Tải bản đầy đủ (.docx) (54 trang)

thực trạng niêm yết thị trường chứng khoán tại Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (336.2 KB, 54 trang )

MỞ ĐẦU
Trong tiến trình đổi mới nền kinh tế Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm
đến việc xây dựng và hoàn thiện phát triển thể chế kinh tế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có thị trường tiền tệ, thị trường hối đoái và thị
trường chứng khoán. Quan điểm của Đảng và Nhà nước thể hiện sự quyết tâm,
kiên định xây dựng ngày càng đồng bộ hơn các loại thị trường trong nền kinh tế,
tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng lành mạnh cho doanh nghiệp và nhà đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh.
Xét về quá trình phát triển của lượng hàng hóa trên TTCK, chúng ta thấy rõ đã
có những bước chuyển rõ rệt đặc biệt là trong vòng 3 năm trở lại đây. Tuy nhiên,
hơn 200 doanh nghiệp niêm yết( tính cho đến thời điểm này) chưa phải đã là rổ
doanh nghiệp đại diện cho nền kinh tế. Tình trạng cầu quá lớn so với cung vẫn
đang là một thực tế diễn ra từ trước tới nay. Nguyên nhân cơ bản là hầu hết các tập
đoàn kinh tế lớn, những đại gia của nền kinh tế vẫn chưa tham gia niêm yết cổ
phiếu trên thị trường. Khi mà hố sâu chênh lệch trên TTCK về cung cầu hàng hóa
vẫn còn thì so sánh quy mô của thị trường với nền kinh tế, mức hòa vốn của thị
trường cổ phiếu kooangr 8% GDP là điều dễ hiểu- thị trường chứng khoán của
chúng ta còn quá nhỏ bé, xét về cả độ sâu và độ rộng của thị trường.Với mong
muốn tìm hiểu về việc tạo hàng cho thị trường chứng khoán và hơn nữa là tạo ra
những hàng hóa thực sự có chất lượng nhằm tìm ra những giải pháp hiệu quả đẩy
mạnh hoạt động niêm yết chứng khoán trên thị trường nhóm em cùng phân tích đề
tài:” Điều kiện và thực trạng niêm yết chứng khoán trên 2 sàn giao dịch chứng
khoán Việt Nam”

Chương I – Lý luận chung về thị trường chứng khoán
I – Tổng quan về thị trường chứng khoán
Khái niệm
Thị trường chứng khoán là lĩnh vực phong phú, đa dạng và rất phức tạp, là nơi mua
bán các chứng khoán và thường được thực hiện chủ yếu tại sở giao dịch chứng
khoán, một phần ở các công ty môi giới (công ty chứng khoán) , và cả ở thị trường
chợ đen.




Về mặt hình thức, thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi,
mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán; qua đó thay đổi chủ thể nắm giữ
chứng khoán.
* Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của Thị trường vốn, hoạt
động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung
thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để
phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư.
* Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại
chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. do
vậy thị trường chứng khoán là nơi chứng khoán được phát hành và trao đổi.
* Hàng hóa giao dịch trên Thị trường chứng khoán bao gồm: các cổ phiếu, trái
phiếu và một số công cụ tài chính khác có thời hạn trên 1 năm
* Vị trí của Thị trường chứng khoán: Trong thị trường Tài chính có hai thị trường
lớn là:
+ Thị trường Tài chính ngắn hạn (Thị trường tiền tệ);
+ Thị trường Tài chính dài hạn (Thị trường vốn): bao gồm Thị trường tín dụng dài
hạn; Thị trường cầm cố; và Thị trường chứng khoán.
Đặc điểm
- Thứ nhất được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực tiếp, người cần vốn và
người cung cấp vốn đều trực tiếp tham gia thị trường, giữa họ không có trung gian
tài chính;
- Thứ hai là thị trường gần với Thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Mọi người đều tự
do tham gia vào thị trường. Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng khoán,
mà giá cả ở đây được hình thành dựa trên quan hệ cung – cầu
- Thứ ba về cơ bản là một thị trường liên tục, sau khi các chứng khoán được phát
hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường
thứ cấp. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển chứng
khoán của họ thành tiền mặt bất cứ lúc nào họ muốn.

Phân loại


Theo đối tượng giao dịch
Thị trường cổ phiếu :là thị trường mà đối tượng giao dịch là các loại cổ phiếu của
các công ty cổ phần
+hàng hóa mua bán trên thị trường là các loại cổ phiếu
+nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu gữi vai trò là cổ đông,là đồng sở hữu một phần công
ty cổ phần tổ chức phát hành ra cổ phiếu đó
+do cổ phiếu không có thời hạn nên để thu hồi vốn đầu tư,thông thường nhà đầu tư
không thể yêu cầu tổ chức phát hành mua lại mà phải đem bán chúng cho những
nhà đầu tư khác trên thị trường cổ phiếu
Thị trường trái phiếu: là nơi giao dịch các loại trái phiếu
Thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư :Là nơi giao dịch các loại chứng chỉ quỹ
Thị trường chứng khoán phái sinh: Là nơi giao dịch các loại chứng khoán phái sinh
như quyền mua cổ phần,quyền chọn.là thị trường mà sự ra đời và phát triển của nó
bắt nguồn từ chính việc phát hành,giao dịch các loại chứng khoán gốc
Theo các giai đoạn vận động
Thị trường sơ cấp: Là thị trường diễn ra các giao dịch phát hành các chứng khoán
mới
Thị trường sơ cấp có vai trò tạo vốn cho các tổ chức phát hành vfa chuyển hóa các
nguồn vốn nhàn rỗi trong công chứng và đầu tư
Thị trường thứ cấp: là thị trường diễn ra các giao dịch mua bán các chứng khoán
đã được phát hành trên thị trường sơ cấp
Thị trường thứ cấp có vai trò là thực hiện việc di chuyển vốn đầu tư giữa các nhà
đầu tư chứng khoán.
Theo hình thức tổ chức và cơ chế hoạt động
Thị trường chứng khoán chính thức : là thị trường mà sự ra đời và hoạt động được
thừa nhận và bảo hộ về mặt pháp lý.



Thị trường tập trung- sở giao dịch: là thị trường ở đó việc giao dịch mau bán
chứng khoán được thực hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sà giao dịch
Thị trường chứng khoán tập trung: là thị trường hoạt động theo đúng các quy định
của pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt
được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép
bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tứ
là đã hội đủ tiêu chuẩn quy định.
Chứng khoán biệt lệ là chứng khoán do chính phủ hoặc các cơ quan công quyền
phát hành và bảo đảm. Loại chứng khoán này được miễn giấp phép của cơ quan có
thẩm quyền.
- Thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC): Là thị trường mua bán chứng
khoán nằm ngoài sở giao dịch, không có địa điểm tập trung những nhà môi giới,
những người kinh doanh chứng khoán như tại sở giao dịch. Các giao dịch ở đây
chủ yếu là dựa vào sự thỏa thuận giữa người mua và người bán, không có sự kiểm
soát từ Hội đồng Chứng khoán.
Xét về phương thức giao dịch
thị trường chứng khoán được chia làm thị trường giao ngay và thị trường giao sau.
- Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời điểm
giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau dó một
vài ngày theo thỏa thuận.
- Thị trường giao sau: Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp đồng
định sẵn, giá cả được thỏa thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và
giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai.
Ngoài ra, nếu căn cứ vào đặc điểm hàng hóa lưu hành thì thị trường chứng khoán
còn chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ
phái sinh.



Chức năng
Thị trường chứng khoán thực hiện các chức năng chủ yếu sau
Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển
Ta biết muốn đầu tư phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động từ bên ngoài.
Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tài chính và
phát hành cổ phiêú, trái phiếu.
Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễ dàng đầu tư
vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi. Còn đối với các DN là họ
không phải trả lãi suất hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bị thua kỗ.
Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các DN là rất
lớn, bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưa được huy
động. Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu có thị trường
chứng khoán .Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoàn chỉnh và bộ má
quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi , người dân sẽ dễ dàng sử
dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn. Đây là tác nhân kích thích ý thức tiết kiệm và tạo
thói quen đầu tư trong công chúng.
Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹ bảo hiểm,
quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhân hàng để thực
hiện vệc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn tự hỏi làm thế nào
cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa an toàn vừa có tính tạm
thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêu cầu này.
Tóm lại,thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi
trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô doanh
nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp.
Chức năng điều tiết các nguồn vốn
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừa vốn. Thừa
hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh.Khi cần đầu tư mua
nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây là lúc mà DN



đang thiếu vốn. Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm được bán ra và thu vốn
về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại tạm thời thừa vốn.
Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Ở đây
thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng.
Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới
Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ có thể thu
hút một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán. Nhờ vào hệ thống máy
tính mà thị trường chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trên thế giới và mua
một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích. Từ đó hình thành mối
liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồn vốn giữa các nước, thực
hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điều kiện cho việc hoà nhập nền
kinh tế thế giới.
Chức năng điều tiết vĩ mô
Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ ban chứng khoán
nhà nước, và Ngân hàng trung ương.
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường. Khi sản xuất
sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay để khuyến khích sản xuất
thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trị lớn. Khi hiện tượng đầu
tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoán nhằm thắt chặt tín dụng giảm
bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán là công cụ hữu hiệu để nhà nước
kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường.

Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân
Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dễ
dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năng sinh
lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ vốn sôi động và
dồi dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, công ăn việc làm
được giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên cạnh, thị trường chứng khoán như một



trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như một nam châm cực mạnh hút
các nguồn vốn từ nước ngoài. Ngoài ra còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu
hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
Khi DN cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất họ có thể phát hành chứng khoán,
vào thị trường để huy động vốn. Đây là phương thức tài trợ vốn qua phát hành và
lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên. Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp là rất nhỏ
vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi nữa, khi DN chưa có
cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán như là một tài sản
kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khi cần thiết
thông qua thị trường chứng khoán. Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thị trường
chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư. Như vậy các
công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chóng hơn.
Thị trường chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tương lai
Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đến vận mệnh
của nền kinh tế quốc dân. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DN trên thị
trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiện tại và dự doán
tương lai. Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng thái kinh tế
tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của DN đó. Triển
vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ
phiếu và cũng như sự biến động của nó.
Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu
trong nền kinh tế và việc nghiên cưú phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số
giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với
thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng
loạt các nước trên thế giới.

Vai trò
Các vai trò của thị trường chứng khoán rất đa dạng nhưng thông qua những chức
năng của nó thì có những vai trò sau



Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân
Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dễ
dàng hơn. Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không có khả năng sinh
lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹ vốn sôi động và
dồi dào hẳn lên. Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, công ăn việc làm
được giải quyết, thất nghiệp giảm. Bên cạnh, thị trường chứng khoán như một
trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, như một nam châm cực mạnh hút
các nguồn vốn từ nước ngoài. Ngoài ra còn giúp Nhà nước giải quyết vấn đề thiếu
hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng cơ sở.
Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sử dụng vốn linh hoạt và có hiệu quả hơn
Khi DN cần vốn để mở rộng qui mô sản xuất họ có thể phát hành chứng khoán,
vào thị trường để huy động vốn. Đây là phương thức tài trợ vốn qua phát hành và
lúc đó nguồn vốn của DN tăng lên. Lúc này rủi ro đối với doanh nghiệp là rất nhỏ
vì những cổ đông của họ đã gánh đỡ thay. Một điều thuận lợi nữa, khi DN chưa có
cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứng khoán như là một tài sản
kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyển nhượng thành tiền khi cần thiết
thông qua thị trường chứng khoán. Ngoài ra, khi DN niêm yết trên thị trường
chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối với công chúng đầu tư. Như vậy các
công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thích giúp DN tạo vốn nhanh chóng hơn.
Thị trường chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tương lai
Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đến vận mệnh
của nền kinh tế quốc dân. Sự hình thành thị giá chứng khoán của một DN trên thị
trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiện tại và dự doán
tương lai. Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiện trạng thái kinh tế
tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổ đông của DN đó. Triển
vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện một cách trực tiếp trên thị giá cổ
phiếu và cũng như sự biến động của nó.
Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoán chủ yếu

trong nền kinh tế và việc nghiên cưú phân tích một cách khoa học hệ thống chỉ số
giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trong mối quan hệ với


thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh tế của một hoặc hàng
loạt các nước trên thế giới.
Các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứng
khoán. Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán - hàng hoá của thị
trường chứng khoán.
Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu Chính phủ
và trái phiếu địa phương
Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty.
Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái phiếu,
chứng chỉ thụ hưởng... phục vụ cho hoạt động của họ.
Nhà đầu tư
Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng
khoán. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư
có tổ chức.
Các nhà đầu tư cá nhân
Các nhà đầu tư có tổ chức
Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán
Các trung gian tài chính
Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
Cơ quan quản lý Nhà nước



Sở giao dịch chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Tổ chức lưu ký và thanh toán bù trừ chứng khoán
Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Các tổ chức tài trợ chứng khoán
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
III- Niêm yết chứng khoán
1. Khái niệm , chức năng của sở giao dịch chứng khoán
* Khái niệm: Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) từ xưa đến nay vẫn được
hiểu là một địa điểm họp chợ có tổ chức, tại đó các chứng khoán niêm yết được
những thành viên giao dịch theo những quy định nhất định về phương thức giao
dịch, thời gian và địa điểm cụ thể. Trong đó, các thành viên giao dịch chính là các
nhà môi giới hưởng hoa hồng hoặc kinh doanh chứng khoán cho chính mình tham
gia giao dịch trên sàn hoặc thông qua hệ thống giao dịch đã được điện toán hoá.
Sở giao dịch chứng khoán là thị trường giao dịch chứng khoán được thực
hiện tại một địa điểm tập trung gọi là sàn giao dịch hoặc thông qua hệ thống máy
tính. Các chứng khoán được niêm yết giao dịch tại SGDCK thông thường là chứng
khoán của các công ty lớn, có danh tiếng và đã trải qua thử thách trên thị trường
và đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết (gồm các tiêu chuẩn định tính và định
lượng) do SGDCK đặt ra.
* Chức năng của SGDCK
Việc thiết lập một thị trường giao dịch chứng khoán có tổ chức, vận hành
liên tục với các chứng khoán được chọn lựa là một trong những chức năng quan


trọng nhất của SGDCK. Mặc dù hoạt động của SGDCK không mang lại vốn trực tiếp
cho tổ chức phát hành, nhưng thông qua SGDCK các chứng khoán phát hành
được giao dịch liên tục, làm tăng tính thanh khoản và khả mại cho các chứng
khoán. Các tổ chức phát hành có thể phát hành tăng vốn qua thị trường chứng
khoán, các nhà đầu tư có thể dễ dàng mua hoặc bán chứng khoán niêm yết một

cách dễ dàng và nhanh chóng.
Chức năng xác định giá cả công bằng là cực kỳ quan trọng trong việc tạo ra
một thị trường liên tục. Giá cả không do SGDCK hay thành viên SGDCK áp đặt mà
được SGDCK xác định trên cơ sở khớp các lệnh mua và bán chứng khoán.
2. Tổ chức và hoạt động của SGDCK
Mặc dù thị trường chứng khoán các quốc gia trên thế giới có thời điểm ra
đời khác nhau, theo mô hình cổ điển hay mô hình mới nổi và hình thức sở hữu
khác nhau (cổ phần, thành viên, nhà nước), nhưng SGDCK đều có cấu trúc như
sau:

Đại hội đồng cổ đông
(Hội đồng thành viên)
Hội đồng quản trị
Ban giám đốc
Các phòng chức năng
Phòng thành viên


Phòng niêm yết
P. giao dịch
P. giám sát
P. n/c phát triển
p. kế toán kiểm toán
P. công nghệ tin học
Văn phòng


* Hội đồng quản trị
Hội đồng quản trị (HĐQT) là cơ quan quản lý cấp cao nhất, HĐQT có các
thành viên đại diện là những người có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến thị

trường chứng khoán. Thành viên HĐQT gồm: đại diện của công ty chứng khoán
thành viên; một số đại diện không phải là thành viên như tổ chức niêm yết; giới
chuyên môn; nhà kinh doanh; chuyên gia luật và thành viên đại diện cho Chính
phủ.
Các đại diện của công ty chứng khoán thành viên được xem là thành viên
quan trọng nhất của HĐQT. Các công ty chứng khoán thành viên có nhiều kinh
nghiệm và kiến thức trong việc điều hành thị trường chứng khoán.
Quyết định của HĐQT có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của
các thành viên. Vì vậy, các đại diện của các thành viên nên được bày tỏ các ý kiến
của mình tại HĐQT.
Quyền hạn của Hội đồng quản trị:


Hội đồng quản trị SGDCK ra các quyết nghị về các lĩnh vực chính sau:
-

đình chỉ và rút giấy phép thành viên

-

Chấp thuận, đình chỉ và huỷ bỏ niêm yết chứng khoán

-

Chấp thuận kế hoạch và ngân sách hàng năm của SGDCK

-

Ban hành và sửa đổi các quy chế hoạt động của SGDCK


-

Giám sát hoạt động của thành viên

-

Xử phạt các hành vi, vi phạm quy chế của SGDCK.
Ngoài ra HĐQT có thể trao một số quyền cho tổng giám đốc SGDCK trong điều
hành.
* Ban giám đốc điều hành
Ban giám đốc điều hành chịu trách nhiệm về hoạt động của SGDCK, giám

sát các hành vi giao dịch của các thành viên, dự thảo các quy định quy chế của
SGDCK. Ban giám đốc hoạt động một cách độc lập nhưng chịu sự chỉ đạo trực tiếp
từ HĐQT.
* Các phòng ban
Các chức năng của SGDCK càng nhiều, cơ quan quản trị cần phải chia thành
nhiều ban, các ban này có chức năng tư vấn, hỗ trợ cho HĐQT và ban giám đốc
điều hành trên cơ sở đưa ra các ý kiến đề xuất thuộc lĩnh vực của ban. Ngoài ra, ở
một số SGDCK còn thành lập một số ban đặc biệt để giải quyết các vấn đề đặc biệt
về quản lý, tư vấn hoặc xử phạt. Tất cả hoặc một số thành viên của Ban là thành
viên HĐQT và nằm trong số các thành viên bên trong hoặc thành viên bên ngoài
SGDCK.
3. Thành viên sở giao dịch chứng khoán.


SGDCK có các thành viên giao dịch chính là các nhà môi giới hưởng hoa
hồng hoặc kinh doanh chứng khoán cho chính mình tham gia giao dịch trên sàn
hoặc thông qua hệ thống giao dịch đã được điện toán hoá. Công ty chứng khoán
là thành viên của SGDCK và được hưởng các quyền, cũng như nghĩa vụ do SGDCK

quy định. Chuẩn mực kinh doanh của các thành viên theo quy định do SGDCK đặt
ra, nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và duy trì một thị trường hoạt động
công bằng, hiệu quả.
- Phân loại thành viên
Thành viên được phân loại theo quyền của thành viên đó là thành viên
chính và thành viên đặc biệt. Trong đó thành viên chính là thành viên thường
tham gia ngay từ khi mới thành lập SGDCK và được biểu quyết và được phân chia
tài sản của SGDCK. Còn thành viên đặc biệt là thành viên mới gia nhập SGDCK sau
này, nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính cho các thành viên cũ và tăng quy mô
hoạt động của thị trường.
Đối với thị trường phát triển, ví dụ như tại SGDCK New York, thành viên
được phân chia làm nhiều loại dựa trên các chức năng của mình, như thành viên
là các chuyên gia thị trường, nhà môi giới của công ty thành viên, nhà môi giới độc
lập, nhà tạo lập thị trường, và người giao dịch cạnh tranh, các nhà môi giới trái
phiếu.
- Tiêu chuẩn thành viên
+ Yêu cầu về tài chính: đáp ứng vốn góp cổ đông, vốn điều lệ và tổng tài
sản có thể được quy định như là các yêu cầu tài chính bắt buộc đối với các thành
viên SGDCK.


+Quy định về nhân sự: Số lượng và chất lượng của ban điều hành, các nhà
phân tích chứng khoán và các chuyên gia khác phải được quy định trong quy chế
nhân sự.
+Điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật: Công ty xin làm thành viên phải có
trụ sở chính, các chi nhánh, văn phòng giao dịch cũng như cơ sở vật chất, trang
thiết bị phải đáp ứng được yêu cầu của kinh doanh như các trạm đầu cuối để
nhận lệnh, xác nhận lệnh, các bảng hiển thị điện tử.
- Thủ tục kết nạp thành viên
Quy trình và thủ tục kết nạp thành viên bao gồm các bước sau:

Thảo luận sơ bộ
Nộp hồ sơ xin kết nạp
Thẩm định
HĐQT ra quyết định

Thanh toán các khoản phí
Kết nạp


4. Niêm yết chứng khoán
* Khái niệm: Niêm yết chứng khoán là quá trình định danh các chứng khoán
đáp ứng đủ tiêu chuẩn được giao dịch trên SGDCK. Cụ thể, đây là quá trình
SGDCK chấp thuận cho công ty phát hành có chứng khoán được phép niêm yết và
giao dịch trên SGDCK nếu công ty đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về định lượng
cũng như định tính mà SGDCK đề ra.
* Mục tiêu của việc niêm yết


-Thiết lập quan hệ hợp đồng giữa SGDCK với tổ chức phát hành có chứng
khoán niêm yết, từ đó quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của tổ chức phát hành
trong việc công bố thông tin, đảm bảo tính trung thực, công khai và công bằng.
- Nhằm mục đích hỗ trợ thị trường hoạt động ổn định, xây dựng lòng tin
của công chúng đối với thị trường chứng khoán bằng cách lựa chọn các chứng
khoán có chất lượng cao để giao dịch.
- Cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin về các tổ chức phát hành.
- Giúp cho việc xác định giá chứng khoán được công bằng trên thị trường
đấu giá vì thông qua việc niêm yết công khai, giá chứng khoán được hình thành
dựa trên sự tiếp xúc hiệu quả giữa cung và cầu chứng khoán.
* Vai trò của việc niêm yết chứng khoán đối với tổ chức phát hành
- Thuận lợi:

+ Công ty dễ dàng trong việc huy động vốn: Niêm yết nhằm mục đích huy
động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Công ty có thể thu hút vốn dài
hạn thông qua phát hành chứng khoán với chi phí thấp.
+ Tác động đến công chúng: Niêm yết góp phần “tô đẹp” thêm hình ảnh
của công ty trong các nhà đầu tư, các chủ nợ, người cung ứng,...
+ Nâng cao tính thanh khoản cho các chứng khoán: Khi các chứng khoán
được niêm yết, chúng có thể nâng cao tính thanh khoản, mở rộng phạm vi chấp
nhận làm vật thế chấp và dễ dàng được sử dụng cho mục đích tài chính, thừa kế và
các mục đích khác.
+ Ưu đãi về thuế


- Hạn chế:
+ Nghĩa vụ báo cáo như là một công ty đại chúng: Công ty niêm yết phải có
nghĩa vụ công bố thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời liên quan đến
các mặt hoạt động của công ty cũng như các biến động có ảnh hưởng đến giá cả
chứng khoán niêm yết. Nghĩa vụ công bố thông tin đại chúng trong một số trường
hợp làm ảnh hưởng đến bí quyết, bí mật kinh doanh và gây phiền hà cho công ty.
+ Những cản trở trong thâu tóm và sáp nhập:
Niêm yết chứng khoán bộc lộ nguồn vốn và phân chia quyền biểu quyết
của công ty cho những người mua là những người có thể gây bất tiện cho những
cổ đông chủ chốt và công việc quản lý điều hành hiện tại của công ty. Công ty có
thể gặp nhiều cản trở trong việc thực hiện mục tiêu thâu tóm hay sap nhập của
mình.
Nói tóm lại, chứng khoán và thị trường chứng khoán là một vấn đề có
nhiều lý luận. Nhưng tựu chung lại thì những đặc điểm mà tôi vừa nêu trên là
những nội dung căn bản mà tôi muốn trình bày trong đề tài của mình.

IV Niêm yết chứng khoán ở thị trường chứng khoán các nước trên thế giới.
a) Sở giao dịch chứng khoán Anh.

Sàn giao dịch chứng khoán London nằm tại London, Anh. Được thành lập từ
1801, đây là một trong những cơ sở giao dịch chứng khoán lâu đời nhất thế giới,
với nhiều công ty trong nước Anh và ở nước ngoài niêm yết. Trụ sở của London
Stock Exchange ( LSE) hiện đặt tại số 10, quảng trường Paternoster gần nhà thờ St
Paul, trung tâm của thành phố London.


LSE là thị trường hoàn toàn. Chứng khoán có thanh khoản cao được giao
dịch trên hệ thống khớp lệnh SETS automated system; hệ thống SEAQ system
dành cho chứng khoán giao dịch ít thường xuyên hơn. Nhà tạo lập thị trường được
yêu cầu nắm giữ chứng khoán của những công ty cụ thể, thiết lập giá bán thấp nhất
và giá mua cao nhất, đảm bảo luôn có thị trường cho các loại chứng khoán này. Thị
trường có 2,792 công ty khác nhau niêm yết, trong đó 613 là công ty nước ngoài
(WFE 2009). Các công ty xin được niêm yết trên LSE phải có hồ sơ ghi chép ít
nhất 75% trong vòng 3 năm gần nhất được chứng thực bằng ghi chép kinh doanh.
Niêm yết Anh sẽ xem xét rút ngắn thời gian ghi chép sổ sách trong từng trường
hợp cụ thể. Những tiêu chuẩn tiêu chí niêm yết của LSE đó là phải hoạt động tối
thiểu ít nhất là 3 năm, vốn hóa thị trường đợi phát hành là 700000 EURO. Số
lượng cổ phiếu do công chúng nắm giữ ít nhất là 25% và phải có bổ nhiệm bảo trợ
nối kết giữa sở giao dịch và nhà phát hành.
b) Sở giao dịch chứng khoán Mỹ.
NYSE là thị trường lớn nhất thế giới theo tiêu chí khác nhau. Thị trường thu hút
2,327 doanh nghiệp niêm yết, trong đó 495 là công ty đến từ nước ngoài, đứng thứ
hai trên thế giới (sau LSE London với 613 công ty). NYSE có lịch sử lâu đời nên
công ty niêm yết trên NYSE cũng lâu đời.Tuy nhiên, đối với các công ty nước
ngoài niêm yết trên NYSE thường có qui mô lớn, mới cổ phần hóa, khuynh hướng
xuất khẩu, tỷ lệ tang trưởng cao, công nghệ cao, hoạt động R&D chuyên sâu.
Các công ty có thể niêm yết tại NYSE qua ba hình thức, đó là trực tiếp, SPAC, và
ADR. Niên yết trực tiêp là công ty nước ngoài trực tiếp đứng ra phát hành dưới sự
bảo lãnh của định chế tài chính được phép theo qui định của SEC. SPAC (sáp nhập

ngược ) là công ty đã niêm yết nhưng không có tài sản và kinh doanh, được thành
lập nhằm mục đích tìm các công ty để sáp nhập. Nhiều công ty niêm yết trên
NYSE, đặc biệt là các công ty nước ngoài thường chọn hình thức sáp nhập ngược
này. Sở dĩ SPAC được tin cậy là vì người ta tin vào những nhà sáng lập ra SPAC
(thường là những công ty có tiếng ). ADR ( American Deposit Receipts) là biên
nhận của những cổ phiếu, ADR được định giá mua và bán ở Mỹ, do ngân hàng lưu
ký có tiếng ở Mỹphát hành ra thị trường Mỹ theo sự đồng ý của công ty, đồng thời
ngân hàng này nắm giữ những cổ phiếu gốc của những công ty phát hành ra từ
nước ngoài. Những tiêu chí đó là số lượng cổ phiểu do công chúng nắm giữ là
1.100.000 cổ phiếu. Giá cổ phiếu vào lúc xin niêm yết tối thiểu là 4 đôla Mỹ/cp.


Cùng với đó thì các công ty xin niêm yết phải thỏa mãn 3 điều kiện : Điều kiện thứ
nhất là lợi nhuận trước thuế 3 năm gần nhất 10 triệu đôla Mỹ, lợi nhuận trước thuế
3 năm gần nhất phải dương. Điều kiện thứ hai là đảm bảo giá trị của dòng tiền và
giá trị của doanh thu thuần. Điều kiện thứ ba là giá trị vốn hàng hóa thị trường toàn
cầu 150 triệu đôla Mỹ, tổng tài sản 75 triệu đôla Mỹ, vốn cổ phần 50 triệu đôla
Mỹ.
c) Bài học cho Việt Nam.
Thành lập cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán.
Thực tiễn trên thế giới cho thấy thị trường chứng khoán có thể được hình thành tự
phát không do Nhà nước xây dựng nhưng đến một thời điểm nào đó các nước đều
thành lập cơ quan quản lý nhà nước. Nước nào sớm thành lập cơ quan quản lý nhà
nước tốt thì nước đó sớm phát triển tốt. Các cơ quan quản lý nhà nước này thường
là các cơ quan quản lý độc lập dưới sự kiểm soát của Quốc hội hoặc chính phủ.
Từng bước hoàn thiện sở giao dịch chứng khoán.
Thành lập và đưa vào hoạt động một SGD chứng khoán không có nghĩa là ngay từ
đầu đã có đầy đủ các chức năng, nghiệp vụ như một SGD hoàn chỉnh mà tuỳ theo
điều kiện phát triển của từng nước. Ban đầu có thể thành lập SGD ở quy mô nhỏ
cho phù hợp với dung lượng thị trường trong điều kiện hàng hoá chưa nhiều, công

chúng tham gia chưa đông đảo, chưa có đủ điều kiện cơ sở vật chất, vốn hoạt động
cũng như kinh nghiệm quản lý. Việc xây dựng hai TTGDCK Tp. Hồ Chí Minh
năm 2000 nay đổi thành SGDCK TP HCM(2007) và đưa TTGDCK Hà Nội đi vào
hoạt động vào năm 2005 trong bước đi ban đầu của TTCK Việt Nam là sự vận
dụng sáng tạo những kinh nghiệm của thị trường chứng khoán thế giới vào điều
kiện cụ thể ở Việt Nam.
Cho phép chứng khoán nước ngoài niêm yết trên Sở giao dịch CK
Một vấn đề khác là việc cho phép chứng khoán nước ngoài được niêm yết
trên SGD. Trong thời gian đầu mới hoạt động, hầu hết các SGDCK châu Á đều hạn
chế không cho phép chứng khoán nước ngoài niêm yết trên SGD của mình. Tuy
nhiên, các nước lại khuyến khích các công ty trong nước niêm yết chứng khoán
trên các SGDCK nước ngoài. Các chính sách này nhằm hạn chế tác động của bên
ngoài vào TTCK và đồng thời tăng cường huy động vốn cho nền kinh tế trong


nước như trường hợp Trung Quốc. Đến một trình độ phát triển nhất định, các giới
hạn trên được gỡ bỏ dần. Sở giao dịch chứng khoán phát triển như Mỹ, Nhật Bản,
Anh… đều mở cửa cho sự tham gia niêm yết chứng khoán từ nước ngoài.

Chương II thực trạng hoạt động niêm yết chứng khoán tại thị trường chứng
khoán Việt Nam
1. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động niêm yết chứng khoán
Trước thời điểm năm 2006, Nghị định 48/1998/NĐ-CP vẫn được coi là văn
bản pháp luật cao nhất về chứng khoán, tuy nhiên, Nghị định này được xây dựng
trong điều kiện nước ta chưa có thị truờng chứng khoán do đó không tránh khỏi
nhiều hạn chế bất cập. Đến nay với Luật chứng khoán ra đời có hiệu lực thi hành từ
ngày 1-1-2007, thị trường Chứng khoán Việt Nam đã có hành lang pháp lý chính
thức và tương đối đầy đủ. Cụ thể các văn bản pháp luật dưới đây trực tiếp điều
chỉnh hoạt động niêm yết chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt Nam :
•Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ngày 29/6/2006

•Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19/1/2007 của Chính phủ quy định chi
tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
•Quyết định số 25/QĐ-TTGDCK HCM ngày 17/4/2007 ban hành Quy chế
công bố thông tin trên TTGDCK Tp.HCM.
•Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn
về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán .
•Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC ra ngày 13/3/2007 về việc ban hành quy
chế quản trị công ty áp dụng cho các công ty niêm yết trên SGDCK/TTGDCK.
•Quyết định số 13/2007/QĐ-BTC ban hành kèm theo mẫu bản báo bạch
trong hồ sơ đăng kí chào bán chứng khoán ra công chúng và hồ sơ đăng kí niêm yết
chứng khoán tại SGDCK/TTGDCK.
•Nghị định 36/2007 NĐ/CP của Chính phủ ra ngày 8/3/2007 về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK.
•Thông tư số 97/2007/TT-BTC huớng dẫn thi hành một số điều của Nghị
định số 36/2007/NĐ-CP.
2. Các quy định pháp lý cụ thể về niêm yết chứng khoán
Căn cứ vào Luật chứng khoán 2006, Nghị định 14/2007/NĐ-CP, Quyết định
số 25/QĐ-TTGDCK HCM ngày 17/4/2007, thì các quy định pháp lý về hoạt động
niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minhvà
TTGDCK Hà Nội như sau :
Tiêu chuẩn niêm yết chứng khoán
Việc niêm yết chứng khoán là một thủ tục cho phép chứng khoán của công ty


phát hành được phép giao dịch trên thị trường giao dịch chứng khoán tập trung.
Đây là quá trình trước đây do UBCKNN chấp thuận nhưng vào đầu năm 2007, toàn
bộ quy trình tiếp nhận, xử lý, thẩm định, cấp phép niêm yết đã được UBCKNN trao
cho SGDCK Tp.HCM và TTGDCK Hà Nội theo tinh thần của Luật chứng khoán có
hiệu lực từ ngày 1/1/2007.
Chứng khoán niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán và trung tâm giao

dịch chứng khoán
• Cổ phiếu
• Chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán
• Trái phiếu
• Các loại chứng khoán khác sau khi có sự chấp thuận của Ủy ban chứng
khoán.
a. Tiêu chuẩn niêm yết đối với tổ chức phát hành trên Sở giao dịch
chứng khoán
• Mức vốn điều lệ đã góp tối thiểu là 80 tỷ đồng Việt Nam : So với
Nghị định 144/2003/NĐ-CP trước đây, mức vốn này đuợc quy định cao hơn. Mức
vốn này đuợc quy định trên cơ sở khảo sát quy mô vốn hiện nay của các doanh
nghiệp Việt Nam đồng thời tính đến yêu cầu nâng cao dần chất lượng của các công
ty niêm yết trên tại SGDCK cho tương xứng cho tương xứng với các TTCK khu
vực trong xu thế hội nhập. Nghị định 14 cũng quy định rõ trong thời gian thực hiện
chuyển đổi từ TTGDCK lên thành SGDCK theo quy định tại khoản 5 điều 134 Luật
Chứng khoán, tổ chức mới đăng kí niêm yết chứng khoán tại TTGDCK Tp.HCM
phải đáp ứng các điều kiện niêm yết quy định đối với SGDCK. Đối với các tổ chức
đã niêm yết tại TTGDCK Tp.HCM trước khi Nghị định 14 có hiệu lực, nếu không
đáp ứng đủ các điều kiện niêm yết tại SGDCK quy định tại Nghị định này, thì trong
thời gian 2 năm kể từ ngày Nghị định 14 có hiệu lực thi hành phải điều chỉnh để đáp
ứng đủ điều kiện niêm yết, nếu quá thời hạn trên mà không đáp ứng đủ điều kiện
niêm yết tại SGDCK thì phải chuyển sang niêm yết tại TTGDCK.
•Hoạt động kinh doanh hai năm liền trước năm đăng kí niêm yết phải có lãi
và không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng kí hoạt động. Không có các khoản nợ quá
hạn chưa được dự phòng theo quy định của pháp luật; công khai mọi khoản nợ. Các
công ty muốn niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán phải chứng minh tình hình
hoạt động của mình trong hồ sơ xin phép niêm yết. Đặc biệt là trong báo cáo tài
chính được trình bày trong bản cáo bạch. Những bản báo cáo này phải thể hiện
được công ty hoạt động kinh doanh có lãi trong hai năm liên tục gần nhất tính đến
ngày xin niêm yết, tình hình tài chính lành mạnh, không có lỗ lũy kế tính đến năm

niêm yết, có triển vọng phát triển. Triển vọng của công ty thể hiện qua các dự án
đầu tư trong tương lai, quy mô và triểnvọng đầu tư phát triển trong 3 hoặc 5 năm
tới, có thể là công ty mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mở thêm các chi nhánh
ở các tỉnh trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu về hàng hóa của công ty ... Việc quy


định công ty phải hoạt động có lãi trong hai năm liên tục tính đến ngày niêm yết để
đảm bảo rằng : khi đến ngày xin phép niêm yết hoặc niêm yết lại, công ty đã đi vào
hoạt động kinh doanh ổn định, đã sinh lời từ hoạt động kinh doanh đó. Bên cạnh đó,
những điều kiện này cũng giúp cho cổ phiếu của công ty khi niêm yết có giá trị hơn
và được công chúng đầu tư quan tâm hơn vì cổ phiếu của công ty này đã sinh lợi
trong hai năm liên tục và triển vọng sẽ tiếp tục như vậy khi công ty niêm yết.
•Tối thiểu 20% cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ
đông nắm giữ
•Cổ đông là thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát,Giám đốc hoặc
Tổng giám đốc, Phó giám đốc hoặc Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng của công ty
phải nắm giữ 100% số cổ phiếu do mình sở hữu trong thời gian 6 tháng kể từ ngày
niêm yết và 50% số cổ phiếu này trong thời gian 6 tháng tiếp theo không tính số cổ
phiếu thuộc sở hữu Nhà nước do các cá nhân đại diện trên nắm giữ. Thời gian này
đã giảm xuống so với quy định tại Nghị định 144 và tiến gần tới xu hướng của thế
giới. Xu hướng chung là không quy định yêu cầu này nữa, tuy nhiên, đối với TTCK
Việt Nam đang còn ở giai đoạn đầu, các yêu cầu về quản trị công ty mới đang trong
quá trình triển khai và còn một số hạn chế do đó để đảm bảo sự ổn định thì cần quy
định về thời gian này nhằm đảm bảo cho sự thành công của Quỹ hay công ty.
•Đối với chứng chỉ quỹ đầu tư, yêu cầu là quỹ đóng và theo mệnh giá phát
hành là từ 50 tỷ đồng Việt Nam trở lên. Đối với cổ phiếu của công ty đầu tư chứng
khoán, vốn điều lệ thực góp là 50 tỷ đồng trở lên. Ngoài yêu cầu đối với Sáng lập
viên và thành viên Ban giám đốc giống với yêu cầu của các tổ chức niêm yết trái
phiếu và cổ phiếu ở trên, thì phải có ít nhất 100 người sở hữu chứng chỉ quỹ và 100
cổ đông nắm giữ cổ phiếu của công ty đầu tư chứng khoán.

b. Tiêu chuẩn niêm yết đối với tổ chức phát hành trên Trung tâm dịch
chứng khoán
•Mức vốn điều lệ đã góp tối thiểu là 10 tỷ đồng Việt Nam : Về niêm yết tại
TTGDCK, Điều 9 Nghị định 14 quy định, tổ chức niêm yết tại TTGDCK phải có
vốn điều lệ thực góp tại thời điểm đăng kí niêm yết từ 10 tỷ đồng trở lên. Trái phiếu
Chính phủ, Trái phiếu Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phuơng được
niêm yết trên TTGDCK theo đề nghị của tổ chức phát hành, TTGDCK là nơi giao
dịch trái phiếu chính phủ, dần dần hình thành thị truờng chuyên biệt giao dịch Trái
phiếu chính phủ. Đối với các chứng khoán đủ tiêu chuẩn niêm yết mà chưa niêm
yết trên TTGDCK được giao dịch tại công ty chứng khoán và chuyển kết quả giao
dịch qua TTGDCK để thanh toán thông qua Trung tâm lưu ký chứng khoán.
•Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng kí phải có lãi, không
có các khoản nợ phải trả quá hạn trên một năm và hoàn thành nghĩa vụ tài chính
với Nhà nước. Tuy nhiên, việc niêm yết cổ phiếu của các doanh nghiệp thành lập
mới thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng hoặc công nghệ cao,doanh nghiệp 100% vốn nhà
nước chuyển đối thành công ty cổ phần không phải đáp ứng điều kiện này.


•Cổ phiếu có quyền biểu quyết của công ty do ít nhất 100 cổ đông nắm
giữ.
c. Nghị định còn có các quy định điều chỉnh về việc niêm yết chứng
khoán tại SGDCK nƣớc ngoài. Doanh nghiệp muốn đăng kí niêm yết chứng
khoán tại SGDCK nước ngoài phải có điều kiện : không thuộc danh mục ngành
nghề mà pháp luật cấm bên nước ngoài tham gia và phải đảm bảo tỷ lệ tham gia của
bên nước ngoài theo quy định của pháp luật; có quyết định thông qua việc niêm yết
tại SGDCK nước ngoài của HĐQT hoặc Đại hội đồng cổ đông (đối với công ty cổ
phần) , của hội đồng thành viên (đối với công ty TNHH từ hai thành viên trở lên),
Chủ sở hữu công ty (đối với công ty TNHH một thành viên) hoặc đại diện của chủ
sở hữu vốn (đối với công ty Nhà nước) và đáp ứng điều kiện niêm yết tại SGDCK
của nước mà cơ quan quản lý TTCK hoặc SGDCK đã có thoả thuận hợp tác với

UBCKNN Việt Nam. Để thực hiện quản lý Nhà nước đối với hoạt động này và bảo
vệ lợi ích của nhà đầu tư trong nước khi có sự niêm yết đồng thời tại thị trường
trong nước và nước ngoài. Nghị định cũng quy định doanh nghiệp phải có nghĩa vụ
báo cáo về việc niêm yết gửi UBCKNN; nghĩa vụ công bố thông tin; tổ chức niêm
yết tại nứoc ngoài phải tuân thủ chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam, truờng
hợp có sự khác biệt phải giải trình sự khác biệt.
Nội dung và các bƣớc đăng kí niêm yết
a. Đăng kí niêm yết đối với cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ phát
hành lần đầu hoặc phát hành thêm
Bước 1 : Tổ chức họp hội đồng quản trị
• Đánh giá tình hình của của công ty theo các điều kiện niêm yết và
thông qua chủ truơng đăng ký niêm yết.
• Xác định những vấn đề cơ bản cần xin ý kiến đại hội đồng cổ đông và
xác định thời điểm họp đại hội đồng cổ đông
Bước 2 : Họp đại hội đồng cổ đông
• Xin ý kiến của đại hội đồng cổ đông về chủ trương phát hành cổ phiếu
ra công chúng, với các nội dung chính :
o Mục đích huy động vốn, số lượng vốn cần huy động, phuơng án
sử dụng, đầu tư và trả nợ vốn thu được.
o Loại, số lượng cổ phiếu, trái phiếu, hay chứng chỉ quỹ dự định
phát hành.
o Cơ cấu cổ phần dự tính phân phối cho các đối tượng : Hội đồng
quản trị, cổ đông hiện tại, người lao động trong doanh nghiệp, các
nhà đầu tư bên ngoài doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài…
• Thông qua Nghị quyết của đại hội đồng cổ đông về các vấn đề trên.
Buớc 3 : Chuẩn bị phương án phát hành
• Chuẩn bị hồ sơ và các tài liệu pháp lý.
• Chỉ định các tổ chức liên quan đến đợt phát hành như : Bảo lãnh phát



×