Thứ ba, 15/12/2015 | 07:00 GMT+7
|
Yêu nước thời bình
Tôi có hơn 25 năm sống ở Đức, làm đủ mọi nghề để kiếm sống trên xứ người. Sau khi nước
Đức thống nhất, tôi mua chiếc ôtô cũ để đi lại buôn bán. Một lần, để tiết kiệm, tôi thay dầu
trong vườn nhà, nơi mình đang ở, thay vì mang ôtô ra xưởng.
Vừa thay xong, chui khỏi gầm xe tôi thấy hàng xóm lù lù xuất hiện. Đó là người đàn ông đã già vẫn
thường hay cười với tôi qua hàng rào hoa. Nhìn vào khay dầu tôi đang bưng, ông nghiêm khắc nói:
“Nếu tôi báo cảnh sát. Cậu sẽ phải chịu phạt 500 mark. Tôi không báo vì chắc cậu không biết. Lần
sau không được thay dầu ở vườn mà phải vào gara hoặc ra cây xăng". Tôi cãi rằng tôi đã có khay
đựng dầu thừa. Nhưng ông tủm tỉm cười rồi bảo tôi cúi xuống, chỉ cho tôi cái vít đáy dầu: “Cậu nhìn
kìa, dầu là loại vật chất dính dớt. Cậu cẩn thận đến đâu thì vẫn có vài giọt chảy ra cái vít kia và rớt
xuống vườn. Ai cũng như cậu thì mảnh đất của chúng ta sẽ nhiễm độc. Con cháu chúng ta sẽ chịu
hậu quả khi sống ở đây”. Tôi vội vàng xin lỗi và cảm ơn ông.
Sau này, mỗi lần chúng tôi ngồi bên nhau ở chiếc băng gỗ, thưởng thức bia dưới những gốc anh
đào trĩu trịt chùm quả đỏ ối, tôi đều nhớ về lời nói của ông, về tình yêu ông dành cho mảnh vườn đã
gắn bó gần 90 năm.
Cũng sau những ngày nước Đức thống nhất, nhà máy nơi tôi làm việc giãn thợ để chuẩn bị bán
toàn bộ cho Ấn Độ. Quá trình bàn giao kéo dài nhưng suốt nửa năm trời, ở đây không xẩy ra một vụ
trộm cắp hay thâm hụt tài sản nào. Tôi ngạc nhiên lắm bởi nhà máy rất rộng, ba phía rừng và ruộng
lúa mì bao bọc nên nếu ai có ý đồ xấu thì việc nhặt nhạnh một ít linh kiện vi điện tử không phải là
chuyện khó khăn gì. Làm sao người ta quản lý nổi. Đem chuyện hỏi anh bạn thân Lotar, trưởng
phòng bảo vệ, cậu nói: “Nhà máy có gần 10 nghìn m rào, 25 bảo vệ dưới quyền, có ba đầu sáu tay
cũng không sao bao quát hết. Đông Đức đã tan rã, suốt cả năm nay công nhân và cán bộ đều hiểu,
nhà máy là tài sản của nước Đức, của dân tộc Đức chứ không riêng của chính thể nào”.
Câu chuyện của một người Đức đã sắp từ biệt thế giới và tâm sự của cậu bảo vệ Lotar làm tôi suy
nghĩ rất nhiều. Tôi bỗng hiểu ra, rằng đất nước họ trở nên tươi đẹp như vậy, có lẽ nhờ từng con
người biết yêu thương và biết cẩn trọng gìn giữ thứ mình yêu thương như thế. Họ giàu mạnh như
vậy là nhờ những cá nhân không bao giờ lợi dụng chức vụ hay tình hình rối ren của đất nước để
làm những việc tổn hại tới lợi ích của cộng đồng.
Ở Việt Nam, trong những ngày Đại hội thi đua yêu nước vừa qua, tôi cũng đã được nghe kể về
những câu chuyện như thế.
Ông nông dân Nguyễn Tấn Bện chế tạo ra cái
máy cuốn rơm để giải phóng bớt sức lao động cho bà con; cậu
tiến sĩ trẻ Nguyễn Bá Hải sáng chế ra chiếc kính dẫn đường cho
người mù... Họ đều làm nhiều nói ít. Còn khi phải nói, ông nông dân nói thế này: “Mình chỉ
biết làm tốt công việc của mình thôi chứ không biết nói”, còn cậu tiến sĩ: “Chúng ta hãy ít than thở đi
và cống hiến nhiều hơn”.
Tôi tình nguyện đi bộ đội từ năm 16 tuổi, trải qua 11 năm giáp mặt với đạn bom và sống phần còn lại
của cuộc đời với những cơn ác mộng ám ảnh thường xuyên. Tôi từng nghĩ không còn sự cống hiến
nào cho đất nước cho dân tộc lớn hơn điều đó.
Nhưng lòng yêu nước, sự cống hiến trong thời bình không đòi hỏi mỗi cá nhân phải đem tính mạng
mình thử thách trước bom đạn của kẻ thù, bởi đất nước không còn chiến tranh nữa. Dẫu vậy, đây
vẫn là một sự thử thách khắc nghiệt chống lại lòng ích kỉ, lòng tham của từng cá nhân trước tài sản
của quốc gia hay quyền lợi của cả cộng đồng.
Yêu một thứ gì đó là trân trọng, giữ gìn hoặc chí ít là không làm tổn hại đến nó. Tôi nghĩ, tình yêu
đất nước cũng dễ hiểu như thế thôi.
Nguyễn Văn Th
Đừng để 'yêu nước' ngủ quên trong ích
kỷ
10/05/2011 06:00 GMT+7
- Quả
thật đã qua rồi cái thời mang lý tưởng cao đẹp, ôm mộng đất nước ta "biển
bạc rừng xanh". Sinh ra sau thời chiến, nhưng tôi biết bằng niềm tự hào và lý tưởng đã
giúp cho dân tộc ta đi trong chiều dài lịch sử, từ thời đại vua Hùng đến hết hai cuộc
chiến tranh vệ quốc.
Diễu hành tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Ảnh:
Phạm Hải
Suốt chiều dài đất nước, Tây Bắc xưa là nơi âm u đại ngàn, đất của thần rừng thần núi,
ẩn chứa những bí mật linh thiêng, là vành đai che chắn ngoại xâm phương Bắc. Nay
dạo bước từ Hà Giang về tới Thái Nguyên đâu đó chỉ còn phảng phất hồn xưa. Các
chàng trai thiếu ăn ít học trở thành "culi" cho người nơi khác đến, các cô gái nhiều
người về xuôi đi làm chỉ là bán thân, vinh danh vẻ đẹp núi rừng cũng chỉ là phù phiếm.
Rừng núi, đất đai, lâm sản thổ sản bị triệt để đem bán với chẳng chút tự hào. Chỉ cần đi
qua cửa khẩu sang bên kia biên giới là có thể so sánh cách hai quốc gia gìn giữ rừng
núi đất đai.
Học yêu nước... kiểu Đức
Nước Nga lại thấy cần 'tôi
thép'?
Người giàu Trung Quốc không
yêu nước?
Tiếp cận lòng yêu nước kiểu Mỹ
Về miền xuôi, nhiều miền quê đã chuyển mình công nghiệp hóa, nhiều thành phố cũ cơi
nới, nhiều thành phố mới mọc lên. Nhưng sự phát triển ấy có phải là đã có quá nhiều
báo đài nói đến không,
lãng phí đất đai, đầu cơ, tham nhũng, nạn ô
nhiễm môi trường trở thành tai họa lớn. Căn bệnh ung thư xa lạ xưa kia
giờ đã hằng ngày đe dọa mạng sống của cả làng, cả khu phố.
Nắng cháy, lũ lụt miền Trung, vẫn những người dân cay đắng tảo tần. Trường Sơn con
đường lịch sử, "rừng che bộ đội rừng vây quân thù", nay chắc chắn đã sạch bóng rừng
nguyên sinh do tay lâm tặc, để lại những nếp nhà tranh vách đất thưa thớt. Qua đèo
Hải Vân, một Đà Nẵng đang chuyển mình mạnh mẽ, nhưng con đường Nguyễn Tất
Thành đẹp đẽ cũng chỉ qua một trận sóng cồn là vỡ tan.
Một dải đất miền Trung lúc nào cũng oằn mình trước nắng gió, những người dân vẫn
lam lũ là vậy, hy vọng có được sự đầu tư khai thác tài nguyên, những mỏ Titan,
Chrome,… lại biến những người chủ đất trở mãi trở thành kẻ làm thuê và tự tàn phá
quê hương.
Tây Nguyên đất đỏ bazan, có cái nắng có cái gió nhưng tuyệt vời như tinh thần người
dân tộc. Cái hồn đất hồn người Tây Nguyên hồn nhiên, nhưng giờ cũng không thoát
khỏi những vạch xẻ nham nhở như một định mệnh chung.
Mảnh đất phía Nam vốn nổi tiếng là thiên đường, sản vật đãi người không hết. Những
trên bến dưới thuyền, những gạo trắng nước trong, những câu hò mái đẩy, những nét
tự do phóng khoáng của người Nam bộ, đâu đấy vẫn còn trên mảnh đất này. Nhưng
nay người ta thấy nổi tiếng hơn với những: "gái miền Tây", ô nhiễm sông Thị Vải, vựa
lúa không còn nước, sắp mất Mũi Cà Mau.
Có lẽ viết nhiều quá về mặt trái, quả thật sự vật hay sự việc nào cũng đều có mặt phải
và mặt trái, nhưng mặt phải đến với đất nước ta đang "tương quan" thế nào so với mặt
trái? Cuộc sống của mọi người có khấm khá hơn nhưng trong đó, không thấy sự bền
vững, không có sự tự hào của một dân tộc đã từng làm những việc quá đỗi tự hào. Đó
chính là điều băn khoăn của anh thanh niên đã phải từ bỏ lý tưởng của mình.
Tôi sẽ không viết về cảm giác khi đối diện với người nước ngoài vì thật sự mình còn
nhiều điều thua kém. Nhưng dưới tiêu đề của một bài viết mang tên Yêu Nước, tôi chỉ
đưa ra một ý kiến theo tôi là cốt lõi:
Yêu nước thật sự thì nên triệt để thành thực đối với mình, đủ yêu thương với đồng bào
và đủ khôn ngoan với bên ngoài. Có thành thật với chính bản thân thì chúng ta mới đủ
khả năng triệt để đổi mới nền giáo dục, vốn là gốc rễ của mọi vấn đề trong cuộc sống
và kinh tế, giúp chúng ta từ bỏ lối tư duy lấy thành tích mà không thực chất. Cho đủ yêu
thương và trách nhiệm để từ bỏ suy nghĩ thu vén trong nhiệm kỳ. Cho đủ khôn ngoan
mà học tập chứ không phụ thuộc ngoại bang. Tôi nhiều lần đọc những bài viết và bài
trả lời của ông Lý Quang Diệu, quả thật đó là một tầm nhìn lớn, một nhân cách lớn và
một bài học lớn.
Bất giác thấy một bài viết làm thế nào để yêu Tổ quốc, trong đầu tôi cũng băn khoăn
suy nghĩ, chúng ta yêu Tổ quốc như thế nào nhỉ?
Yêu nước thật sự thì nên triệt để
thành thực đối với mình, đủ yêu
thương với đồng bào và đủ khôn
ngoan với bên ngoài.
Trong suy nghĩ của tôi nhận thấy trong mỗi con người chúng ta mỗi người đều cảm
nhận tình yêu Tổ quốc theo một cách rất riêng và có thể theo từng giai đoạn nữa.
Cũng giống như tôi khi còn bé nói thật tôi chẳng hiểu tình yêu Tổ quốc là gì, nghe thầy
cô giáo nói " các em phải yêu Tổ quốc, yêu đồng bào..." thì cứ nghe vậy thôi chứ lúc đó
những trò chơi như bắn bi, trốn tìm có khi còn quan trọng hơn cái gì đó mập mờ trong
đầu óc bé thơ ấy.
Rồi thời gian cứ trôi dần đến khi tôi đi học xa nhà, bước chân vào thành phố phồn hoa,
nhộn nhịp và bon chen nhiều lúc ngồi một mình nhớ lại những kỷ niệm ngày xưa, gia
đình, nhà trường, những con đường... Bất giác, tôi chợt nhận ra tôi yêu quê hương của
tôi biết bao, nhiều khi nghe một người bán hàng rong mời mua hàng với giọng nói miền
Trung thân thuộc tôi lại muốn ứa nước mắt...
Đơn giản vậy thôi, chỉ một giọng nói, một dáng đi nhọc nhằn, một chiếc xe máy cùng
bảng số quê mình chạy xẹt qua cũng đủ làm tôi cảm thấy nao lòng. Vậy mới biết ,muốn
yêu một cái gì đó lớn lao, ta phải yêu từ những cái đơn giản nhất.
Cho đến bây giờ, khi đã đi làm tự bươn chải kiếm sống, mặc dù công việc nhiều áp lực,
đồng tiền lúc nào cũng vấn đề làm ta phải đau đầu suy nghĩ về nó, nhưng những điều
đó không làm tôi quên đi tình yêu nước của mình, bây giờ nó không bó hẹp vào một
miền quê thân thương, một tỉnh nhà mà dành cho cả một đất nước thật sự. Phẫn nộ,
căm tức khi nước ngoài nhăm nghe Hoàng Sa, Trường Sa, đau lòng, thất vọng về
Vinashin. Và mới đây là mong chờ Lào đừng xây dựng đập thủy điện trên sông
Mekong....
Có thành thật với chính bản thân
thì chúng ta mới đủ khả năng triệt
để đổi mới nền giáo dục, vốn là
gốc rễ của mọi vấn đề trong cuộc
sống và kinh tế, giúp chúng ta từ
bỏ lối tư duy lấy thành tích mà
không thực chất. Cho đủ yêu
thương và trách nhiệm để từ bỏ
suy nghĩ thu vén trong nhiệm kỳ.
Cho đủ khôn ngoan mà học tập
chứ không phụ thuộc ngoại bang.
Đại đa số chúng ta mải mưu sinh, mải kiếm tiền, mải lo cho những cuộc vui, những dục
vọng đời thường mà hờ hững với tình yêu nước, hờ hững với những gì xảy ra xung
quanh chúng ta, hờ hững với chính bản thân mình. Tôi còn nhận thấy sự hờ hững với
tình yêu nước mạnh mẽ hơn nữa khi về những vùng quê, mặc dù đang rất phát triển
chẳng thiếu thứ gì, nhưng khi đề cập đến những vấn đề lớn của đất nước, của dân tộc,
tất cả đều lắc đầu, chẳng biết gì cả, giống như, thôi kệ, mặc người ta không liên quan
gì đến mình, hay cao hơn là chuyện đó là "chuyện của những ông lớn, để mấy ổng giải
quyết, ở đây tui đủ ăn, đủ mặc là được rồi..."
Đất nước làm sao phát triển khi người dân chẳng quan tâm đến đất nước mà chỉ lo cho
chính bản thân mình? Đất nước làm sao vững mạnh khi tình yêu nước không được
đánh thức và quan tâm đúng mực?
Giá như từ khi bé, tất cả chúng ta đều được cha mẹ nói, và dạy nhiều về tình yêu
nước, giá như các thầy các cô chú tâm dạy dỗ những mầm non tương lai của đất nước
hiểu được thực sự tình yêu nước là gì, chứ không phải là ánh mắt vô hồn, dạy cho
xong, nói cho qua quýt, giá như mục tiêu của những sinh viên khi ra trường không chỉ
đơn thuần là "ráng kiếm thật nhiều tiền, như mong mỏi của ba mẹ".
Nếu tất cả chúng ta đều quan tâm và mong ước cống hiến cho đất nước mình, dân tộc
mình đúng mực thì có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ than thở về. tình trạng kẹt xe, tham
những, hố tử thần, đường ngập nước, hay chúng ta sẽ chẳng bao giờ phải ăn những
rau quả tẩm hóa chất, hay mực cao su....
Dân tộc Việt Nam bao đời nay có truyền thống yêu nước nồng nàn, tôi nghĩ ai ở trong
dòng máu Lạc Hồng này đều có một tình yêu nước nồng nàn và mãnh liệt, nhưng
dường như nó đang bị ngủ quên mà chẳng biết khi nào thức dậy được, muốn nó thức
dậy chúng ta phải yêu từ những cái đơn giản nhất, phải cần có sự đánh thức từ gia
đình của chúng ta, từ thầy cô những người dìu bước tương lai, từ bạn bè, đồng
nghiệp...
Bằng sự nhiệt huyết và và nghĩa vụ của mỗi công dân, hãy luôn nhắc nhở nhau rằng,
đừng quên tình yêu nước, đừng hờ hững với nó, đừng để nó ngủ quên trong sự ích kỷ
của mỗi con người.
CUỘC THI PHÓNG SỰ – KÝ SỰ “ẤN TƯỢNG ĐẤT NƯỚC – CON
NGƯỜI VIỆT NAM”
Xông pha thời chiến, cống hiến thời bình
Thứ sáu, 13/11/2015, 08:46 (GMT+7)
Có rất nhiều câu chuyện từ thời chiến tranh và bây giờ nghe kể lại như là huyền
thoại. Qua giới thiệu của chị Hồ Lâm Bạch Vân, Phó giám đốc Sở VH-TT-DL TP
Cần Thơ, tôi gặp được chú Tư Niên - Thiếu tướng Trần Văn Niên, nguyên Tư
lệnh phó Quân khu 9, tại nhà riêng ở phường Trà An, quận Bình Thủy, TP Cần
Thơ để nghe chú kể chuyện trong tiết trời chiều có gió mùa Đông Bắc se lạnh…
Chú Tư Niên bên hồ nuôi ba ba
Ra Bắc, về Nam
Chú Tư Niên có khuôn mặt hiền lành, nói năng vui vẻ. Hồi ấy, quê chú ở xã Hòa
Hưng, huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Gia đình chú lúc bấy giờ là cơ sở
nuôi chứa cán bộ. Được tiếp xúc với các bậc đàn anh, những người đi trước,
chàng thiếu niên Trần Văn Niên sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1950, Tư Niên
vào bộ đội lúc 16 tuổi và từ đó cuộc đời bắt đầu những tháng ngày hào hùng
nhưng cũng lắm gian lao… Anh được vinh dự đứng vào hàng ngũ của Đảng lúc
mới 17 tuổi, chỉ sau một năm công tác. Sau Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ
1954, chàng trai trẻ Tư Niên xuống tàu tập kết ra Bắc. Ra miền Bắc xây dựng
lực lượng 6 năm, trung úy Trần Văn Niên qua chiến trường Lào giúp bạn. Những
địa danh ác liệt như Cánh Đồng Chum, Xiêng Khoảng, Sa La Phu Keng đã từng
ghi dấu chân người chiến sĩ miền Nam.
Năm 1963, Trần Văn Niên nhận lệnh trở vào Nam chiến đấu. Ông là một trong 7
sĩ quan pháo binh được đào tạo kỹ thuật ở miền Bắc, có mặt trên chuyến “tàu
không số” chở 100 tấn vũ khí trên hải trình vào Nam ngày 5-6-1963. Tàu xuất
phát từ cảng Hải Phòng, đi vòng lên đảo Hải Nam (Trung Quốc), ra hải phận
quốc tế rồi sau đó xuôi theo hướng Nam. Chuyến tàu ấy là một kỷ niệm khó
quên!
Lúc tàu vượt vĩ tuyến 17 chừng 200 hải lý trên vùng biển ngoài khơi Khu 5 (Bình
Định, Phú Yên), đột nhiên tàu hết dầu. Thuyền trưởng huy động toàn bộ mền,
võng, tăng, bạt để làm cánh buồm thô sơ. Tàu căng buồm theo gió mùa Tây
Nam quay về phía Bắc! Thật gian nan và vô cùng nguy hiểm với con tàu chở
hơn 100 tấn vũ khí, đạn dược. Lênh đênh 2 ngày đêm trên biển, qua khỏi vĩ
tuyến 17 về phía Bắc khá xa, kiểm tra lại thì phát hiện tàu bị bể ống dẫn dầu.
Dầu tràn ra lắng dưới khoang trên 10 tấn nên các thuyền viên thay nhau múc
dầu đổ lại vào kết và vá ống dẫn bị vỡ. Tàu lại nổ máy quay ngược vào Nam và
cập bến Rạch Ráng (Cà Mau). Thượng úy Trần Văn Niên sau đó được phân
công phụ trách huấn luyện pháo binh ở Quân khu 9.
Ký ức chiến tranh
Vào đợt đầu cuộc tổng tiến công Mậu Thân 1968, Tiểu đoàn pháo binh 2311 do
Tiểu đoàn Trưởng Trần Văn Niên chỉ huy, đã cùng các lực lượng vũ trang Quân
khu 9, Tiểu đoàn Tây Đô xâm nhập và chiến đấu ác liệt với quân địch suốt 60
ngày đêm ở vùng ven thành phố Cần Thơ. Sau đó, đơn vị rút về vùng Long Mỹ,
Vị Thanh tiếp tục hoạt động.
Vùng đất ven thành phố giáp với Lộ Vòng Cung không một ngày yên tĩnh bởi
những đợt máy bay B.52 rải thảm, pháo lớn bừa tan nát và những cuộc hành
quân càn quét liên tục của đủ sắc lính, mọi phương tiện chiến tranh của địch.
Nhưng âm mưu đen tối, những thủ đoạn thâm độc của địch đều bị thất bại và
phá sản hoàn toàn. Vùng ven thành phố Cần Thơ với bộ đội chủ lực, bộ đội địa
phương, dân quân du kích, có cả những chàng trai, thiếu nữ của lực lượng
thanh niên xung phong Tây Nam bộ, của ĐBSCL anh hùng đã xông lên giữa
chiến trường ngày đêm sục sôi bom đạn. Trận chiến Lộ Vòng Cung và khu vực
ven thành phố Cần Thơ (quận Bình Thủy ngày nay) là bản anh hùng ca, khúc sử
thi hùng tráng của quân dân thành phố Cần Thơ và khu Tây Nam bộ.
Chú Tư Niên kể lại vài kỷ niệm chiến tranh, trong đó có lần áp sát chi khu Long
Mỹ, chú bị trúng đạn xuyên qua má làm gãy 18 cái răng. Còn trận chiến ở Lộ
Vòng Cung, chú trúng đạn ở ngực nhưng rất may chỉ chạm nhẹ phổi và phần
mềm nhưng phải mất 6 tháng mới bình phục...
Vị tướng giữa đời thường
Nhận xét về chú Tư Niên, chị Hồ
Lâm Bạch Vân, Phó giám đốc Sở
VH-TT-DL TP Cần Thơ, cho biết: “Có
thể nói, chú Trần Văn Niên là một
trong những hình mẫu của anh “Bộ
đội Cụ Hồ” - trung với nước, hiếu với
dân… Về với đời thường, chú là công
dân tiên tiến, gương mẫu, hết lòng
với cộng đồng, làng xóm…”.
Năm 1999, sau khi về nghỉ hưu, chú Tư
Niên bắt đầu nghiên cứu kinh tế, phát
triển sản xuất và xây dựng thành công
mô hình nuôi ba ba bán công nghiệp
với quy trình khép kín. Cơ sở của chú
trở thành địa chỉ có uy tín về con giống.
Chú đã in 6.000 cuốn sách hướng dẫn
kỹ thuật nuôi ba ba và phổ biến (cho
không) nhiều nơi, đến tận cả nước bạn
Lào. Trong các mối quan hệ, với uy tín
của mình, chú Tư Niên đã góp phần
vận động các doanh nghiệp làm từ thiện, công tác xã hội. Cụ thể, đã giúp trực
tiếp tỉnh Kiên Giang 10 tỷ đồng, Hậu Giang 700 triệu đồng, Cần Thơ 200 triệu
đồng và một số nơi khác. Hồi tháng 8-2009, trong dịp gặp Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng, ông Hai Cầu (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang) có tranh thủ
đề nghị Thủ Tướng giúp tỉnh 100 căn nhà tình nghĩa. Chú Tư Niên nghe được đề
nghị liền xung phong giúp 21 căn nhà cho các cựu chiến binh của Đoàn 6 gốc
Kiên Giang đang gặp khó khăn về nhà ở. Những năm gần đây, chú được mời
làm tư vấn, cố vấn cho Công ty TNHH Xây dựng Thương mại ACM, đơn vị hiện
đang triển khai nhiều dự án xây dựng, trong đó có dự án lấn biển Hà Tiên quy
mô lớn.
Hàng tháng chú còn tự nguyện đóng góp 50.000 đồng ủng hộ quỹ “tình đồng
đội”. Nhà chú còn là địa điểm hội họp, lớp học thêm của các cháu học sinh của
phường Trà An mới thành lập. Chú cười, nói như tâm sự: “Nhiều người không
hiểu, nói tôi giàu có lắm, Sự thật tôi chỉ “giỏi” đi xin, vận động cấp có thẩm
quyền, nhà hảo tâm có tấm lòng từ thiện. Tôi chỉ làm hết khả năng của mình…”.
Nắng chớm đông nhạt nhòa, trời chút se lạnh. Tôi giã từ một vị tướng, một
người lính đã dọc ngang chiến trường, đã từng trải qua bao trận mạc, chứng
nhân lịch sử một thời của Lộ Vòng Cung huyền thoại. Chú Tư Niên sau một thời
gian đảm nhiệm trọng trách Phó Tư lệnh Quân khu 9, giờ đã nghỉ hưu. Với
những công lao đóng góp cho cách mạng, chú Trần Văn Niên được Đảng và
Nhà nước tặng thưởng những huân chương cao quý, như: Huân chương Độc
lập hạng nhì, Huân chương Quân công hạng nhì, Huân chương Kháng chiến
chống Mỹ hạng nhất và rất nhiều danh hiệu, huân, huy chương khác. Giã từ
quân ngũ, giờ chú là một cựu chiến binh, một vị tướng giữa đời thường với tấm
lòng vì mọi người và xã hội. Trong suốt cuộc đời của mình dường như chú chưa
bao giờ ngừng nghỉ, bởi bao đồng bào, đồng chí, đồng đội, của chú đã nằm
xuống, biết bao nước mắt, gian lao để làm nên cuộc sống tươi đẹp hôm nay…
Bây giờ dù tuổi cũng khá cao nhưng chú Tư Niên vẫn còn làm rất nhiều công
việc âm thầm, nhẫn nại, tranh thủ nhiều nơi, nhiều cấp, để giúp đỡ phần nào cho
nhiều người còn lắm khó khăn, bất hạnh trong cuộc sống…
Lời giới thiệu
William Faulkner (1897 – 1962) là một trong những gương mặt sáng chói của văn học hiện đại.
Ngày nay, ở khắp nơi trên thế giới, tên tuổi ông được nhắc đến với niềm kính trọng sâu xa. Ông
là một nhà cách tân táo bạo và là một tiểu thuyết gia lỗi lạc bậc nhất. Trong lĩnh vực tiểu thuyết,
ông có thể sánh ngang những tượng đài bất diệt như F. Dostoervsky…và trong lĩnh vực khám
phá sáng tạo văn học, ông cùng hàng ngũ với những người tiên phong như F. Kafka, J.Joyce,
M.
Proust…
William Harrison Faulkner sinh ngày 25 tháng 9 năm 1897 tại Mississipi (Hoa Kỳ) và mất ngày 6
tháng 7 năm 1962. Đang học ở Đại học Mississippi, ông gia nhập Không lực Hoàng gia Canada
năm 1918, sang châu Âu năm 1925 – 1926, rồi làm đủ nghề để mưu sinh trước khi trở thành
một văn hào. W. Faulkner đã đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn như giải Pulitzer, giải National
Book
và
giải
Nobel
(1950).
Cuốn tiểu thuyết thứ tư của W. Faulkner là The Sound and The Fury được ấn hành lần đầu tiên
vào ngày 7 tháng 10 năm 1929 đã mang đến cho ông danh tiếng lẫy lừng, đầu tiên là trong giới
văn học, sau đó là trong quảng đại quần chúng. Tuy nhiên, đến tận bây giờ, cuốn sách vẫn là
một thách đố đầy quyến rũ cho bất kỳ độc giả nào muốn thâm nhập vào thế giới âm u, náo
động, mãnh liệt và thấm đẫm tình người của W. Faulkner. Nhan đề cuốn sách được trích từ một
câu thơ của W.Shakespeare, trong vở bi kịch Macbeth, cảnh 5 hồi 5; đó là một định nghĩa về
cuộc đời "It is a tale told bắt an idiot, full of sound and fury, signifying nothing" (Đó là câu chuyện
do một thằng ngốc kể, đầy những kêu la và cuồng nộ, chẳng có ý nghĩa gì).Thật vậy, phần thứ
nhất của Âm thanh và Cuồng nộ là độc thoại nội tâm của một người đần độn bẩm sinh, gào
khóc và điên giận, với những ý nghĩ rời rạc, mù mờ, chắp nối, hỗn độn, những hồi ức, liên
tưởng nhảy cóc từ thời đỉêm này sang thời điểm khác, xuôi ngược trên dòng thời gian, lẫn lộn
quá
khứ,
hiện
tại,
tương
lai.
Để độc giả có thể theo dõi câu chuyện mà không nhất thiết phải tìm hiểu những kỹ thuật mới
mẻ và phức tạp trong bút pháp của W. Faulkner như kỹ thuật dòng ý thức hay thời gian đồng
hiện, chúng ta dựa theo lời giới thiệu của Maurice E. Coindreau trong bản dịch tiếng Pháp Le
Bruit et la Fureur (Editions Gallimard, 1949) để cung cấp một chìa khoá giải mã những ẩn ngữ
của
W.
Faulkner.
Câu chuyện diễn ra ở bang Mississippi, nước Mỹ, vào khoảng đầu thế kỷ XX, giữa các thành
viên của một gia đình quý tộc miền Nam từ chỗ giàu sang và kiêu kỳ đã trở nên nghèo khổ và
sa đoạ. Những nhân vật chính của gia đình quý tộc này gồm ba thế hệ: ông Jason Compson v
bà vợ Caroline (tên thời con gái là Caroline Bascomb), cô con gái Candace (hay Caddy) và ba
cậu con trai: Quentin, Jason và Maury (sau này gọi là Benjamin hay Benjy để khỏi làm ô danh
ông cậu Maury Bascomb), sau cùng là cô cháu gái Quentin, con của Caddy. Sống với họ cũng
có ba thế hệ những người hầu da đen: bà Dilsey và chồng là Roskus, với ba đứa con: T.P.,
Frony, Versh và sau cùng là Luster, con trai của Frony. Như vậy là có hai Jason và hai Quentin.
Theo dõi ngày tháng của chương sách, độc giả sẽ thấy một sự đảo lộn trật tự thời gian.
Chương đầu tiên là chuyện xảy ra ngày 7 tháng 4 năm 1928. Chương thứ hai lùi lại mười tám
năm, ngày 2 tháng 6 năm 1910. Chương thứ ba lại là ngày 6 tháng 4 năm 1928 và chương thứ
tư là hai ngày sau đó, 8 tháng 4 năm 1928. Ba chương đầu là độc thoại nội tâm của ba nhân
vật: Benjy – thằng khùng, Quentin và Jason, chỉ có chương cuối mới được kể ở ngôi thứ ba.
Trong những độc thoại nội tâm của ba nhân vật này, chuỗi hồi ức và liên tưởng sẽ cung cấp
dần dần cho độc giả các sự kiện xảy ra ở thì hiện tại hay quá khứ, và dần dần, những sự kiện
đó sẽ dính kết, chắp nối, làm sáng tỏ câu chuyện cũng như chân dung các nhân vật.
Bố cục cuốn sách thường được các nhà nghiên cứu W. Faulkner so sánh với một bản giao
hưởng thuộc trường phái ấn tượng mà các chủ đề xuất hiện, biến mất, tái hiện rồi lại biến mất
cho đến khi bùng nổ trọn vẹn. các khó khăn ban đầu dường như đầy rẫy và khiến những độc
giả thiếu kiên nhẫn sẽ chóng nản chí. Tuy nhiên, không cần phải hiểu cặn kẽ từng câu trong kiệt
tác này mới có thể cảm nhận vẻ đẹp và sức quyến rũ của nó. Chính những vùng mờ tối, những
mặt trái sáng, những mơ hồ lấp lửng sẽ dẫn dắt trí tưởng tượng của người đọc vào thế giới của
W. Faulkner, một thế giới xao xuyến, chấn động và đầy bí ẩn như chính cuộc đời này vậy.
Và
bây
giờ,
chúng
ta
sẽ
phác
hoạ
sơ
đồ
từng
chương:
-
Chương
thứ
nhất
(7/4/1928)
Moderato.
Độc thoại nội tâm của Benjy. Hôm đó là sinh nhật lần thứ ba mươi của Benjy. Hắn đang ở ngoài
sân với Luster, đứa trẻ da đen, mười bảy tuổi. Luster đánh mất đồng hai mươi lăm xu và đang
đi tìm. Benjy bị đần dộn từ nhỏ, chỉ có những cảm giác sinh vật như ngửi, sờ..vvkg biết gì hơn.
Nhưng hắn có một thế giới riêng đầy ấn tượng và cảm xúc mà hắn không bao giờ cảm
thấynhững ngăn cản của khái niệm không gian và thời gian. Chuỗi ý nghĩ của Benjy không có
logic mà chỉ được gợi lên từ những cảm giác ngẫu nhiên. Nghe tiếng gọi "caddie" ccz người
chơi golf, Benjy nhớ đến người chị Caddy mà hắn rất yêu quý và hắn thét lên đau khổ. Khi chui
qua hàng rào bị vướng, Benjy đột ngột lùi vào quá khứ - lúc còn nhỏ hắn cũng bị vướng rào
như thế khi cùng chị Caddy mang lá thư tình của cậu Maury cho bà Patterson. Từ torng mớ hỗn
mang những hồi ức, liên tưởng của anh khùng Benjy, hai sự kiện được lộ ra dần: đám tang bà
nội, lúc Caddy lên bảy và đám cưới Caddy (25/4/1910). Độc thoại nội tâm mơ hồ, lộn xộn của
Benjy làm xuất hiện những chủ đề sẽ xuyên suốt tác phẩm, có khi chỉ vài chữ hoặc một hình
ảnh, một âm thanh…và độc giả sẽ nhớ lại ở những chương sau, khi chúng tái hiện với một ý
nghĩa
-
sáng
Chương
tỏ
thứ
hai
hơn.
(2/6/1910)
Adagio.
Độc thoại nội tâm của Quentin Compson, ngày anh tự tử ở Harvard. Quentin ở trong trạng thái
bị ám ảnh điên cuồng, bởi những ý nghĩ loạn luân và tự sát. Quentin ghen vì quá yêu cô em
gáiCaddy, khi Caddy lấy Sidney Herbert Head vào ngày 25/4/1910. (Trước đó, Caddy đã có
người tình là Dalton Ames, và khi Caddy cảm thấy mình có mang, cũng là lúc Caddy theo mẹ
tới nghỉ ở vùng suối nước nóng French Lick để kiếm một người chồng). Những ý nghĩ bệnh
hoạn điên cuồng dồn dập trong tâm trí Quentin cùng những hồi ức êm dịu mà đau đớn về
Caddy làm Quentin hoảng sợ và cố bóp nghẹt (dòng thời gian trôi đi vĩnh viễn mà anh cố níu
giữ bằng cách đập nát đồng hồ, sức hút mơ hồ của mặt nước rình rập trong chuyến đi cuối
cùng của anh) và kết cục là Quentin đã tự buộc hai chiếc bàn ủi vào chân để trầm mình.
-Chương
thứ
ba
(6/4/1928)
Allergro.
Độc thoại nội tâm của Jason hôm hắn phát hiện ra cô cháu gái Quentin (Caddy bị chồng xua
đuổi đã bỏ lại cho cha mẹ đứa con gái mới sinh đặt tên là Quentin để tưởng nhớ anh trai) theo
một gã kép ở gánh hát rong. Jason săn lùng cháu khiến Quentin phải trốn nhà đi. Những ý nghĩ
thù hận cay đắng của Jason quyện quanh những mảng dĩ vãng: đám tang ông bố Jason, sự
phá sản của gia đình Compson, không khí nặng nề phủ lên cuộc sống của cô cháu gái Quentin,
trên phông nền những sự kiện đời sống thị trấn nơi gia đình Compson cư trú và tại cửa hàng đồ
sắt
nơi
-
Jason
Chương
làm
thứ
thuê.
tư
(8/4/1928)
Kể chuyện trực tiếp: Mở đầu chương này là tiết tấu Allegro Furioso đầy hằn học với sự kiện cô
cháu gái Quentin trốn theo trai đã cuỗm theo ba nghìn đô la của ông cậu Jason, khiến Jason
phải săn đuổi và rồi bị đánh. Tiếp theo là tiết tấu Andante Religioso đượm màu tôn giáo với buổi
lễ Phục sinh ở nhà thờ của người da đen, rồi đến tiết tấu nhanh Allegro Barbaro và tận cùng
bình
yên
trong
tiết
tấu
chậm
rãi
Lento.
Bản giao hưởng The Sound and the Fury chỉ thiếu nét linh hoạt, vui tươi của một Scherzo. Từ
đầu đến cuối vang rền tiếng kêu của Benjy từ âm vực thấp (rên rỉ, sướt mướt) tới âm vực cao
(gào, rống, rú), đóng vai trò bộ trống trong dàn nhạc của W.Faulkner. còn nền hình tượng, đo là
những khuôn mặt da đen, chứng nhân cho tấn bi kịch của gia đình Compson. Trong số đó, nổi
bật gương mặt cao cả và nhẫn nại của Dilsey, bà vú nuôi đã cầm bánh lái con thuyền tan nát
của gia đình Compson. Hình ảnh bà Dilsey ở đầu chương thứ tư, mộc mạc và kỳ vĩ, với một
lương tri sáng láng, chính là hình ảnh tuyệt đẹp của CON NGƯỜI mà W. Faulkner đã sáng tạo
và
ngợi
ca.
Để nói về những gian nan trong việc đọc W. Faulkner, độc giả có thể dẫn ra hàng trang sách
không có dấu chấm câu, những đại từ nhân xưng ngôi thứ ba không rõ chỉ vào ai, những ẩn dụ
rắc rối, bí hiểm… nhất là độc thoại nội tâm của Benjy. Anh chàng khùng này sống với thế giới
cảm giác riêng, cảm nhận những sự kiện xảy ra như một con thú, ngửi thấy và sờ thấy các biến
cố. Benjy ngửi thấy Caddy "có mùi như cây" khi Caddy còn trinh, và trong đám cưới của Caddy,
Benjy đã đuổi theo chị tới tận phòng tắm, bắt chị đi tắm để khi trở ra lại có "mùi như cây" và sự
tươi mát trinh nguyên như xưa. Khi Benjy cảm nhận sự bình an và hạnh phúc, hắn thấy những
mảng sáng êm đềm trôi lướt qua và vạn vật được an bài "vật nào chỗ nấy". Benjy phản ứng với
thời gian chỉ bằng chuỗi âm thanh mơ hồ và đau đớn trải trên nhiều cung bậc, và tiếng kêu
khóc triền miên, bất tận của Benjy – con người gần với cỏ cây, muông thú hơn hết – vang dội
như
thể
kết
tinh
"mọi
nỗi
thống
khổ
dưới
ánh
mặt
trời".
Tác phẩm này của W. Faulkner, mặc dù đặt ra cho độc giả không ít khó khăn khi lĩnh hội, nhưng
giá trị tự thân và ảnh hưởng lớn lao của nó đối với văn học hiện đại đã được khẳng định ngày
càng
mạnh
mẽ.
Cùng với The Sound and the Fury, các tác phẩm khác của W. Faulkner như Sanctuary (Thánh
đường), Light in August (Nắng tháng Tám), Absalom, Abasalom!.. đã để lại cho kho tàng văn
học nhân loại những di sản vô giá. Giá trị của tác phẩm W. Faulkner không chỉ là những sáng
tạo về kỹ thuật hay bút pháp mà chính là ở thông điệp nhân bản của ông gửi đến các thế hệ
sau.
Trong quá trình dịch tác phẩm này, chúng tôi đã hết sức cố gắng để giữ được nhiều nhất không
khí W. Faulkner trong văn phong, tuyệt đối tôn trọng cách viết của tác giả, từ những cung cách
chấm câu đến lối nói lấp lửng…Tuy nhiên, việc đưa vào bản dịch tiếng Việt những biến âm
trong lối nói của người Mỹ da đen là không thể, và điều đó sẽ làm nặng nề thêm tác phẩm vốn
đã
không
dễ
đọc.
Những dịch giả như M. E. Coindreau, khi chuyển tác phẩm này sang Pháp ngữ, mặc dù đã có
may mắn được đích thân W. Faulkner bình luận những điểm "tối tăm" nhất trong cuốn sách,
vẫn cố làm cho bản dịch của mình được trong sáng và phần nào dễ hiểu hơn, vì nhận thức rõ
những khó khăn khi chuyển ngữ một tác phẩm như The Sound and the Fury. Các chú thích
trong bản dịch tiếng Việt, chúng tôi cũng tham khảo từ bản Pháp ngữ của M.E. Coindreau.
Phần phụ lục của Âm thanh và Cuồng nộ do W. Faulkner viết cho cuốn The Portable Faulkner
và được đưa vào tác phẩm từ ấn bản năm 1946 (bản dịch Pháp ngữ lược bỏ phần này).
Những sai sót khi chuỷên một tác phẩm như The Sound and the Fury sang Việt ngữ là điều
không thể tránh khỏi, nhưng chúng tôi hy vọng rằng, độc giả vẫn có thể thưởng thức được vẻ
đẹp độc đáo của bản giao hưởng văn xuôi này, dù là đọc qua một tấm gương ít nhiều mờ tối.
Người dịch.
Thời bình, người Việt có còn yêu nước?
30/04/2011 06:00 GMT+7
- Sau khi đăng tải các bài viết với chủ đề "định vị lòng yêu nước của người trẻ", VietNamNet
nhận được chia sẻ của một bạn trẻ thế hệ 8X ở Hà Nội, chia sẻ "một cách hiểu về tình yêu đối với
đất nước".
Tình yêu là một khái niệm mà theo tôi, ở một chừng mực nào đó thật trừu tượng. Có lẽ, cũng vì cái
trừu tượng đó mà người ta không thể đong đếm được tình yêu, hay nói rằng, phải làm như thế nào
thì mới chứng tỏ đó là tình yêu. Tình yêu đất nước có lẽ cũng không phải là một ngoại lệ.
Gần đây, khi những người Việt thành danh xuất hiện ngày càng nhiều, trên nhiều phương tiện thông
tin đại chúng, người ta lại nói đến tình yêu đất nước, thậm chí đôi khi có cảm tưởng, cứ phải làm
được một điều gì đó thật lớn lao, chúng ta mới được gọi là nhà yêu nước. …Tôi tự nghĩ, những
người Việt Nam, giờ đã đứng trên bục vinh quang, khi đang nỗ lực để chinh phục thử thách, có lẽ họ
cũng chưa, hoặc không dám nghĩ họ làm điều đó vì tình yêu đất nước, mà đơn giản là họ nỗ lực vì
họ muốn làm điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời này.
Có một bạn nói rằng, người Việt Nam vốn nổi tiếng với tinh thần yêu nước máu lửa mãnh liệt đã
được minh chứng qua bao cuộc chiến đấu chống ngoại xâm. Đúng, nhưng chưa rõ. Biết bao thế hệ
người Việt đã sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để bảo vệ mảnh đất này không phải vì một tình
yêu mơ hồ mà họ hiểu rằng, nếu không đứng lên, họ sẽ trở thành nô lệ, sẽ bị lệ thuộc.
Tình yêu đất nước khi đó gắn lên với độc lập, tự do, thậm chí, gắn liền với sự sống và cái chết và
trên hết, tình yêu đó bắt nguồn từ khát khao một có được một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Vào thời chiến, những người chịu áp bức có một mục đích chung và hành động chung để thể hiện
lòng yêu nước, vậy nên chúng ta thấy được sự máu lửa mãnh liệt. Nhưng cũng trong thời chiến,
chúng ta cũng ghi nhận những nhà yêu nước khác, với những con đường khác, chỉ tiếc là con
đường của họ không đi theo dòng chảy chung của thời đại.
Vậy thì trong thời bình, người Việt Nam có còn yêu nước không?
Trong thời bình, không còn giặc ngoại xâm, vậy thì những cộng đồng, những nhóm người họ lại trở
về với cuộc sống của mình, với những đặc điểm, tính chất khác nhau.
Nhưng có lẽ cái khát khao mong muốn một cuộc sống tốt đẹp hơn – cái yếu tố mà theo tôi là một
biểu hiện gốc rễ của lòng yêu nước – vẫn luôn hiện hữu.
Ở cái xã hội đang phát triển và vận động rất nhanh đó, người ra sẽ nhìn thấy sự phân hóa các nhóm
cộng đồng trở nên rõ ràng hơn. Đó là cộng đồng của những người giàu, rất giàu, cộng đồng của
những người không giàu lắm và cộng đồng của những người nghèo, rất nghèo.
Hoặc cũng có thể phân chia họ thành cộng đồng của những người giỏi, rất giỏi, bình thường, những
người không giỏi và cả những người không có tri thức. Vậy thì ở mỗi nhóm cộng đồng đó, họ có yêu
nước không?
Không phải tất cả, nhưng tôi nghĩ rằng ở mỗi cộng đồng đều có những người yêu nước – những
người yêu nước đáng trân trọng và đáng được tôn vinh, có khác chăng chỉ là cách họ thể hiện lòng
yêu nước của mình. Những người giàu có chân chính, họ sẽ sử dụng sự giàu có của mình để cống
hiến cho đất nước; những người nghèo, họ cũng đang nỗ lực để thoát nghèo. Những nhà trí thức,
họ dùng trí thức để phát triển đất nước, và những người không có trí thức, chắc một bộ phận họ
cũng phải cảm ơn đất nước này vì cho họ cơ hội để tồn tại.
Tuy nhiên, vậy cũng chưa đủ.
Có những người nghèo, có số phận éo le vẫn than thầm rằng giá mà mình đừng nghèo quá, được
hưởng những phúc lợi xứng đáng, công bằng thì họ sẽ có cơ hội sống tốt hơn; có những trí thức vì
điều kiện khoa học kỹ thuật trong nước còn thấp mà họ không thể đem hết tài năng của mình để
phục vụ.
Tuy nhiên, nếu hiểu được những câu chuyện của họ, thì không thể phủ nhận ở họ khát khao và nỗ
lực để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp hơn, và cao hơn nữa, là giấc mơ muốn được góp sức vào sự
rạng danh của đất nước – một giấc mơ mà không phải ai cũng đủ tự tin nói thành lời.
Không phải lúc nào cũng có thể hát vang “Tiến quân ca” hay “Việt Nam chiến thắng” khi mà bản
thân họ còn chưa chiến thắng được sự nghèo khó hay những mối lo toan của cuộc sống. Nhưng
không vì thế mà chúng ta nói rằng, những con người chân chính đó không có lòng yêu nước.
Khi đi công tác tại Australia và tiếp xúc với cộng đồng người Việt định cư bên đó, tôi gặp một gia
đình đã sang Úc từ lâu và bốn người con của họ đều được sinh ra ở đó.
4 người con, không thể nói tiếng Việt sõi vì họ không có nhiều điều kiện để học tiếng Việt. Bố mẹ
của họ khi sang, cũng phải chật vật kiếm sống. Nhưng bốn người con đó có tên là Việt, Nam, Hà,
Thành và đều học rất giỏi, được các trường danh tiếng của Úc tôn vinh. Bằng tiếng Anh, họ vẫn
nhắc về Việt Nam với hai chữ quê hương.
Một nghệ sĩ dương cầm, cũng không thể nói tiếng Việt một cách rõ ràng, nhưng lại có thể chơi đàn
bầu bởi mẹ của cô nói rằng đó là nhạc cụ của quê hương. Không những thế, cô vẫn thường xuyên
về Việt Nam để biểu diễn. Những người như vậy có yêu nước không? Tôi nghĩ họ yêu quê hương
nhiều lắm.
Trong một khoảnh khắc nào đó, khi đội tuyển bóng đá Việt Nam chiến thắng, chúng ta nắm tay nhau
hô to “Việt Nam chiến thắng”, chúng ta mường tượng về một lòng yêu nước được trỗi dậy, nhưng
không nghĩ rằng, trong đám đông đó, hẳn sẽ có những người vốn coi thường pháp luật gây ra
những tai nạn đáng tiếc trên đường, cũng sẽ những kẻ trọc phú ném tiền vào những cuộc vui say
men,...
Trong đám đông đó, có lẽ điểm chung dễ thấy nhất là niềm đam mê với bóng đá, niềm đam mê có lẽ
đôi lúc hơi thái quá dẫn tới những sự cố đáng tiếc. Niềm đam mê và sự say sưa với chiến thắng của
một môn thể thao đôi khi khiến ta nhầm tưởng đó là lòng yêu nước.
Cũng dễ hiểu thôi, khi chiến thắng, không chỉ ở Việt Nam mà bất cứ cổ động viên ở một đất nước
nào, họ cũng đều hô vang tên đất nước họ đi kèm với từ chiến thắng. Tôi không phủ nhận sự thăng
hoa trong mỗi chiến thắng trước một đội bóng nước ngoài, và trong sự thăng hoa đó, con người
dường như gần nhau hơn, tốt đẹp hơn nhưng thử nhìn xem khi đám đông đó được chia làm hai để
cổ vũ cho hai đội bóng đá trong nước, liệu còn ai dám coi sự thăng hóa đó là lòng yêu nước?
Tôi cũng có mặt trong sân vận động Mỹ Đình khi đội tuyển bóng đá nam Việt Nam chiến thắng Thái
Lan để giành Cup, hô vang “Việt Nam chiến thắng”. Và tôi chờ đợi cho đến khi đám đông giải tán thì
mới ra về.
Tôi cũng ngồi lại sân vận động Mỹ Đình khi đội tuyển bóng đá nam Việt Nam thua với tư cách là chủ
nhà Seagames, cùng buồn nhưng có lẽ không đến mức vật vã vì đơn giản tôi hiểu là trình độ của
chúng ta vẫn chưa bằng bạn và cần phải cố gắng hơn.
Trong chừng ấy năm, có thể do miệt mài
với những mục tiêu của mình hay vô
tâm mà tôi chưa nghĩ tới hai từ yêu
nước cho đến khi tôi đọc được chuyên
mục này, chỉ vài ngày trước khi tôi và
nhóm bạn lên đường du học.
Tôi cũng chờ đợi đến khi đám đông giải tán mới ra về… Chắc là tôi sẽ bị đánh giá là một kẻ khôn
lỏi, thậm chí là không yêu nước vì không dám chia sẻ niềm vui với mọi người, những với tôi sự
thăng hoa đó không đồng nghĩa với lòng yêu nước.
Sau 5 năm làm việc và có điều kiện tiếp xúc với nền giáo dục của nước ngoài, tôi nhận thấy rằng,
cần phải cố gắng tiếp cận được với nền giáo dục đó thì mới có thể nâng cao trình độ của mình.
Trong chừng ấy năm, có thể do miệt mài với những mục tiêu của mình hay vô tâm mà tôi chưa nghĩ
tới hai từ yêu nước cho đến khi tôi đọc được chuyên mục này, chỉ vài ngày trước khi tôi và nhóm
bạn lên đường du học.
Có lẽ rồi đây, vì học hành, chúng tôi sẽ không có nhiều thời gian để bàn luận với nhau về lòng yêu
nước.
Chúng tôi sẽ dành phần nhiều thời gian để cố gắng, cố gắng và cố gắng tích lũy kiến thức.
Ở đất nước nơi tôi đến, nhiều người Việt Nam đang học tập và những kết quả xuất sắc của họ là
động lực để tôi phấn đấu.
Trong cái đất nước rộng lớn đó, những người Việt Nam đang miệt mài phấn đấu như bao con người
khác. Nhưng mỗi khi một mục tiêu được hoàn thành, thì hai tiếng Việt Nam lại được cất lên.
Cái cần thì không có
Tôi làm việc cho một tập đoàn hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ giải trí. Gần đây, do nhu cầu
mở rộng hoạt động kinh doanh, chúng tôi tuyển dụng rất nhiều vị trí.
Mặc dù thông tin tuyển dụng được đăng trên nhiều kênh, yêu cầu về chuyên môn không quá khắt
khe, mức lương khởi điểm cao hơn mặt bằng chung và bộ phận nhân sự đã đưa ra nhiều ''chiêu'' để
hấp dẫn ứng viên; sau vài tháng, chúng tôi nhận được không đủ số hồ sơ đáp ứng được nhu cầu.
Vì vậy, khi biết thông tin mới công bố của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, trong đó nêu rõ có
tới 225.500 cử nhân và thạc sĩ đang bị thất nghiệp, chưa kể tới hơn 117.000 người tốt nghiệp cao
đẳng chuyên nghiệp các ngành, tôi thoáng giật mình. Phải chăng có sai sót nào đó trong công ty
của chúng tôi làm cho các ứng viên không mặn mà? Tuy nhiên, thoáng giật mình đó mau chóng trôi
qua khi tôi nhớ lại kinh nghiệm phỏng vấn ứng viên của mình.
Làm việc ở vai trò quản lý nhiều năm, tôi có nhiều dịp phỏng vấn các ứng viên. Có nhiều người
không biết phải làm cái Hồ sơ xin việc (CV) như thế nào. Có người bằng cấp rất đẹp, điểm các môn
học cao chót vót, nhưng khi phỏng vấn thì không thể nói một câu cho đĩnh đạc. Có vài người có
chút khả năng cũng như kỹ năng sống thì lại quá tự tin, đề xuất cho mình những thứ mà nhẽ ra họ
phải nỗ lực làm việc nhiều năm mới có được.
Tôi trao đổi chuyện này với các bạn bè của tôi, là chủ các doanh nghiệp, thì đều nhận được câu trả
lời như nhau rằng, việc cần người rất nhiều, nhưng người phù hợp công việc lại quá thiếu. Các
doanh nghiệp hiện nay chịu nhiều áp lực kinh doanh nên họ chỉ muốn tuyển người có thể làm việc
được ngay mà không cần phải tốn thời gian đào tạo lại. Trong khi đó, nhiều cử nhân, thạc sĩ mới ra
trường ở ta còn rất ngây ngô. Thậm chí có người tốt nghiệp loại giỏi nhưng không rành kỹ năng tin
học văn phòng, không biết cả cách sử dụng công cụ tra cứu Google để tìm tài liệu cần thiết cho
công ty. Có lần tôi nhờ cô nhân viên mới soạn thảo một văn bản mà cô phải sửa đi sửa lại nhiều lần,
cuối cùng tôi nản quá đành cho nghỉ việc.
Ngoại ngữ là một vấn đề khác. Tôi biết rằng đem so trình độ ngoại ngữ của sinh viên nước ta với
sinh viên nước ngoài là không thể. Nhưng việc học giao tiếp đơn giản cũng không khó đến mức
phần lớn ứng viên không đáp ứng được. Trong thời đại này, việc không biết ngoại ngữ chắc chắn là
một khiếm khuyết rất lớn trong hồ sơ xin việc của các bạn trẻ. Tôi nghĩ các bạn cũng ý thức được
việc này nhưng không hiểu sao họ không dành thời gian cho nó.
Chê trách cử nhân, thạc sĩ nhưng chúng ta cũng không thể không nói đến vai trò của các cơ sở đào
tạo, các bậc phụ huynh và những nhà hoạch định nguồn nhân lực. Việc thu nhận sinh viên ồ ạt,
đánh vào tâm lý sính đại học của dân ta làm cho chất lượng tuyển sinh đầu vào rất kém. Các bậc
phụ huynh thay vì định hướng nghề nghiệp phù hợp với mong muốn và khả năng của con em mình
lại cố hết sức để cho con được học đại học, thỏa khao khát bằng cấp dù tương lai con em mịt mù
phía trước.
Những người đáng ra chỉ đủ khả năng đi học nghề nay cũng thành cử nhân rồi không biết làm gì lại
học tiếp lên thạc sĩ, làm cho số cử nhân, thạc sĩ có trình độ thấp ngày càng nhiều. Nhiều ngành
nghề có nhu cầu cao thì chỉ tiêu tuyển sinh lại rất ít. Trong khi đó những ngành nghề như Quản trị
kinh doanh, Tài chính ngân hàng... lại quá nhiều. Từ đó dẫn tới tình trạng, lao động tay nghề cao
quá thiếu, còn các ông bà cử phải giấu bằng đi để xin làm lao động phổ thông thì ngày càng nhiều.
Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp nhận xét: Nhóm người có trình độ cao đẳng và đại học trở lên vẫn có tỉ
lệ thất nghiệp cao nhất và có xu hướng tăng. Điều này nghe qua có vẻ như là một nghịch lý. Nhưng
cá nhân tôi thấy chuyện không có gì lạ.
Trở lại với câu chuyện công ty tôi, dù chưa tuyển đủ, chúng tôi chắc chắn không thể thay đổi tiêu
chí. Tuyển một người lao động không làm được việc không chỉ tốn kém mà còn gây rất nhiều phiền
phức.
225.500 cử nhân và thạc sĩ, nếu muốn hết thất nghiệp, trước hết phải hiểu rằng, ngoài cái bạn có
(bằng cấp), phải mang đến cho nhà tuyển dụng cái họ cần.
Yêu nước theo cách của á quân Olympia
28/04/2011 06:10 GMT+7
Sau khi đăng tải bài viết Học yêu nước... kiểu Đức, VietNamNet nhận được chia sẻ của nhiều bạn
đọc trẻ. Một bạn đọc ở quận Đống Đa, Hà Nội gửi tới diễn đàn ý kiến của Nguyễn Thành
Vinh (Á
quân "Đường lên đỉnh Olympia" năm 2000).
Thành Vinh viết: "...Tôi là ai mà có quyền phán xét về lòng
yêu nước, khi giờ đây tôi vẫn đang lang thang ở những xứ
sở xa lạ để tìm kiếm một tương lai tốt hơn cho sự đam mê
nghiên cứu khoa học và gia đình nhỏ của mình". Dưới đây là ý kiến
của Thành Vinh.
TIN BÀI LIÊN QUAN
Phản đề của một 9X về sự hy sinh
Tranh luận lại với nữ sinh Ams về hy sinh
Học yêu nước... kiểu Đức
TS Việt Nam học giải mã 'tính cách Nhật'
Quốc kỳ Việt Nam được cắm tại Nam Cực. Nguồn ảnh:
phungnguyenduc.
Một buổi trà dư tửu hậu nọ, nhân dịp hiếm khi những anh em thanh niên xa mẹ đang học và làm
việc ở nước Đức được gặp mặt đông đủ, chúng tôi ngồi tán phét đủ chuyện trên trời dưới đất.
Quanh qua kéo lại một hồi, mọi người bỗng trở nên rất hứng thú với những chuyện phiếm quanh
cuộc đời của nhân vật nổi tiếng và cũng tai tiếng nhất lịch sử nước Đức, Adolf Hitler.
Dù chẳng ai ưa mưu đồ "làm cỏ" cả thế giới của nhà độc tài này, nhưng ai trong chúng tôi cũng phải
công nhân Hitler yêu nước Đức một cách mù quáng ghê gớm, mù quáng hơn xa bất cứ một nhà ái
quốc nào trong lịch sử thế giới thế kỷ 20.
Ngẫm ra, người dân Việt Nam ta vốn cũng nổi tiếng với tinh thần yêu nước máu lửa mãnh liệt đã
được "đóng dấu chất lượng vàng" qua bao cuộc chiến đấu chống ngoại xâm suốt mấy nghìn năm
lịch sử. Đáng tiếc là trong thời bình hiện nay, tình yêu quê hương đất nước hiếm khi được thể hiện,
trừ những dịp đội tuyển bóng đá Việt Nam giành thêm một chiến thắng oanh liệt trước một bạn láng
giềng Đông Nam Á nào đó.
Mọi người kéo nhau ra đường hô to "Việt Nam chiến thắng", cùng nắm tay nhau hát "Như có Bác
Hồ trong ngày vui đại thắng", những điều mà họ có lẽ thấy đôi chút ngượng khi làm trong những tình
huống cơm áo gạo tiền đời thường.
Ở đời thường, với cơm áo đè nặng, người Việt Nam dường như đang thản nhiên tàn phá môi
trường đất mẹ, lơ là những giá trị văn hóa dân tộc, quên lãng lịch sử hào hùng của cha ông.
Thật đáng tiếc khi một tình cảm đẹp đẽ như lòng yêu nước lại chỉ được thể hiện khi người Việt Nam
chúng ta ở trong những hoàn cảnh khốn cùng như chiến tranh hay "áo số, quần đùi" như bóng đá.
Nhưng nói cho cùng, tôi là ai mà có quyền phán xét về lòng yêu nước, khi giờ đây tôi vẫn đang lang
thang ở những xứ sở xa lạ để tìm kiếm một tương lai tốt hơn cho sự đam mê nghiên cứu khoa học
và gia đình nhỏ nhoi của mình.
Dù vậy, Việt Nam vẫn luôn ở trong tim tôi, vẫn là nơi tôi trở về để thực hiện những quyết định quan
trọng nhất của cuộc đời mình, là nơi nguồn cội của tất cả những sợi tơ tình cảm ngọt ngào trói buộc
tâm hồn của người con xa xứ, là nơi duy nhất khi đặt chân xuống tôi có lại cảm giác ấm áp được trở
về nhà.
Đáng tiếc, tôi chưa phải là một trí thức có tài như Ngô Bảo Châu hay Đặng Thái Sơn, cũng chẳng
phải những vận động viên thể thao xuất sắc như Vũ Thị Hương hay Phan Văn Tài Em để giành
những giải thưởng quốc tế oanh liệt như một thông điệp thể hiện tình yêu của mình với Tổ quốc.
Có lẽ, điều giản dị mà tôi làm được hiện giờ là làm thật giỏi công việc của mình, sống thật tốt để
mang lại dấu ấn "có một người Việt Nam như thế" ở những nơi mà tôi đã từng đặt chân qua, góp
một chút gì vào hình ảnh Việt Nam đẹp hơn lên mỗi ngày trong mắt bạn bè quốc tế.
Và tôi sẽ dạy con tôi nói cho tròn vành rõ chữ tiếng Việt, bồi đắp cho chúng một tâm hồn Việt
"nguyên chất nước mắm" không lai căng cho đến một ngày không xa trong tương lai, khi cả gia đình
về lại Việt Nam, chúng nó có thể hòa nhập ngay vào cuộc sống ở quê cha đất tổ mà không chút
ngượng ngùng, hụt hẫng.
Một chút chuyện này tưởng nhỏ thôi mà biết bao thế hệ người Việt xa xứ chưa mấy người làm
được. Nhưng tôi thì có lòng tin tưởng ghê gớm một cách kì cục rằng mình sẽ làm được chuyện đó.
Kì cục như thoáng đôi khi lúc nửa đêm, tôi rón rén đeo tai nghe rồi vào internet mở thật to bài hát
"Tiến quân ca", nghe thật nhiều lần và tự dưng ứa nước mắt, nổi da gà trong lặng lẽ.
•
Nguyễn Thành Vinh - Theo Tạp chí Đẹp - số tháng 1/2011
****************************
Anh thanh niên trong bài viết Học yêu nước... kiểu Đức, hay Nguyễn Thành Vinh đã và đang đi tìm
câu trả lời cho chính mình: "Tôi là ai? Tôi sống để làm gì?" bằng tình yêu nước trong sáng của mình
khi định vị bản thân trong dòng chảy đất nước.
Còn bạn - những người Việt trẻ tuổi, đã tìm thấy câu trả lời cho mình chưa? Xin các bạn hãy viết
tiếp những câu trả lời của riêng mình bằng tình cảm mà bạn dành cho đất nước.
Bài viết gửi theo địa chỉ: hoặc theo mẫu phản hồi dưới đây. Cảm ơn
các bạn:
Các bạn trẻ cần có “kỹ năng yêu nước”
Dân trí Đó là lời căn dặn của TS Nguyễn Nhã, nhà nghiên cứu chuyên sâu về
Hoàng Sa, Trường Sa trước đông đảo sinh viên trong chương trình
“Hướng về Biển Đông”.
Ngày 28/5, Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật và Du lịch Sài Gòn (Saigonact) đã tổ chức chương trình
giao lưu “Hướng về biển Đông”. Đại tá Nguyễn Hải Triều, Đại diện Bộ Tư lệnh Hải quân phía Nam, TS sử
học Nguyễn Nhã, người dành 40 năm dày công thực hiện cuốn “Những bằng chứng về chủ quyền của
Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa”, cùng đông đảo nhà nghiên cứu và 2.000 cán bộ,
giảng viên, sinh viên của trường tham gia.
Hàng ngàn sinh viên cùng ủng hộ biển Đông
Với Trung Quốc, chúng ta phải “Win – Win”
Trong phần nói chuyện chuyên đề với sinh viên, TS Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, nhà sử học nghiên cứu về
biển Đông đã nhấn mạnh các chứng cứ lịch sử, cũng như pháp lý chặt chẽ, phong phú của Việt Nam đối
với chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa.
TS Nguyễn Nhã đã dành tặng cho đại diện sinh viên tấm bản đồ “An Nam đại quốc hoạ đồ” xuất bản vào
năm 1838. Theo TS Nhã, tấm bản đồ này không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có giá trị pháp lý khi các nhà
nghiên cứu của cả Việt Nam, Trung Quốc và phương Tây đều đã biết đến tấm bản đồ này và công nhận
về tính pháp lý của nó. Ông khuyên các bạn sinh viên nên treo tấm bảng đồ ở vị trí trung tâm, trang
trọng nhất để mọi người có thể hiểu thêm về một minh chứng lịch sử cho chủ quyền biển đảo quốc gia.
TS Nguyễn Nhã đánh giá, hành động mới đây của Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng
đặc quyền kinh tế của Việt Nam là hành động bành trướng của một quốc gia hiếu chiến. Tuy nhiên, hành
động này có thể đoán được vì trong lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần ngang ngược sử dụng vũ lực trong
xâm lược chủ quyền của nước khác.
“Cụ thể là năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực chiếm Hoàng Sa của Việt Nam. Đến năm 1988, Trung Quốc
tiếp tục sử dụng vũ lực chiếm Gạc Ma và nay là lấn sâu vào vùng chủ quyền của Việt Nam bằng hàng
chục tàu cả quân sự lẫn dân sự. Rõ ràng, hành động của Trung Quốc đã làm không chỉ Việt Nam bức xúc
mà cả thế giới đều lo ngại đến an ninh, trật tự, thông lệ quốc tế đến hoà bình của nhân loại”, TS Nhã
nhấn mạnh.
TS Nguyễn Nhã cho rằng, cần cho thế giới biết Việt Nam là một quốc gia độc lập thực sự, là một quốc gia
tự lực tự cường chứ không phải là “sân sau” như các luận điệu xuyên tạc của Trung Quốc.
“Với Trung Quốc, chúng ta phải “Win – Win” trong kinh tế, lẫn chính trị. Chúng ta phải làm sao cho mọi
người biết Hoàng Sa, Trường Sa chưa bao giờ thuộc chủ quyền Trung Quốc, trừ khi họ dùng vũ lực. Tư
liệu của chúng ta quá nhiều. Chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa là một sự thật lịch sử rõ
ràng”, TS Nhã nói.
Các sinh viên lắng nghe diễn giả nói về biển Đông
Nhà sử học cũng khuyên các bạn trẻ không chỉ có thái độ yêu nước đúng đắn mà cần trau dồi cả kỹ năng
sống yêu nước. “Phải có kỹ năng sống yêu nước. Yêu nước không chỉ có ý thức mà phải cụ thể bằng hành
động. Từ kỹ năng yêu nước đến hành động yêu nước phải bằng từng việc cụ thể.
Chẳng hạn, các bạn ra đường có ý thức chấp hành giao thông; đi du lịch nước ngoài biết giao lưu, chia sẻ
về đất nước mình với bạn bè quốc tế, tranh thủ các diễn đàn, hội thảo để quảng bá hình ảnh đất nước;…
Đó chính là những việc làm cụ thể, thiết thực nhất để thể hiện lòng yêu nước”, TS Nhã nói với sinh viên.
Hãy yêu nước bằng trái tim nóng, cái đầu lạnh
TS Vũ Khắc Chương, Hiệu trưởng Trường cho biết, “Hướng về biển Đông” là chương trình nhằm giáo dục
cho sinh viên lòng yêu nước, ý thức chủ quyền và trách nhiệm với Tổ quốc, đồng thời hưởng ứng tinh
thần toàn dân tộc hướng về biển Đông, cùng chung tay bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.
Mới đây, một cán bộ của trường là thầy Đặng Hoài Thanh có người thân sống ở đảo Lý Sơn đã ra đi vĩnh
viễn khi bị tàu Trung Quốc tấn công. Nhà trường đã vận động để giúp đỡ và động viên tinh thần cho
thầy.
“Mỗi người dân Việt Nam đều nhận thức chủ quyền quốc gia không chỉ là con sông, dòng suối, là luỹ tre
làng mà còn là biển đảo. Ngay lúc này đây, tất cả chúng ta hãy cùng nhắn tin ủng hộ Hoàng Sa, Trường
Sa bằng hành động cụ thể nhưng đầy thiết thực”, ông Chương nói.
TS Nguyễn Nhã tặng đại diện sinh viên tấm bản đồ khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa,
Trường Sa
Đại tá Nguyễn Hải Triều cho biết, ông vừa ở Trường Sa về cách đây 3 ngày. Cán bộ chiến sĩ hải quân rất
cảm động trước tấm lòng của nhân dân cả nước và các bạn bè trên thế giới yêu chuộng hoà bình đã
quan tâm giúp đỡ, động viên. “Chúng tôi thấy ấm lòng khi cả nước quan tâm chia sẻ, là hậu phương
vững chắc cho chúng tôi vững tay súng, bảo vệ chủ quyền biển đảo”, đại tá Triều xúc động.
Trước hàng ngàn sinh viên, ông khuyên những bạn trẻ: “Hãy yêu nước bằng trái tim nóng, cái đầu lạnh
để phục vụ tốt nhất cho Tổ quốc. Biển Đông đang dậy sóng nhưng chiến sĩ hải quân luôn tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm cao trong bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ”.
Vì sao du khách không trở lại?
Mùa hè năm 1990, tôi được một phần thưởng là chuyến đi Sầm Sơn, chuyến du lịch đúng
nghĩa đầu tiên trong đời. Thật không may, ấn tượng lớn nhất của tôi không phải là sự vui vẻ
của chuyến đi, mà là sự lo sợ và bực tức của những người trong đoàn khi bị mấy người bán
hàng dọa nạt, yêu cầu trả tiền trái dừa và ghế ngồi đắt gấp năm lần giá họ vừa chào mời
trước đó.
Đoàn chúng tôi đành phải gom góp tiền để trả cho những người bán hàng này cho qua chuyện. Thế
là chuyến đi chơi đã không thể trọn vẹn. Có một anh thề sẽ không bao giờ quay lại Sầm Sơn một
lần nữa. Tôi không biết anh ấy có vi phạm lời thề lần nào không. Sau này khi đi học, đi làm, tôi cũng
đã chứng kiến nhiều pha chặt chém kinh hoàng mà đôi khi phải cố hết sức bình tĩnh mới có thể
tránh xảy ra những xô xát đáng tiếc.
Mấy năm gần đây, do công việc nên tôi thường tham gia vào các diễn đàn du lịch và quan tâm hơn
tới các thông tin của lĩnh vực này. Cứ mỗi khi vào mùa du lịch, lại có hàng loạt bài trên báo chí viết
về nạn chặt chém. Từ Sầm Sơn tới Phú Quốc, từ Đồ Sơn tới miền Tây, từ Sapa tới Vũng Tàu... đâu
đâu cũng rộ lên phong trào "mài dao chín tháng, chém ba tháng". Không chỉ có vậy, thứ tệ nạn này
mỗi ngày lại biến tướng ra một kiểu tinh vi hơn và khách hàng không còn cách nào khác là móc tiền
ra trả gấp ba, bốn lần thậm chí tới hàng chục lần giá trị thực tế mà mình đã sử dụng. Tôi có trao đổi
với một vài vị có trách nhiệm về vấn đề này và thường nhận được cái chép miệng thở dài: "Đã làm
nhiều cách rồi nhưng cứ cấm hôm nay thì mai nó lại mọc ra cái khác". Không lẽ chúng ta lại đầu
hàng vấn nạn này? Cách thức giải quyết vấn đề duy nhất của chính quyền là phạt. Mức phạt thì tùy
theo vụ việc và địa phương, nhưng dao động từ 5 triệu đến 20 triệu đồng. Sau mỗi lần phạt thì mức
độ tái phạm lại cao hơn và thủ đoạn cũng tinh vi hơn.
Ở các nước có nhiều du khách quốc tế như Thái Lan, Singapore trước đây cũng gặp phải chuyện
này, nhưng bây giờ, họ đã giải quyết hoàn toàn tệ nạn chặt chém. Cách làm của họ khá đơn giản
nhưng rất chặt chẽ. Trước hết, họ yêu cầu những đơn vị đăng ký kinh doanh tại các điểm du lịch
phải kê khai chi tiết tên tuổi, loại hình kinh doanh và thông báo giá các sản phẩm dịch vụ theo thời
kỳ để được cấp giấy phép hành nghề. Sẽ có một đơn vị chuyên môn của chính quyền đứng ra thu
thập toàn bộ thông tin này và xem xét cấp phép cho các đơn vị hoặc cá nhân kinh doanh du lịch.
Sau đó, họ công bố danh sách những điểm đạt tiêu chuẩn phục vụ du khách. Cơ quan quản lý du
lịch sẽ thông báo danh sách này để các hãng lữ hành và khách hàng nắm rõ mỗi khi dùng dịch vụ
hay sản phẩm tại đó. Biện pháp này giúp ngăn chặn các hành vi nâng giá dịch vụ hay sản phẩm của
các cơ sở kinh doanh du lịch. Về mặt chế tài, nếu các đơn vị vi phạm thì mức phạt sẽ rất nặng,
thường là phạt tiền và cấm hành nghề trong nhiều năm. Ở mức độ nặng hơn, những đơn vị hay cá
nhân nâng giá vô tội vạ có thể bị truy tố vì tội lừa đảo.
Báo chí nói chung và báo chí ngành du lịch nói riêng được phép tiếp cận thông tin đầy đủ để tránh
tình trạng đơn vị chuyên môn kia có thể bao che cho các cơ sở vi phạm. Chính vì thế, hiếm có cơ
sở du lịch nào có thể chặt chém du khách. Mặt khác, khách du lịch thường được nhắc nhở việc
quan tâm tới các thông tin này nên họ cảm thấy rất thoải mái khi dùng dịch vụ. Họ biết rằng không
thể bị lừa và luôn luôn được Nhà nước bảo vệ.
Những biện pháp này tôi cho rằng hoàn toàn khả thi khi áp dụng cho nước ta. Tuy nhiên, cách xử lý
của ngành du lịch nước ta hoàn toàn thụ động. Thường là sau khi sự việc được du khách hay báo
chí phản ánh, thì các cơ quan chức năng mới có mặt để xử phạt theo kiểu “vuốt đuôi”. Chúng ta
đang xây dựng những mục tiêu vĩ mô cho ngành du lịch, nhưng dường như những chuyện như chặt
chém lại ít được quan tâm để giải quyết một cách triệt để. Vì vậy, du khách cứ một đi không trở lại,
và rồi ngành du lịch cứ loay hoay mãi trong những mục tiêu của mình. Trong khi đó, các nước bạn
đã tiến rất xa, trở thành những điểm đến toàn cầu, dù rằng điều kiện tự nhiên của họ chưa chắc đã
tốt hơn Việt Nam.
Tôi nghĩ, đã đến lúc Nhà nước cần nhanh chóng áp dụng các biện pháp tương tự các nước đã áp
dụng để giải quyết nạn chặt chém. Du khách không thể yên tâm đi chơi và tiêu tiền khi luôn trong
trạng thái lo sợ bị móc túi bằng những chiêu chặt chém mà họ không thể ngờ tới.
27/04/2011 06:00 GMT+7
- Nước Đức, một chiều hè rực rỡ ở Blankenese (Hamburg), nữ nhà báo Friederike ngồi một
góc yên ắng trong tòa nhà cổ có tên Elsa Brandstrom. Cô thu mình lại, tránh những tiếng nhạc náo
nhiệt của nhóm phóng viên trẻ tới từ nhiều quốc gia khác nhau. Đối với Friederike, gặp các phóng
viên trẻ từ nhiều quốc gia khác nhau là một điều rất thú vị, để có thể tìm hiểu, và trả lời những suy
nghĩ của cô về đất nước đó.
TIN BÀI KHÁC
Phản đề của một 9X về sự hy sinh
Tranh luận lại với nữ sinh Ams về hy sinh
Chuyến di chuyển hổ thẹn khỏi thảm hoạ
TS Việt Nam học giải mã 'tính cách Nhật'