Tải bản đầy đủ (.doc) (15 trang)

Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất và biểu hiện của nó trong quá trình xây dựng CNXH ở VN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (146.02 KB, 15 trang )

CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Mục lục

A. Lời nói đầu................................................................................................2
B.Nội dung......................................................................................................4
I. Mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất..................................................................................................................4
1.

Lực lợng sản xuất............................................................4

2.

Quan hệ sản xuất..............................................................5

3.

Quy luật về sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ

sản xuất. .....................................................................................................6
II. Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất từ trớc đến nay nói chung và ở Việt Nam từ năm 1954 đến
nay............................................................................................................9
1.

Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản

xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam từ năm 1954 -1975............................10
2.


Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản

xuất và quan hệ sản xuất từ năm 1975 đến trớc 1986 ở Việt Nam..............11
3.

Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản

xuất và quan hệ sản xuất từ nam 1986 đến nay ở Việt Nam.........................12
C. Kết luận..................................................................................................15

1


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

A - lời nói đầu
Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội đợc quy định bởi một phơng thức sản
xuất nhất định. Chính những phơng thức sản xuất vật chất là yếu tố quyết định
sự phát triển hình thái kinh tế xã hội. Và qua nghiên cứu thì theo một phơng
thức sản xuất nào cũng đều phải có sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức
sản xuất , chúng tồn tại không tách rời nhau , tác động qua lại lẫn nhau một
cách biện chứng , tạo thành sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát
triển của lực lợng sản xuất quy luật cơ bản nhất của sự vận động , phát triển
xã hội . Lực lợng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất , nhng quan hệ sản xuất
cũng có tính độc lập tơng đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lợng sản
xuất .
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất là quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử của nhân loại .
Sự thay thế , phát triển của lịch sử nhân loại từ chế độ Công Xã Nguyên Thủy ,

qua chế độ Chiếm Hữu Nô Lệ , chế độ Phong Kiến , chế độ T Bản Chủ Nghĩa
đến chế độ Chủ Nghĩa Xã Hội ngày nay xã hội Cộng Sản Chủ Nghĩa trong tơng
lai là do sự tác động của hệ thống các quy luật xã hội , trong đó quy luật sự phù
hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lợng sản xuất là cơ bản
nhất
Qua đó ta có thể thấy việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hết sức cần thiết. Đặc biệt trong thời kỳ hiện
nay Chủ nghĩa Xã hội lại có nhiều thay đổi và biến dộng một trong những
nguyên nhân tan rã của hệ thống Xã hội Chủ nghĩa là do các nớc Chủ nghĩa Xã
hội đã xây dựng mô hình Chủ nghĩa Xã hội không có sự phù hợp giữa quan hệ
sản xuất và lực lợng sản xuất. ở nớc ta cũng vậy, sau 1954 miền Bắc tiến lên
Chủ nghĩa Xã hội và cả nớc là sau 1975. Trong quá trình đổi mới đất nớc, do
nóng vội nên Đảng ta đã mắc phải một sự sai lầm là duy trì quá lâu quan hệ sản

2


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

xuất cố hữu đó là chính sách bao cấp tập trung dân chủ. Chính vì lẽ đó mà trong
suốt những năm đó nền kinh tế nớc ta chậm phát triển và rơi vào tình trạng
khủng hoảng trong những năm đầu thập kỷ 80. điều quan trọng là Đảng ta đã
nhận thức đợc điều đó và nhanh chóng đổi mới thông qua ĐH Đảng VI và các
kỳ ĐH tiếp sau đó. Trong thời kỳ quá độ có nhiều vấn đề phức tạp cần phải giải
quyết bởi vì nó là bớc chuyển tiếp từ một hình thái kinh tế - xã hội này lên một
hình thái kinh tế - xã hội khác. cho nên em chọn đề tài Mối quan hệ biện
chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất v biểu hiện của nó trong
quá trình xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam để nghiên cứu. Trong bài
tiểu luận này do trình độ kiến thức còn cha sâu và đây là bài tiểu luận khoa học
đầu tiên nên sẽ có nhiều vấn đề thiếu sót, vì vậy em mong đợc sự chỉ bảo và
giúp đỡ của các thầy cô bộ môn.

Em xin chân thành cảm ơn!

3


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

B - nội dung
I - Mối quan hệ biện chứng giữa lực l ợng sản xuất và quan hệ sản
xuất.
1. Lực lợng sản xuất.
a. Khái niệm.
Lực lợng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con ngời với tự nhiên trong
quá trình sản xuất . Lực lợng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con ngời
trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lợng sản xuất bao gồm ngời lao
động với kĩ năng lao động của của họ và t liệu sản xuất , trớc hết là công cụ lao
động . Trong quá trình sản xuất , sức lao động của con ngời và t liệu sản xuất ,
trớc hết là công cụ lao động , kết hợp với nhau tạo thành lực lợng sản xuất
Nội dung.
Lực lợng sản xuất bao gồm :
- T liệu sản xuất do xã hội tạo ra, trớc hết là công cụ lao động.
-

Ngời lao động với những kinh nghiệm sản xuất, thói quen lao

động, biết sử dụng t liệu sản xuất để tạo ra của cải vật chất.
- T liệu sản xuất bao gồm :


Đối tợng lao động




T liệu lao động :
o

Công cụ lao động

o

NhữngTLLĐ khác

Đối tợng lao động không phải là toàn bộ giới tự nhiên, mà chỉ có một bộ
phận của giới tự nhiên đợc đa vào sản xuất. Con ngời không chỉ tìm trong giới tự
nhiên những đối tợng lao động có sẵn, mà còn sáng tạo ra bản thân đối tợng lao
động. T liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu, nhng nếu tách khỏi ngời

4


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

lao động thì cũng không thể phát huy đợc tác dụng, không thể trở thành lực lợng
sản xuất của xã hội.
KHKT đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển lực lợng
sản xuất , đặc biệt ngày nay vai trò của KH lớn đến mức nó trở thành một lực l ợng sản xuất trực tiếp , một tất yếu đặt ra hôm nay bất kì quốc gia nào để có thể
phát triển phải đa thành tựu của KHKT vào sản xuất.
2. Quan hệ sản xuất.
a. Khái niệm.
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa ngời với ngời trong quá trình sản xuất

(sản xuất và tái sản xuất xã hội). Quan hệ sản xuất gồm ba mặt: quan hệ sở hữu
đối với t liệu sản xuất, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, quan hệ trong
phân phối sản phẩm sản xuất ra.
b. Nội dung.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau :
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc sở hữu về t liệu sản xuất.
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc tổ chức quản lý , phân
công lao động.
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc phân phối sản phẩm lao
động.
Ba mặt nói trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó quan hệ thứ nhất có
ý nghĩa quyết định đối với tất cả những mối quan hệ khác. Bản chất của bất kì
quan hệ sản xuất nào cũng đều phụ thuộc vào vấn đề những t liệu sản xuấtchủ
yếu trong xã hội đợc giải quyết nh thế nào.
Có hai hình thức sở hữu cơ bản về t liệu sản xuất :
+ Sở hữu t nhân.
+ Sở hữu xã hội.

5


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Những hình thức sở hữu đó là những quan hệ kinh tế hiên thực giữa ngời
với ngời trong xã hội. Đơng nhiên để cho t liệu sản xuất không trở thành vô
chủ phải có chính sách và cơ chế rõ ràng để xác định chủ thể sở hữu và sử
dụng đối với những t liệu sản xuất nhất định.
Trong sự tác động lẫn nhau của các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất,
quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối có vai trò quan trọng. Những
quan hệ này có thể góp phần củng cố quan hệ sở hữu và cũng có thể làm biến

dạng quan hệ sở hữu. Các hệ thống quan hệ sản xuất ở mỗi giai đoạn lịch sử đếu
tồn tại trong một phơng thức sản xuất nhất định. Hệ thống quan hệ sản xuất
thống trị mỗi hình thái kinh tế - xã hội ấy. Vì vậy, khi nghiên cứu, xem xét tính
chất của một hình thái xã hội nào thì không thể nhìn ở trình độ của lực lợng sản
xuất mà còn phải xét đến tính chất của các quan hệ sản xuất.
Quan hệ kinh tế tổ chức xuất hiện trong quá trình tổ chức sản xuất. Nó
vừa biểu hiện quan hệ giữa ngời với ngời, vừa biểu hiện trạng thái tự nhiên kĩ
thuật của nền sản xuất. Quan hệ kinh tế tỏ chức phản ánh trình độ phân công lao
động xã hội, chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất. Nó do tính chất và trình
độ phát triển của lực lợng sản xuất qui định.

3. Quy luật về sự phù hợp giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất .
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phơng thức sản
xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau hình
thành quy luật phổ biến của toàn bộ lịch sử loài ngời, quy luật về sự phù hợp
quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Quy luật này
vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất và phát triển của
lực lợng sản xuất. Đến lợt mình, quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lợng sản xuất.Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ của lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển của xã hội loài ng-

6


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

ời. Sự tác động của nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn.
a. Những tác động của lực lợng sản xuất đến quan hệ sản xuất.
Quan hệ sản xuất đợc hình thành, biến đổi và phát triển đều do lực lợng
sản xuất quyết định.

Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao
hơn, con ngời luôn luôn tìm cách cải tiến, hoàn thiện công cụ lao động mới tinh
xảo hơn. Cùng với sự biến đổi và phát triển của công cụ lao động thì kinh
nghiệm sản xuất, thói quen lao động, kĩ năng sản xuất, kiến thức khoa học của
con ngời cũng tiến bộ. Lực lợng sản xuất trở thành yếu tố cách mạng nhất. Còn
quan hệ sản xuất là yếu tố tơng đối ổn định, có khuynh hớng lạc hậu hơn là sự
phát triển của lực lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất là nội dung của phơng thức
sản xuất, con quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của nó. Trong mối quan hệ
giữa nội dung và hình thức thì hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung quyết
định hình thức, nội dung thay đổi trớc, sau đó hình thức mới biến đổi theo.
Cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất cũng hình
thành và biến đổi phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Sự phù
hợp đó là động lực làm cho lực lợng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Khi lực lợng
sản xuất phát triển lên một trình độ mới, quan hệ sản xuất cũ không còn phù hợp
với nó nữa nên buộc phải thay thế bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lợng sản xuất, mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển.
b. Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lợng sản xuất.
Sự hình thành, biến đổi, phát triển của quan hệ sản xuất phụ thuộc vào
tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất. Nhng quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội mà lực lợng sản xuất dựa vào đó để phát triển, nó tác động trở lại đối với
lực lợng sản xuất : có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản
xuất.

7


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất
thì nó trở thành động lực cơ bản thúc đẩy mở đờng cho lực lợng sản xuất phát

triển. Ngợc lại, quan hệ sản xuất lỗi thời không còn phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lợng sản xuất, bộc lộ mâu thuẫn gay gắt với lực lợng sản xuất
thì trở thành chớng ngại kìm hãm sự phát triển của lực lợng sản xuất. Song sự
tác dụng kìm hãm đó chỉ là tạm thời, theo tính tất yếu khách quan thì nó sẽ bị
thay thế bằng kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất. Sở dĩ quan hệ sản xuất có tác động mạnh mẽ trở lại đối với
lực lợng sản xuất ( thúc đẩy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản
xuất, quy định hệ thống của tổ chức, quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy
định phơng thức phân phối của cải ít hay nhiếu mà ngời lao động đợc hởng. Do
đó nó ảnh hởng đến thái độ của lực lợng sản xuất chủ yếu của xã hội ( con ngời ), nó tạo ra những điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế việc cải tiến công
cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa học và kỹ thuật vào sản xuất, hợp
tác và phân công lao động. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất là một hệ thống, một
chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt : quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phận
phối. Chỉ trong chỉnh thể đó quan hệ sản xuất mới trở thành động lực thúc đẩy
hành động nhằm phát triển sản xuất.
c. Mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất qua sự tác
động qua lại lẫn nhau.
Sự thồng nhất và tác động qua lại giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất xã hội hợp thành phơng thức sản xuất. Trong sự thống nhất biện chứng này,
sự phát triển của lực lợng sản xuất đóng vai trò quyết định đối với quan hệ sản
xuất. Quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng sản xuất. Lực lợng sản xuất thờng xuyên vận động, phát triển, nên quan hệ
sản xuất cũng luôn luôn thay đỏi nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lợng
sản xuất. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ

8


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688


phát triển của lực lợng sản xuất. Đây là quy luật kinh tế chung của mọi phơng
thức sản xuất
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của
lực lợng sản xuất là quy luật cơ bản của sự phát triển loài ngời. Sự tác động của
nó trong lịch sử làm cho xã hội chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội thấp lên hình
thái kinh tế - xã hội khác cao hơn.

II - Sự biểu hiện mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất từ trơc đến nay nói chung và từ năm 1954 đến nay ở Việt
Nam .

Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin thì loài ngời từ trớc đến nay đã trải qua năm
hình thái kinh tế - xã hội, từ thời kì mông muội đến hiện đại nh ngày nay đó là :
thời kì Công xã Nguyên thuỷ, Chiếm hữu Nô lệ, Phong kiến, T bản Chủ nghĩa
và thời kì Xã hội Chủ nghĩa.Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội đợc quy định
bởi một phơng thức sản xuất nhất định. Chính những phơng thức sản xuất vật
chất là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội . Do
mỗi hình thái kinh tế - xã hội nh vậy nên quan hệ sản xuất của nó cũng tơng ứng
với một trình độ nhất định của lực lợng sản xuất đồng thời tiêu biểu cho một
giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử loài ngời. Trong các quy luật khách
quan chi phối sự vận động phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội thì lực l ợng sản xuất bảo đảm tính kế thừa trong sự phát triển tiến lên của xã hội, quy
định khuynh hớng phát triển từ thấp đến cao. Quan hệ sản xuất là mặt thứ hai
của phơng thức sản xuất biểu hiện tính gián đoạn trong sự phát triển của lịch sử.
Tóm lại mối quan hệ biện chứng giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản
xuất vạch ra quy luật khách quan của sự phát triển xã hội nh một quá trình lỉch
sử t nhiên. Trong đó sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con ngời ta có
những quan hệ nhất định, tất yếu không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ, tức những

9



CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

quan hệ sản xuất, những quan hệ nàynày phù hợp với một trình độ phát triển
nhất định của lực lợng sản xuất vật chất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản
xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó
xây dựng lên một một kiến trúc thợng tầng pháp lý và chính trị tơng ứng với cơ
sở thực tại đó có những hình thái ý thức xã hội nhất định. Phơng thức sản xuất
chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức con ngời quyết định sự tồn
tại của họ, trái lại, chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định ý thức của họ. Tới
một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lợng sản xuất vật chất của xã
hội sẽ gây mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay đây chỉ là biểu
hiện pháp lý của những quan hệ sở hữu, trong đó từ trớc đến nay các lực lợng
sản xuất vẫn phát triển. Từ chỗ là những hình thức phát triển của lực lợng sản
xuất, khi đó bắt đầu thời đại của cuộc cách mạng xã hội.
1. Biểu hiện của mối quan hệ từ năm 1954 - 1975 ở Việt Nam.
Năm 1954, sau khi hoà bình lập lại ở miền Bắc, Đảng ta đã thực hiện chủ
trơng đa đất nớc tiến lên Chủ nghĩa Xã hội, bỏ qua T bản Chủ nghĩa. Mặc dù
chủ trơng đa đất nớc tiến lên Chủ nghĩa Xã hội đã đợc xác định từ đầu thế kỷ
XX, nhng đến đến thời gian này mới có điều kiện để đa đất nớc tiến lên theo
con đờng này. Tuy nhiên, sau một thời gian dài nớc ta phải chịu ách thống trị
của thực dân Pháp với những chính sách thống trị ngu dân của chúng đã làm
cho con ngời của đất nớc chúng ta kém phát triển và bị tụt hậu, điều đó đã ảnh
hởng trực tiếp đến lực lợng sản xuất, nó làm cho nền kinh tế của nớc ta bị tụt
hậu rất nhiều năm so với thế giới bên ngoài. Chúng ta đều biết rằng, phơng thức
sản xuất là cách con ngời thực hiện quá trình sản xuất vật chất ở những giai
đoạn lịch sử nhất định. Phơng thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa
quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, trong đó lực lợng sản xuất là sự thống
nhất hữu cơ giữa t liệu sản xuất ( trớc hết là công cụ lao động )và những ngời sử

dụng những t liệu này dể sản xuất ra của cải vật chất. Trong lực lợng sản xuất,
yếu tố con ngời đóng vai trò chủ thể và quyết định. Con ngời chẳng những là
chủ thể tham gia trực tiếp vầo quá trình lao động sản xuất bằng sức mạnh cơ

10


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

bắp, bằng trí tuệ của mình, mà còn không ngừng sáng tạo ra những công cụ lao
động để nối dài các khí quan của mình nhằm tác động vào tự nhiên một cách
hiệu quả. Và trong hoàn cảnh đó con ngời Việt Nam ta đa số là mù chữ và cha
có kinh nghiệm sản xuất. Mà t liệu sản xuất thô sơ và chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp. Từ tình hình lực lợng sản xuất nh vậy nên quan hệ sản xuất trong thời kì
này tồn tại nhiều hình thức sở hữu khá nhau, đó là : Sở hữu cá nhân, sở hữu tập
thể và sở hữu t bản t nhân.Trong hoàn cảnh phơng thức sản xuất diễn ra nh vậy
nên Đảng ta đã chủ trơng cải tạo :
ở thành phố là Công t hợp doanh.
ở nông thôn là Cải cách ruộng đất.
Đảng ta đã quyết tâm đa miền Bắc quá độ tiến lên Chủ nghĩa Xã hội. Từ
những chủ trơng đổi mới của Đảng ta mà đến năm 1960 quan hệ sản xuất đã có
sự thay đổi cơ bản từ hình thức sở hữu t nhân đa lên hình thức sở hữu tập thể,
hình thức sở hữu tập thể đa lên hình thức quốc doanh, còn hình thức TB t nhân
thì vận động và đa lên hình thức công t hợp doanh.
Những chủ trơng trên đã đợc Đảng ta khẳng định trong ĐH Đảng III. Mặc
dù quan hệ sản xuất lúc này không còn đơc phù hợp chặt chẽ với lực lợng sản
xuất, nhng trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh thì tài sản tập trung trong tay
Nhà nớc và quan hệ phân phối theo lao động lại là chính sách rất có hiệu quả để
thúc đẩy đất nớc đi lên dành thắng lợi lịch sử mùa xuân năm 1975 và thức hiện
cuộc cải cách miền Bắc thành công.

2. Quá trình tồn tại và phát triển của mối quan hệ biện chứng giữa
lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam từ năm 1975 đến trớc
1986.
Mùa xuân năm 1975 với chiến dịch HCM lịch sử, nớc ta đã hoàn toàn giải
phóng . Đảng ta đã chủ trơng đa cả nớc theo con đờng quá độ lên Chủ nghĩa Xã
hội bỏ qua Chủ nghĩa T Bản trong điều kiện đất nớc chịu những đảo lộn về kinh
tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt và tình hình bất ổn trên

11


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

thế giới . Tuy nhiên do quá vội vã trong công cuộc đổi mới đất nớc nên Đảng ta
đã mắc phải một số sai lầm . Những sai lầm lúc này là : hàng triu lao ng
cha có vic lm , ti nguyên ch a c khai thác tt , công sut máy móc,
thit b s dng mc thp , phân phi, lu thông ri ren kéo di, ca ci xã
hi b lãng phí nghiêm trng , nhng mt cân i ln trong nn kinh t cha
gim bt, có mt li gay gt hn , quan h sn xut xã hi ch ngha chm c
cng c , đi sng công nhân, cán b v nhân dân lao ng cũng nhiu khó
khn , tiêu cc trong xã hi có nhng biu hin nghiêm trng , duy trì quá lâu
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chỉ tồn tại hai hình thức sở hữu là tập thể và
quốc doanh với cơ chế xin cho, cấp phát. từ những sai lầm trên đã dẫn đến
những hậu quả về kinh tế xã hội : các thành phần kinh tế kém phát triển và lâm
vào tình trạng khủng hoảng kinh tế những năm đầu thập kỷ 80 , điều đó cũng
chứng tỏ rằng mối quan hệ giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là không
phù hợp . Một mối quan hệ sản xuất tiên bộ không thể áp đặt cho một lực lợng
sản xuất thấp kém , đó chính là bài học cho Đảng ta trong công cuộc đổi mới
đất nớc .
Trong khú khn chung, ó xut hin nhng nhõn t tớch cc m i. Qua

th nghim, tỡm tũi, mt s ngnh, a phng v c s ó ny n nhng
mụ hỡnh sn xut, kinh doanh cú hiu qu, khai thỏc cỏc kh nng phỏt
trin sn xut, khc phc khú khn trong i sng. Nhng mụ hỡnh ú
c tng kt s gúp phn xỏc nh ni dung c th ca phng th c l m
n mi. Trỡnh ca ụng o cỏn b v nhn thc v vn dng cỏc ch
trng, chớnh sỏch ca ng, nm bt v i sõu vo thc tin c nõng
lờn. Qua vic lp s phỏt trin v phõn b lc lng sn xut, lp quy
hoch tng th ca cỏc huyn, chỳng ta hiu rừ hn tim nng ca t
nc ra phng hng khai thỏc cỏc tim nng ú trong thi gian ti.
Hng trm cụng trỡnh ln, nhiu cụng trỡnh va v nh c xõy dng
trong thi gian qua, tuy cú nhng mt cha hp lý, song l nhng c s vt
cht - k thut rt quan trng. i ng cụng nhõn lnh ngh v cỏn b khoa
hc k thut ó c o to khụng ớt. Nhiu kt qu nghiờn cu khoa
12


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

hc, k thut ó c kt lun. Nhng cỏi ú l vn quý giỳp chỳng ta gi i
quyt cỏc nhim v kinh t, xó hi t ra trc mt .
3. Sự biểu hiện của mối quan hệ từ năm 1986 đến nay.
Đứng trớc tình hình khó khăn và những sai lầm đã mắc phải trớc đó, ĐH
Đại biểu toàn quốc VI của ĐCS Việt Nam đã đa ra đờng lối đổi mới đất nớc.
Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu Xã hội Chủ nghĩa mà là nhận thức cho
đúng mục tiêu và con đờng tiên lên Chủ nghĩa Xã hội ở nớc ta.
Chúng ta tiến lên Chủ nghĩa Xã hội bỏ qua chế độ TBCN, đó không phải
là những bớc đi tất yếu, hợp quy luật. Từ đó, ĐCS Viêt nam đã định ra đờng lối
chuyển từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang xây dựng nền kinh tế nhiều
thành phần là phù hợp với đặc điểm phát triển của lực lợng sản xuất trong điều
kiện nớc ta hiện nay . Nó cho phép khai thác tốt nhất các năng lực sản xuất

trong nớc, thúc đẩy qua trình phân công lao động trong nớc và gắn phân công
lao động trong nớc với quốc tế và khu vực, thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển
nhanh chóng. Trong các thành phần kinh tế, Đảng khẳng định kinh tế nông
nghiêp đóng vai trò chủ đạo. Những thành tựu đạt đơc về mặt kinh trong những
năm qua đã chững minh điều đó.
ĐH Đại biểu toàn quốc lần VIII của ĐCS Việt Nam nhận định Nớc ta
chuyển thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nớc . . . . Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta
thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất . . .
Đảng ta còn khẳng định còn khẳng định : Nền công nghiệp hoá, hiện đại
hoá tạo nên lực lợng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển
nền hàng hoá nhiều thành phần chính là để xây fdựnghệ thống quan hệ sản xuất
phù hợp . . .

13


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần mà Đảng ta chủ trơng là nền kinh
tế phát triển theo định hớng Xã hội Chủ nghĩa. Do đó phải chăm lo đổi mới xà
phát triển kinh tế nông nghiệp và kinh tế hợp tác, làm cho nền kinh tế nông
nghiệp thực sự làm ăn có hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế
hợp tác xã phấn đấu dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân.

14



CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

C - kết luận
Đảng ta đã vận dụng sự phù hợp của mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất ở nớc ta hiện nay và tơng lai.
Trong ĐH Đại biểu toàn quốc lần VIII của Đảng đã khẳng định là : Xây
dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ
cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với tính chất và trình độ
của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh
vững chắc, dân giàu nớc mạnh xã hội công bằng, văn minh.
Chúng ta đều biết rằng, từ trớc tới nay, công nghiệp hoa, hiện đại hoá là
khuynh hớng phát triển tất yếu của cả các nớc. Theo Văn kiện đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X của Đảng : . Vic m rng quan h hp tácc quc t, ch
ng v tích cc hi nhp kinh t quc t, giữ vững môi trờng ho bình tạo
thêm nhiu thun li cho nhân dân ta i mi, phát trin kinh t - xã hi vi
tc nhanh hn . Đối với nớc ta, từ một nền kinh tế tiểu nông, muốn thoát
khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nhanh chóng đạt đến trình độ của một nớc phát
triển, thì tất yếu cũng phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nh là :
một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trong tất cá các lĩnh vực của đời
sống xã hội.
Trớc những năm tiến hành công cuộc đổi mới chúng ta đã xác định công
nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm của cá thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội.
Song về mặt nhận thức, chúng ta đã đặt công nghiệp hoá Xã hội Chủ nghĩa ở vị
trí gần nh đối lập hoàn toàn với công nghiệp hoá T bản Chủ nghĩa. Trong lựa
chọn bớc đi, đã có lúc chúng ta thiên về phát triển công nghiệp nặng, coi đó là
giải pháp xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho Chủ nghĩa Xã hội, mà khộng
coi trọng đúng mức việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Công
nghiệp hoá cũng đợc hiểu một cách đơn giản là qua trình xây dựng một nền sản
xuất đợc khí hoá trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.


15


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp những bớc tiến tuần
tự về công nghệ với việc tranh thủ các cơ hội đi tắt, đòn đầu, hình thành những
mũi nhọn phát triển theo trình đô tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới. Mặt
khác, chúng ta phải chú trọng xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo thị trờng, có sự điều tiết của nhà nớc và theo định hớng Xã hội
Chủ nghĩa. Đây là hai nhiệm vụ đợc thực hiện đồng thời, chúng luôn tác động,
thúc đẩy, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Bởi lẽ, Nếu công nghiệp hoá hiện đại
hoá tạo lên lực lợng sản xuất cần thiết cho chế độ xã hội mới, thì việc phát triển
nền kinh tế hàng hoà nhiều thành phần chính là để xây dựng hệ thống quan hệ
sản xuất phù hợp.

16


CH số 11 - B1 - ĐH KTQD Chuyên Photocopy - Đánh máy - In Luận văn, Tiểu luận : 6.280.688

Tài liệu tham khảo

Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
www.tapchicongsan.org.vn
www.nhandan.org.vn


17



×