KHÁI QUÁT KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Đông Nam Á là một khu vực đang chuyển động tích cực và có tính gợi mở,
xen lẫn những bí hiểm. Thực tế đó được đánh giá và nhìn nhận thông qua lăng kính
của nhiều nhà nghiên cứu về Đông Nam Á từ trước cho đến nay.ĐNA là cái nôi
văn minh của nhân loại, là một trung tâm kinh tế, khu giao thương buôn bán nhộn
nhịp… Ngày nay, bước vào thời kì hội nhập, quá trình toàn cầu hóa gợi mở những
cơ hội đan xen những thách thức mới, ĐNA đã nhanh chóng thích ứng với những
biến đổi của nhân loại, đang từng bước thay da đổi thịt. Với sự thành lập của hiệp
hội ASEAN, các nước ASEAN đang hòa mình chung vào dòng chảy của nhân loạihòa bình, hợp tác và phát triển.
Theo cuốn sách “Giới thiệu văn hóa phương Đông” do GS. TS. Mai Ngọc
Chừ (chủ biên) và nhiều tác giả, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn,
Khoa Đông Phương học), thì “khái niệm về Đông Nam Á như một khu vực riêng
biệt đã có từ lâu. Song cùng với thời gian, khái niệm này ngày càng được hiểu một
cách đầy đủ và chính xác hơn. Người Trung Quốc xưa kia thường dùng từ “Nam
Dương” để chỉ những nước nằm trong vùng biển phía Nam. Người Nhật gọi vùng
này là “Nanyo” . Người Arập xưa gọi vùng này là “Qumr”, rồi lại gọi là “Waq –
Waq” và sau này chỉ gọi là “Zabag”. Còn người Ấn Độ từ xưa vẫn gọi vùng này là
“Suvamabhumi” (Đất vàng) hay “Suvarnadvipa” (Đảo vàng). Tuy nhiên đối với
các lái buôn thời bấy giờ, Đông Nam Á được nhìn nhận là một vùng thần bí, nơi
sản xuất hương liệu gia vị và những sản phẩm kì lạ khác, còn sinh sông ớ đây là
những con người thành thạo và can đảm. Tên gọi “Đông Nam Á” được các nhà
nghiên cứu chính trị và quân sự của Hà Lan, Anh, Mỹ đưa ra từ những năm đầu khi
nổ ra Thế chiến thứ hai, nhưng chính thức đi vào lịch sử với ý nghĩa là một khu
vực địa – chính trị và quân sự được bát đầu từ khi Tổng thông Mỹ Franklin D.
Roosevelt và Thú tướng Anh Winston Churchill tại Hội nghị Quebec lần thứ nhất
vào tháng 8 năm 1943 nhất trí thành lập Bộ chỉ huy tối cao quân Đồng Minh ớ
Đông Nam Á. Trước đó, để chỉ khu vực này, người ta đã dùng nhiều tên gọi khác
nhau cho những mục đích riêng biệt. Lúc bấy giờ cũng có sự khác nhau về cách
viết từ Đông Nam Á bằng tiếng Anh. Một sô nhà nghiên cứa như Victo Pơxên
(Victor Purcell), Đôbi (E.G.H Dobby), dùng từ “Southest” thay cho “South East”
hay “South-east”, vốn được dùng từ lâu. Bộ tư lệnh tối cao Đông Nam Á (SEAC)
vẫn dùng từ “Southeast”. Như thế có thể thấy rằng từ sau Chiến tranh thế giới thứ
hai, từ “Đông Nam Á” mới xuất hiện trên bản đồ chính trị thế giới như một khu
vực riêng biệt và có tầm quan trọng đặc biệt. Song nếu như trước đây, người ta mới
chỉ nhìn thấy tính khu vực Đông Nam Á thể hiện ở vị trí địa lý – chính trị và quân
sự của nó thì đến nay nhiều người đã khẳng định rằng ít nhất cho đến thế kỷ XVI,
Đông Nam Á đã nổi lên như một trong những trung tâm văn minh, một khu vực
địa lý – lịch sử – vãn hóa trước khi trở thành một khu vực địa lý – chính trị” •
I.
VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ GIỚI HẠN LÃNH THỔ:
Vị trí địa lý:
ĐNA là một khu vực khá rộng lớn ở châu Á, có lục địa và hải đảo, S=
4.494.047km2. Trên bản đồ thế giới Đông Nam Á nằm trong phạm vi từ khoảng 92
độ đến 140 độ kinh Đông và từ khoảng 28 độ vĩ Bắc chạy qua xích đạo đến 15 vĩ
độ Nam.
1.
Về mặt địa lí hành chính, ĐNÁ gồm có 10 nước: Việt Nam, Lào,
Campuchia, Thái Lan, Mianma, Inđônếia, Malaixia, Philippin, Singapor, Brunay,
nay có thêm Đoongtimo (11 nước).
(Bản đồ các nước khu vực Đông Nam Á)
Vị trí giới hạn:
Đông Nam Á bao gồm một quần thể các đảo, bán đảo và quần đảo, các vịnh,
biển :hạy dài từ Thái Bình Dương đến Ân Độ Dương. Mười một quốc gia Đông
Nam được chia thành 2 khu vực: Đông Nam Á lục địa (gồm các nước Việt Nam,
Cambodia, Lào, Thái Lan, Myanmar) và Đông Nam Á hải đảo (gồm các nước
Philipines, Malaysia, Singapore và Brunei, Indonesia, Đông Timor). Đông Nam Á
lục địa là một phần của châu Á, còn Đông Nam Á hải đảo kéo dài vể phía Thái
Bình Dương và châu úc. Trong 11 nước Đông Nam Á, thì có 10 quốc gia có hải
giới, trừ Lào và Philippines là nước duy nhất trong khu vực này không có địa giới
chung với bất kỳ quốc gia nào.Các nước ĐNÁ) giáp biển Đông thông qua Thái
Bình Dương, giáp biển Adaman thông ra Ấn Độ Dương. ĐNÁ là cầu nối lục địa ÁÂu với Australia, nối hai đại dương Thái Bình Dương và ẤN Độ Dương qua eo
Malacca.
2.
Ý nghĩa chiến lược:
ĐNÁ có một vị trí địa – chính trị rất quan trọng, đây là nơi giao thoa
giữa các nền văn hóa lớn. Nó “nằm trọn” giữa hai đại dương lớn: Thái Bình
Dương và ẤN Độ Dương. Eo Malacca, được ví như kênh đào Su-ê, nối biển
Đông với Adâm thuộc Ấn Độ Dương, trở thành cửa ngõ trên tuyến đường
hàng hải quốc tế, nối liền Đông Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên) với
Tây Âu và châu Phi. Đông Nam Á gần hai quốc gia lớn nhất phương Đông:
Trung Quốc và Ấn Độ. Qua đường biển, các nước ĐNÁ còn nằm gần siêu
cường quốc kinh tế Nhật Bản. “Chỗ đứng” như vậy làm cho ĐNÁ từ xa xưa
trở thành một khu vực quan trọng, có ý nghĩa chiến lược cả về kinh tế lẫn
quân sự. Không phải ngẫu nhiên mà người ta coi ĐNÁ như là một “ hành
lang” hay một “chiếc cầu nối Đông- Tây”.
Là cầu nối của hai đại dương lớn đem lại nhiều thuận lợi cho phát
triển kinh tế và cũng là nơi các cường quốc thường cạnh tranh ảnh hưởng.
( vận chuyển hàng hóa qua đường biển)
II.
( vấn đề tranh chấp trên biển)
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN:
1. Địa hình và tài nguyên đất:
Đông Nam Á bao gồm một quần thể các đảo, bán đảo và quần đảo, các vịnh,
biển :hạy dài từ Thái Bình Dương đến Ân Độ Dương. Mười một quốc gia Đông
Nam được chia thành 2 khu vực: Đông Nam Á lục địa (gồm các nước Việt Nam,
Cambodia, Lào, Thái Lan, Myanmar) và Đông Nam Á hải đảo (gồm các nước
Philipines, Malaysia, Singapore và Brunei, Indonesia, Đông Timor).
Đặc điểm
Điều kiện
tự nhiên
ĐNÁ lục địa
Núi cao, hướng Tây bắc- đông
nam, bắc-nam.
ĐNÁ biển đảo
Đồi núi thấp và núi lửa
Đồng bằng lớn ở đảo Xumatra,
Xen kẻ là đồng bằng châu thổ và Calinatan, đất phù sa, đất đỏ bazan,
ven biển, đất phù sa màu mỡ -> trồng các loại cây công nghiệp.
trồng lúa, dân tập trung đông.
Khí hậu
Nhiệt đới ẩm gió mùa, Bắc đông Mianma và Bắc Nam có một mùa
lạnh do ảnh hưởng của gió Đông Đông Bắc. Khí hậu nhiệt đới gió mùa
Nam á lục địa.
và xích đạo.
Khoáng
sản
Phong phú, đa dạng, nhiều than
đá, dầu mỏ, sắt, thiếc.
Khoáng sản ít hơn, chủ yếu là dầu
mỏ, đồng, thiếc.
( lược đồ địa hình và hướng gió ở Đông Nam Á)
2.
Khí hậu:
Toàn vùng Đông Nam Á thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm,
mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa khô mát, và mùa mưa nóng và ẩm. Đặc biệt khu
vực Đông Nam Á có độ ẩm cao nhất thế giới. Đường bờ biển của Đông Nam Á rất
dài do đó khí hậu biển cũng ảnh hưởng đến hầu hết các quốc gia Đông Nam Á.
Đây là nguyên nhân gáy ra mưa nhiều và lượng hơi nước luôn dư thừa trên đất
liền. Và tất nhiên đôi với những quốc gia khác nhau sẽ có những biến chuyển nhỏ
hay ngoại lệ về khí hậu vì còn do ảnh hưởng của điều kiện địa hình.
Chính vì đặc điểm khí hậu đa dạng nên thảm thực vật của khu vực Đông
Nam Á rất trù phú và tốt tươi. Gió mùa kèm theo những cơn mưa nhiệt đới đã cung
cấp đủ nước cho con người dùng trong đời sống và sản xuất hằng nãm, tạo nên
những cánh rừng nhiệt đới phong phú về thảo mộc và chim muông. Ớ đây có rất
nhiều loại thực vật và động vật phong phú. Các loại cây phục vụ cho công nghiệp
như cao su, dừa, cọ…, các loại cây gia vị và hương liệu như hồ tiêu, sa nhân, quế
hồi,trầm hương…, và nơi đây cũng là quê hương của cây lúa nước. Các loại động
vật quý mang tính nhiệt đới đặc trưng cũng rất phong phú như voi, tê giác , bò
tót…
( Ruộng bậc thang, khí hậu và địa hình thuận lợi cho việc trồng cây lương thực,
đặc biệt là cây lúa nước)
Khí hậu thuận lợi trồng các loại quả như chôm chôm, xoài, cây công
nghiệp… và chăn nuôi, phát triển đồng cỏ thảo nguyên.
Một số đặc điểm về dân cư – xã hội:
Dân cư:
3.
a.
ĐNÁ là vùng đông dân,dân cư:568.300.000 ,dân số của cả khu vực lên
đến 612,7 triệu người (số liệu năm 2015), trong đó hơn 1/6 sống trên đảo Java
(Inddonesia). Mật độ dân cư 126 người/km2
Lãnh thổ
Đông Nam Á
Châu Á
Thế giới
Số dân
( triệu người)
536
Mật độ dân số
(người/km2)
119
Tỉ lệ tăng tự nhiên
(%)
1,5
3766
85
1,3
6215
46
1,3
( Dân số Đông Nam Á, châu Á và thế giới năm 2002)
ĐNÁ là vùng đông dân, chiếm 14,2% dân số châu Á, 8,6% dân số thế giới.
Mật độ dân số châu Á cao gấp 2 lần so với dân số của thế giới. Tỉ lệ gia tăng
tự nhiên cao hơn châu Á và thế giới, đạt 1,2%(năm 2002)
• Thuận lợi:
- Dân số đông tạo nguồn lao động dồi dào, thị trường tiêu thụ rộng
lớn…
• Khó khăn:
- Tạo sức ép cho môi trường và xã hội.
Tệ nạn xã hội, diện tích đất bình quân đầu người hẹp…
Đặc điểm dân cư: dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu tại đồng
bằng và ven biển, thưa thớt ở vùng núi.
-
•
( Lược đồ mật độ dân số và những thành phố lớn của châu Á)
b.
XÃ HỘI:
ĐNÁ là khu vực có nhiều tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, , Thiên chúa giáo,
Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Cao Đài…
Kito giáo ở Philippin, Indonesia, Việt Nam (chúa Giê-su khuyên sống nhẫn
nhịn, chết sẽ được hưởng phúc ở thiên đường).
( Chánh tòa Đức Bà Sài Gòn)
(Nhà thờ con gà ở Đà Nẵng)
Hồi giáo ở Malaixia, Brunay, Singapor (thờ thánh Ala, cấm ăn thịt chó, lợn,
cấm uống rượu, cầu nguyện 5 lần trong ngày; trong tháng Ranada phải chay)
(
Thánh địa Mecca ở Arậpxeut)
(Chùa Thạt Luổng ở Lào)
Khái quát nền văn hóa của các nước ASEAN: 11 nước
1.
BRUNEI
Địa lý
Brunei là một quốc gia Đông Nam Á gồm hai phần tách rời với tổng diện
tích là 5.765 kilômét vuông (2.226 sq mi) trên đảo Borneo. Quốc gia có 161
kilômét (100 mi) bờ biển giáp biển Đông, và có 381 km (237 mi) biên giới với
Malaysia. Quốc gia có 500 kilômét vuông (193 sq mi) lãnh hải, và 200 hải lý
(370 km; 230 mi) vùng đặc quyền kinh tế.
Khoảng 97% cư dân sinh sống ở phần phía tây rộng lớn hơn của quốc gia, và
chỉ khoảng 10.000 dân sinh sống ở phần đồi núi phía đông. Tổng dân số của
Brunei là khoảng 408.000 tính đến năm tháng 7 2010, trong đó khoảng 150.000
sống tại thủ đô Bandar Seri Begawan. Các đô thị lớn khác là thị trấn cảng Muara,
thị trấn sản xuất dầu mỏ Seriavà thị trấn lân cận Kuala Belait. Tại huyện Belait,
khu vực Panaga là nơi sinh sống của một số lượng lớn người Âu tha hương, nhà ở
của họ do Royal Dutch Shell và Quân đội Anh Quốc cung cấp, và có một số
phương tiện giải trí được đặt ở đó
Văn hóa
Nền văn hóa Brunei chủ yếu là văn hóa Mã Lai, với các ảnh hưởng lớn từ
Hồi giáo, và được nhìn nhận là bảo thủ hơn so với Indonesia và Malaysia.Các nền
văn hóa Mã Lai từ quần đảo Mã Lai ảnh hưởng đến văn hóa Brunei. Bốn giai đoạn
ảnh hưởng về văn hóa đã diễn ra trong lịch sử Brunei, lần lượt là thuyết vật linh,
Ấn Độ giáo, Hồi giáo, văn minh phương Tây. Hồi giáo có ảnh
Brunei là một quốc gia thi hành luật Sharia, theo đó cấm việc bán và tiêu thụ
đồ uống có cồn công khaI. Những người không theo Hồi giáo được phép đem một
lượng đồ uống có cồn hạn chế từ bên ngoài vào để tự sử dụng.
2. Campuchia
Đia lý
Diện tích Campuchia khoảng 181.035 km, có 800 km biên giới với Thái
Lan về phía bắc và phía tây, 541 km biên giới với Lào về phía đông bắc, và
1.137 km biên giới với Việt Nam về phía đông và đông nam. Nước này có 443 km
bờ biển dọc theo Vịnh Thái Lan.
Văn hóa
Nền văn hóa Campuchia có lịch sử phong phú đa dạng trải qua nhiều thế kỷ
và chịu ảnh hưởng nặng của Ấn Độ. Nền văn hóa Campuchia cũng gây ảnh hưởng
mạnh lên Thái Lan, Lào và ngược lại. Trong lịch sử Campuchia, tôn giáo có vai trò
lớn trong các hoạt động văn hóa. Trải qua gần 2000 năm, người dân Campuchia đã
phát triển một tín ngưỡng Khmer độc đáo với các tín ngưỡng hỗn hợp gồm tín
ngưỡng thuyết vật linh bản địa và các tôn giáo Ấn Độ như Phật giáo và Hindu
giáo.
Ẩm thực
Amok Campuchia
Ẩm thực Campuchia, cũng như thói quen ẩm thực của nhiều dân tộc thuộc
nền văn minh lúa nước trong khu vực châu Á, cho thấy những đặc điểm riêng biệt.
Người dân Campuchia có thói quen ăn gạo tẻ và ăn nhiều cá hơn thịt. Vào các ngày
lễ tết, nông thôn cũng như thành thị đều có gói bánh tét, bánh ít. Phần lớn trong
mỗi gia đình đều có mắm bồ hóc để ăn quanh năm.
Ẩm thực Campuchia ảnh hưởng phong cách mạnh mẽ của Ấn Độ và Trung
Hoa, hầu hết các món ăn có vị lạt, ngọt và béo. Món ăn Ấn Độ tìm thấy hầu hết ở
các gia vị được dùng chủ yếu là cay như sa tế, ớt, tiêu, nhục, hồi v.v. Món ăn
Trung Hoa được tìm thấy nhiều với vị lạt và khá béo, nhiều dầu mỡ nhất là mang
phong cách ẩm thực vùng Tứ Xuyên.
Âm nhạc
Dàn nhạc ngũ âm và các nhạc cụ truyền thống tạo ra các tác phẩm độc đáo
mang đậm phong cách giống Thái Lan và Lào tương tự nhau.
Văn học
Nổi tiếng nhất là thể loại trường ca Riêm kê là thể loại sáng tác bằng thơ ca
dân gian dài hàng vạn câu. Cốt truyện chủ yếu vay mượn từ sử thi Ramayana của
Ấn Độ.
Những ngày lễ chính của Campuchia
Người Campuchia cũng giống như các quốc gia khác đều sử dụng Tây lịch.
Tuy nhiên, trừ một số ngày lễ của người Khmer, họ sử dụng lịch Campuchia như
ngày lễ Tết, lễ nhập điền hay lễ cầu hôn. Lịch Khmer có thể sớm hay muộn hơn
lịch Tây tùy vào thời điểm của năm. Dự giao thoa về văn hóa và dân cư khiến cho
một số ngày lễ của Campuchia có thêm một số ngày lễ như Tết Việt Nam và Trung
Quốc, tết Đoan Ngọ, v.v.
•
Ngày 7 tháng 1 hàng năm: ngày giải phóng đất nước khỏi chế độ
Khmer Đỏ
•
Ngày cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2: Tết Nguyên Đán của
Campuchia
•
Ngày 13, 14, 15 tháng 4 hàng năm: ngày tết của người Khmer
•
Ngày 13, 14, 15 tháng 5 hàng năm: sinh nhật nhà vua Sihamoni
•
Ngày 19 tháng 5 hàng năm: ngày lễ Phật giáo năm 2007 trùng với
ngày Quốc tế lao động
•
Ngày 23 tháng 5 hàng năm: ngày lễ cầu mùa Hoàng Cung
•
Ngày 18 tháng 6 hàng năm: ngày sinh nhật Hoàng thái
hậu Norodom Monineath Sihanouk
•
Ngày 24 tháng 9 hàng năm: ngày hiến pháp quốc gia
•
Ngày 28, 29, 30 tháng 09 hàng năm: ngày báo hiếu cha
•
Ngày 23 tháng 10 hàng năm: ngày ký hiệp định hòa bình Paris
•
Ngày 29 tháng 10 hàng năm: ngày nhà vua đăng quang
•
Ngày 31 tháng 10 hàng năm: ngày sinh nhật Thượng hoàng
Sihanouk
•
Ngày 09 tháng 11 hàng năm: ngày Quốc khánh
•
Ngày 11, 12, 13 tháng 11 hàng năm: ngày lễ hội rước nước, đua
thuyền
•
Ngày 10 tháng 12 hàng năm: ngày lễ nhân quyền
3. ĐÔNG TIMO
Địa lý
Đông Timor nằm trong vùng nhiệt đới, nói chung là nóng và ẩm, có hai mùa
mưa và mùa khô rõ rệt. Thủ đô, thành phố lớn nhất và là cảng chính là Dili, thành
phố lớn thứ nhì là thành phố Baucau ở phía đông. Dili có sân bay quốc tế đang
hoạt động duy nhất, mặc dù có các sân bay nhỏ ở Baucau và Oecusse được dùng
cho các chuyến banội địa. Đường băng của sân bay Dili không thể chịu được các
máy bay vận tải lớn[
Văn hoá
Văn hoá Đông Timor phản ánh nhiều ảnh hưởng, gồm Bồ Đào Nha, Công
giáo La mã, và Malaysia, trên các văn hoá Austronesian và Melanesia của Timor.
Truyền thuyết cho rằng một con cá sấu khổng lồ đã biến thành hòn đảo Timor,
hay Đảo Cá sấu, như nó thường được gọi. Văn hoá Đông Timor bị ảnh hưởng
mạnh bởi các truyền thuyết Austronesian, dù ảnh hưởng của Ki-tô giáo cũng mạnh
mẽ. Nước này có truyền thống mạnh về thi ca. Ví dụ, Thủ tướng Xanana Gusmão,
là một nhà thơ nổi tiếng. Về kiến trúc, có một số công trình kiến trúc Bồ Đào Nha,
cùng với những ngôi nhà totem truyền thống ở vùng phía đông. Chúng được gọi
là uma lulik (những ngôi nhà linh thiêng) trong tiếng Tetum, và lee teinu (những
ngôi nhà có chân) tại Fataluku. Nghề thủ công cũng phổ biến, như dệt khăn quàng
truyền thống hay tais.
4. INDONESIA
Địa lý
Indonesia gồm 13.487 hòn đảo, khoảng 6.000 trong số đó không có người ở.
Các hòn đảo nằm rải rác ở cả hai phía đường xích đạo. Năm hòn đảo lớn nhất
là Java, Sumatra,Kalimantan (phần Borneo thuộc Indonesia), New Guinea (cùng
chung với Papua New Guinea), và Sulawesi. Indonesia có biên giới trên bộ
với Malaysia trên hòn đảo Borneo vàSebatik, Papua New Guinea trên đảo New
Guinea, và Đông Timor trên đảo Timor. Indonesia cũng có chung biên giới
[38]
với Singapore, Malaysia, và Philippines ở phía bắc và Australia ở phía nam bằng
một dải nước hẹp. Thủ đô, Jakarta, nằm trên đảo Java là thành phố lớn nhất nước,
sau đó là Surabaya, Bandung, Medan, và Semarang.[39] Với đặc điểm địa lý trên,
Indonesia được mệnh danh là "Xứ sở vạn đảo".
Với diện tích 1.919.440 km² (741.050 dặm vuông), Indonesia là nước đứng
thứ 16 trên thế giới về diện tích đất liền.Mật độ dân số trung bình là 134 người trên
km² (347 trên dặm vuông), đứng thứ 79 trên thế giới,dù Java, hòn đảo đông dân
nhất thế giới, có mật độ dân số khoảng 940 người trên km² (2.435 trên dặm vuông).
Nằm ở độ cao 4.884 mét (16.024 ft), Puncak Jaya tại Papua là đỉnh cao nhất
Indonesia, và hồ Toba tại Sumatra là hồ lớn nhất, với diện tích 1.145 km² (442 dặm
vuông). Các con sông lớn nhất nước này nằm ở Kalimantan, và gồm các
sông Mahakam và Barito; những con sông này là các đường giao thông quan trọng
nối giữa các khu định cư trên đảo.
Núi Semeru và Núi Bromo tại Đông Java. Hoạt động kiến tạo và núi lửa Indonesia
ở mức cao nhất trên thế giới.
Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,
và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động
đất. Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động, gồm cả Krakatoa và Tambora,
cả hai núi lửa này đều đã có những vụ phun trào gây phá hủy lớn trong thế kỷ 19.
Vụ phun trào siêu núi lửa Toba khoảng 70.000 năm trước, là một trong những vụ
phun trào lớn nhất từng xảy ra, và là một thảm họa toàn cầu. Những thảm họa gần
đây liên quan tới hoạt động kiến tạo gồm vụ sóng thần năm 2004 đã giết hại tổng
cộng gần 230.000 người[ và khoảng 167.736 người tính riêng phía bắc Sumatra,
[46]
và trận động đất Yogyakarta năm 2006. Tuy nhiên, tro núi lửa là một yếu tố
đóng góp vào sự màu mỡ của đất trong lịch sử từng giúp nuôi sống mật độ dân cư
dày tại Java và Bali.
Nằm dọc theo xích đạo, Indonesia có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai
mùa mưa và khô riêng biệt. Lượng mưa trung bình hàng năm tại các vùng đất thấp
khoảng từ 1.780–3.175 milimét (70–125 in), và lên tới 6.100 milimét (240 in) tại
các vùng núi. Các vùng đồi núi—đặc biệt ở bờ biển phía tây Sumatra, Tây Java,
Kalimantan, Sulawesi, và Papua—có lượng mưa lớn nhất. Độ ẩm nói chung cao,
trung bình khoảng 80%. Nhiệt độ ít thay đổi trong năm; khoảng nhiệt độ ngày
trung bình tại Jakarta là 26–30 °C (79–86 °F).
Rừng nhiệt đới ẩm chiếm gần 2/3 diện tích lãnh thổ. Đất canh tác 8% (3%
được tưới), đồng cỏ 10%, rừng và cây bụi 67%, các đất khác 15%. Khoáng sản
chính: dầu khí, thiếc, niken, bauxit, đồng, than, vàng, bạc.
Văn hóa.
Indonesia có khoảng 300 nhóm sắc tộc, mỗi nhóm có văn hóa khác biệt và
đã phát triển qua nhiều thế kỷ, với ảnh hưởng từ Ấn Độ, Ả Rập, Trung Quốc,
Malaysia và châu Âu. Ví dụ, các điệu múa truyền thống Java và Bali chứa đựng
các yếu tố văn hóa và thần thoại trong văn hóa Hindu, wayang kulit (rối bóng)
cũng tương tự. Những loại vải dệt như batik, ikat và songket được sản xuất trên
khắp đất nước Indonesia nhưng theo kiểu cách khác biệt tùy theo vùng. Ảnh hưởng
lớn nhất trên kiến trúc Indonesia đến từ kiến trúc Ấn Độ; tuy nhiên, những ảnh
hưởng kiến trúc từ Trung Quốc, Ả Rập và châu Âu cũng khá quan trọng. Các môn
thể thao thông dụng tại Indonesia là bóng bàn và bóng đá;Liga Indonesia là giải vô
địch cấp cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá tại Indonesia. Các môn thể thao
truyền thống gồm sepak takraw, và chạy đấu bò tại Madura. Tại các vùng có lịch
sử chiến tranh giữa các bộ tộc, những cuộc thi đánh trận giả thường được tổ chức,
như caci tạiFlores, và pasola tại Sumba. Pencak Silat là một môn võ Indonesia.
Các môn thể thao tại Indonesia nói chung thường dành cho phái nam và các khán
giả cũng thường tham gia vào hoạt động cá cược cờ bạc
5. Lào
Địa lý
Lào là một quốc gia duy nhất ở Đông Nam Á không giáp với biển. Lào
giáp Trung Quốc ở phía bắc với đường biên giới dài 505 km; giáp Campuchia ở
phía nam với đường biên giới dài 535 km; giáp với Việt Nam ở phía đông với
đường biên giới dài 2069 km, giáp với Myanma ở phía tây Bắc với đường biên giới
dài 236 km; giáp với Thái Lan ở phía tây với đường biên giới dài 1835 km.
Địa thể đất Lào có nhiều núi non bao phủ bởi rừng xanh; đỉnh cao nhất
là Phou Bia cao 2.817 m. Diện tích còn lại là bình nguyênvà cao nguyên. Sông Mê
Kông chảy dọc gần hết biên giới phía tây, giáp giới với Thái Lan, trong khi đó dãy
Trường Sơn chạy dọc theo biên giới phía đông giáp với Việt Nam.
Khí hậu trong khu vực là khí hậu nhiệt đới của khu vực gió mùa với hai mùa
rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, tiếp theo
đó là mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn, các thành phố lớn
khác là: Louang Phrabang, Savannakhet và Pakse.
Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh
sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ. Rất nhiều loài đang đứng trước
hiểm họa tuyệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng.
Văn hóa
Nền văn hóa Lào chịu ảnh hưởng nặng của Phật giáo Thượng tọa bộ. Sự ảnh
hưởng này được phản ánh trong ngôn ngữ và nghệ thuật, văn học và nghệ thuật
biểu diễn của Lào.
Âm nhạc của Lào ảnh hưởng lớn của các nhạc cụ dân tộc như khèn (một
dạng của ống tre. Một dàn nhạc (mor lam) điển hình bao gồm người thổi khèn
(mor khaen) cùng với biểu diễn múa bởi nghệ sĩ khác. Múa Lăm vông (Lam
saravane) là thể loại phổ biến nhất của âm nhạc Lào, những người Lào ở Thái
Lan đã phát triển và phổ biến rộng rãi trên thế giới gọi là mor lam sing.
Lễ hội
Lễ hội ở Lào hay được gọi là Bun. Nghĩa đúng của Bun là phước. Làm Bun
nghĩa là làm phước để được phước. Cũng như các nước trong khu vực Đông Nam
Á, lễ hội tại đất nước Lào cũng chia làm 2 phần, phần lễ và phần hội. Lào là xứ sở
của lễ hội, tháng nào trong năm cũng có. Mỗi năm có 4 lần tết: Tết Dương
Lịch, Tết Nguyên Đán (như ở một số nước Á Đông), Tết Lào (Bun PiMay vào
tháng 4) và Tết H'mong (tháng 12). Ngoài ra còn các lễ hội: Bun PhaVet (Phật hóa
thân) vào tháng 1; Bun VisakhaPuya (Phật Đản) vào tháng 4; Bun BangPhay (pháo
thăng thiên) vào tháng 5; Bun Khao PhanSa (mùa chay) vào tháng 7; Bun Khao
Padapdin (tưởng nhớ người đã mất) vào tháng 9; Bun Suanghua (đua thuyền) vào
tháng 10.
Ẩm thực
Ẩm thực Lào mang phong cách tương tự các quốc gia láng giềng
là Campuchia và Thái Lan: cay, chua và ngọt. Tuy nhiên, ẩm thực lại mang những
phong cách đặc trưng rất riêng
6. Malaysia
Malaysia là quốc gia lớn thứ 67 trên thế giới về diện tích đất liền, với
329.847 km2 (127.355 sq mi). Tây Malaysia có biên giới trên bộ với Thái Lan,
Đông Malaysia có biên giới trên bộ với Indonesia và Brunei.] Malaysia kết nối
với Singapore thông qua một đường đắp cao hẹp và một cầu. Malaysia có biên giới
trên biển với Việt Nam và Philippines. Biên giới trên bộ được xác định phần lớn
dựa trên các đặc điểm địa chất, chẳng hạn như sông Perlis, sông Golok và kênh
Pagalayan, trong khi một số biên giới trên biển đang là chủ đề tranh chấp. Brunei
hầu như bị Malaysia bao quanh,] bang Sarawak của Malaysia chia Brunei thành hai
phần. Malaysia là quốc gia duy nhất có lãnh thổ nằm cả trên lục địa châu Á và
quần đảo Mã Lai. Điểm cực nam của lục địa châu Á là Tanjung Piai, thuộc bang
nam bộ Johor. Eo biển Malacca nằm giữa đảo Sumatravà Malaysia bán đảo, đây là
một trong các tuyến đường quan trọng nhất trong thương mại toàn cầu.
Bãi biển trên đảo Tioman ở phía đông bán đảo Mã Lai.
Hai phần của Malaysia tách nhau qua biển Đông, tuy nhiên hai phần này có
cảnh quan phần lớn là tương tự nhau với các đồng bằng duyên hải rồi cao lên đồi
và núi. Malaysia bán đảo chiếm 40% diện tích đất liền của Malaysia, trải dài
740 km (460 mi) từ bắc xuống nam, và có chiều rộng tối đa là 322 km
(200 mi).]Dãy Titiwangsa phân chia bờ biển đông và tây tại Malaysia bán đảo, ] dãy
núi này là một phần của hàng loạt dãy núi chạy từ phần trung tâm của bán đảo. ]Các
dãy núi này vẫn có rừng bao phủ dày đặc, và có cấu tạo chủ yếu gồm đá hoa
cương và các loại đá lửa khác. Nhiều phần trong đó bị xói mòn, tạo thành cảnh
quan karst. Dãy núi là đầu nguồn của một số hệ thống sông tại Malaysia bán
đảo. Các đồng bằng duyên hải bao quanh bán đảo, có chiều rộng tối đa là 50
kilômét (31 mi), và bờ biển của phần bán đảo dài 1.931 km (1.200 mi), song các
bến cảng chỉ có ở bờ phía tây.
Đông Malaysia nằm trên đảo Borneo, có bờ biển dài 2.607 km
(1.620 mi). Khu vực này bao gồm các miền ven biển, đồi và thung lũng, và nội lục
đồi núi. Dãy Crocker trải dài về phía bắc từ Sarawak, ] phân chia bang Sabah. Trên
dãy này có núi Kinabalu với cao độ 4.095,2 m (13.436 ft), là núi cao nhất
Malaysia. Núi Kinabalu được bảo vệ trong khuôn khổ Vườn quốc gia Kinabalumột di sản thế giớicủa UNESCO. Các dãy núi cao nhất tạo thành biên giới giữa
Malaysia và Indonesia. quần thể hang Mulu tại Sarawak nằm trong số các hệ thống
hang lớn nhất trên thế giới.
Xung quanh hai phần của Malaysia là một số hòn đảo, lớn nhất trong số đó
là đảo Banggi.[ Malaysia có khí hậu xích đạo, điểm đặc trưng là gió mùa tây nam
(tháng 4 đến tháng 10) và gió mùa đông bắc (tháng 10 đến tháng 2). Các vùng biển
xung quanh giúp điều hòa nhiệt độ cho Malaysia. Ẩm độ thường cao, và lượng
mưa trung bình hàng năm là 250 cm (98 in). Khí hậu tại Bán đảo và Đông bộ khác
biệt, thời tiết Bán đảo chịu ảnh hưởng trực tiếp từ gió thổi từ lục địa, trong khi
Đông bộ có khí hậu mang tính hải dương hơn. Các khí hậu địa phương có thể phân
thành: vùng cao, vùng thấp và vùng duyên hải. Biến đổi khí hậu có thể tác động
đến mực nước biển và lượng mưa, tăng nguy cơ lũ lụt và dẫn đến hạn hán.
Văn hóa
Malaysia là một xã hội đa dân tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ. Văn hóa ban
đầu của khu vực bắt nguồn từ các bộ lạc bản địa, cùng với những người Mã Lai
nhập cư sau đó. Văn hóa Malaysia tồn tại các ảnh hưởng đáng kể từ văn hóa Trung
Quốc và văn hóa Ấn Độ, bắt nguồn từ khi xuất hiện ngoại thương. Các ảnh hưởng
văn hóa khác đến từ văn hóa Ba Tư, Ả Rập và Anh Quốc. Do cấu trúc của chính
phủ, cộng thêm thuyết khế ước xã hội, có sự đồng hóa văn hóa tối thiểu đối với các
dân tộc thiểu số. Năm 1971, chính phủ ban hành một "Chính sách văn hóa quốc
gia", xác định văn hóa Malaysia. Theo đó, văn hóa Malaysia phải dựa trên các dân
tộc bản địa của Malaysia, có thể dung nạp các yếu tố phù hợp từ các văn hóa khác,
và rằng Hồi giáo phải đóng một vai trò trong đó. Nó cũng thúc đẩy tiếng Mã Lai ở
cao hơn các ngôn ngữ khác.] Sự can thiệp này của chính phủ vào văn hóa khiến các
dân tộc phi Mã Lai bất bình và cảm thấy quyền tự do văn hóa của họ bị giảm đi.
Các hiệp hội của người Hoa và người Ấn đều đệ trình các bị vong lục lên chính
phủ, buộc tội chính phủ chế định một chính sách văn hóa phi dân chủ.
Tồn tại một số tranh chấp văn hóa giữa Malaysia và các quốc gia láng giềng,
đặc biệt là Indonesia. Hai quốc gia có một di sản văn hóa tương đồng, có chung
nhiều truyền thống và hạng mục. Tuy nhiên, diễn ra tranh chấp về nhiều điều, từ
các món ăn cho đến quốc ca của Malaysia. Tại Indonesia có cảm tình mạnh mẽ về
việc bảo vệ di sản văn hóa quốc gia. Chính phủ Malaysia và chính phủ Indonesia
có sự tiếp xúc nhằm xoa dịu một số căng thẳng bắt nguồn từ trùng lặp văn
hóa. Tình cảm này không phải là mạnh tại Malaysia, tại đây hầu hết đều công nhận
nhiều giá trị văn hóa là của chung.
Nghệ thuật truyền thống Malaysia chủ yếu tập trung quanh các lĩnh vực
chạm khắc, dệt và bạc. Nghệ thuật truyền thống có phạm vi từ những giỏ đan thủ
công tại vùng nông thôn cho đến ngân sức của các triều đình Mã Lai. Các đồ nghệ
thuật phổ biến vao gồm dao găm (kris) trang sức, bộ giã hạt cau, vải
dệt batik và songket. Người bản địa tại Đông Malaysia nổi tiếng với các mặt nạ
bằng gỗ. Mỗi dân tộc có nghệ thuật trình diễn riêng biệt, có ít sự trùng lặp giữa họ.
Tuy nhiên, nghệ thuật Mã Lai thể hiện một số ảnh hưởng của Bắc Ấn Độ do ảnh
hưởng lịch sử của Ấn Độ.
Nghệ thuật âm nhạc và trình diễn Mã Lai có vẻ như bắt nguồn từ khu
vực Kelantan-Pattani với các ảnh hưởng từ Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan và
Indonesia. Âm nhạc dựa trên các nhạc cụ gõ, quan trọng nhất trong đó
là gendang (trống). Có ít nhất 14 loại trống truyền thống. Trống và các nhạc cụ gõ
truyền thống khác thường được làm từ các vật liệu tự nhiên. Âm nhạc về mặt
truyền thống được sử dụng để phục vụ cho kể chuyện, các sự kiện kỷ niệm vòng
đời, và các dịp như vụ gặt. Nó từng được sử dụng làm một hình thức truyền thông
đường dài. Tại Đông Malaysia, các bộ nhạc cụ bắt nguồn
từ cồng như agung và kulintang được sử dụng phổ biến trong các dịp lễ như tang lễ
và hôn lễ. Các bộ nhạc cụ này cũng phổ biến tại các khu vực lân cận như
tại Mindanao tại Philippines, Kalimantan tại Indonesia, và Brunei.
Teh tarik.
Nasi lemak.
Quốc ẩm và quốc thái của Malaysia.
Malaysia mạnh về truyền thống truyền khẩu, loại hình này tồn tại từ trước
khi văn bản xuất hiện tại khu vực, và tiếp tục tồn tại cho đến nay. Mỗi vương quốc
hồi giáo Mã Lai hình thành các truyền thống văn học riêng, có ảnh hưởng từ các
câu chuyện truyền khẩu có từ trước và các câu chuyện đến cùng với Hồi giáo. Tác
phẩm văn học Mã Lai đầu tiên được viết bằng chữ Ả Rập. Bản văn Mã Lai đầu tiên
được biết đến được khắc trên đá Terengganu, thực hiện vào năm 1303 Văn học
Trung Quốc và Ấn Độ trở nên phổ biến khi số người nói các ngôn ngữ này tăng lên
tại Malaysia, và các tác phẩm xuất bản bản địa dựa trên ngôn ngữ từ các khu vực
này bắt đầu được xuất bản vào thế kỷ 19. Tiếng Anh cũng trở thành một ngôn ngữ
văn học phổ biến.] Năm 1971, chính phủ tiến hành bước đi nhằm hạn chế văn học
bằng các ngôn ngữ khác. Văn học viết bằng tiếng Mã Lai được gọi là "văn học
quốc gia của Malaysia", văn học bằng các ngôn ngữ bumiputera khác được gọi là
"văn học khu vực", trong khi văn học viết bằng các ngôn ngữ khác được gọi là
"văn học tầng lớp".] Thơ Mã Lai có sự phát triển ở mức độ cao, sử dụng nhiều thể
thơ, trong đó phổ biến là Hikayat, và pantun được truyền bá từ tiếng Mã Lai sang
các ngôn ngữ khác.
Ẩm thực của Malaysia phản ánh đặc điểm đa dân tộc của quốc gia. Nhiều
nền văn hóa đến từ bên trong quốc gia và các khu vực xung quanh có ảnh hưởng
lớn đến với ẩm thực Malaysia. Phần lớn ảnh hưởng đến từ văn hóa Mã Lai, Trung
Hoa, Ấn Độ, Thái Lan, Java, và Sumatra, phần lớn là do quốc gia là một phần của
con đường hương liệu cổ đại. Ẩm thực Malaysia rất tương đồng với ẩm thực
Singapore và Brunei, và cũng mang các đặc điểm tương tự với ẩm thực
Philippines.] Các bang khác nhau có sự biến đổi về món ăn.
7. MYANMA
Địa lý
Myanmar có tổng diện tích 678.500 kilômét vuông (261.970 dặm vuông), là
nước lớn nhất trong lục địa Đông Nam Á, và là nước lớn thứ 40 trên thế giới
(sau Zambia). Nước này hơi nhỏ hơn bang Texas Hoa Kỳ và hơi lớn
hơn Afghanistan.
Myanmar
nằm
giữa Khu
Chittagong của Bangladesh và Assam, Nagaland và Manipur của Ấn Độ ở phía tây
bắc. Nó có đường biên giới dài nhất với Tây Tạng và Vân Nam củaTrung Quốc ở
phía đông bắc với tổng chiều dài 2.185 km (1.358 dặm)[31]. Myanmar giáp biên giới
với Lào và Thái Lan ở phía đông nam. Myanmar có đường bờ biển dài 1.930 km
(1.199 dặm) dọc theo Vịnh Bengal và Biển Andaman ở phía tây nam và phía nam,
chiếm một phần ba tổng chiều dài biên giới.
Văn hóa
Dù có nhiều nền văn hóa bản xứ tồn tại ở Myanmar, nền văn hóa chiếm vị trí
trọng yếu là Phật giáo và Bamar. Văn hóa Bamar từng bị ảnh hưởng từ các nền văn
hóa
các nước xung quanh. Nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, nhảy
múa và sân khấu. Nghệ thuật, đặc biệt là văn học, trong lịch sử từng bị ảnh hưởng
bởi văn hóa Phật giáo Nam truyền Miến Điện. Nếu coi thiên sử thi quốc gia của
Myanmar, Yama Zatdaw, là một sự phóng tác theo Ramayana, thì nó đã mang
nhiều nét ảnh hưởng lớn từ các văn bản Thái, Mon và Ấn Độ của vở kịch này. Phật
giáo đi sâu vào văn hóa và là cốt lũy của văn hóa Myanmar.
Những người đi tu được kính trọng trên khắp Myanmar, đây là một trong
những quốc gia có đa số Phật giáo tiểu thừa trên thế giới
Trong các làng Myanmar truyền thống, chùa chiền là trung tâm của đời sống
văn hóa. Các nhà sư được sùng kính và người dân luôn quỳ trước mặt để tỏ lòng
tôn trọng họ. Lễ nhập tu được gọi là shinbyu là lễ đánh dấu sự trưởng thành quan
trọng nhất của một chú bé khi vào chùa tu trong một khoảng thời gian ngắn Các cô
bé cũng có lễ xuyên lỗ tai (
) khi đến tuổi trưởng thànhVăn hóa Myanmar
được thể hiện rõ rệt nhất tại những ngôi làng nơi các lễ hội địa phương được tổ
chức trong suốt năm, lễ hội quan trọng nhất là lễ chùa Nhiều làng xã ở Myanmar
có quy ước, các phong tục và những điều cấm kị riêng.
Thời kỳ cai trị thuộc địa của Anh cũng đã để lại một số ảnh hưởng phương
Tây trong văn hóa Myanmar. Hệ thống giáo dục Myanmar theo khuôn mẫu hệ
thống giáo dục Anh Quốc. Những ảnh hưởng kiến trúc thuộc địa là điều dễ nhận
thấy nhất tại các thành phố lớn nhưYangonNhiều dân tộc thiểu số, đặc biệt
là người Karen ở phía đông nam và người Kachin, người Chin sống ở phía bắc và
tây bắc, theo Thiên chúa giáo nhờ công của các nhà truyền giáo.
Ngôn ngữ
Tiếng Myanma, tiếng mẹ đẻ của người Bamar và là ngôn ngữ chính thức của
Myanmar, về mặt ngôn ngữ học có liên quan tới tiếng Tây Tạng và tiếng Trung
Quốc. Nó được viết bằng ký tự gồm các chữ hình tròn và nửa hình tròn, có nguồn
gốc từ ký tự Môn. Bảng chữ cái này được phỏng theo ký tự Môn, ký tự Môn được
phát triển từ ký tự nam Ấn Độ trong thập niên 700. Những văn bản sớm nhất sử
dụng ký tự được biết tới từ thập niên 1000. Ký tự này cũng được sử dụng để viết
chữ Pali, ngôn ngữ thiêng liêng của Phật giáo Tiểu thừa. Ký tự Miến Điện cũng
được dùng để viết nhiều ngôn ngữ thiểu số khác, gồm Shan, nhiều thổ ngữ Karen
và Kayah (Karenni); ngoài ra mỗi ngôn ngữ còn có thêm nhiều ký tự và dấu
phụ đặc biệt khác Tiếng Mayanma sử dụng nhiều từ thể hiện sự kính trọng và phân
biệt tuổi tác. Xã hội Myanmar truyền thống rất nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo
dục. Bên trong các ngôi làng, giáo dục do các giáo sĩ truyền dạy thường diễn ra
trong các ngôichùa. Giáo dục trung học và giáo dục cao đẳng/đại học thuộc các
trường của chính phủ.
Ẩm thực
Ẩm thực Myanmar bị ảnh hưởng nhiều từ ẩm thực Ấn Độ, Trung
Quốc, Thái, và các nền văn hóa ẩm thực của các dân tộc thiểu số khác. Món chủ
yếu trong ẩm thực Myanmar là gạo. Mỳ và bánh mì cũng là các món thường thấy.
Ẩm thực Myanmar thường sử dụng tôm, cá, patê cá lên men, thịt lợn và thịt
cừu[66]. Thịt bò, bị coi là món cấm kỵ, rất hiếm được sử dụng. Các món cà ri,