THỊ TRƯỜNG OTC CỦA MỘT SỐ NƯỚC
A – Tìm Hiểu Chung Về Thị Trường OTC
1. Khái niệm thị trường OTC
Thị trường OTC hay còn gọi là thị trường phi tập trung, là thị trường được tổ chức không dựa vào
một mặt bằng giao dịch cố định như thị trường sàn giao dịch (thị trường giao dịch tập trung), mà dựa vào
một hệ thống vận hành theo cơ chế chào giá cạnh tranh và thương lượng thông qua sự trợ giúp của các
phương tiện thông tin. Thị trường OTC không có một không gian giao dịch tập trung. Thị trường này
thường được các CTCK cùng nhau duy trì, việc giao dịch và thông tin được dựa vào hệ thống điện thoại
và Internet với sự trợ giúp của các thiết bị đầu cuối.
Tính thanh khoản của các loại chứng khoán trên thị trường OTC thường thấp hơn thị trường giao
dịch tập trung, chứa đựng nhiều rủi ro hơn, song cũng có thể đem lại nhiều lợi nhuận hơn.
2. Một số đặc trưng cơ bản
Nhà đầu tư (NĐT) và tổ chức của các NĐT: việc tham gia thị trường OTC rất đơn giản. Tuy
nhiên, hoạt động của các NĐT trên thị trường không phải là độc lập, mà thường lập thành các
nhóm, hội, diễn đàn để trao đổi thông tin với nhau.
Hàng hoá của thị trường: là các loại cổ phiếu (CP) của các doanh nghiệp (DN) cổ phần, có triển
vọng phát triển, chuẩn bị niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung hoặc có những lợi thế
thương mại riêng biệt.
Việc mua bán cổ phiếu trên thị trường OTC được thực hiện theo phương thức “thuận mua, vừa
bán” mà không bị bất cứ một lực bên ngoài nào (giới hạn giá, lượng cổ phiếu…) tác động. Nói
chung, cơ chế mua - bán các loại chứng khoán trên thị trường OTC theo cơ chế thị trường.
Phương thức mua bán, giao dịch:
o
Bên mua và bên bán trực tiếp gặp nhau để thương lượng, quyết định việc mua - bán
chứng khoán. Đây là phương thức phổ biến hiện nay tại Việt Nam.
o
Bên mua và bên bán có thể giao dịch thông qua các nhà môi giới chứng khoán. Hiện nay,
phương thức này ít phổ biến hơn, nhưng xu hướng phát triển của thị trường thì trong
tương lai, phương thức này sẽ chiếm ưu thế hơn so với phương thức trực tiếp mua - bán.
Thu thập thông tin của các loại cổ phiếu: để mua chứng khoán trên thị trường OTC, NĐT thường
tìm kiếm thông tin từ các nguồn như:
1
o
Thông tin từ các báo cáo tài chính (BCTC): nhìn chung, các CTCP chưa niêm yết không
có BCTC được kiểm toán. Do những mục đích khác nhau mà DN có nhiều hệ thống sổ
sách kế toán, BCTC. Mặt khác, việc có được một bản BCTC của DN đối với một người
bình thường là điều không hề đơn giản, nhất là trong điều kiện mà ngay bản thân DN
không biết thông tin nào nên công bố, thông tin nào không nên. Do đó, việc thu thập
thông tin từ DN qua con đường chính thức khá khó khăn, nếu NĐT không có những mối
liên hệ nhất định với công ty đó.
o
Thu thập thông tin qua các cơ quan chức năng: Theo quy định, DN phải báo cáo tình hình
hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh (Sở Kế hoạch và Đầu tư). Tuy nhiên, việc
tuân thủ quy định này của các DN không thực sự nghiêm túc hoặc các thông tin cũng rất
chung chung. Và các cơ quan chức năng cũng không có tránh nhiệm và nghĩa vụ công bố
các thông tin của DN. Vì vậy, việc có được thông tin từ các cơ quan này gần như là bất
khả thi đối với NĐT. Ngoài ra, còn có một tổ chức lưu trữ thông tin về các DN, đó là
Trung tâm Thông tin tín dụng (CIC) thuộc Ngân hàng Nhà nước. Trung tâm này lưu trữ
thông tin cơ bản của các DN có quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên,
tính cập nhật của các thông tin này không cao.
o
Thu thập thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng: khi không thể thu thập thông
tin về DN từ các đầu mối thông tin nêu trên, NĐT có thể thu thập thông tin từ các phương
tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, nhược điểm của nguồn dữ liệu này là rời rạc, độ tin
cậy không cao.
o
Thu thập thông tin từ các nguồn khác: thông tin từ những hội, nhóm kinh doanh chứng
khoán, thông tin không chính thức từ bên trong DN… Nhìn chung, các nguồn thông tin
nêu trên không đủ căn cứ vững chắc và không chính xác để NĐT ra quyết định. Nhưng
trong thực tế, các chứng khoán vẫn được mua bán, chuyển nhượng, thậm chí, tại những
thời điểm cao trào, nhiều loại chứng khoán được mua bán, chuyển nhượng rất sôi động.
Những rủi ro thường gặp khi mua bán cổ phiếu OTC:
2
o
Một là, tranh chấp hay thiệt hại về quyền mua cổ phiếu (CP) mới tăng vốn. Một trong
những kỳ vọng lớn nhất về lợi ích của người mua CP là quyền mua CP phát hành tăng
vốn. Đây là một khoản lợi lớn của người sở hữu CP. Tuy nhiên, thông thường trước khi
phát hành CP tăng vốn, công ty tiến hành chốt danh sách cổ đông. Tại thời điểm đó,
những ai sở hữu CP nằm trong danh sách cổ đông của công ty sẽ được mua thêm CP mới.
o
Với những người mua CP trong giai đoạn giao thời hoặc khi danh sách cổ đông đã được
chốt, nếu không biết thì dù tiền đã thanh toán cho người bán, CP đã nắm giữ, nhưng chưa
làm xong thủ tục chuyển nhượng, người mua vẫn mất quyền mua, quyền mua CP mới
vẫn thuộc về người bán. Như vậy, NĐT trên thị trường OTC cần chú ý, phải luôn luôn
thỏa thuận bằng hợp đồng chuyển nhượng với người bán, ghi rõ quyền lợi mua CP mới
tăng vốn thuộc về ai. Loại rủi ro này phổ biến nhất trên thị trường OTC.
o
Hai là, tranh chấp hay thiệt hại về cổ tức. Cổ tức được chia cho cổ đông dựa trên số lượng
cổ phần họ đang nắm giữ. Thông thường, công ty chia cổ tức sau khi kết thúc năm tài
chính, một số công ty tạm ứng cổ tức sau 6 tháng. Rủi ro giao dịch CP ở chỗ, khi mua
CP, người mua không nắm bắt được thông tin, không thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng
chuyển nhượng. Do đó, cũng tương tự như trường hợp trên, người mua mặc dù nắm giữ
CP, nhưng không được nhận cổ tức.
o
Ba là, rủi ro trong mua bán CP chưa được chuyển nhượng. Có những CP theo quy định
nội bộ của công ty, sau 1 năm mới được chuyển nhượng, nhưng nhiều NĐT không nắm
được thông tin nên đã mua. Và trong thời hạn 1 năm đó, các quyền lợi như mua thêm CP
tăng vốn, nhận cổ tức… vẫn thuộc về người đứng tên sở hữu CP (người bán), còn người
đã bỏ tiền ra mua thì bị chiếm đoạt quyền lợi.
o
Bốn là, rủi ro trong giao dịch nhận chuyển nhượng quyền mua. Trong các đợt phát hành
thêm CP mới để tăng vốn, cổ đông hiện hữu, cổ đông chiến lược hay CBCNV được
quyền mua CP. Khi đó, nhiều người do không huy động được tiền hoặc vì nhiều lý do
khác đã bán quyền mua CP. Giá bán quyền mua thường thấp hơn giá thị trường thời điểm
đó. NĐT mới thấy giá thấp, hấp dẫn thường chấp nhận mua. Nhưng từ khi nộp tiền để
mua CP cho đến khi nhận được CP là khoảng thời gian khá dài, nên đến khi nhận được
CP thì CP vẫn đứng tên chủ sở hữu là người bán. Khi đó, nếu giá CP đứng yên, giảm hay
người bán nghiêm túc, đứng đắn thì việc làm thủ tục chuyển nhượng không vấn đề gì.
Ngược lại, gặp phải người không trọng chữ tín thì dễ dàng bị đánh tháo và hứa hẹn trả lại
số tiền trước kia đã nhận, kèm với lãi suất ngân hàng.
3. Vị trí và vai trò của thị trường OTC
Trên thế giới, thị trường phi tập trung được tổ chức dưới hình thức một thị trường giao dịch "qua
quầy" - OTC Market (Over-the-counter Market). Đó là hình thức giao dịch mà những nhà buôn chứng
khoán (dealer) tại các địa điểm khác nhau công bố một danh mục chứng khoán với giá mua và bán được
yết sẵn, và họ sẽ sẵn sàng mua hoặc bán chứng khoán thẳng cho những ai chấp nhận giá của họ. Như vậy
khác với trong Sở giao dịch, nơi mà giá cả chứng khoán được hình thành trên cơ sở đàm phán hoặc ghép
lệnh, thì ở thị trường OTC giá cả là yết sẵn và việc mua bán sẽ chỉ xảy ra nếu tuân theo những mức giá
này. Do hoạt động mua bán chứng khoán tại thị trường OTC đều được thực hiện qua mạng máy tính nên
các nhà buôn chứng khoán cũng như khách hàng có điều kiện biết rõ các mức giá mà các nhà buôn chứng
khoán khác chào bán, vì vậy tính chất cạnh tranh của thị trường này rất cao, chẳng kém gì Sở giao dịch.
Như vậy thị trường O.T.C không phải là một thị trường hiện hữu, nó không có địa điểm tập trung
nhất định mà thay vào đó là một hệ thống thông tin liên lạc hiện đại mà các bên tham gia thị trường sử
dụng để thương lượng việc mua bán chứng khoán.
3
Do hình thức tổ chức như vậy nên các chứng khoán mua bán tại thị trường OTC rất đông đảo và
đa dạng, nó bao gồm chứng khoán của cả những công ty chưa đủ điều kiện yết giá tại Sở giao dịch lẫn
những công ty chưa muốn yết giá tại Sở giao dịch. Theo các số liệu thống kê thì ở các nước phát triển giá
trị các chứng khoán được mua bán qua thị trường O.T.C lớn hơn rất nhiều so với mua bán tại Sở giao
dịch.
Ngoài hai hình thức giao dịch mua bán chứng khoán đã nêu trên: giao dịch tại Sở giao dịch và
giao dịch tại thị trường OTC, trên thị trường tài chính thực tế còn tồn tại một bộ phận các giao dịch mua
bán trực tiếp giữa những người sở hữu chứng khoán. Thị trường các giao dịch chứng khoán này có thể gọi
là thị trường tự do hay thị trường chợ đen. Các thị trường này xuất hiện đầu tiên trong lịch sử phát triển
của thị trường tài chính, khi mà những người nắm giữ chứng khoán có nhu cầu bán lại những chứng
khoán của mình. Ngay cả ngày nay, mặc dù đã xuất hiện những thị trường tiên tiến hơn như Sở giao dịch
hay thị trường OTC, loại thị trường tự do này vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên quy mô của chúng không lớn
lắm, độ rủi ro lại cao, và chỉ có ý nghĩa tại các nước mới hình thành thị trường tài chính.
4. Thành phần tham gia của thị trường OTC
a) Thành viên là nhà môi giới
Khi công ty làm môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, thì công ty đóng vai
trò là nhà môi giới của thị trường OTC.
b) Thành viên tạo lập thị trường
Khi công ty thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán cho chính mình bằng nguồn vốn của
mình, thì công ty đóng vai trò là nhà giao dịch. Trong trường hợp này công ty trở thành nhà tạo lập thị
trường trên thị trường OTC.
Điều kiện để trở thành thành viên:
-
Phải đăng kí kinh doanh với Ủy ban Chứng khoán nhà nước
Phải được cấp giấy phép
Các nhà giao dịch – môi giới và những người có liên hệ phải đáp ứng các tiêu chuẩn về đạo đức,
chuyên môn và kinh nghiệm.
B - Một Số Thị Trường OTC Cụ Thể
1. Thị trường OTC Việt Nam
Quá trình hình thành và tổ chức hoạt động của thị trường OTC ở Việt Nam
(1) Trước khi Upcom ra đời. Ngoài TTCK tập trung thì còn có sự tồn tại của thị trường tự do. Các
giao dịch ở đây diễn ra rời rạc, không có sự liên kết, không có tổ chức và giám sát.
(2) Sau khi Upcom ra đời. Thị trường UPCoM là nơi giao dịch chứng khoán của các công ty đại
chúng chưa niêm yết được tổ chức tại SGDCK HN, dưới sự quản lý giám sát của UBCK NN.
4
Thực trạng phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Sự biến động về số lượng và chất lượng hàng hóa giao dịch
(1) Số chứng khoán tham gia trên thị trường UPCoM ngày càng gia tăng qua các năm.
(2) Các DN trên UPCoM chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
(3) Các DN trên UPCoM đa dạng về ngành nghề nhưng lại thiếu vắng những DN trong lĩnh vực
tài chính.
Sự biến động về số lượng và chất lượng các nhà tạo lập thị trường
Hiện nay thị trường có 81 Công ty chứng khoán (năm 2015). Thị trường ở thời điểm “đông đúc”
nhất có hơn 100 công ty chứng khoán, nhưng đến thời điểm này chỉ còn 81 công ty, giảm khoảng
23% tổng số công ty chứng khoán. 53% công ty có vốn điều lệ dưới 300 tỷ đồng. Trong đó có 22
công ty có vốn điều lệ dưới 100 tỷ đồng, 12 công ty có vốn điều lệ dưới 50 tỷ đồng (Số liệu năm
2014).
Sự biến động về khối lượng giao dịch
Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch cao nhất là năm 2012, thấp nhất là năm 2013.
Sự biến động về số lượng và chất lượng nhà đầu tư
Số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường ngày càng tăng qua các năm. Năm 2010 có mức tăng
mạnh nhất. Sự gia tăng của các nhà đầu tư tổ chức luôn lớn hơn nhiều so với sự gia tăng của các nhà đầu
tư cá nhân.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật
(1) SGDCK Hà Nội sử dụng hệ thống phần mềm tích hợp cho cả giao dịch chứng khoán niêm yết
và chứng khoán không niêm yết.
(2) Các CTCK thành viên sử dụng phần mềm đồng bộ và kết nối với SGDCK HN. Các yêu cầu
về cơ sở vật chất kỹ thuật của các CTCK được quy định tại Quyết định số 132/QĐ/UBCK.
Về quản lý, giám sát thị trường
Các cấp quản lý
Thị trường UPCoM hiện nay quản lý theo 2 cấp. Một là cấp Nhà Nước do UBCK NN quản lý.
Hai là cấp tự quản bao gồm SGDCK HN và Hiệp hội Các nhà Kinh doanh Chứng khoán Việt
Nam đồng thời quản lý.
Qui định về công bố thông tin trên thị trường UPCoM
Các tổ chức phát hành phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin sau: Quy định về công bố thông
tin định kỳ; Qui định về công bố thông tin bất thường; Qui định về công bố thông tin theo yêu
cầu.
Đánh giá chất lượng công bố thông tin
(1) Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Việc công bố thông tin được qui định tại Thông tư số
52/2012/TT-BTC. Danh mục các mã chứng khoán được chọn vào mẫu nghiên cứu gồm CAD,
CZC, GHC, HIG, MTH, PJS, PTH, SSF, TMW, VQC.
5
(2) Đánh giá tính đầy đủ của thông tin. Các công ty chỉ công bố được gần 76% mục nội dung theo
quy định, các nội dung được công bố cũng trình bày sơ sài.
(3) Đánh giá tính chính xác. Các báo cáo tài chính đều có bản nhận xét tóm tắt của công ty kiểm
toán độc lập nhưng không có báo cáo kiểm toán nội bộ.
(4) Đánh giá tính kịp thời. Số điểm đánh giá tính kịp thời chỉ 70%.
Đánh giá thực trạng phát triển thị trường OTC ở Việt Nam
Kết quả
(1) Sự phát triển về số lượng và chất lượng của các nhà đầu tư.
(2) Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư lớn và phát triển nhanh.
(3) Đã xác định rõ cơ quan quản lý đối với thị trường OTC.
(4) Số lượng các tổ chức tài chính trung gian phát triển nhanh.
Hạn chế
(1) Thị trường không sôi động, khối lượng giao dịch thấp và tính thanh khoản thấp.
(2) Hàng hóa trên thị trường UPCoM còn quá đơn điệu với số lượng ít và thiếu chứng khoán của
các DN trong lĩnh vực tài chính.
(3) Chưa có các nhà tạo lập thị trường theo đúng nghĩa.
(4) Hoạt động công bố thông tin của các tổ chức phát hành chưa đạt hiệu quả cao.
(5) Vai trò của hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán còn rất mờ nhạt.
Nguyên nhân của những hạn chế
(1) Các doanh nghiệp trong trạng thái chờ nhau. Các ngân hàng và các DN lớn hướng đến các sàn
niêm yết. Những DN có quy mô nhỏ hơn ngại lên sàn UPCoM vì phải thực hiện nghĩa vụ công bố
thông tin.
(2) Việt Nam chưa có các chính sách phù hợp để thúc đẩy thị trường trái phiếu công ty phát triển.
Do chưa có các tổ chức định mức tín nhiệm đánh giá nên trái phiếu DN không đủ sức hấp dẫn đối
với các nhà đầu tư.
(3) Các CTCK chưa được xem là trung tâm của thị trường OTC. Lệnh tự doanh của CTCK vẫn
phải ưu tiên sau so với khách hàng.
(4) Các công ty chứng khoán không quan tâm đúng mức đối với thị trường UPCoM
(5) Hệ thống pháp luật về thị trường UPCoM còn lỏng lẻo, nhất là các quy định và xử phạt về
công bố thông tin. Các qui định về công bố thông tin còn mang nặng tính hình thức
(6) Các quy định về giao dịch không khác nhiều với sàn niêm yết. Với qui định giao dịch chứng
khoán được bù trừ đa phương T+3 và biên độ 10% làm hạn chế tính thanh khoản và sức hấp dẫn
của sàn UPCoM.
(7) Thị trường OTC Việt Nam chưa có được mô hình cụ thể. Dẫn đến lúng túng trong xử lý tình
huống và bế tắc trong giải quyết tính thanh khoản thị trường.
(8) Tình hình kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng đang trong giai đoạn
trầm lắng kéo dài từ năm 2008 đến nay. Dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, TTCK nói
chung và thị trường OTC nói riêng đều bị ảnh hưởng tiêu cực
2. Thị trường OTC của Mỹ
Thị trường OTC của Mỹ là mô hình thị trường OTC điển hình được phát triển từ thị trường phi
tập trung tự do mang tính truyền thống, giao dịch thông qua thương lượng giá trực tiếp “mặt đối mặt” và
chủ yếu qua điện thoại. Thị trường này có sự quản lý của Nhà nước từ sau Luật chứng khoán sửa đổi
6
(Luật Maloney 1938). Thị trường OTC qua mạng máy tính Nasdaq được thành lập từ năm 1971 là bộ
phận lớn nhất của thị trường thứ cấp Mỹ xét về số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường với trên
15000 chứng khoán, lớn hơn rất nhiều so với số lượng chứng khoán giao dịch trên thị trường tập trung
NYSE. Chứng khoán giao dịch trên thị trường này chiếm đa số là của các công ty thuộc ngành công nghệ
thông tin và các công ty vừa và nhỏ.
Thị trường được vận hành bởi một hệ thống các nhà tạo lập thị trường và các nhà môi giới, có
khoảng 600 nhà tạo lập thị trường hoạt động tích cực trên Nasdaq và trung bình mỗi nhà tạo lập thị
trường đảm nhận 8 loại cổ phiếu. Thị trường Nasdaq chịu sự quản lý hai cấp: Uỷ ban chứng khoán Mỹ
(SEC) và Hiệp hội các nhà giao dịch chứng khoán quốc gia Mỹ (NASD) quản lý trực tiếp. Thị trường
Nasdaq hiện nay đã được nối mạng toàn cầu với nhiều thị trường OTC khác trên thế giới.
Năm 1982, Hiệp hội NASD thành lập thị trường “tinh lọc” của NASDAQ gọi là hệ thống thị
trường quốc gia (NNM ư Nasdaq National Market System). Đây là bộ phận thị trường của NASDAQ
được tổ chức cho các cổ phiếu được giao dịch sôi động nhất và có chất lượng cao hơn, chiếm tới hơn
60% tổng giá trị giao dịch trên thị trường NASDAQ.
Tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán trên thị trường Nasdaq
Chứng khoán được giao dịch trên thị trường Nasdaq rất đa dạng về chủng loại và chất lượng,
trong đó chủ yếu là chứng khoán của các công ty mới thành lập, công ty vừa và nhỏ, công ty tăng trưởng
cao và các công ty công nghệ cao cho đến các công ty lớn có chất lượng cao nhưIntel, Microsoft và các
trái phiếu… Các loại chứng khoán này cũng được phân thành nhiều bảng giao dịch theo chất lượng
chứng khoán, thị trường Nasdaq quốc gia (NNM) dành cho chứng khoán chất lượng cao hơn chứng
khoán giao dịch tại thị trường Nasdaq thông thường.
Tiêu chuẩn chứng khoán được niêm yết trên Nasdaq được quy định bởi Uỷ ban chứng khoán và
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán và bao gồm nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ theo từng thời kỳ,
nhưng tựu chung lại các chứng khoán niêm yết là các chứng khoán đã đăng ký theo Luật giao dịch
chứng khoán 1934 hay Luật công ty đầu tư 1940 và đáp ứng được các tiêu chuẩn về tổng giá trị tài sản
công ty; vốn và lợi nhuận; giá trị vốn lưu hành của các chứng khoán nợ có thể chuyển đổi; số cổ phiếu do
công chúng nắm giữ; số lượng cổ đông; số lượng các nhà tạo lập thị trường cho loại chứng khoán này
(tối thiểu phải có 2 nhà tạo lập thị trường). Đối với thị trường NNM, tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán
cao hơn so với thị trường Nasdaq thông thường ở các tiêu chí về lợi nhuận ròng/năm, giá cổ phiếu, giá
trị thị trường của cổ phiếu lưu hành, số nhà tạo thị trường cho chứng khoán (4 người).
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán quốc gia (NASD) Hiệp hội được thành lập năm 1939,
là tổ chức tự quản có chức năng điều hành hoạt động của thị trường OTC. NASD hoạt động dưới sự kiểm
tra, giám sát của SEC và có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
o
o
o
o
o
o
o
7
Tiêu chuẩn hoá các giao dịch chứng khoán
Thông qua và ban hành các quy tắc hành nghề.
Thực hiện chế độ tự quản giữa các thành viên.
Thiết lập các quy tắc, quy phạm pháp lý điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên và để
bảo vệ nhà đầu tư.
Cố vấn cho cơ quan nhà nước trong việc quản lý hoạt động của thị trường OTC.
Ban hành các thể lệ, nguyên tắc trong việc yết giá, đàm phán và thương lượng giá qua hệ thống
Nasdaq.
Điều tra, hoà giải và giải quyết tranh chấp trên thị trường OTC.
Nhà tạo lập thị trường thuộc hệ thống Nasdaq
Về cơ bản, trên thị trường Nasdaq có hai hình thức nhà tạo lập thị trường là nhà tạo lập thị
trường bán buôn và bán lẻ. Nhà tạo lập thị trường bán buôn là những người chỉ giao dịch với các nhà môi
giới khác và thường được gọi là môi giới của môi giới. Lợi nhuận của họ thu được từ khả năng giao dịch
tức là khả năng mua giá thấp và bán giá cao. Nhà tạo lập thị trường bán lẻ khá phổ biến dưới dạng các
công ty chứng khoán đảm nhận làm môi giới giao dịch, họ tạo ra thị trường cho cổ phiếu đồng thời tiến
hành một số hình thức dịch vụ tài chính và đầu tưngân hàng khác.
Để là một nhà tạo lập thị trường thuộc hệ thống Nasdaq người đó phải được NASD chấp thuận.
Trong quá trình hoạt động, họ phải thường xuyên yết các giá chào bán và đặt mua phù hợp với thị
trường. Đồng thời, họ phải luôn duy trì mức giá trị vốn thuần tối thiểu đối với từng loại chứng khoán
được làm giá, luôn sẵn sàng mua hoặc bán ít nhất một đơn vị giao dịch là một lô chẵn 100 cổ phiếu ở
mức giá yết đã nêu. Sau 90 giây kể từ lúc thực hiện giao dịch, nhà tạo lập thị trường phải báo cáo và cuối
ngày phải báo cáo khối lượng giao dịch trong ngày cho NASD thông qua hệ thống giao dịch do máy tính
hỗ trợ (CAES).
Hình thức tổ chức thông tin
Tại thị trường OTC của Mỹ có hai hình thức tổ chức thông tin chính là thông qua hệ thống “màn
hình” và qua “ấn phẩm”. Thông qua hệ thống màn hình Nasdaq Với đặc điểm đã được điện toán hoá và
nối mạng với các thành viên, hệ thống đảm nhận vai trò cung cấp giá chứng khoán cho các nhà tạo lập thị
trường, các nhà môi giới và nhà đầu tưđể tiến hành thương lượng, đàm phán trước khi ký hợp đồng giao
dịch chứng khoán. Giá được công bố trên hệ thống qua ba cấp độ:
Cấp 1: Hệ thống cung cấp cho những thành viên đã đăng ký những thông tin cập nhật về giá mua
cao nhất và giá bán thấp nhất trên thị trường, từ đó họ có thể tìm ra mức giá phù hợp nhất để giao
dịch.
Cấp 2: Thông qua các thiết bị máy tính nối với hệ thống được lắp đặt ở những nơi có hoạt động
giao dịch nhộn nhịp nhất, các nhà đầu tưcó thể biết được giá yết của các nhà tạo lập thị trường
một cách chính xác và cập nhật nhất.
Cấp 3: Hệ thống cung cấp cho các nhà tạo lập thị trường đã được NASD uỷ quyền giá yết của tất
cả các nhà tạo lập thị trường và cho phép họ điều chỉnh giá yết của mình.
3. Thị trường OTC Nhật Bản
Nhật Bản có hai thị trường OTC cùng hoạt động đồng thời, đó là thị trường Jasdaq và thị trường
J-net. Thị trường Jasdaqhoạt động từ năm 1991 trên cơ sở phát triển thị trường OTC truyền thống hoạt
động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý. Luật
chứng khoán sửa đổi năm 1983 đã đưa thị trường OTC này vào quỹ đạo quản lý của Nhà nước, cơ chế
thương lượng giá tay đôi giữa các công ty chứng khoán và giữa công ty chứng khoán với khách hàng
được đổi sang cơ chế đấu giá tập trung qua hệ thống các nhà tạo lập thị trường. Hệ thống các nhà tạo lập
thị trường được áp dụng để cạnh tranh với thị trường tập trung và tạo tính thanh khoản cho thị trường
OTC. Hiện nay, trên thị trường Jasdaq có 449 công ty làm vai trò tạo lập thị trường.
8
Chứng khoán giao dịch trên thị trường này là chứng khoán của các công ty vừa và nhỏ, công ty
có chất lượng hạng hai, công ty công nghệ cao. Tiêu chí niêm yết trên Jasdaq chủ yếu dựa vào các tiêu
chuẩn nhưthời gian thành lập công ty, tài sản ròng, lợi nhuận ròng, tổng giá trị thị trường của chứng
khoán, số lượng cổ đông, số lượng chứng khoán lưu hành, ý kiến kiểm toán và các tiêu chí khác. Tính
đến thời điểm cuối năm 1999 đã có 929 chứng khoán được giao dịch trên thị trường này, tăng hơn gấp 3
lần so với năm 1990 (300 chứng khoán). Chứng khoán không đủ điều kiện giao dịch trên Sở giao dịch
và thị trường khu vực II cũng được sự hỗ trợ để giao dịch qua mạng Jasdaq tương tự nhưđối với thị
trường Nasdaq Mỹ.
Hệ thống giao dịch và thông tin tự động qua mạng Jasdaq theo mô hình Nasdaq Mỹ được chính
thức đưa vào hoạt động từ năm 1991 để thúc đẩy thị trường OTC phát triển, bao gồm 2 mạng bộ phận
đảm nhận 2 chức năng riêng: mạng giao dịch và mạng thông tin. Mạng giao dịch được sử dụng để khớp
các lệnh giao dịch tự động và mạng thông tin được dùng cho các nhà tạo lập thị trường báo giá tập trung,
thông báo về các giao dịch đã thoả thuận và truyền phát các thông tin khác .
Thị trường J-net mới được đưa vào hoạt động từ tháng 5 năm 2000, chịu sự quản lý trực tiếp của
Sở giao dịch chứng khoán Osaka (OSE), được tổ chức dành cho các chứng khoán không được niêm yết
trên Sở giao dịch nhằm đáp ứng yêu cầu tiết kiệm thời gian và chi phí cho các đối tượng tham gia thị
trường, hoạt động theo phương thức thương lượng giá. Thành viên của OSE, người đầu tưvà trung tâm
quản lý được trực tiếp nối mạng với nhau thông qua một mạng điện tử đa tầng, tạo điều kiện cho các đối
tượng này có thể chia sẻ thông tin thị trường.
Đặc trưng của J-Net là cung cấp các dịch vụ với giá rẻ, tốc độ nhanh, tiện lợi và có thể truy cập
trực tiếp thông tin thị trường, J-Net cũng là mạng được nối với các mạng khác trong n-ớc và quốc tế.
Hiện nay OSE và JSDA đang xúc tiến việc hợp nhất thị trường Jasdaq và J-net này để thúc đẩy hoạt
động giao dịch các chứng khoán OTC hơn nữa. Mô hình thị trường J-net là mô hình giao dịch được đánh
giá có tiềm năng phát triển.
4. Thị trường OTC Hàn Quốc (Kosdaq)
Thị trường OTC truyền thống của Hàn Quốc được thành lập tháng 04/1987 nhằm tạo môi trường
hoạt động cho các chứng khoán không được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hàn Quốc (KSE),
thị trường chịu sự kiểm soát của Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán (KSDA) thành lập năm
1953.
Tháng 04/1997, Chính phủ Hàn Quốc quyết định tổ chức lại và thúc đẩy phát triển thị trường này
bằng việc thành lập thị trường mạng máy tính điện tử Kosdaq nhằm tạo điều kiện cho các công ty mạo
hiểm, công ty công nghệ cao, quỹ tương hỗ và các công ty vừa và nhỏ không đủ tiêu chuẩn niêm yết trên
thị trường tập trung có thể huy động vốn trực tiếp. Thị trường được xây dựng theo mô hình thị trường
Nasdaq, tiến hành giao dịch qua mạng điện tử có sự kiểm soát của trung tâm. Các tổ chức niêm yết trên
thị trường Kosdaq phải đáp ứng một số tiêu chí cơ bản như mức vốn điều lệ tối thiểu, tỷ lệ phát hành ra
công chúng… Tuy nhiên, việc đấu giá được thực hiện theo phương thức đấu lệnh tập trung tương tự
nhưsở giao dịch.
9
Thị trường Kosdaq là một trong những thị trường được quản lý khá hiệu quả. Hiện nay, thị
trường Kosdaq đang rất phát triển và có khả năng cạnh tranh lớn với thị trường của những chứng khoán
có chất lượng cao KSE. Tốc độ tăng thị phần hàng năm của thị trường này lớn hơn nhiều so với thị
trường tập trung và chiếm khoảng 98% tổng giao dịch trái phiếu của TTCK. Tính đến tháng 12/1999, giá
trị giao dịch bình quân của Kosdaq là khoảng 1/3 so với KSE.
Tháng 03/2000, thị trường thứ ba (OTC-BB) theo mô hình Nasdaq OTC-BB của Mỹ chính thức
đi vào hoạt động nhằm tạo điều kiện huy động vốn cho các trái phiếu và các cổ phiếu chưa đủ tiêu chuẩn
niêm yết trên KSE và trên Kosdaq. Thị trường này sử dụng mạng điện tử Kosdaq để giao dịch tương tự
nhưthị trường OTC-BB Mỹ. Phương thức xác lập giá trên thị trường này là phương thức thông lệnh tự
động (crossed matching) trên cơ sở tự động tiến hàng khớp hai lệnh có giá và khối lượng nhưnhau. Đây
là phương pháp thương lượng giá tự động đang được áp dụng tại một bộ phận của thị trường Nasdaq
Mỹ.
C – Các Nguồn Tham Khảo
1.
2.
3.
4.
5.
6.
10
Báo Đầu tư chứng khoán (tại website tinnhanhchungkhoan.vn).
Wekipedia tiếng Việt.
Báo điện tử CafeF – VCCorp.
Website quantri.vn.
Website Dân Kinh tế (dankinhte.vn).
Mạng xã hội về Chứng khoán Tài chính Vietstock.vn.