Tải bản đầy đủ (.doc) (54 trang)

ĐỀ CƯƠNG ôn THI học PHẦN tâm lý học NHÂN CÁCH CHUYÊN NGÀNH tâm lý học SAU đại học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (295.8 KB, 54 trang )

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TÂM LÝ HỌC NHÂN CÁCH
1. Quan điểm TLH phương tây về nhân cách
1.1. Quan điểm của Phân tâm học về nhân cách
* S.Freud là người sáng lập trườn phái Phân tâm học
- Cấu trúc: Theo ông tâm lý con người được tạo bởi ba khối: Vô thức, ý thức
và siêu thức (Khối vô thức là khối bản năng, trong có bản năng tình dục giữ vị trí
trung tâm).
Ứng với 3 khối đó là cái ấy, tôi, siêu tôi. Sự tác động lẫn nhau giữa 3 khối
này tạo nên nhân cách, nói cách khác nhân cách gồm 3.
+ Cái "ấy" là con người bản năng, hoạt động theo nguyên tắc thỏa mãn
+ Cái "tôi" là con người của hiện thực, được hình thành do áp lực thực tại bên
ngoài, đến toàn bộ khối bản năng. Nó bảo đảm các chức năng tâm lý như chú ý, trí
nhớ v.v... Hoạt động của cái tôi theo nguyên tắc thực tại.
+ Cái "siêu tôi": là con người xã hội, là những chế ước xã hội: đạo đức, nghệ
thuật, giáo dục, tôn giáo… Siêu tôi hoạt động theo nguyên tắc kiểm duyệt.
Cả 3 khối này theo nguyên tắc chung là ở trạng thái thăng bằng tương đối.
Con người lúc ấy ở trạng thái bình thường. Nhưng cả 3 khối này luôn luôn xung
đột với nhau, sự xung đột này là cơ chế của hoạt động tâm thần.
Từ đó Freud nêu ra cơ chế hoạt động tâm lý của con người. Đó là cơ chế
kiểm duyệt, chèn ép, cơ chế biến dạng, cơ chế siêu thăng, cơ chế suy thoái.
- Động lực: động lực của sự phát triển nhân cách là mâu thuẫn xung đột nội
tâm, tuy chưa đưa ra khái niệm động cơ.
- Các giai đoạn: Ông cũng là người đưa ra 5 giai đoạn phát triển nhân cách
theo lứa tuổi.
+ Miệng: Sơ sinh đên 1 tuổi
+ Hậu môn: 1-3
+ Dương vật: 3-5
+ Tiềm ẩn: 5-1.
+ 12 (dạy thì) - trưởng thành: tình dục.
=> Đóng góp to lớn của S. Freud là đưa ra giả thuyết về vô thức, tiềm thức là
những mặt quan trọng trong đời sống tâm lý của con người. Ngày nay người ta đã


thừa nhận vô thức là có thật trong đời sống tâm lý con người; đưa ra một số cơ chế
như tự vệ, dồn nén, mặc cảm, đồng nhất hóa, giai đoạn phát triển và liên tưởng tự
do. Tuy nhiên tuyệt đối hóa vô thức, sinh lý và không quan tâm gì đến yếu tố xã
hội, không thấy được bản chất xã hội lịch sử của tâm lý người. Con người ở đây là
con người sinh vật.
* Phân tâm học mới
Do hạn chế mà những người cộng tác và học trò của ông đã rời bỏ F và hình
thành nên những học thuyết phân tâm học mới theo các hướng khác nhau, tiêu biểu
là: K.Jung; A.Adler; Erich Fromm… Theo những hướng này, có cả yếu tố ý thức,
xã hội… song về cơ bản vẫn là phân tâm.
a) Karl Jung về nhân cách.
Karl Jung (1879 - 1961) là bạn và người cộng tác với Freud, là người phát
triển học thuyết Freud theo một hướng mới.
Karl Jung bắt đầu sự nghiệp là bác sĩ trong bệnh viện thần kinh ở Thụy Sĩ.


- Về vô thức: ông phê phán lập trường của Freud về vô thức. Ông cho rằng
hành vi con người được điều chỉnh bằng vô thức cả ý thức. Đó là quá trình điều
chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh.
Ý thức được hiểu là mối quan hệ của nội dung cái tôi. Ý thức không đồng
nhất với tâm lý mà còn có vô thức nữa. Vô thức là hiện tượng được thể hiện ở sự
quên, những kinh nghiệm đã được xác định trước đây bị ức chế, che lấp chưa trở
về được với ý thức.
Ông cho rằng con người có vô thức đạo đức bẩm sinh. Các hoạt động của con
người có tính chất bản năng và tạo thành vô thức tập thể. Điều đó được thể hiện
trong nền văn hóa dân tộc cũng như trong nghệ thuật. Chúng có những biểu tượng
tượng trưng cho mọi thời đại và mọi nơi. Mỗi dân tộc có những truyền thuyết, thần
thoại riêng đặc trưng cho biểu tượng của dân tộc đó. Ví dụ hình ảnh con rồng đặc
trưng cho nền văn hóa Việt Nam, hình ảnh chú bé Thánh Gióng trong thần thoại
Việt Nam là biểu tượng có tính chất tập thể. Ông cho rằng có vô thức tập thể, bởi

vì mỗi người đều tiềm tàng trong mình một di sản tinh thần được truyền từ nhiều
thế hệ trong nền văn hóa dân tộc và nền văn minh nhân loại.
Bản năng con người có tính chất tập thể, mỗi hiện tượng của xã hội đều giống
nhau cho mỗi cá nhân. Vì vậy, hình thức phản ứng của mỗi cá nhân cũng giống
nhau. Vô thức tập thể được hình thành từ tổng số các bản năng và hình mẫu cổ sơ...
Jung không thừa nhận bản năng tình dục của Freud là quyết định tâm lý con
người. Nhưng ông lại thừa nhận trong con người có vô thức như Freud đã quan
niệm. Vì vậy, về bản chất học thuyết của Jung vẫn là học thuyết phân tâm được cải
biên thành học thuyết phân tâm học mới.
- Cấu trúc nhân cách theo Jung
Thế giới bên ngoài
Nhân cách (Person)
Ý thức
Tôi
Cá nhân Cái bản thân Vô thức
Phần cá nhân

Trong tập thể
Vô thức
Nhân cách nguyên thuỷ Vô thức
Vô thức tập thể
Qua cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức. Nhân cách là người mẹ của
ý thức và vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân.
Cái bản thân (Selbst) nằm giữa ý thức và vô thức. Cái bản thân là sự tổng hợp
cái bên trong và cái bên ngoài.
Đối với người đàn ông trong vô thức tập thể của họ có người đàn bà. Người
đàn bà là hình ảnh nguyên thủy trong vô thức tập thể của đàn ông. Đó là người mẹ.
Kiểu nhân cách. Jung chia nhân cách làm 2 loại: Loại nhân cách hướng nội và
loại nhân cách hướng ngoại. Cả 2 kiểu đều thể hiện mối quan hệ đối với thế giới
bên ngoài.



Kiểu hướng ngoại và hướng nội đều có chức năng tư duy, chú ý, tình cảm, ý
chí. Về bản chất các kiểu này đều sử dụng năng lượng tâm lý để thực hiện chức
năng của mình.
Nhưng kiểu hướng ngoại về bản chất là hướng ra thế giới bên ngoài, sử dụng
năng lượng vào mục đích khách thể. Còn nhân cách hướng nội năng lượng sử dụng
vào các quá trình bên trong là chủ yếu.
Về nhân cách Jung cho rằng con người có 3 lớp vô thức.
Những vô thức này chi phối số phận con người trong việc chọn lựa tình yêu,
bạn bè, nghề nghiệp, trong ốm đau, chết chóc.
+ Lớp thứ nhất là vô thức cá nhân thể hiện trong cuộc sống hàng ngày.
+ Lớp thứ hai là vô thức gia đình thể hiện trong động lực gây ra đồng tính
luyến ái vô thức và sự trỗi dậy của bản năng.
+ Lớp thứ ba là vô thức tập thể xuất phát từ hình tượng cổ sơ có nguồn gốc
văn hóa chủng tộc.
Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu.
Lý luận nhân cách tầng sâu xuất phát từ quan niệm vô thức. Vô thức được
xác định bằng những sự kiện của hành vi.
Những nét nhân cách và sự hư hỏng nhân cách là do xung đột có tính chất
bản năng của hành vi. Đó là những bản năng trực tiếp và bản năng tức thời.
Lý luận nhân cách tầng sâu là một khám phá mới về vô thức. Song điều này
chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người. Nhân cách con người còn thể hiện
ở những phẩm chất khác như năng lực, khí chất cũng như bộ mặt đạo đức trong
nhân cách con người. Những cái này Jung chưa đi sâu nghiên cứu.
b) Alfred Adler (1870 - 1937).
Nhà tâm lý học người Áo. Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu được công
bố ở châu Âu và Mỹ. Là nhà nghiên cứu tâm lý học cá nhân, Adler đã dùng phương
pháp của tâm lý học phân tích trong nghiên cứu của mình. Song về nội dung ông
xuất phát từ quan niệm năng lực tâm hồn và nhấn mạnh đến hành vi xã hội.

Ông cho rằng tất cả hành vi của con người đều chịu ảnh hưởng của xã hội.
Nhân cách thống nhất với hoàn cảnh và môi trường xã hội.
Trong tư tưởng cơ bản của ông vẫn là vô thức bản năng hay là năng lượng
tâm hồn là những cơ chế của tính tích cực, của xung đột và là cơ chế bảo vệ.
- Về quan niệm nhân cách, ông cho rằng "Đời sống tâm hồn của con người là
mục đích đã vạch sẵn".
Tính mục đích có các hình thức sau đây:
+ Tính sinh vật có chức năng bẩm sinh.
+ Tính xã hội là hiện tượng đời sống có ảnh hưởng đến cộng đồng, mang tình
cảm xã hội.
+ Tính hợp lý đối với ý thức đối với hành động có kế hoạch của con người.
Những mục đích này định hướng hành vi hoạt động của con người. Trong đó
chức năng tâm hồn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách. Nó là
cơ quan bảo đảm sự thích ứng của con người trong xã hội.
Ông đề ra nhân cách kém cỏi và sự cố gắng bù trừ.
Theo ông con người bao giờ cũng cảm thấy mình kém cỏi có những thiếu sót
và phải cố gắng bù đắp những thiếu sót đó.


Trong cuộc sống con người luôn luôn muốn mình hơn người khác: cố gắng
vươn lên. Sự cố gắng vươn lên đó có người vượt quá mức tạo thành siêu việt hơn
người. Con người còn có sự bù trừ siêu đẳng. Khi có nhược điểm trong lĩnh vực
này lại thành siêu đẳng trong lĩnh vực khác..
Ví dụ một cô gái kém cỏi về nhan sắc thì lại bù trừ trong lĩnh vực học hành.
Cơ chế bù trừ của Adler khác với cơ chế bù trừ ở Freud là ở chỗ sự bù trù trong
quan niệm của Freud xuất phát từ động cơ tình dục, còn bù trừ của Adler xuất phát
từ động cơ xã hội.
Sự bù trừ là có thật trong đời sống con người. Nhưng sự bù trừ này phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố xã hội có tính chất quyết định. Ở đây Adler quá
thổi phồng tính chất bù trừ trong đời sống con người, mà không thấy vai trò hoạt

động con người trong xã hội.
c) Erich Fromm.
Một trong những nhà tâm lý học nổi tiếng hiện nay theo xu hướng Freud mới
là Erich Fromm (1901). E.Fromm sinh ở Phrăngphuốc (đầu thế kỷ 20) sau sang
Mỹ, trở thành nhà phân tâm học Mỹ. Ông có ý đồ pha trộn phân tâm học của Freud
và học thuyết xã hội học của Mác vào nhau là xây dựng nên lý thuyết "chủ nghĩa
nhân đạo mới". Ông cho rằng Mác và Freud đều vẽ nên một mẫu người trong xã
hội tư bản. Trong xã hội này con người làm ra máy móc, và đồng thời con người
cũng hoạt động như một cái máy. Chính vì vậy trong xã hội đó con người không có
nguồn vui thật sự, con người không có tình cảm, không có lý trí và không có tình
yêu. Ông tìm thấy con người tự do trong nhân cách của Freud và con người tự do
trong xã hội của Mác. Về tâm lý học, Froom cho rằng cơ chế tự nhiên và xã hội
trong con người là vô thức, đó là cái phi lý, hạt nhân của nhân cách. Nó biểu hiện
sự mong muốn vươn tới cái hài hòa toàn diện của con người. Ông cho rằng nhu
cầu tạo ra cái tự nhiên trong con người. Những nhu cầu đó là: 1) Nhu cầu quan hệ
giữa người và người; 2) Nhu cầu tồn tại "cái tâm" con người; 3) Nhu cầu về sự bền
vững và hài hòa; 4) Nhu cầu đồng nhất bản thân và xã hội với dân tộc, với giai cấp,
với tôn giáo; 5) Nhu cầu nhận thức, nghiên cứu. Những nhu cầu này là thành phần
tạo nên nhân cách. Bên cạnh thừa nhận cái tự nhiên trong con người, ông còn nói
đến yếu tố xã hội. Song trong xã hội có các nhóm, các thành phần song song với
nhau. Ví dụ, gia đình song song với xã hội, nhân cách song song với tiến bộ xã hội.
Chính vì vậy ông cho rằng tiến bộ xã hội là do tâm lý con người.
Ông không chỉ nghiên cứu về con người mà còn nghiên cứu môi trường xã
hội. Ông cho xuất bản cuốn "Lí luận xã hội" (1970) nhằm trình bày "những cơ sở
linh hồn của xã hội mới". Trong tác phẩm "Hữu thời hay chính thời" ông cho rằng
động lực kích thích hành vi con người gồm có hữu thời và chính thời. Hữu thời
được hiểu là cái tôi sở hữu, đi liền với nguyên tắc vô nhân đạo, theo xu hướng cầu
lợi, sự tham lam. Theo Freud hữu thời đó là dấu hiệu xã hội vô nhân đạo - tức là xã
hội tư sản. Hữu thời vận động không ngừng vì ở trong điều kiện của nền kinh tế tư
bản. Để cho con người tốt hãy rời bỏ hữu thời đến với chính thời. Con người chính

thời không thèm muốn gì cả, con người ở chốn cực lạc, đầy vui sướng, mọi khả
năng của con người đều được tận dụng.
Ông mưu toan lấy vấn đề sinh học để thay thế cho quy luật xã hội, từ đó điều
chỉnh xã hội. Trong xã hội tư bản vấn đề xâm lược làm cho ông lo lắng và tìm cách


giải thích. Theo ông xâm lược với nghĩa tốt sẽ dẫn tới hành vi yêu đương. Còn xâm
lược xấu là nguy cơ đe dọa cuộc sống riêng của con người. Sự xâm lược là bản
năng của con người. Sự ham mê của con người cũng là bản năng tự nhiên nhờ đó
mà cuộc sống luôn luôn vươn lên.
Lý luận xã hội của ông đã trở thành lý luận không tưởng. Ông vẽ ra mô hình
con người mới giữa các đặc điểm sau:
- Con người mới phải từ bỏ vật chất để sống thanh thản.
- Con người phải làm cho cuộc đời có ý nghĩa.
- Phải có lòng yêu thương và trân trọng cuộc sống
- Phải trau dồi tình yêu thương vốn có.
- Phải khắc phục được tính tự yêu mình và chấp nhận tính chất hạn chế trong
cuộc sống con người.
Tất cả những đặc điểm này thật đáng quý nhưng đó chỉ là con người trừu
tượng chung chung không thể thực hiện trong xã hội tư bản.
Cái sai của Fromm là dung hòa giữa chủ nghĩa Freud và chủ nghĩa Mác. Sự
thật không thể có cơ sở tự nhiên nào do Freud tạo ra làm cơ sở cho chủ nghĩa Mác.
Đồng thời sự tiến bộ xã hội do động lực kinh tế quyết định chứ không do yếu tố
tâm lý nào như Fromm đã giải thích.
1.2. Tâm lý học hành vi
- Cơ sở: Lý thuyết tâm lý học hành vi về nhân cách được xây dựng trên cơ sở
công thức S-R, và được phản ánh chủ yếu trong các công trình nghiên cứu của
Watson, Toocdai, Hall, Miler…
- Khái niệm: Nhân cách là một tập hợp các phản ứng hành vi của con người
để thích nghi với hoàn cảnh sống. Là sản phẩm trung gian của quá trình kích thích

- phản ứng. Đó chính là các quá trình hình thành nên hệ thống thói quen, các kỹ
xảo hành vi, các mẫu hành vi đúng theo chuẩn.
- Các yếu tố: Họ không phủ nhận vai trò của yếu tố bẩm sinh, di truyền nhưng
tuyệt đối hóa vai trò của các yếu tố môi trường trong việc quy định sự hình thành
nhân cách.
- Cơ chế hình thành nhân cách: chính là công nghệ tạo ra "củng cố" để hình
thành các hành vi đúng theo yêu cầu, theo mẫu chẩn đã định trước.
=> Đánh giá: Mặc dù…Không có sự khác biệt giữa người và vật, không tính
đến yếu tố ngôn ngữ, xã hội…
Mặt hạn chế và sai lầm của tâm lý học hành vi là ở chỗ:
- Phương pháp luận sai lầm là phủ nhận ý thức như là hình thức đặc biệt của
việc điều chỉnh hành vi, đánh mất 0 chân chính.
- Hành vi là đối tượng nc nhưng công thức đó là ko hợp lý
- Quan điểm máy móc hóa, sinh vật hóa con người, Đưa con người xuống
ngang với con vật.
- Về mặt xã hội, thuyết hành vi đã hỗ trợ đắc lực cho các quan điểm thực
chứng, thực dụng khuyến khích các nhà tư bản công nghiệp Mĩ chỉ cần chăm lo
đào tạo ra một lớp người làm việc cần mẫn như một cái máy phục vụ nhiều nhất lợi
ích của các tập đoàn tư bản Mĩ. Những giá trị cao cả của con người như giác ngộ,
lý tưởng, các phẩm chất đạo đức... đều bị gạt xuống hàng thứ yếu thậm chí bị loại
bỏ khỏi tâm lý học hành vi.


1.3. Tâm lý học Gestalt
Tâm lý học Gestalt (cấu trúc, hình thái) ra đời vào năm 1913, do bộ ba các
nhà tâm lý học cấu trúc người Đức tên là Wertheimer , Kohler , Koffka lập ra
nhằm xây dựng một nền tâm lý học khách quan theo kiểu mẫu của vật lý học. Đối
tượng của tâm lý học phải nghiên cứu đó là những chỉnh thể trọn vẹn.
Đây là một trường phái chuyên nghiên cứu về tri giác, ít nhiều nghiên cứu về
tư duy và có đề cập đến nhân cách. Nghiên cứu về nhân cách trong G, tiêu biểu

nhất là K. Lewin.
- Ông đưa ra thuyết "trường tâm lý"con người luôn luôn tồn tại trong một
hoàn cảnh, một trường tâm lý nào đó. Giữa chủ thể và môi trường có sự tác động
qua lại thường xuyên, sự tác động tạo nên hành vi và nhân cách.
- Về sau ông mở rộng khái niệm "trường tâm lý" bằng khái niệm "không gian
sống" để giải thích hành vi của nhân cách - không gian sống bao gồm cả trường
tâm lý.
Không gian sống - đó là nhân cách và hoàn cảnh trong mối tác động qua lại
lẫn nhau tạo nên hành vi trong một thời điểm nào đó. Không gian sống chứa đựng
con người, các mục đích con người tìm đến, các mục tiêu mà con người lẩn tránh,
các giới hạn của sự vận động và con người để đạt mục đích đó.
=> Đánh giá: Các khái niệm "trường tâm lý", "không gian sống" thể hiện một
phương pháp mới trong nghiên cứu và miêu tả hành vi hiện thực của nhân cách.
Nhu cầu, động cơ, hành vi hình thành trong không gian sống. Nói cách khác nhân
cách được hình thành chính trong không gian sống đó.
Song lý luận về trường không gian sống cũng có những khó khăn mà không
thể giải quyết được. Ví dụ ta không thể biết được cấu trúc của không gian sống của
một con người. Hoàn cảnh con người sống luôn luôn thay đổi do đó không gian
sống cũng thay đổi. Vì vậy, nếu dựa vào không gian sống thì khó đánh giá được
nhân cách con người.
Theo K. Lewin nhân cách được xét trong hoàn cảnh, trong nhóm, nhưng
những quy định về chính trị, kinh tế đối với hành vi nhân cách không được ông để
ý đến một cách thỏa đáng. Vì vậy, lý luận nhân cách của ông không tách khỏi sự sơ
lược trong quan niệm của Gestalt.
1.4. Tâm lý học nhân văn
Tâm lý học nhân bản ra đời ở Mỹ như là một khuynh hướng đối lập với tâm
lý học hành vi và phân tâm học. Nếu tâm lý học hành vi và phân tâm tuyệt đối hóa
yếu tố môi trường, sinh vật, quan niệm con người như những chiếc máy, không
phân biệt con người hay con vật thì Tâm lý học nhân văn tiếp cận nghiên cứu nhân
cách một cách nhân văn hơn. Trường phái này là sự tổng hợp nhiều khuynh hướng

mới và nhiều trường phái tư tưởng khác nhau. Nhưng những nhà tâm lý nhân văn
đều có chung những tư tưởng là tôn trọng con người, tôn trọng giá trị sáng tạo, và
trách nhiệm con người, tôn trọng các phẩm giá cá nhân con người.
Tiêu biểu là Maslow - chủ tịch hội tâm lý nhân văn đầu tiên ở Mỹ.
* Về nhân cách ông đưa ra hệ thống nhu cầu, quá trình nhận thức, triệu chứng
nhân cách và năng lực. Tất cả những yếu tố này tạo nên động lực thúc đẩy hành vi
con người. Động cơ thúc đẩy mạnh mẽ nhất là nhu cầu.


Theo ông có thể chia ra năm loại nhu cầu:
- Nhu cầu sinh lý: như nhu cầu thỏa mãn đói, khát, sinh dục, những nhu cầu
này có tính chất bản năng, có cả ở động vật.
- Nhu cầu an toàn: nhu cầu về sự yên ổn, trật tự và an ninh.
- Nhu cầu yêu thương, nhu cầu lệ thuộc.
- Nhu cầu được thừa nhận (tự trọng); nhu cầu thành đạt, kết quả, nhu cầu về
niềm tin.
- Nhu cầu tự khẳng định, tự thực hiện như nhu cầu sáng tạo, nhu cầu hiểu
biết, nhu cầu tri thức, nhu cầu nghệ thuật.
* Các loại nhu cầu này được chia làm nhu cầu cấp thấp và nhu cầu cấp cao.
Những nhu cầu này xuất hiện theo thứ tự trong quá trình phát triển chủng loài,
cũng như phát triển của cá nhân. Đồng thời đây cũng là thứ tự thỏa mãn các nhu
cầu đó. Nếu nhu cầu cấp thấp không thỏa mãn thì nhu cầu cấp cao cũng không thể
thực hiện được. Nhu cầu tự thực hiện là nhu cầu cao nhất nhằm phát triển tiềm
năng của cá nhân.
* Nhu cầu này khác nhau ở mỗi người bởi vì mỗi người đều có tiềm năng
riêng khác nhau. Có người có nhu cầu tự thực hiện trên lĩnh vực văn chương,
người khác thì có nhu cầu lãnh đạo, v.v... Những nhu cầu này không bị sự kiểm
soát của xã hội. Nhưng không phải ai cũng thực hiện được nhu cầu này, bởi vì còn
những nhu cầu khác chưa thực hiện được.
Maslow cho rằng tính xã hội nằm trong bản năng của con người. Các nhu cầu

đều dựa trên cơ sở di truyền nhất định. Chính vì vậy, học thuyết nhu cầu của
Maslow có điểm giống học thuyết S. Freud.
2. Quan điểm của các nhà tâm lý học Mác xít về nhân cách
2.1. A.N.Leonchiev
Nhà tâm lý học Nga kiệt xuất đã từng giữ chức Phó chủ tịch hội Tâm lý thế
giới. Ông đã đưa ra lý thuyết hoạt động để giải quyết vấn đề tâm lý học, được giới
tâm lý học đánh giá cao. Về mặt nhân cách ông cũng có những quan điểm mới mẻ.
- A.N. Leonchiev coi nhân cách như một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành
trong các quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của người đó.
Nó là một cấu tạo đặc biệt có tính trọn vẹn. Nhân cách là sản phẩm tương đối
muộn của sự phát triển xã hội lịch sử và của sự tiến hóa cá thể của con người. Nó
là kết quả của quá trình chín muồi của những nét bẩm sinh dưới tác động của môi
trường xã hội. Khái niệm nhân cách thể hiện tính chỉnh thể của chủ thể cuộc sống.
- Hoạt động là cơ sở của nhân cách
Ông cho rằng muốn hiểu nhân cách phải dựa vào hoạt động của chủ thể để
phân tích.Việc nghiên cứu nhân cách phải xuất phát từ sự phát triển của hoạt động,
những loại hình cụ thể của hoạt động và mối liên hệ của nhân cách đó với những
người khác.
Nền tảng của nhân cách là sự phong phú của mối quan hệ giữa cá nhân vơi
thế giới.Trong mối quan hệ này con người phải hoạt động bao gồm hoạt động lý
luận và hoạt động thực tiễn.
- Nhu cầu và động cơ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động.
A. N. Leonchiev chia ra 2 loại động cơ: Động cơ tạo ý và động cơ kích thích Động cơ tạo ý gắn liền với nhân cách.


- Cấu trúc của nhân cách là một chỉnh thể tương đối ổn định bao hàm trong
mình một hệ thống thứ bậc các động cơ chủ yếu.
Các tiểu cấu trúc của nhân cách bao gồm: tính khí (khí chất), nhu cầu, ý
hướng, rung cảm và hứng thú, tâm thể, kỹ xảo, thói quen, phẩm chất đạo đức.
- Hình thành nhân cách là một quá trình giáo dục có định hướng và tương ứng

với quá trình giáo dục đó là hành động chủ thể.
Sự hình thành nhân cách là một quá trình liên tục gồm các giai đoạn tuần tự
thay thế nhau, làm thay đổi tiến trình sự phát triển tâm lý sau này. Trước hết, đó là
sự cải tổ phạm vi quan hệ với những người khác, với xã hội và kèm theo đó là sự
cải tổ thứ bậc động cơ. Sự hình thành nhân cách là một quá trình riêng không trùng
khớp với quá trình biến đổi các thuộc tính tự nhiên của cơ thể. Con người trở thành
nhân cách khi là chủ thể của các mối quan hệ nhân cách
=> Đánh giá: Trung tâm trong quan niệm này cho rằng hoạt động là cơ sở của
nhân cách. Vì vậy, phải lấy hoạt động để phân tích, kiến giải hiện tượng nhân cách.
Khi phân tích nhân cách phải kể đến động cơ, nhu cầu, mục đích và hành động của
cá nhân trong hoạt động…Quan điểm của A. N. Lêonchiep về nhân cách và sự
hình thành nhân cách có một ảnh hưởng rất lớn và được thể hiện rõ trong ứng dụng
nghiên cứu nhân cách. Đây là hướng tiếp cận… Đảng và nhà nước ta…
2.2. X.L. Rubinstein
- Nhân cách là cá nhân cụ thể lịch sử sinh sống gắn với quan hệ thực tế trong
thế giới hiện thực.
Nhân cách ở đây được hiểu là các đặc điểm cá thể riêng từng người.
Rubinstêin coi nhân cách là bộ máy điều chỉnh toàn bộ hệ thống thân thể con người
nói chung, gắn liền với khái niệm đường đời. Nhân cách cũng được hiểu là khả
năng con người điều khiển các quá trình hay thuộc tính tâm lý của bản thân, hướng
chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho bản thân. Từ đó muốn hiểu nhân
cách là gì phải xem con người mang nhân cách ấy có xu hướng gì, có khả năng đáp
ứng mong muốn đó không.
X.L.Rubinstein khẳng định: con người chỉ là nhân cách khi có ý thức xác
định các quan hệ đối với môi trường của mình, khi có một diện mạo riêng.
- Cấu trúc: Gồm ý thức của chủ thể và các thái độ: thái độ đối với thế giới xung
quanh, thái độ đối với người khác và thái độ đối với bản thân. Cụ thể là những thành
phần: hứng thú, sự đam mê, tâm thế tạo nên các xu hướng, lý tưởng của nhân cách.
Vì vậy, ông cho rằng, nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tự ý thức của nhân cách,
nghiên cứu “cái tôi” như là chủ thể nắm lấy tất cả cái gì con người làm ra, có trách

nhiệm của bản thân đối với tất cả các sản phẩm vật chất mà mình tạo ra.
- Ru đi từ các phạm trù tinh thần, ý thức, chủ thể… đến phạm trù nhân cách,
coi nhân cách là các trải nghiệm và đi vào vấn đề hình thành, phát triển nhân cách
trong hoạt động. Rubinstein đã nhấn mạnh tính chất sđặc thù của riêng từng nhân
cách, nói lên xu hướng riêng của người ấy, bao gồm ý hướng, ý muốn của từng
người, năng lực của từng người, bản tính của nó.
=> Đánh giá: là người có ảnh hưởng rất lớn đến nền TLHMX…
2.3. B.G. Ananhiep
B. G. Ananiev là nhà tâm lý học xuất sắc của Liên Xô đã có nhiều đóng góp
cho sự phát triển tâm lý học.


- B.G.Ananhiep đã xuất phát từ những khái niệm cá thể, chủ thể, khách thể,
hoạt động, cá nhân để giải quyết vấn đề nhân cách. Ông cho rằng nhân cách là cá
thể có tính chất xã hội, là khách thể và chủ thể của từng bước tiến lịch sử. Nhân
cách không tồn tại ngoài xã hội, không tồn tại ngoài lịch sử.
Vì thế việc nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu lịch sử cá nhân. Con
đường cơ bản của việc nghiên cứu nhân cách là nghiên cứu tính chất lịch sử, tính
chất xã hội, tính chất tâm lý - xã hội của nhân cách. Sự phong phú của mối quan hệ
xã hội của cá nhân đã tạo nên những đặc điểm của nhân cách.
- Cấu trúc nhân cách được dần dần hình thành trong quá trình cá nhân hoạt
động trong mối quan hệ xã hội. Ông đưa ra cấu trúc nhân cách theo hai nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ bậc và nguyên tắc phối hợp. Nguyên tắc thứ bậc là sự sắp xếp đặc
điểm xã hội chung nhất quy định những đặc điểm tâm sinh lý. Nguyên tắc phối
hợp là sự tác động qua lại giữa các thành phần độc lập tương đối và thành phần
phụ thuộc.
- Theo B.G.Ananhiep, để nghiên cứu con người với tư cách là nhân cách phải
nghiên cứu xu hướng, tính cách, hành vi xã hội, động cơ hành vi, cấu trúc nhân
cách, vị thế nhân cách, con đường sống của nhân cách trong xã hội. Điều này đòi
hỏi các nhà khoa học, tâm lý học, xã hội học, giáo dục học, đạo đức học phải quan

tâm nghiên cứu.
- Ananhiep coi con người là tiểu vũ trụ. Điều này rất tương đồng với quan
niệm phương Đông về con người. Con người là tinh hoa của vũ trụ, trong con
người có đại diện của quy luật vũ trụ.
Luận điểm nghiên cứu nhân cách là tổng hợp các khoa học nghiên cứu về con
người là một đóng góp quan trọng trong việc chỉ hướng nghiên cứu nhân cách.
Nghiên cứu nhân cách không tách rời việc nghiên cứu con người và các khoa học
khác nghiên cứu về con người.
2.4. K.K. Platonov
K.K. Platonov là nhà tâm lý học nổi tiếng ở Liên Xô (cũ). Về tâm lý học ông
có những đóng góp xuất sắc.
- Về khái niệm nhân cách: Trên cơ sở nhận xét và phê phán các định nghĩa về
nhân cách ông đưa ra định nghĩa nhân cách như sau: "Nhân cách đó là một con
người cụ thể như là một chủ thể cải tạo thế giới trên cơ sở nhận thức, thể nghiệm
thế giới, trên cơ sở quan hệ với thế giới đó". Ta có thể diễn đạt tư tưởng đó ngắn
gọn hơn, "Nhân cách đó là con người mang ý thức".
Ý thức không phải là một thực thể thụ động mà là một hình thức phản ánh
bậc cao chỉ có ở người. Đứa trẻ mới ra đời chưa có ý thức và chưa có nhân cách.
Nhân cách sẽ hình thành trong giao tiếp với người khác. Ông cho rằng không thể
xác định được lúc nào thì con người hình thành nhân cách.
- Phân loại: Có nhân cách tiến bộ và nhân cách phản động, nhân cách lành
mạnh và nhân cách ốm yếu.
- Cấu trúc: Ông đưa ra cấu trúc tâm lý chức năng cơ động của nhân cách gồm
bốn tiểu cấu trúc:
+ Tiểu cấu trúc thứ nhất là xu hướng (lý tưởng, thế giới quan, niềm tin…).
+ Tiểu cấu trúc 2 là kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) do GD
+ Tiểu cấu trúc thứ 3 cấu trúc nhỏ thứ ba là các quá trình tâm lý, do luyện tập.


+ Tiểu cấu trúc thứ 4 là các thuộc tính sinh học quy đinh nhân cách (khí chất

giới tính, lứa tuổi, bệnh lý…).
Ngoài 4 cấu trúc nhỏ trên còn có 2 cấu trúc nằm trên 4 cấu trúc đó là tính
cách và năng lực. Cấu trúc này có tính cơ động vì nó không cố định ở một nhân
cách cụ thể, nó thay đổi từ lúc đứa trẻ có nhân cách đến chế. Tính cách cũng như
năng lực là tổng hoà các thuộc tính cá nhân trong 4 tiểu cấu trúc. Tính cách và
năng lực cá nhân tương hỗ với nhau. Trong một mức độ nào đó, năng lực biểu hiện
ra và trở thành tính cách.
=> Tóm lại, với việc đưa ra đưa ra hệ thống cấu trúc chức năng cơ động là
một đóng góp mới, làm nền tảng để giải quyết những vấn đề nhân cách.
3. Quan điểm của Mác, Lê nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh , Đảng, các nhà
TLH Việt Nam về nhân cách.
3.1. Quan điểm của Mác về nhân cách
Học thuyết của Mác là học thuyết xã hội nên còn người được coi là vấn đề
trung tâm trong nghiên cứu của Mác. Mác nói: "Không một cái gì thuộc về con
người lại xa lạ đối với tôi".
Sự quan tâm hiểu biết con người là gì, bản chất của nó ra sao. Từ xa xưa đã có
nhiều nhà triết học thời Socrate đã thắc mắc về điều bí ẩn này. Heraclite, người đề
ra thuyết nhân loại học triết học đầu tiên ông cho rằng con người là nơi gửi gắm
của cảm giác và nó có khả năng hiểu được đạo. Tiếp sau Heraclite có những triết
gia cho rằng thuộc tính bản chất của con người là khổ đau, mệt mỏi, già nua và
chết chóc.
Kant cũng đặt câu hỏi con người là cái gì? M.Scheler cũng có một băn khoăn
như thế: Hiểu theo một nghĩa nào đó, tất cả những vấn đề cơ bản của triết hóc có
thể thu tóm vào câu hỏi về con người là gì, về địa vị của con người trong tổng thể
của tồn tại, thế gian và thượng đế.
Bản chất của con người theo Scheler ngoài giới hạn của tồn tại sinh vật và xã
hội, bản chất con người còn ở trọng tính chất tâm hồn, trong khả năng của con
người trở thành nhân cách. Như vậy con người xuất phát từ một phần hiện thực và
phần hiện thực lý tưởng xuất phát từ Chúa trời. Đó là cách hiểu phi lý, thẩn bí của
triết học nhân văn tư sản về con người. Quan điểm của Scheler có ảnh hưởng quyết

định đến triết học nhân văn tư sản về vị trí con người trong tồn tại tâm hồn và việc
giải thích siêu nhiên nhân cách con người.
Trong những tác phẩm của các nhà triết học: người ta đã sử dụng những thành
tựu của sinh vật học, khoa học hành vi. A. Ghelen cho rằng con người là một tồn
tại sinh vật hành vi xã hội, hoạt động, năng lực, nhận thức và tất cả các mặt cấu
trúc khác ông ta đều coi là mặt sinh vật của con người.
Cho đến nay các học giả tư sản đã đối lập và tách yếu tố sinh vật ra khỏi yếu
tố xã hội, yếu tố sinh vật được xem xét với tính cách là loài vật hoặc người vượn,
hoặc là những yếu tố bên trong cơ thể.
Có hai quan điểm về vấn đề sinh vật xã hội của con người. Quan điểm thứ
nhất "tự nhiên" (sinh vật) cho rằng yếu tố tự nhiên quyết định trong sự phát triển
con người. Quan điểm này dựa trên những thành tựu của sinh vật học hiện nay
cũng như những thành tựu về dân tộc học của nhà dân tộc học nổi tiếng K. Lorenx.


Theo ý kiến của K. Lorenx hành vi xã hội của con người là một quy luật mà chúng
ta có thể biết rõ từ hành vi động vật.
Quan điểm xã hội về con người dựa trên học thuyết về con người của trường
phái xã hội học Pháp E. Durkgay. Đại diện của trường phái này giải thích hành vi
con người bằng những nguyên nhân tư tưởng, bằng ý thức xã hội, bằng mối quan
hệ tiêu cực với điều kiện sản xuất vật chất và tái sản xuất con người bằng mối quan
hệ khách quan đối với tự nhiên. Họ xây dựng mối quan hệ xà hội hiểu biết nhau
nhằm đối lập với quan điểm sinh vật của con người.
Ngày nay có nhiều khoa học nghiên cứu về con người, song hiểu con người là
gì, hẳn còn có nhiều ý kiến khác nhau. Heidegger viết: "Không thời đại nào có
được những hiểu biết vừa nhiều vừa đa dạng về con người như thời đại chúng ta không thời đại nào người ta lại trình bày những hiểu biết về con người dưới hình
thức say mê hấp dẫn như thời đại này... Nhưng cũng chưa lúc nào người ta lại ít
hiểu về con người và con người được đặt ra làm vấn đề như hiện nay".
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, cuộc sống của con người
đang trở thành cơ giới, máy móc đang thay thế con người thì liệu bản chất con

người là gì, có thay đổi không? Quan hệ giữa tự nhiên, sinh vật và một xã hội của
con người như thế nào - Điều đó đặt ra cho chúng ta phải lý giải nhưng luận đề rất
sâu sắc của C. Mác về con người.
Mác viết: "Phơbách quy bản chất tôn giáo về bản chất con người - Song bản
chất con người không phải là cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt.
Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội".
Trong khi phê phán triết học pháp luật của Hê ghen. Mác viết: "Bản chất của
cá nhân không phải là râu, không phải là tóc, không phải tính chất vật lý trừu
tượng của cá nhân đó, mà là chất xã hội của cá nhân đó".
Đế hiểu ý kiến trên của Mác trước hết hãy phân tích mối quan hệ giữa cái tự
nhiên sinh vật và cái xã hội trong con người cũng không phải là việc đơn giản.
Trong thời kỳ hiện nay tất cả những nhà nghiên cứu đều cho rằng sinh vật là
cơ chế bẩm sinh và di truyền có vai trò nhất định trong sự phát triển tâm lý con
người đặc biệt là trong sự phát triển năng lực.
Chúng ta biết rằng di truyền quyết định những đặc điểm chung của loài người
về cấu tạo hệ thần kinh, cơ sở vật chất của sự phát triển tâm lý, nó tạo nên những
giai đoạn của tạo hình, cấu tạo não. Nhưng cấu tạo này điều chỉnh những phản xạ
không điều kiện hoặc những phản xạ bản năng, điều khiển kiểu hành vi. Mọi đứa
trẻ mới sinh đều có những phản ứng giống nhau đối với những kích thích về mùi vị
đau đớn, nhiệt độ và những kích thích khác biểu hiện bằng những xúc cảm giống
nhau (sợ hãi, hài lòng, không hài lòng, tức giận).
Những đặc điểm bẩm sinh của hệ thần kinh và các hệ khác của cơ thể là cơ sở
sinh lý giải phẫu của cái gọi là tư chất và năng lực. Những tư chất không phải là
những thuộc tính tâm lý có sẵn mà là những thế năng tự nhiên của sự phát sinh và
phát triển của những thuộc tính đó. Tư chất là kết quả của những giai đoạn phát
triển đầu tiên mà mỗi cá nhân phải trải qua trong những điều kiện bên trong và bên
ngoài nhất định. Tư chất tạo nên những điều kiện thuận lợi cho việc học tập tiếp
thu kinh nghiệm xã hội, ảnh hưởng đến động thái phát sinh ra những cơ cấu hành
vi mới và những thuộc tính tâm lý thể hiện trong hành vi đó. Nhưng tư chất lại



không quyết định nội dung của những cơ cấu thuộc tính đó. Những công trình
nghiên cứu đã khẳng định rằng những thuộc tính về sinh lý của hệ thần kinh không
định trước được những kiểu hành vi sau này, nhưng dựa vào đó mà một số kiểu
hành vi này được hình thành dễ hơn, kiểu khác khó hơn.
Yếu tố tự nhiên, tư chất cũng thay đổi dưới sự tác động của yếu tố xã hội. Ví
dụ điều kiện tự nhiên về phát triển thính giác, về âm thanh của đứa trẻ còn phụ
thuộc vào ngôn ngữ mà đứa trẻ nắm được. Một đứa trẻ có khiếu âm nhạc nhưng
thiếu những điều kiện xã hội cần thiết thì không thể phát triển tốt được năng lực
âm nhạc.
Ngay đến yếu tố bẩm sinh cũng không phải được di truyền cả. Những điều
kiện sống bên ngoài, những điều kiện xã hội có tác động đến sự di truyền đó. Khoa
học đã xác định được rằng tần số xuất hiện những bệnh cấp tính do đi truyền gây ra
tăng lên do những cặp vợ chồng có họ hàng gần nhau, hoặc cha mẹ lấy nhau quá
muộn.
Trong những năm gần đây phương pháp "trẻ sinh đôi" nghiên cứu sự giống
nhau và khác nhau, trong khi phát triển của trẻ sinh đôi từ một trứng trong những
điều kiện giáo dục giống nhau và khác nhau được áp dụng một cách rộng rãi để
giải thoát mối quan hệ giữa cái tự nhiên và cái xã hội. Những kết quả cho thấy rằng
mức độ giống nhau của những đứa trẻ sinh đôi từ một trong được thụ tinh tăng lên
nếu được giáo dục như nhau (Nhiumen, Phorimen...) và sự giống nhau đó giảm đi
nếu như giáo dục bằng những phương pháp khác nhau (A. P. Luria).
Những tài liệu nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô (L.X. Vưgốtxki, A.
N. Lêonchiép, A. R. Luria) đã chỉ ra rằng những chức năng tâm lý bậc cao là
những cấu trúc có hệ thống. Chúng không trực tiếp liên quan với những cơ cấu
bẩm sinh của não mà liên quan với những cơ cấu đó bằng những hệ thống đường
liên hệ thần kinh tạm thời rất phức tạp được hình thành trong cuộc sống.
Như vậy, những phẩm chất tâm lý người, cái tự nhiên sinh vật con người đều
có tính chất xã hội mang lịch sử nhất định, trong một xã hội nhất định trong một
nhà nước nhất định. C. Mác biết người không phải là một sinh vật trừu tượng ẩn

núp đâu đó ngoài thế giới, Người chính là thế giới người, là nhà nước, là xã hội".
Chính vì vậy hiển nhiên là cái tự nhiên của con người đều mang tính xã hội, là sản
phẩm của lịch sử. Chính trong quá trình hoạt động trước hết là lao động tất cả
những phẩm chất tự nhiên của con người đã được phát triển và thay đổi. C. Mác:
"Trong khi thay đổi tự nhiên bên ngoài, con người đồng thời thay đổi cả bản thân
mình". Trong quá trình lao động, con người sử dụng và phát triển tất cả các cơ
quan tự nhiên của cơ thể mình. Điều này chỉ có con người người mới có được
trong một điều kiện lịch sử nhất định.
Đồng thời bản thân sự phát triển của đứa trẻ đã thực hiện một quá trình lâu dài
của lịch sử phát triển giống loại, của lịch sử phát triển con người: vì vậy đứa trẻ
mới sinh không phải hoàn toàn là một động vật, hoặc nửa động vật nửa người mà
là thành quả của con người trưởng thành mặc dù đứa trẻ chỉ là mới bắt đầu đời
sống của mình.
Những công trình nghiên cứu đã chứng tỏ rằng sự phát triển của đứa trẻ đã lập
lại một phần phát triển của tổ tiên của chúng. Điều này không chỉ diễn ra trong sự


phát triển thể lực mà cả trong sự phát triển tâm lý - tri giác, trí nhớ, tư duy, ngôn
ngữ, cảm xúc...
Quan niệm cho rằng lịch sử loài người được lập lại trong sự phát sinh cá thể
đã bị D. Prớt hiểu sai lệch trong giai đoạn phát triển của con người (giai đoạn dã
man, ác dâm)... Thuyết thần học thần bí giải thích một cách thiếu khoa học về các
giai đoạn phát triển con người.
Thật ra, mối quan hệ hữu cơ của sinh vật và xã hội được thực hiện bởi hoạt
động bên trong của con người trước hết là trong quá trình hoạt động lao động. Rõ
ràng ở đây cơ thể, con người, nhân cách, lao động có sự pha trộn.
Cũng cần nêu lên sai lầm của những người theo chủ nghĩa nhị nguyên cho
rằng cái sinh vật là cái không phải xã hội và cái xã hội là cái không phải sinh vật.
Chính vì vậy xem trẻ mới sinh như là thuần túy sinh vật hoặc như là nửa động vật.
Họ xem xét cái sinh vật là cái bên trong và cái gì bên ngoài là cái xã hội. Khuynh

hướng sai lầm này được thể hiện ở trường phái xã hội học ở Pháp. Họ cho rằng
trong con người, trong nhân cách phần sinh vật (thường thấy ở động vật và phần xã
hội thường có ở loài người) tách bạch nhau.
Trước hết không thể đồng nhất mặt sinh vật con người với tư cách là một
động vật. Cá nhân được xem xét bên ngoài mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp với
tập thể. Yếu tố xã hội không chỉ là tập thể là nhóm xã hội này hoặc nhóm xã hội
khác mà là bất kỳ cá nhân nào đều gắn liền với sự tác động qua lại với người khác
với nhóm khác. Trong mối tác động qua lại này của xã hội, của tập thể, cá nhân,
nhân cách cuối cùng đều ở trong hình thức xã hội. Với ý nghĩa này bản thân hành
vi đối lập với xã hội, của cá nhân cũng mang tính chất xã hội.
Nhị nguyên luận đã tách yếu tố sinh vật ra khỏi yếu tố xã hội và cho rằng yếu
tố xã hội chỉ là cái bên ngoài, hay tập thể. Họ biểu diễn quan niệm này theo công
thức sau:
a) Sinh vật = động vật = bên trong = cá thể.
b) Xã hội = loài người = bên ngoài = tập thể.
Để phê phán luận điểm sai lầm này của quan niệm nhị nguyên luận, chúng ta
hãy phân tích câu nói của C. Mác: Tự nhiên con người là sản phẩm của lịch sử. C.
Mác viết: "Sự hình thành năm giác quan là công việc của toàn bộ lịch sử toàn thế
giới diễn ra từ trước tới nay". Trong quá trình biến đổi của lịch sử bản thân cái tự
nhiên này cũng được tiến hóa nhất định. Sự tiến hóa của phần sinh vật trong con
người được quy định bởi sự tiến hóa của xã hội. Điều này được thấy rõ ở cơ chế
sinh lý ngôn ngữ của con người. Hệ thống tín hiệu thứ hai đã chứng minh một cách
cụ thể yếu tố xã hội quy định hoạt động phản xạ tự nhiên của não người. Lời nói
không chỉ là kích thích cho hoạt động tư duy mà cho toàn bộ đời sống cơ thể. Lời
nói đôi khi là kích thích mạnh mẽ tín hiệu thứ nhất. Ví dụ thực nghiệm nổi tiếng
của K. M. Bưkov và A. I. Psonik đã chỉ ra rằng nếu đặt một vật nóng lên tay nhưng
nói đây là vật lạnh thì trong những điều kiện nhất định (trong mối quan hệ phù
hợp, người ta có phản ứng mạnh là do kích thích lời nói chứ không phải do kích
thích của tín hiệu thứ nhất (tức là vật nóng). Điều đó không có nghĩa là yếu tố thứ
ha; có thể thay thế cho yếu tố thứ nhất trong sự phát triển cá nhân. Điều này chỉ có

nghĩa là hệ thống tín hiệu thứ hai lấn át trong tất cả động cơ tự nhiên của hành vi
trong cơ thể của cá thể.


Ý thức tâm lý con người hình thành và phát triển trong hoạt động có tổ chức
xã hội và không tách rời điều kiện tự nhiên bên ngoài cũng như điều kiện tự nhiên
trong bản thân con người.
Đến đây chúng ta có thể nói rằng cái tự nhiên, cái sinh vật trong con người
không thuần túy là cái sinh vật, cái tự nhiên mà nó bị cái xã hội quy định một cách
trực tiếp. C.Mác viết: "Con người không phải chỉ là thực thể tự nhiên.
Nó là thực thể tự nhiên có tính chất người". Nếu nói rằng có cái sinh vật trong
con người thì cái đó khác xa với cái sinh vật của loài vật.
Chỉ có thể hiểu như thế mới khắc phục được hai quan điểm sai lầm, quan
điểm thứ nhất cho rằng trẻ mới sinh ra là một động vật, hoặc nửa động vật nửa
người và quan điểm thứ hai chỉ thấy tính xã hội mà không thấy tính sinh vật trong
con người.
Trong con người, trong nhân cách không bao giờ mất đi cái sinh vật, cái tự
nhiên. Trong bất kỳ giai đoạn nào của sự phát triển con người, nhân cách có tồn tại
cái tự nhiên, vì vậy cần phải tính đến những quy luật sinh vật chi phối một phần
nhân cách. Nhưng phải cần nhớ rằng cái sinh vật của con người mang tính người
khác với cái sinh vật của con vật, bởi vì cái sinh vật của con người được quy định
bởi cái xã hội. Một ví dụ nữa để làm sáng tỏ thêm vấn đề này.
Ngay trong thời kỳ phát dục của tuổi dậy thì, quy luật sinh vật cũng không
phải là chi phối hoàn toàn mà còn bị chi phối một cách mạnh mẽ ở quy luật xã hội
đối với nhân cách đứa trẻ.
Sự lệ thuộc của tính tự nhiên vào tính xã hội, ảnh hưởng của những điều
kiện xã hội đến cấu trúc và tới các quá trình của con người không hề làm biến mất
mặt tự nhiên trong con người. Hai mặt này đều nằm trong quan hệ thống nhất và
tác động qua lại với nhau một cách biện chứng. Ngay cả đến lao động với tư cách
là một hiện tượng xã hội phân biệt con người với con vật trong thực tế cũng biểu

hiện một lực lượng tự nhiên, đó là nhân lực. Mặt sinh vật, râu, tóc, dòng máu,
những yếu tố vật lý trừu tượng trong con người không hề tạo nên bản chất con
người, để phân biệt với động vật. Bởi vì mặt sinh vật đó không phải là cái đặc
trưng của con người mà là đặc điểm của loài vật.
Mặt sinh vật trong con người không tồn tại song song với một xã hội. Nó tồn
tại trong phạm vi của chính mặt xã hội. Do ảnh hưởng của hoạt động con người
mặt sinh vật thay đổi trong một mức độ quan trọng nào đó trong quá trình lịch sử
hình thành giống loài. Ngay cả mặt sinh vật này cũng được nhân tính hóa. Lao
động của con người là khâu đan chéo mài xã hội và mặt tự nhiên với nhau, biến
những nhu cầu sinh vật thành nhu cầu xã hội. Hoạt động xã hội đã nâng con người
cao hơn con vật rất nhiều. Con người với tư cách là một con vật xã hội, là sự thống
nhất của tính xã hội và tính tự nhiên, của thể xác và tinh thần. Nói tóm lại con
người hình thành một cấu trúc sinh vật - tâm lý - xã hội phức tạp bao gồm một
phạm vi rộng lớn của hoạt động con người. Tuy nhiên vấn đề đặc trưng chủ yếu
của con người là vấn đề bản chất con người. Bản chất con người không phải là bản
chất sinh vật - xã hội bản chất con người chỉ có thể hiểu là bản chất xã hội mà thôi.
Những người theo chủ nghĩa hiện sinh coi con người như "một sinh tồn" có
trước bản chất và con người không hề có bản chất khách quan nào hết. Họ hiểu con


người xuất phát từ chính cá nhân, từ sự sống bên trong con người, từ tự do của họ
chứ không do yếu tố xã hội bên ngoài nào.
Ngoài những quan niệm sai lầm tách con người ra khỏi tự nhiên, biểu hiện
con người như một tồn tại siêu tự nhiên, nhưng một tồn tại nội tâm, còn có khuynh
hướng hiểu con người có bản chất bản năng sinh vật. Tiêu biểu cho khuynh hướng
này là S. Freud, nhà tâm thần học người Áo. Freud cho rằng hành vi con người
được quy định không phải yếu tố xã hội mà là do bản năng vô thức, trong đó bản
năng tình dục đóng vai trò quyết định.
Muốn giải thích bản chất con người, trước hết hãy tìm những nét đặc trưng
bao quát nhất đã trở thành nét bền vững quyết định tính chất con người. Lao động

là điều kiện tự nhiên và lâu dài trong việc hình thành những nét đặc trưng ấy của
con người. Chính trong hoạt động, trong lao động, và bằng lao động bản chất con
người bộc lộ ra. Đúng như C. Mác đã nói: "Trong tính hiện thực của nó, bản chất
con người là tổng hòa các quan hệ xã hội. Câu nói của C. Mác được hiểu theo
nhiều cách khác nhau. Có người hiểu rằng C. Mác đã đồng nhất bản chất con
người với tất cả các quan hệ sản xuất. Có ý kiến khác nữa cho rằng C. Mác không
vạch ra bản chất tích cực của con người. Thật ra C. Mác nêu ra luận đề như vậy
trong hoàn cảnh cụ thể để nhằm chống lại những quan niệm cho con người là một
bộ phận của tự nhiên, hoặc cho bản chất con người là một cái gì cố hữu, có sẵn
trong mỗi cá nhân riêng biệt.
Cách hiểu bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội không có nghĩa
là C. Mác đã đồng nhất cá nhân, với xã hội, cá nhân bị hòa tan trong xã hội, mà chỉ
nhằm nêu lên mặt thống nhất cá nhân với xã hội, bằng lao động, bằng cách biến
đổi tự nhiên, biến đổi xã hội và làm thay đổi ngay bản thân mình.
C.Mác biết: "Cho nên nếu con người là một cá nhân đặc thù nào đó là chính
tính đặc thù của nó làm cho nó thành ra một cá nhân và một thực thể xã hội, cá thể
hiện thực, thì trong mức độ như thế nào cũng là một tổng thể trong quan niệm, một
tồn tại (một tồn tại cho mình), chủ quan của xã hội đang được tư duy và đang được
cảm giác, cũng giống như trong hiện thực nó tồn tại một mặt như là một trực quan
tồn tại xã hội và hưởng thụ tồn tại ấy một cách hiện thực, và mặt khác tổng thể của
biểu hiện sinh hoạt của con người".
Trong xã hội loài người, con người tích cực tác động và thiên nhiên, vào xã
hội để cải tạo xã hội đồng thời cải tạo bản thân mình. Do đó bản chất con người
không thể là cái gì khác là bản chất xã hội tích cực của cá nhân con người trong
mối quan hệ xã hội.
Tóm lại C. Mác hiểu con người theo những dấu hiệu sau:
a) Con người tồn tại có tính chất thể chất đã được phú cho một sức mạnh tự
nhiên, một tồn tại sống hiện thực và có tư duy, có đối tượng.
b) Con người như là một tồn tại có quan hệ đối với sự vật, quan hệ đối với thế
giới bằng biểu hiện sống. Con người là một hệ thống mở có quan hệ với thiên

nhiên cũng như đối với các tổ chức khác: thực vật và động vật.
c) Con người là một tồn tại giống loài, là hoạt động sống có ý thức, là mức độ
cao nhất của giống loài.
d) Con người là một tồn tại lịch sử và sáng tạo ra lịch sử


e) Đặc biệt con người là một tồn tại tích cực, tác động vào thế giới và cải tạo
thế giới.
Song tất cả những đặc điểm của con người không phải đều là bản chất con
người. Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã
hội như C. Mác đã từng khẳng định.
Hiểu được đúng đắn quan niệm của Mác về bản chất con người sẽ giúp ta
hiểu được bản chất nhân cách. Nhân cách là sự phát triển cao tính chất xã hội của
con người. Vì vậy tiêu chuẩn chung của việc đánh giá nhân cách con người phải
được thể hiện trong mức độ phong phú và đa dạng của những mối quan hệ xã hội
hiện thực của nó.
2. Tư tưởng của Mác về nhân cách
Tư tưởng của Mác về con người với tư cách là một nhân cách là con người có
ý thức. Muốn xem xét ý thức con người, Mác viết: "Phải xuất phát từ những cá
nhân sống thực mà xem xét ý thức như là ý thức của cá nhân ấy"
+ Con người với tư cách là nhân cách là một chỉnh thể. Mác xem xét con
người không phải là một chức năng riêng rẽ mà phải xét nó trong một chỉnh thể với
tư cách là một nhân cách. Các khí quan của con người đều mang tính người, đều
biểu hiện là một nhân cách. Mác viết: "Mối quan hệ có tính chất người của con
người đối với thế giới. Thấy, nghe, ngửi, nếm, sờ mó, tư duy, trực quan cảm giác
mong muốn, hoạt động, yêu. Nói tóm lại, tất cả những khí quan của cá tính của
nó...".
+ Tư tưởng coi bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội.
* Về bản chất con người từ xưa đã có nhiều người bàn đến.
- Quan điểm sinh vật coi bản thân con người là bản chất sinh vật.

K. Lorenx cho rằng hành vi xã hội của con người là một quy luật mà chúng ta
có thể biết rõ từ hành vi động vật.
- Quan điểm xã hội hóa bản chất con người thể hiện ở nhà xã hội học Pháp E.
Durkgây. Họ giải thích hành vi con người bằng những nguyên nhân tư tưởng, bằng
ý thức xã hội, bằng mối quan hệ tiêu cực với điều kiện sản xuất vật chất và tái sản
xuất con người và bằng mối quan hệ khách quan đối với tự nhiên. Họ xây dựng
mối quan hệ hiểu biết nhau nhằm đối lập với quan điểm sinh vật của con người.
Mác. đã phê phán Phơbách: "Phơ bách quy bản chất tôn giáo về bản chất con
người. Song bản chất con người không phải cái trừu tượng vốn có của một cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ
xã hội".
Trong khi phê phán triết học pháp luật của Hêgen, Mác viết: "Bản chất của cá
nhân không phải là râu, không phải là tóc, không phải tính chất vật lý trừu tượng
của cá nhân đó, mà là chất xã hội của cá nhân đó".
* Nhân cách con người được hình thành qua mối quan hệ giữa người này và
người khác trong xã hội.
Mác cho rằng: Chỉ trong chừng mực mà những quan hệ có tính chất người đối
với những người khác đã được xác lập đối với tôi thì tôi mới tự hình thành như con
người.
Mác viết: "Chỉ có khi nào coi con người Pôn giống như mình thì con người
Pie mới bắt đầu coi bản thân mình là một con người. Đồng thời đối với Pie thì Pôn


bằng xương bằng thịt trong cái thân thể của Pôn của anh ta lại là hình thái biểu
hiện của giống người".
Tư tưởng của Mác về nhân cách.
* Nhân cách phát triển hài hòa, toàn điện.
- Nhân cách phát triển hài hòa, toàn diện không phải từ đạo đức trừu tượng, từ
các phẩm chất tốt đẹp và cao quí của con người mà từ các nhu cầu của mỗi con
người tham gia sáng tạo ra mối quan hệ xã hội.

- Muốn nhân cách phát triển hài hòa và toàn diện thì mỗi cá nhân riêng rẽ
tham gia vào các hoạt động xã hội.
- Nhân cách con người được hình thành thông qua hoạt động tích cực của bấn
thân con người trong quá trình sáng tạo xã hội. Và cũng chính vì vậy bản chất xã
hội của con người mới được hình thành.
* Điều kiện để nhân cách phát triển hài hòa toàn diện.
- Xã hội không còn bóc lột. Hoạt động xã hội không còn đối lập với hoạt động
cá nhân. Sự đối lập này đã làm mất bản chất xã hội của con người, làm cho con
người xa lạ chính với bản chất của mình.
- Sự phong phú của cải về mặt tinh thần hoàn toàn phụ thuộc vào sự phong
phú của những quan hệ thực sự của họ.
- Phải xây dựng mối quan hệ người - người mà trong đó các cá nhân sáng tạo
ra nhau cả về mặt thể chất và tinh thần.
Theo Mác chính chủ nghĩa cộng sản là sự sản xuất chính cái hình thái giao
tiếp của con người một cách có kế hoạch và tự giác.
- Muốn phát triển nhân cách toàn diện phải lĩnh hội được "cái hiện thực
người".
"Cái hiện thực người" là toàn bộ những kinh nghiệm của cuộc sống xã hội những kinh nghiệm đó được ghi lại trong các công cụ sản xuất trong nền văn hóa
và chính trong các quan hệ xã hội.
- Như vậy sự tham gia của cá nhân vào hoạt động toàn diện là điều kiện cho
tự phát triển toàn diện của con người với tư cách là một nhân cách.
Đến đây chúng ta có thể nói rằng luận điểm cơ bản để giải quyết vấn đề nhân
cách mà Mác đã nêu ra là các quan hệ xã hội trong đó cá nhân tham gia một cách
tích cực nhằm lĩnh hội và cải tạo mối quan hệ hiện thực đó.
Đó là cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu nhân cách.
* Nghiên cứu nhân cách phải nghiên cứu phạm trù hoạt động của nhân cách.
- Hoạt động có thể nghiên cứu theo nhiều phương diện khác nhau: sinh lý,
sản xuất, xã hội, tâm lý...
- Đối với Mác, nghiên cứu phạm trù hoạt động là cơ sở triết học của tâm lý
học.

- Khái niệm hoạt động:
+ Chủ nghĩa duy vật cũ tách rời nhận thức khỏi hoạt động cảm tính, khỏi các
quan hệ thực tiễn của con người với thế giới xung quanh.
+ C. Mác: hoạt động của con người trong dạng khởi đầu và cơ bản là hoạt
động thực tiễn cảm tính.
+ Hoạt động của con người khác với loài vật. Hoạt động của loài vật đồng
nhất hóa với sinh hoạt của nó. Hoạt động của con người là quá trình lao động xã


hội có ý thức. Hoạt động con vật gắn với nhu cầu trực tiếp. Còn hoạt động của con
người nhiều khi tách khỏi nhu cầu vật chất trực tiếp mà con người hoạt động.
+ Hoạt động con người mang tính xã hội. Chính trong hoạt động này mà bản
chất con người được bộc lộ ra. Ngay trong hoạt động khoa học cũng là hoạt động
xã hội.
+ Đặc trưng cơ bản của hoạt động là quan hệ giữa chủ thể và khách thể. Mác
cho rằng: "Hoạt động sống của cá nhân như thế nào thì tình hình bản thân họ cũng
như vậy". Trong hoạt động con người bộc lộ tất cả sự phong phú của tâm hồn,
chiều sâu của trí tuệ và cảm xúc, sức mạnh của óc tưởng tượng và sáng tạo, năng
lực hành động và những đặc điểm tâm lý khác.
- Về một chủ thể hoạt động của con người là quá trình khách thể hóa lực
lượng bản chất của con người.
- Về mặt khách thể: Nhờ có hoạt động mà khách thể phụ thuộc vào nhu cầu
của con người.
Như vậy, hoạt động không chỉ bộc lộ cái bản chất vốn có của con người mà là
quá trình chủ thể thực sự hoạt động tương ứng với hoạt động đã chuyển vào trong
sản phẩm của hoạt động đó.
Vì lẽ đó hoạt động đã thực sự sáng tạo ra nhân cách.
- Mác cũng nói đến năng lực của con người trong hoạt động. "Đến chủ nghĩa
cộng sản con người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu". Đó chính là lúc con
người từ vương quốc của tất yếu sang vương quốc của tự do.

Tóm lại, Mác đã đặt cơ sở triết học cho việc giải quyết vấn đề nhân cách. Đó
cũng chính là mặt phương pháp luận của nhân cách. Muốn nghiên cứu nhân cách
phải đặt nó trong mối quan hệ xã hội, sự hoạt động của con người trong xã hội đó.
3.2. Quan điểm của Lê Nin vê Nhân cách
Lê nin đã kế thừa, phát huy và sáng tạo học thuyết của Mác về con người.
Nếu học thuyết của Mác nói về bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã
hội, thì Lê nin đã phát triển một cách sáng tạo học thuyết của Mác trong hoàn cảnh
cụ thể. Đó là vấn đề quan hệ xã hội, hoạt động con người trong mối quan hệ đó,
vấn đề bản chất xã hội của nhân cách.
Tiêu chuẩn để xét đoán nhân cách.
1. Hoạt động: Lê nin cho rằng: "Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những
tư tưởng và tình cảm thực của các cá nhân có thực. Tất nhiên căn cứ đó chỉ có thể
là những hoạt động của các cá nhân ấy"
Và Người còn nói "Chỉ có thể thừa nhận tính quyết định của hoạt động và
hành vi của con người mới tạo ra được cơ sở để đánh giá một cách đúng đắn và
nghiêm túc những hoạt động và hành vi đó.
Như vậy, hoạt động của cá nhân là tiêu chuẩn để đánh giá nhân cách.
2. Quan hệ xã hội: Những hoạt động của cá nhân không riêng rẽ, biệt lập mà
tồn tại trong mối quan hệ lẫn nhau, trong sự tồn tại xã hội.
+ Theo Lê nin để cắt nghĩa hoạt động cá nhân phải dựa vào mối quan hệ xã
hội khác nhau, từ trình độ phát triển xã hội. Chỉ có dựa vào quan hệ xã hội mới cắt
nghĩa được hoạt động của họ. Người cho rằng con người là những cá nhân sinh
động, là những lớp người đang vận động đi lên bởi những nhu cầu, hứng thú, mục
đích, lý tưởng, tư tưởng và tình cảm của mình sáng tạo ra lịch sử.


+ Muốn cắt nghĩa mối quan hệ xã hội phải nghiên cứu hoạt động.
Lê nin viết: "Trong khi nghiên cứu mối quan hệ xã hội thực sự và phát triển
thực sự của những mối quan hệ đó, tôi đã nghiên cứu chính ngay vấn đề xem xét
cá nhân đang sống đã làm ra lịch sử của mình và tiếp tục làm ra lịch sử đó như thế

nào". Lê nin khuyên các nhà khoa học xã hội về con người là nghiên cứu những
mối quan hệ xã hội và hoạt động của các cá nhân đó.
3. Phải nghiên cứu ý thức xã hội để hiểu nhân cách
Quan hệ xã hội quy định hoạt động xã hội nhưng không phải trực tiếp mà chi
phối một cánh gián tiếp thông qua ý thức xã hội.
Chính ý thức xã hội đã quy định các kiểu hành vi của nhân cách. Đó là các
kiểu địa chủ, kiểu tư sản, kiểu nhà hoạt động chính trị tự do, tri thức, kiểu công
chức, kiểu tiểu chủ, kiểu nhà cách mạng.
+ Mỗi cá nhân có ý thức xác định vị trí của mình trong hệ thống mối quan hệ
xã hội.
Lênin viết: "Một người nô lệ ý thức về hoàn cảnh nô lệ của mình và đấu tranh
chống lại hoàn cảnh nô lệ đó là một người cách mạng, một nô lệ không có ý thức
về hoàn cảnh nô lệ của mình và sống lay lắt, thầm lặng, sống vô thức và chịu đựng
chỉ là một nô lệ mà thôi".
+ Ý thức là tiền đề chủ quan để điều chỉnh hành vi của con người. Ý thức cá
nhân không chỉ biểu hiện trong tri thức và tư tưởng mà còn trong mối quan hệ của
cá nhân trong thực tiễn. Nhờ đó mà điều chỉnh hành vi đạo đức và hướng đến cải
tạo thế giới.
+ Cái chung và cái riêng trong nhân cách. Phép biện chứng cho ta biết: "Cái
chung chỉ tồn tại trong cái riêng, bất kỳ cái riêng nào cũng có cái chung, cái cá
biệt, cái điển hình".
Từ đó giúp các nhà tâm lý học khám phá ra những đặc điểm tâm lý của các cá
nhân trong các nhóm, tầng lớp xã hội khác nhau. Mỗi cá nhân có những phẩm chất
trí tuệ kỹ năng sáng tạo, tính độc lập, những xu hướng đạo đức khác nhau, có tình
cảm, ý chí tượng trưng khác nhau. Những đồng thời mỗi cá nhân đều mang đặc
điểm chung của giai cấp mình, của nhóm xã hội nhất định.
4. Đời sống xã hội quy định nhân cách:
Sự phát triển nhân cách phụ thuộc vào việc cá nhân tham gia vào đời sống xã
hội, có vị trí và chức năng gì trong xã hội. Cá nhân có những quan điểm như thế
nào, nắm được những giá trị gì, rèn luyện được những phẩm chất gì đều là biểu

hiện của nhân cách.
Theo Lê nin "cuộc sống xã hội là người thầy tốt nhất để giáo dục và dạy dỗ
cho từng cá nhân và cho các tầng lớp xã hội khác nhau". Song để thực hiện được
điều đó còn phải tùy thuộc vào trình độ phát triển xã hội, tùy thuộc vào chỗ cá
nhân tham gia những mối quan hệ xã hội.
5. Sự thống nhất giữa lao động chân tay và lao động trí óc là tiêu chuẩn đánh
giá nhân cách.
Lê nin đã vận dụng quan điểm của Mác: "Hoàn cảnh sáng tạo ra con người
trong chừng mực mà con người sáng tạo ra hoàn cảnh". Chính lao động đã cải tạo
hoàn cảnh đồng thời cải tạo cá nhân mình. Nhưng lao động phải có sự thống nhất
giữa lao động từ óc và lao động chân tay. Trong xã hội tư bản lao động trí óc và


lao động chân tay bị tách lời. Lao động dùng chân tay bị tách rời với lạo động trí
óc nên người lao động bị nghèo nàn đi về tinh thần và biến thành công cụ áp bức
của giai cấp bóc lột. Vì vậy, lao động bị cướp đi nguồn vui và nguồn sáng tạo, làm
mất đi khả năng bộc lộ những năng lực năng khiếu của con người.
Muốn phát triển nhân cách phải xóa bỏ ngăn cách giữa lao động trí óc và lao
động chân tay. Đây là con đường hiện thực để giải phóng nhân cách, làm cho nhân
cách phát triển hài hòa và toàn diện.
6. Tính tích cực của nhân cách:
Lê nin đã chỉ ra tính tích cực của nhân cách:
- Tính tích cực được thể hiện trong nhu cầu và động cơ hành vi và phương
thức hoạt động đặc trưng của người đó cũng như hoạt động cải tạo thực tiễn.
- Tính tích cực được thể hiện trong vị thế mà con người chiếm lĩnh trong cuộc
sống xã hội.
- Nguồn gốc của tính tích cực xuất phát trong quá trình tác động với thế giới
xung quanh và cải tạo nó biến nó phục vụ cho sự thỏa mãn nhu cầu.
Kết luận: Mác - Lê nin không phải là nhà tâm lý học, nhưng những luận điểm
của hai ông để lại là vô cùng quí báu cho việc xây dựng tâm lý học, đặc biệt là tâm lý

học nhân cách thành một khoa học. Những lý luận của hai ông là cơ sở phương pháp
luận của tâm lý học và đó cũng là cơ sở vạch ra con đường phát triển nhân cách.
3.3. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân cách.
- Quan niệm về nhân cách: Nhân cách của con người chính là tư cách của họ
trong hệ thống các quan hệ xã hội nhất định. Ví dụ nh tư cách người cách mạng, tư
cách người tướng, tư cách người quân nhân v.v...
Nhân cách của một con người biểu hiện ra ở hệ thống thái độ của họ đối với
việc, với người và với tự mình.
+ Quân đội ta...
+ Đối với bộ đội, chính trị viên phải thân thiết...
+ Người tướng: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm...
- Về cấu trúc: Đức và Tài
+ Đức (phẩm chất) bao gồm: Thế giới quan, nhân sinh quan, lập trường, thái
độ chính trị, thái độ đối với lao động, lý tưởng, niềm tin, tính cách, thói quen, hứng
thú, thái độ...
+ Tài (năng lực): Năng lực xã hội hóa, năng lực chủ thể hóa, phẩm chất ý chí,
năng lực hành động, năng lực giao lưu.
- Con đường hình thành và phát triển nhân cách: thông qua hoạt động thực
tiễn, qua giáo dục, rèn luyện và tự giáo dục, tự rèn luyện là con đường chính để
hình thành phát triển nhân cách.
+ Hiền dữ...
+ Giã gạo...
=> Lý luận và bản thân cũng là một nhân cách lớn. Nghiên cứu tư tưởng của
người và nhân cách người là cơ sở để xây dựng nhân cách con người Việt Nam
mới. Đó cũng là lý do mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang học tập...
3.4. Quan điểm của Đảng ta về nhân cách (trong các VK Đại hội)


4. Các yếu tố góp phần hình thành nhân cách và động lực thúc đẩy sự
phát triển nhân cách trong tâm lý học.

4.1. Các yếu tố góp phần hình thành nhân cách.
Nhân cách không bẩm sinh mà được hình thành. Đó là một quá trình khách
quan, mang tính quy luật về sự biến đổi con người từ một thực thể tự nhiên trở
thành một thực thể xã hội trong quá trình tác động qua lại với môi trường với tư
cách là chủ thể của hoạt động và giao tiếp.
- Yếu tố cơ thể (tự nhiên, bẩm sinh di truyền): giữ vai trò tiền đề vật chất, không
quyết định mà chỉ là điều kiện tiền đề cho sự hình thành phát triển nhân cách.
- Yếu tố hoàn cảnh sống (môi trường): Môi trường rộng và hẹp
+ Giáo dục
+ Hoạt động
+ Giao lưu
+ Tập thể
- Yếu tố tâm lý cá nhân: đó chính là các quá trình tâm lý cá nhân...
4.2. Động lực thúc đẩy sự phát triển nhân cách
– Mâu thuẫn giữa khả năng, trình độ đạt được (thể chất, tâm lí) với những yêu
cầu của hoạt động
− Mâu thuẫn giữa những yêu cầu mới của hoạt động với những kĩ năng, kĩ
xảo chưa được hình thành.
− Mâu thuẫn giữa những nề nếp, thói quen, tập quán cũ với những yêu cầu
mới của hoàn cảnh sống và hoạt động.
− Mâu thuẫn giữa các mặt đối lập nảy sinh trong quá trình phát triển của cá nhân.
5. Các xu hướng phát triển cơ bản của nhân cách và các giai đoạn hình
thành nhân cách.
5.1. Các xu hướng nghiên cứu nhân cách trong TLH phương tây
A. Tâm lý học nhận biết về nhân cách (thấu cảm)
Để hiểu được tâm lí học hiện sinh ta hãy nghiên cứu những tác giả tiêu biểu
của "tâm lý học nhận biết".
Tâm lí học nhận biết cho rằng cái bản chất trong con người chính là sự định
hướng tinh thần của nó: sự định hướng này là mà bộ phận của nguồn gốc tinh thần
chung của nhân loại. Cải tạo nhân loại bằng phương pháp tinh thần đó.

Tư tưởng đó ảnh hưởng nhiều đến các nhà tâm lí học hiện sinh, các nhà triết
học, nhà văn.
Đại biểu nổi tiếng của Tâm lí học nhận thức (thấu cảm) là E. Sprauger (1882
- 1963).
Các luận điểm cơ bản của ông:
1) Cái tâm lí phát triển từ cái tâm lí.
2) Cái tâm tí dẫn tới sự hiểu biết trực giác các mẫu hoạt động của sự sống.
3) Không nên tìm những nguyên nhân khách quan trong việc phát triển nhân
cách con người, mà tìm ở sự pha trộn giữa nhân cách và giá trị văn hóa tinh thần
của xã hội. Đó cũng là một thuộc tính của tinh thần.
Ông cho rằng cái chủ yếu trong nhân cách con người là sự định hướng quý
giá, nhờ đó mà con người có thể nhận biết thế giới. Sự định hướng quí giá này là
sản phẩm của trạng thái văn minh của nhân loại.


Ông phân biệt được xúc cảm và sự nhận biết. Sự nhận biết nằm ngoài thời
gian và vĩnh cửu. Còn xúc cảm chỉ là nhất thời. Vì vậy chỉ cần nói đến nhận biết
chứ không nói đến xúc cảm.
Theo ông nhân cách được thể hiện ở 6 mẫu người trong đời sống.
1) Mẫu người lý thuyết:
Là người hướng đến sự hiểu biết, nhận biết các quy luật, nhận biết bản chất
thế giới, nhận biết các mối quan hệ giữa con người với nhau. Mẫu người lí thuyết
này có thể là người bất kỳ: tiểu thương, thầy thuốc, kế toán viên. Đây là loại người
định hướng chủ yếu của cuộc sống là tư duy trên bình diện lý luận về cái gì đang
diễn ra, là thiết lập những quy luật nào đó. Bản thân ông cũng thuộc loại người
này.
Ông nói: "Con người lí luận ở dạng thuần túy chỉ biết có sự ham mê, ham mê
tính toán, ham mê học hỏi, ham mê lí giải xác lập mối quan hệ, lí luận hóa. Những
lo lắng quan tâm tách rời khỏi cuộc sống thực tiễn. Nó có thể bất lực và tuyệt vọng
trong tìm hiểu, phấn khởi vì phát hiện lí thuyết. Thế giới đối với họ là phát triển vô

tận các bản thể và các quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Nó nhìn vào tương lai xa thẳm
bao gồm nhiều thời đại. Nó liên kết trong mình tính cụ thể, tính quy luật chung và
luân lí học. Ở dạng tự nhiên và thuần túy mẫu sống ấy được thể hiện ở các nhà bác
học chuyên nghiệp. Những người này chìm đắm trong thế giới khái niệm của mình
và không thể tìm ra mối liên hệ trực tiếp với bất cứ một hiện tượng nào. " Ông cho
rằng Platon, Kant là những đại biểu điển hình của mẫu người này.
2/ Mẫu người kinh tế:
Đặc trưng kiểu người này là tìm thấy sự lợi lộc trong nhận thức. Ông không
cho loại người này là ích kỷ chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình. Loại người này trong
nhận thức của họ phải dẫn tới lợi ích, cho bản thân, cho gia đình, cho cộng đồng, cho
nhân loại. Ông cho rằng "nếu Kant là cái đầu thì Lametri là cái tay". Kỹ thuật và kiến
thức tự nhiên là mẫu người kinh tế. Những người loại này có giá trị ở chỗ là vừa nhận
thức vừa sáng tạo. Họ hướng đến thực nghiệm để nhận thức thế giới.
Ông nói: Trong bình diện chung nhất của mẫu người kinh tế là mẫu người đạt
lợi ích trên hàng đầu trong mối quan hệ sinh hoạt đối với nó. Đối với nó tất cả đều
trở thành phương tiện để duy trì cuộc sống, duy trì cuộc đấu tranh để tồn tại và cải
thiện cuộc sống một cách tốt nhất.
Nó tiết kiệm vật liệu, sức lực, thời gian để đạt lợi ích tối đa. Có hai mẫu
người kinh tế: Mẫu người trong sản xuất và mẫu người trong tiêu dùng. Nếu trong
điều kiện dồi dào vật chất thì mẫu người tiêu dùng sẽ hướng đến những nét thẩm
mỹ. Nếu trong điều kiện thiếu thốn vật chất anh ta sẽ trở thành người keo kiệt, ích
kỷ, buồn bã.
Các nghề nghiệp tạo thành con người kinh tế như người làm ruộng, người
chăn nuôi, người công nhân, nhà buôn có những nét khác nhau. Sự phát triển của
nền kinh tế làm phát triển kiểu người này.
3/ Mẫu người thẩm mỹ:
Những người này nhận thức thế giới thông qua ấn tượng và diễn đạt nó bằng
hình tượng. Họ nhận thức bằng sự hài hòa hay không hài hòa. Nếu họ thấy thiên
nhiên hài hòa thì thấy dễ chịu, nếu không hài hòa thì thấy khó chịu.



Mẫu người này thể hiện rõ ở các họa sĩ, nhạc sĩ, nhà điêu khắc, nghệ sĩ v.v... Cũng
có thể có ở người bình thường. Họ khao khát tự thể hiện những thẩm mỹ mà thôi.
Mẫu người thẩm mỹ thực sự như Rafaen.
Mẫu thẩm mỹ và mẫu kinh tế muốn giao lưu với con người, còn mẫu lí thuyết ít
muốn giao lưu với con người. Định hướng của người nghệ thuật dựa vào màu sắc,
hình đáng, nhịp điệu của đời sống, thiên nhiên, thông qua sự hài hòa của cuộc sống.
Theo ông ái tình là một hình thức thẩm mỹ của sự giao lưu. Ái tình (tình dục)
là biểu tượng của giao lưu tinh thần. Điều này ông nói đến thanh niên, ông yêu
mến thanh niên vì thanh niên lãng mạn, hiểu biết thẩm mỹ.
4/ Mẫu người vị tha
Mẫu người tập đoàn là mẫu người muốn tìm mình trong người khác, song vì
người khác, ham muốn tình yêu nhân loại. Người tập đoàn hành động vì người
khác. Đó là tình yêu cao thượng. Theo ông, Peslalôxia sống theo kiểu người này,
L. N. Tôntôi cũng là kiểu người này.
Kiểu người này không chịu sống theo nguyên tắc theo tiêu chuẩn nên thường
vô chính phủ. Mặt khác kiểu người này sống theo gia trưởng. Kiểu người này
hướng đến hành vi XHCN.
Ông phân biệt tình yêu của kiểu người này. Tình yêu với những người cùng
huyết thống và tình yêu dựa trên tinh thần thuần túy. Tình yêu của người mẹ dựa
vào huyết thống (bản năng). Tình bạn là tình yêu thuần túy tinh thần. Tình yêu là
cái tôi cao cả, thấy bản thân mình trong người khác.
5/ Mẫu người chính trị.
Người chính trị không phải là kiểu người ham muốn quyền hành chính trị,
ham muốn quyền lực. Quyền lực thật là quyền lực xây dựng trên giá trị tinh thần
chân chính. Đó là các nhà chính trị. Họ ham muốn quyết định hành động của người
khác. Đây cũng không nhất thiết là những người giám đốc, những nhà chính trị, mà
có ở tất cả ở những con người có sự xác định quyền lực bằng tinh thần. Họ muốn
có quyền lực phải nhân danh nhiều người. Người lãnh tụ có quyền lực vì sự ủng hộ
của một nhóm người. Đó là những người có cá tính mạnh mẽ.

6) Mẫu người tôn giáo:
Đó là người mà định hướng nhân cách của họ là ý nghĩa cuộc sống. Họ
hướng dẫn đến việc tìm ra quy luật của ý nghĩa cuộc sống. Họ chứng minh rằng có
một sức mạnh siêu tinh thần nào đó. Họ cho rằng cái vĩnh hằng đang quyết định
đời sống con người. Đây có thể không phải là người theo một tôn giáo nào mà là
người đi tìm ý nghĩa cao siêu nhất, chân lí nhất như Brunô - Những người này đã
chết do lỗi của nhà thờ.
Con người tôn giáo hướng mọi giá trị tinh thần vào cảm xúc.
Nhận xét:
Sự phân loại này của ông nhằm chứng minh rằng ở con người không phải có
sự khác nhau về cơ thể, về hành vi, mà là do giá trị định hướng tinh thần của con
người. Các định hướng tinh thần không xuất phát từ xã hội, từ điều kiện sống, mà
từ bản ngã tinh thần. Quan niệm tâm lí đẻ ra tâm lí là thể hiện duy tâm cực đoan.
Tâm lí học nhận biết không tìm hướng đi đúng đắn cho tâm lí học. Đó là xu hướng
duy tâm trong tâm lí học.


B - Thuyết hiện sinh về nhân cách
Thuyết hiện sinh (Existentialisme, Phénoménologie) là học thuyết về triết học
và tâm lý học. Thuyết này cho rằng con người có khả năng cảm nhận những cái
mình đang sống, những cái đã trôi qua, về sự tự do của bản thân và mối quan hệ
với người khác. Họ tìm cách mô tả một cách khách quan tất cả những cảm nhận cá
nhân và phân tích cơ cấu và cơ chế của nhưng cảm nhận đó.
Những người đại diện nổi tiếng của trường phái này là nhà triết học Husserl
và Sartre...
Người nổi tiếng trong tâm lý hiện sinh là Kale Ixperx.
Năm 1935 ông viết cuốn sách: "Ý nghĩa của cảm xúc". Sách này được tái bản
nhiều lần ở Mỹ trong những năm sáu mươi. Chủ nghĩa hiện sinh trong tâm lý phủ
nhận chức năng của não trong việc phản ánh hiện thực khách quan.
Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh:

1 - Tâm lý, ý thức không có cơ sở từ cơ chế sinh lý.
2 - Hành động của con người bao giờ cũng có tính chất tự nhiên trong sự
phản ánh mối quan hệ con người với xung quanh.
3 - Ý thức phản ứng là nét đặc trưng của con người, nhờ đó mà con người
thoát khỏi hoàn cảnh và chống lại hoàn cảnh.
4 - Con người luôn luôn hướng vào thế giới nội tâm, hoàn cảnh bị tách rời
khỏi con người.
Như vậy, học thuyết hiện sinh đã chống lại học thuyết Freud về vô thức, học
thuyết hành vi và học thuyết môi trường quyết định.
Chủ nghĩa hiện sinh đã lập luận như sau:
Về quan điểm thứ nhất tâm lý, ý thức không có cơ chế sinh lý, vì bộ não chỉ
giúp cho sự lan truyền các kích thích nó hoạt động một cách cơ giới chứ không có
tính chất tâm lý. Do đó tâm lý, ý thức phụ thuộc vào nhân cách con nguời. Về quan
điểm thứ hai cho rằng hành động con người mang tính chất tự nhiên; có nghĩa là
tính chủ quan thể hiện đặc điểm nhân cách con người.
Về quan điểm thứ ba cho rằng ý thức phản ứng là nét đặc thù của con người
chứ không phải phản ánh hiện thực khách quan. Điều này có thể thể hiện trong tri
giác. Ông chia ra hai loại trị giác: tri giác ngoại giới và tri giác tư duy. Tri giác
ngoại giới phản ảnh thế giới xung quanh. Tri giác tư duy phản ánh sự nhận thức
con người về thế giới do. Khi con người tri giác thế giới và thấy thế giới hoàn toàn
khác, nghĩa là lúc đó con người đã tiến hành tri giác tư duy - con người lúc ấy sẽ
mất nhân tính. Ví dụ, khi tôi giơ cánh tay lên, tôi nhận biết việc làm của mình
nhằm mục đích gì. Đó chính là lúc tư duy ngoại giới. Nhưng khi làm việc đó một
cách vô thức thì đó là tri giác tư duy. Rõ ràng họ lẫn lộn việc tư duy và tri giác, vô
thức và ý thức, hành động giữa người bình thường và người bệnh.
Về quan điểm thứ tư. Nếu con người hướng vào nội tâm thì dễ dàng lảng
tránh thế giới bên ngoài. Thế giới bên ngoài bị loại trừ khỏi mối quan hệ cái tôi.
Điều đó nói lên rằng con người có khuynh hướng độc lập với thế giới bên ngoài và
cũng từ đó tạo nên cá tính riêng của mình khác với người khác. Nhân cách được
quan niệm là một bản thể đặc biệt không phụ thuộc vào điều kiện khách quan. Sự

khác nhau không phải số lượng, tốc độ của các hiện tượng tâm lý mà là sự sai biệt
tính chất toàn vẹn của hệ thống cá nhân.


Đóng góp của hiện sinh là họ đã mạnh dạn phê phán tất cả các trường phái
tâm lý như Phân tâm học, hành vi chủ nghĩa.
Họ thừa nhận giá trị, cá tính của con người. Nhưng họ sai lầm là ở chỗ "đánh
mất" yếu tố khách quan trong quyết định nhân cách, cái tâm lý phát triển cái tâm
lý. Họ coi nhẹ nghiên cứu nhận thức của con người.
Học thuyết hiện sinh thường đề cập tới cái tôi. Đó là cái tôi hiện thực và cái
tôi lý tưởng.
Ruth Wylie (1968) cho rằng cái tôi có thể coi là một cấu trúc phức hợp của
những yếu tố tương hỗ tạo nên con người. Theo quan niệm của Wylie đó là quan
niệm khái quát phù hợp với các mặt sau:
1. Con người đã kinh qua cuộc sống như là một thực thể khác nhau, thực thể
khác nhau ấy có thể phân biệt với thực thể khác.
2. Cảm xúc của con người được duy trì qua thời gian.
3. Tính chất vật lý của cá nhân với tư cách như là kinh nghiệm của cá nhân.
4. Những hành vi cá nhân trong quá khứ như là kinh nghiệm và ghi nhớ, đặc
biệt được tiến hành một cách tự do hoặc có kiểm soát của cá nhân.
5. Kinh nghiệm của tổ chức hoặc một thể thống nhất nào đó là ở giữa các
mặt, theo quan niệm của cái tôi nói chung.
6. Các mặt đánh giá, tư duy và ghi nhớ.
7. Mức độ ý thức hoặc không ý thức.
Ngoài khái niệm cái tôi chung người ta còn chia cái tôi hiện thực và cái tôi lý tưởng.
C. J. H. E. Tsenck về nhân cách
Đáng chú ý trong việc nghiên cứu nhân cách theo xu hướng phân loại hướng
nội và hướng ngoại có nhà tâm lý học nổi tiếng J.H. Eysenck. Trên cơ sở nghiên
cứu bốn loại khí chất cơ bản và những đặc điểm nhân cách ông đã đưa ra sơ đồ cấu
trúc nhân cách, dựa trên 4 tiêu chí ổn định và không ổn định, hướng nội và hướng

ngoại để xác định nhân cách con người. Ông đã sáng tạo ra hệ thống Test bao gồm
60 câu hỏi để nghiên cứu nhân cách trẻ em.
Những trẻ hướng ngoại thường có những đặc điểm nhân cách sau: dễ kích
động, tích cực, lạc quan, ít sâu sắc. Những trẻ hướng nội thường có những đặc
điểm nhân cách: quan hệ xã hội ít, bị động, bình tĩnh, sâu sắc, bi quan.
Điều đó được ông biểu diễn theo sơ đồ vòng tròn đồng tâm có 2 trục thể hiện
các cực của nhân cách (1975).
HƯỚNG NỘI – KHÔNG ỔN ĐỊNH:
Yên lặng
Âm thầm
Dè dặt
Bi quan
Điềm tĩnh
Nghiêm khắc
Lo lắng
Tâm trạng
HƯỚNG NỘI - ỔN ĐỊNH:
Thụ động
Cảm nhận


×