu động của công ty tăng
chậm lại là do tốc độ tăng của doanh thu thuần tăng chậm lại nhưng vẫn tăng hơn tốc độ tăng của vốn lưu
động. Tốc độ tăng doanh thu thuần là 32.16%, tốc độ tăng của vốn lưu động là 30.2%.
Đặc thù của các doanh nghiệp trong ngành chế biến gỗ là lượng vốn vay ngắn hạn cao dành cho vốn lưu
động thu mua nguyên vật liệu, vì vòng quay vốn của ngành chỉ ở mức 0,8 – 1 vòng/năm tùy nguyên vật
6
liệu nhập khẩu hay thu mua trong nước. Cho nên có thể nói là tốc độ luân chuyển vốn lưu động của công
ty đang rất tốt, cao hơn hẳn tốc độ của toàn ngành.
+ Vòng quay hàng tồn kho (VhàngTK).
Năm
2006
2007
2008
2007/2006
2008/2007
585,009
889,422
1,079,819
52.0%
21.4%
2,782,493
4,708,868
6,209,890
69.2%
31.9%
VhàngTK = GVHB/HàngTKbq
4.8
5.3
5.8
10.4%
9.4%
Thời gian giải toả hàng tồn kho
76
69
63
-9.2%
-8.7%
Hàng tồn kho bình quân
Giá vốn hàng bán
Nhận xét:
Hệ số hàng tồn kho tăng nhẹ qua các năm từ 2006 đến 2008:
- Năm 2006: hàng tồn kho luân chuyển 4.8 vòng, khoảng 76 ngày 1 vòng.
- Năm 2007: hàng tồn kho luân chuyển 5.3 vòng, vòng quay hàng tồn kho tăng 10.4% so với năm 2006.
Nguyên nhân là hàng tồn kho bình quân tăng 52%, giá vốn hàng bán tăng nhiều hơn (69%)
- Năm 2008: hàng tồn kho luân chuyển 5.8 vòng, vòng quay hàng tồn kho tăng 9.4% so với năm 2007.
Nguyên nhân là do hàng tồn kho bình quân và giá vốn hàng bán đều tăng, nhưng tốc độ tăng chậm lại.
Kết luận:
7
-
Chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho ngày càng tăng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn lưu động tốt.
Nguyên nhân là do tốc độ tăng của giá vốn hàng bán cao hơn của giá trị hàng tồn kho. Như vậy,
công ty tăng cường giá trị hàng tồn kho là để dảm bảo cho hoạt động kinh doanh năm sau do diễn
biến phức tạp về giá cũng như sự tăng trưởng trong kinh doanh. Tuy nhiên, nếu vòng quay kho quá
lớn thì cũng thể hiện mức tồn kho quá thấp, nguy cơ dẫn đến thiếu hàng hoá phục vụ cho kỳ kinh
doanh.
-
Nếu so sánh với Công ty gỗ Thuận An, vòng quay hàng tồn kho bình quân là 6.25 vòng thì chỉ
tiêu này của Công ty Đông Dương thấp hơn.
Vòng quay khoản phải thu (Vthu).
Năm
2006
2007
2008
2007/2006
2008/2007
Doanh thu thuần
a
3,080,007
5,197,814
6,869,332
68.8%
32.2%
Khoản phải thu bình quân
b
120,272
113,934
165,127
-5.3%
44.9%
Vthu
c=a/b
25.61
45.62
41.6
78.1%
-8.8%
Kỳ thu tiền bình quân
d=365/c
14.25
8
8.77
-43.9%
9.6%
Nhận xét:
Vòng quay khoản phải thu có sự biến động từ 2006 – 2008:
8
- Năm 2006: trong 1 năm khoản phải thu quay 25.61 vòng và số ngày cần thiết cho 1 lần để thu được nợ là
khoảng 14 ngày.
- Năm 2007, vòng quay khoản phải thu đạt 45.52 vòng, tăng (78%) và số ngày của một vòng quay là 8
ngày, giảm 6 ngày so với năm 2006, do doanh thu thuần tăng 69%, trong khi khoản phải thu phải thu bình
quân lại giảm 6%.
Như vậy, vòng quay khoản phải thu tăng và số ngày của 1 vòng quay giảm chứng tỏ tốc độ thu hồi nợ cải
thiện (nhanh hơn), giảm được vốn lưu động bị chiếm dụng.
- Năm 2008, vòng quay khoản phải thu còn 41.6 vòng, giảm nhẹ 9% và số ngày của một vòng quay là 9
ngày, tăng 1 ngày so với năm 2007, do cả doanh thu thuần và khoản phải thu bình quân đều tăng, nhưng
khoản phải thu tăng nhiều hơn (45%) doanh thu thuần (32%).
Kết luận:
-
Do khoản phải thu khách hàng tăng, giảm không đồng nhất trong giai đoạn 2006 – 2008 và tốc độ tăng
cũng không đồng đều với tốc độ tăng của doanh thu thuần, khi tăng nhanh hơn, khi thấp hơn. Nên
vòng quay các khoản phải thu tăng mạnh trong năm 2007 và giảm nhẹ trong năm 2008. Kết quả, kỳ
thu tiền bình quân cũng giảm, thể hiện tốc độ thu hồi nợ nhanh, giảm vốn lưu động bị chiếm dụng.
-
Nếu so sánh với công ty Thuận An (Vòng quay khoản phải thu bình quân là khoảng 16 vòng) thì chỉ
tiêu này của Công ty Đông Dương lớn hơn rất nhiều.
2.5. Đánh giá tình hình công nợ và khả năng thanh toán công nợ của Công ty
2.5.1. Phân tích tổng quát về khả năng thanh toán của công ty.
a) Tỷ suất tự tài trợ
Năm
CHÊNH LỆCH
2007/2006
2006
Nguồn vốn chủ sở hữu
Tổng nguồn vốn
Ty suất tự tài trợ
717,086
1,114,989
64.31%
2007
787,224
1,445,89
1
54.45%
2008
Tuyệt đối
70,13
829,919
8
330,90
1,839,751
2
45.11%
-9.87
Tương
đối
2008/2007
Tuyệt đối
42,6
9.78%
95
393,86
29.68%
0
-15.34%
-9.34%
Tương
đối
5.42%
27.24%
-17.15%
Nhận xét:
Ty suấn tự tài trợ của công ty có xu hướng giảm qua các năm. Năm 2006, ty suấn tự tài trợ của công ty là
64.31%. Năm 2007, ty suất tự tài trợ của công ty là 54.45%, giảm 15.34% so với năm 2006. Năm 2008, ty
suấn tự tài trợ của công ty là 45.11%, giảm 17.15% so với năm 2007. Ty suất tự tài trợ giảm là do tốc độ
tăng của nguồn vốn chủ sở hữu thấp hơn tốc độ tăng của tổng nguồn vốn. Điều này cũng có nghĩa công ty
9
đang càng ngày càng nợ nhiều hơn. Mặc dù đứng ở góc độ của công ty, đây không phải là điều xấu do
công ty không phải bỏ quá nhiều vốn để kinh doanh, thay vào đó là sử dụng nguồn vốn đi vay. Nhưng nếu
doanh nghiệp không cẩn thận rất có thể sẽ lâm vào tình trạng phá sản do không đảm bảo trả được nợ, nhất
là khi tình hình kinh doanh của công ty không được khả quan khi phân tích doanh thu và nguồn vốn.
b) Tỷ suất thanh toán ngắn hạn
Tổng Tài sản ngắn hạn
Tổng số nợ ngắn hạn
Ty số khả năng thanh
toán nợ ngắn hạn
2006
1,072,700
397,903
Năm
2007
1,434,347
658,666
2.70
2.18
CHÊNH LỆCH
2007/2006
2008/2007
2008 Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
1,830,674
361,647
33.71%
396,327
27.63%
1,009,832
260,763
65.53%
351,166
53.31%
1.81
-0.52
-19.25%
-1
-45.87%
Nhận xét:
Ty suất thanh toán ngắn hạn thể hiện 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiêu đồng tài sản ngắn
hạn mà công ty đang quản lý.
Nhìn vào bảng số liệu, ta thấy ty số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty đang có xu hướng giảm
dần qua các năm. Cụ thể, năm 2006, đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 207 đồng tài sản ngắn hạn, thì
sang năm 2007 được đảm bảo bởi 2.18 đồng tài sản ngắn hạn, năm 2008 chỉ còn 1.81 đồng, tương ứng
giảm 19.25% và 45.87%.
Nhìn chung công ty vẫn đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nhưng ty số thanh toán càng giảm đồng
nghĩa khả năng thanh toán càng kém. Cho nên sự sụt giảm ngày càng nhanh ty số thanh toán nợ ngắn hạn
buộc công ty phải chú ý kiểm soát và đưa ra những giải pháp an toàn.
c) Tỷ suất thanh toán nhanh
Năm
CHÊNH LỆCH
2007/2006
2006
Tổng vốn bằng tiền + đầu tư
ngắn hạn + Các khoản phải thu
Tổng nợ ngắn hạn
Ty suất thanh toán ngay
2007
410,22
5
2008
2008/2007
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
124,32
299,7
285,903
710,019
2
43.48%
94
73.08%
260,76
351,1
397,903 658,666 1,009,832
3
65.53%
66
53.31%
0.0
0.719
0.623
0.703
-0.096
-13.32%
80
12.89%
10
Nhận xét:
Ty suất thanh toán ngay của công ty qua các năm thay đổi giảm, tăng không có xu hướng. Năm 2006, ty
suất thanh toán ngay của công ty là 0.719, năm 2007 là 0.623 – tương ứng giảm 13.32% so với năm 2006,
năm 2008 là 0.703 - tương ứng tăng 12.89% so với năm 2007.
Tuy nhiên, ta có thể thấy ty suất thanh toán ngay của công ty đều nhỏ hơn 1. Điều này cho thấy công ty
đang gặp khó khăn trong việc thanh toán ngay lập tức toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn. Phân tích sâu hơn
nữa, nếu hệ số thanh toán nhanh nhỏ hơn hệ số thanh toán ngay rất nhiều chứng tỏ tài sản ngắn hạn phụ
thuộc rất lớn vào hàng tồn kho. Trong trường hợp này tính thanh khoản của tài sản ngắn hạn là tương đối
thấp.
Nguyên nhân dẫn đến việc này do hàng tồn kho của công ty chiếm ty lệ lớn trong tổng tài sản ngắn hạn
(xem bảng phụ lục). Nếu hàng tồn kho kém chất lượng, chậm được giải phóng sẽ ảnh hưởng đến khả năng
thanh toán nợ của công ty ngay lập tức.
Bảng phụ lục
Năm
Hàng tồn kho
Tổng TS NH
Ty trọng hàng tồn kho
2006
749,568
2007
988,276
1,434,34
1,072,700 7
69.88%
68.90%
2008
1,085,361
CHÊNH LỆCH
2007/2006
2008/2007
Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối
238,708
31.85%
97,085 9.82%
1,830,674
59.29%
361,647
-0.98%
33.71%
-1.40%
396,327
-9.61%
27.63%
-13.95%
d) Tỷ suất thanh toán bằng tiền.
Năm
2006
Tổng vốn bằng tiền
Tổng nợ ngắn hạn
Ty suất thanh toán bằng tiền
178,197
397,903
0.448
2007
CHÊNH LỆCH
2008
290,063
499,927
658,666 1,009,832
0.440
0.495
2007/2006
Tuyệt đối
111,866
260,763
0.007
Tương đối
62.78%
65.53%
-1.67%
2008/2007
Tuyệt đối
209,864
351,166
0.055
Tương đối
72.35%
53.31%
12.42%
Nhận xét:
Có thể thấy, ty suất thanh toán bằng tiền mặt của công ty Đông Dương tuy có thay đổi tăng, giảm
qua các năm nhưng đều thấp hơn 0.5. Cụ thể năm 2006 là 0.448, năm 2007 là 0.440, năm 2008 là 0.495.
Điều này cũng không quá nghiêm trọng vì có rất ít doanh nghiệp có số tiền mặt và các khoản tương đương
tiền đủ để đáp ứng toàn bộ các khoản nợ ngắn hạn, do đó chỉ số thanh toán tiền mặt rất ít khi lớn hơn hay
bằng 1.
Một doanh nghiệp giữ tiền mặt và các khoản tương đương tiền ở mức cao để bảo đảm chi trả các
khoản nợ ngắn hạn là một việc làm không thực tế vì như vậy cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp
11
không biết sử dụng loại tài sản có tính thanh khoản cao này một cách có hiệu quả. Doanh nghiệp hoàn
toàn có thể sử dụng số tiền và các khoản tương đương tiền này để tạo ra doanh thu cao hơn (ví dụ cho vay
ngắn hạn).
/> />
12