Tải bản đầy đủ (.docx) (12 trang)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (177.23 KB, 12 trang )

ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN – ĐHQG TPHCM
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ
VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ HIỆN NAY
Giảng viên hướng dẫn: Đoàn Thị Minh Phượng

Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 7
1. Nguyễn Thanh Hưởng – 1412220
2. Trần Lê Anh Khoa – 1412252
3. Bùi Chí Kiên – 1412265
4. Võ Anh Kỳ - 1412275
5. Huỳnh Bảo Lâm - 1412276
6. Trần Đình Lâm – 1412279
7. Trần Hoàng Lâm - 1412280
8. Nguyễn Thiên Long – 1412294
9. Đặng Nhật Minh - 1412316
10. Nguyễn Ngọc Phương Nam – 1412335

Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 4 năm 2017


Mục lục

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


I.



Cơ sở hình thành

1. Khái niệm "Đoàn kết quốc tế" của HCM
-

Khái niệm “đoàn kết”: là sự thấu hiểu và sẵn sàng thấu hiểu lẫn nhau, cùng phấn đấu

-

vì một mục tiêu, lợi ích chung.
Khái niệm “đoàn kết quốc tế”: tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình,
ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

2. Truyền thống tốt đẹp của dân tộc VN
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã đắp bồi nên
nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, tạo nên cốt cách của con người Việt Nam, một
trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết.
Chủ nghĩa yêu nước
Giá trị hàng đầu của văn hóa Việt Nam là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, cố kết
cộng đồng. Tình cảm tự nhiên của con người Việt Nam là: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương.
Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Triết lý nhân sinh của dân tộc: “Một cây làm
chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Tư duy chính trị được phản ánh: “Nước
mất thì nhà tan. Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh”.
Văn hóa Việt Nam lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa thắng hung tàn, đem chí nhân
thay cường bạo. Đó là nền văn hóa trọng đạo lý làm người, đề cao trách nhiệm cá nhân với
cộng đồng mà hàng đầu là bổn phận đối với Tổ quốc.
Tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của dân tộc
Văn hóa Việt Nam “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc", hướng về dân, lấy
dân làm gốc, “Chở thuyền là dân, lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”. Lịch

sử Việt Nam đã từng chứng kiến “Hội nghị Diên Hồng”, những kiểu “tập hợp bốn phương
manh lệ”, “Phụ tử trên dưới một lòng, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”.
Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh và
yêu cầu đấu tranh chống thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm. Người Việt Nam quen gắn bó
với nhau trong tình làng nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã
hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống này vẫn bền vững. Vì vậy Hồ Chí
Minh đã chú ý kế thừa và phát huy sức mạnh truyền thống đoàn kết của dân tộc để hình
thành tư tưởng đoàn kết quốc tế, phấn đấu vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển.

Trang 3


Hồ Chí Minh đã kế thừa sức mạnh đoàn kết dân tộc để hình thành tư tưởng đoàn kết
quốc tế.
Truyền thống ngoại giao
Ngoại giao là nhân tố quan trọng hình thanh tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí
Minh. Ngoại giao truyền thống Việt Nam xem trọng việc giữ hòa khí, đoàn kết hữu nghị với
các nước, phấn đầu cho sự hình thành đoàn kết hữu nghị với các nước, yêu chuộng hòa bình
là bản chất của ngoại giao Việt Nam. Trong khi lập trường vẫn giữ vững nguyên tắc độc lập,
chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược của các thế lực ngoại bang. Nhà sử học
Phan Huy Chú đã đúc kết lịch sử ngoại bang của đất nước chúng ta “Trong việc trị nước, hòa
hiếu với láng giềng là việc lớn”.

3. Chủ nghĩa Mác - Lênin và Quốc tế cộng sản
Quan điểm của chủ nghĩa Maclenin cho rằng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
nhân dân, là người sáng tạo ra lịch sử, đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế.
Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa MacLenin vì chủ nghĩa Mac Lenin đã chỉ ra cho các
dân tộc bị áp bức con đường từ giải phóng và chỉ ra sự cần thiết phải tập hợp đoàn kết.
Đây là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để hcm có cơ sở khoa học trong sự
đánh giá chính xác các yếu tố tích cực và những hạn chế trong truyền thống văn hóa dân tộc.

trong tư tưởng Tập hợp lực lượng cách mạng của các vị tiền bối và nhiều nhà cách mạng lớn
trên thế giới.
Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào yêu nước,
phong trào Cách mạng Việt Nam và thế giới.
Vào tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương
về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên báo L'Humanité (tờ này là cơ quan phát
ngôn của Đảng Cộng sản Pháp), từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội
lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours với tư cách là đại biểu Đông Dương, trở thành
một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp. Sau này, ông thừa nhận: "Lúc đầu,
chính là chủ nghĩa yêu nước chứ không phải chủ nghĩa cộng sản đã làm tôi tin theo Lênin, tin
theo Quốc tế III"
Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Phương
Đông của Quốc tế Cộng sản. Tại Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Cộng sản ông được cử làm ủy
viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Trang 4


Ngày 23-6-1924, phát biểu tại phiên họp thứ 8 Đại hội 5, Nguyễn Ái Quốc nói: "Tôi
đến đây không ngừng lưu ý Quốc tế Cộng sản đến một sự thật là: thuộc địa vẫn đang tồn tại,
và vạch ra để Quốc tế Cộng sản thấy rằng: cách mạng, ngoài vấn đề tương của các thuộc địa
còn có cả nguy cơ của các thuộc địa. Song, tôi thấy rằng hình như các đồng chí chưa hoàn
toàn thấm nhuần tư tưởng rằng vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh
của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị
áp bức ở các thuộc địa. Vì vậy, tôi sẽ tận dụng mọi cơ hội có được, gợi ra những vấn đề và
nếu cần, tôi sẽ thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa".
Trong thời gian ở Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tranh thủ viết bài cho các báo Nhân đạo
(L’Humanité), Đời sống công nhân (La Vie Ouvrière), Sự thật (Pravda), Người cùng khổ (Le
Paria), Thư tín quốc tế (Inprékor), Tạp chí Cộng sản vv.v.. Các bài báo tập trung nói về các
vấn đề liên quan đến giai cấp công nhân, đến cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các
thuộc địa, mối quan hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng thuộc địa.

Chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc tế cộng sản là nhân tố quan trọng có ý nghĩa định hình
rõ rệt tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh. Trải qua gần 10 năm tìm đường cứu nước,
Nguyễn Ái Quốc đã từ chủ nghĩa yêu nước chân chính đến chủ nghĩa Mác – Lênin và Quốc
tế Cộng sản, từ một nhà yêu nước trở thành một chiến sĩ quốc tế chân chính.

II.

Vai trò của đoàn kết quốc tế

1. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức
mạnh tổng hợp cho cách mạng Việt Nam
Một trong những nội dung chủ yếu của tư tường Hồ Chí Minh là thực hiện đoàn kết
quốc tế để tập hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế,
kết hợp với sức mạnh dân tộc để tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng kẻ thù chung. Các
phong trào bên ngoài chính là các phong trào đấu tranh GPDT ở chính quốc và các nước
thuộc địa, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế
giới.
Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn là các phong trào Giải phóng dân tộc trong
nước: Cuối thế kỉ 19 phong trào GHDT không thành công do nhiều nguyên nhân, một trong
số đó là do các phong trào chưa hướng ra được bên ngoài, chưa có sự liên lạc với các trào lưu
Trang 5


cách mạng thời đại. Đến đầu thế kỷ 20 các phong trào bị thất bại là do đã biết hướng ra bên
ngoài, nhưng còn mang tư tưởng cầu viện, chưa có sự kết hợp đúng đắn giữa sức mạnh dân
tộc và sức mạnh thời đại.
Tóm lại, nếu đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của
cách mạng Việt Nam, thì đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố thường xuyên và hết sức quan
trọng giúp cho cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn trong sự nghiệp giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội


2. Góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các
mục tiêu cách mạng của thời đại
Theo Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với chủ nghĩa
quốc tế vô sản. Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, thực hiện đoàn kết
quốc tế không phải chỉ vì thắng lợi của cách mạng mỗi nước, mà còn vì sự nghiệp chung của
nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động
quốc tế. Người cho rằng đoàn kết quốc tế theo tình thần quốc tế vô sản sẽ tạo được những làn
sóng sức mạnh mới, giúp bổ sung thêm nguồn lực mới cho cách mạng trong nước, làm cho
sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội, chiến thắng được những kẻ thù có sức mạnh to lớn
hơn ta về nhiều mặt.
Người chỉ rõ: “Tinh thần yêu nước chân chính khác hẳn với tinh thần ‘Vị quốc’
của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của tinh thần quốc tế”. Sau này trong tác
phẩm “Thường thức chính trị” (1954), Người nói rõ hơn: “Tinh thần yêu nước là kiên
quyết giữ gìn quyền độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình. Tinh thần quốc
tế là đoàn kết cới các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới,
chống chính sách xâm lược và chính sách chiến tranh của đế quốc…giữ gìn hòa bình
thế giới tức là giữ gìn lợi ích của nước ta… đó là lập trường quốc tế cách mạng”
Kết luận: trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện đoàn kết quốc tế, kết hợp chặt chẽ
chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới
thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của dân tộc và thời đại.

Trang 6


III.

Nội dung và hình thức của đoàn kết quốc tế

1. Các lực lượng cần đoàn kết

-

Phong trào cộng sản, phong trào công nhân thế giới là lực lượng nòng cốt của đoàn
kết quốc tế.
+ Tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã tìm thấy phương hướng cho cuộc

đấu tranh giải phóng dân tộc, đồng thời Người cũng tìm thấy một lực lượng ủng hộ mạnh mẽ
công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, đảm bảo cho sự nghiệp cách
mạng của nước nhà đi đến thắng lợi vẻ vang. Đó là phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế; là Liên Xô và sau này là các nước XHCN; là Quốc tế III và sau này là Cục thông tin quốc
tế.
+ Thực tế, Người nhận thấy, chủ nghĩa đế quốc là một lực lượng phản động quốc tế, là
kẻ thù chung của nhân dân lao động toàn thế giới. Vì vậy, chỉ có sự đoàn kết, nhất trí, đồng
tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động thế giới theo tinh thần “bốn phương vô sản đều là anh
em” mới có thể thắng được những âm mưu thâm độc của chủ nghĩa thực dân.
+ Chủ trương đoàn kết giai cấp vô sản các nước, đoàn kết giữa các đảng Cộng sản trong
tư tưởng Hồ Chí Minh còn xuất phát từ tính tất yếu về vai trò của giai cấp vô sản trong thời
đại ngày nay, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới.
+ Thắng lợi của hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc ta không tách rời sự đồng
tình, ủng hộ của Liên Xô và các nước XHCN, của các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế.
-

Đoàn kết với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa.
+ Ra đi tìm đường cứu nước từ một nước nô lệ nên trái tim Người cùng nhịp đập với nổi thống

khổ của các dân tộc khác cùng hoàn cảnh với dân tộc mình.
+ Từ sớm, Hồ Chí Minh đã phát hiện ra âm mưu chia rẽ dân tộc để dễ bề cai trị của các
nước đế quốc, tạo sự thù ghét, đối kháng dân tộc, chủng tộc,… nhằm làm suy yếu sức mạnh
của các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa.
Người đề nghị Quốc tế cộng sản phải làm sao cho các dân tộc hiểu biết lẫn nhau, xích

lại gần nhau (“làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết
nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khố liên
minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”) và bằng mọi cách phải làm

Trang 7


cho “đội tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phương Tây
để dọn đường cho một sự hợp tác thật sự sau này”.
-

Đoàn kết với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hoà bình, dân chủ, tự do
và công lý
+ Xuất phát từ mục tiêu chung của nhân loại tiến bộ là đấu tranh cho hoà bình, độc lập,

thống nhất và tiến bộ, Hồ Chí Minh quan tâm đến việc khơi dậy lương tri của loài người, tạo
nên tiếng nói ủng hộ mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sĩ trí thức và từng người
cụ thể trên hành tinh đối với cuộc cách mạng chính nghĩa của nhân dân ta.
+ Quan điểm ngoại giao này cũng thể hiện chủ nghĩa nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí
Minh. Người đã tìm thấy bạn ngay trong các nước đi xâm lược. Bởi vậy, mà Người chủ
trương chống thực dân, chống bọn xâm lược chứ không phải chống người Pháp, người Mỹ
nói chung.

4. Hình thức tổ chức
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết quốc tế đối với cách mạng dân tộc,
ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc thành lập các mặt trận. Đó là:
-

Chủ trương thành lập một liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung giữa 3 nước Đông
Dương.

Năm 1941, để khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định

thành lập mặt trận riêng biệt, Mặt trận độc lập đồng minh, cho từng nước Việt Nam, Lào,
Cao Miên, tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc
hình thành Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào, phối hợp, giúp đỡ nhau cùng chiến đấu, cùng
thắng lợi.
-

Thiết lập mặt trận trong phe dân chủ
+ Người chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác nhiều mặt theo tinh

thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em” với Trung Quốc, nước láng giềng có quan hệ lịch sử văn hoá lâu đời với Việt Nam.
+ Thực hiện đoàn kết với các dân tộc châu Á và châu Phi đang đấu tranh giành độc lập
Trang 8


Từ những năm 1920,cùng với việc sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa tại Pháp, Hồ Chí
Minh đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức tại Trung Quốc. Đây là hình
thức sơ khai của mặt trận thống nhất các dân tộc bị áp bức theo xu hướng vô sản, lần đầu tiên
xuất hiện trong lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Với sự kiện này, Người đã
góp phần đặt cơ sở cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam.
-

Thiết lập mặt trận đối với các lực lượng yêu chuộng hoà bình, công lý
Trong những năm đấu tranh, Hồ Chí Minh đã tiến hành những hoạt động ngoại giao

không mệt mỏi nhằm xây dựng các quan hệ với Mặt trận dân chủ và các lực lượng đồng
minh chống phát xít, đoàn kết với nhân dân tiến bộ ở các nước trên thế giới, kể cả ở Mỹ và
Pháp, hình thành Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.

Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết vì thắng lợi của cách mạng của Hồ Chí Minh đã đặt cơ
sở cho việc hình thành bốn tầng mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận đoàn kết
Việt - Miên - Lào, Mặt trận nhân dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam, Mặt trận nhân dân thế
giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự là sự phát triển rực rỡ và
thắng lợi to lớn của tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh.
Kết luận:
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành bốn tầng
mặt trận: Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt - Miên - Lào; Mặt trận nhân
dân Á - Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống
đế quốc xâm lược.

IV.

Nguyên tắc đoàn kết quốc tế

1. Cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích, có lý, có tình
HCM đã chỉ ra rằng đoàn kết giữa các Đảng “là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm
cho phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng”.
“Có lý” là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của CNML, xuất phát từ lợi ích
chung của cách mạng thế giới, vận dụng CNML sáng tạo, hiệu quả vào thực tế của mỗi nước,
mỗi đảng, tránh giáo điều.

Trang 9


“Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng của những người cùng chung lý tưởng, mục tiêu
đấu tranh. Khắc phục tư tưởng sôvanh, “nước lớn”, “đảng lớn”. Không áp đặt, nói xấu, công
kích, dùng các giải pháp về chính trị, kinh tế gây sức ép cho nhau.
“Có lý”, “có tình” thể hiện tính nguyên tắc và là một nội dung của CN nhân văn HCM CN nhân văn cộng sản. Nó giúp củng cố khối đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân và tình
đoàn kết trong nhân dân lao động.

-

Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ độc lập, tự do, và
quyền bình đẳng giữa các dân tộc.
Độc lập tự do cho mỗi dân tộc là tư tưởng nhất quán, được Hồ Chí Minh coi là
chân lý, là “lẽ phải không ai chối cãi được”.
Dân tộc Việt Nam tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền tự
quyết của tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới, đồng thời mong muốn các quốc gia,
dân tộc trên thế giới quan hệ hợp tác, hữu nghị với Việt Nam trên cơ sở các nguyên tắc
đó.
Trả lời nhà báo Mỹ S. Êli Mâysi (9 – 1947), Hồ Chí Minh tuyên bố: Chính sách
đối ngoại của nước Việt Nam là “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây

-

thù oán với một ai”.
Đối với các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ hòa
bình trong công lý.
Giương cao ngọn cờ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược là một trong những
nội dung rất quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh.
Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn giương cao ngon cờ hòa bình,
đấu tranh cho hòa bình, một nền hòa bình thực sự cho tất cả các dân tộc - “hòa bình
trong độc lập tự do”.
Giương cao ngọn cờ hòa bình và đấu tranh bảo vệ hòa bình là tư tưởng bất di
bất dịch của Hồ Chí Minh. Nhưng đó không phải là một nền hòa bình trừu tượng, mà
là “một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tương dân chủ”, chống
chiến tranh xâm lược vì quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia.

2. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực tự cường
Nội lực là nhân tố quyết định sự đoàn kết. Nguồn lực ngoại sinh chỉ phát huy tác dụng

thông qua nguồn lực nội sinh. HCM nêu cao khẩu hiệu: “Tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình
là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”, “đem sức ta

Trang 10


mà giải phóng cho ta”. Người nhấn mạnh: phải có thực lực, thực lực là cái chiêng, ngoại giao
là cái tiếng, chiêng có to tiếng mới lớn…
Muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảng phải có đường lối độc lập, tự chủ đúng
đắn. Thắng lợi của CMTT 1945 và kháng chiến chống thực dân Pháp của VN là thắng lợi của
đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng và chủ tịch HCM. Với đường lối độc lập tự chủ
trên cơ sở độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp hài hòa lợi ích dân tộc và quốc tế, nhận được sự
ủng hộ của Trung Quốc và Liên Xô đã đóng góp lớn vào thắng lợi trước đế quốc Mỹ.

V.

Ý nghĩa và vận dụng hiện nay

1. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế
-

Là sự phát triển sáng tạo của chiến lược đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác Lê-nin.
Là sự đóng góp lớn lao vào trong kho tàng của chủ nghĩa Mác Lê-nin.
Thực hiện hoá khẩu hiệu chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin “Vô sản tất cả các

-

nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”.
Góp phần mở ra kỷ nguyên độc lập, dân tộc và đảm bảo tính pháp lý quốc tế của dân


-

tộc Việt Nam.
Tư tưởng đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh đã bắc nhịp cầu đoàn kết hữu nghị giữa
các dân tộc trên thế giới.

2. Vận dụng trong giai đoạn hiện nay
-

Trong công cuộc đổi mới đất nước, đại đoàn kết phải được củng cố và phát triển nhằm
rửa được cái nhục đói nghèo và lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới;
khơi dậy tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, quyết tâm chấn hưng đất nước; phát huy tính
năng động của mỗi người dân, của cả cộng đồng, khắc phục những mặt trái của kinh

-

tế thị trường, giữ vững và phát huy nền văn hoá đậm đà bản sức dân tộc.
Xây dựng Đảng cầm quyền thật sự trong sạch, vững mạnh; xây dựng một chế độ dân
chủ, một Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; một hệ thống chính trị có hiệu quả

-

và hiệu lực thực tế.
Chủ động xác định rõ các bước hội nhập quốc tế, củng cố khối đoàn kết với mọi lực
lượng tiến bộ trên thế giới vì mục tiêu hoà bình, độc lập, dân chủ và phát triển.
Các thành tựu nổi bật trong quan hệ ngoại giao và đoàn kết quốc tế
o Thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 185 nước. Trong đó 3 quốc gia quan hệ
đối tác chiến lược toàn diện; 12 quốc gia có quan hệ đối tác chiến lược; 10
quốc gia có quan hệ đối tác toàn diện.
Trang 11



o
o
o
o

VI.

Quan hệ thương mại với 224 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Vị trí và vai trò của Việt Nam ngày càng uy tín trên trường quốc tế.
Ký 90 hiệp định thương mại song phương.
Trở thành Uỷ viên không thường trực của hội đồng bảo an LHQ.

Kết luận
Tư tưởng Đoàn kết quốc tế của Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm xác đáng,

phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cách mạng và cả trong quá trình hội nhập quốc tế, toàn cầu
hóa. Cần vận dụng sáng tạo tư tưởng ấy để phát huy hiệu quả quá trình hội nhập quốc tế.
Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ một vị trí vô cùng quan trọng.
Tư tưởng của Người là ngọn Hải đăng soi đường đưa Cách mạng Việt Nam vượt qua
bao khó khăn, ghềnh thác để đi đến thắng lợi.
Tư tưởng của Người tiếp tục là kim chỉ nam dẫn dắt cách mạng Việt Nam thắng lợi mới
trên con đường hội nhập và phát triển.
Đảng và nhà nước ta phải chủ động xác định rõ các bước hội nhập quốc tế trong xu
hướng toàn cầu hóa hiện nay, thực hiện chính sách mở cửa, giao lưu, hợp tác, đa phương hóa,
đa dạng hóa…

Trang 12




×