Tải bản đầy đủ (.doc) (24 trang)

Tổng quan về ong và mật ong

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (299.57 KB, 24 trang )

A.

TỔNG QUAN VỀ LOÀI ONG MẬT

I.
1.

SINH HỌC ONG MẬT
Thành phần đàn ong

Ong mật(Apis) thuộc chi
ong mật, họ Ong mật (Apidae), bộ
Cánh màng (Hymenoptera). Gồm
những loài ong có đời sống xã hội và
bản năng sản xuất mật.
- Ong mật sống thành đàn, trong
đàn gồm có Ong chúa, Ong đực và
Ong thợ.
a.Ong chúa
Bình thường mỗi đàn ong chỉ có một
con ong chúa. Ong chúa có hình dạng lớn nhất
trong đàn : có thân dài 20 - 25 mm, dáng cân
đối, bụng thon dài, cánh ngắn, kim châm ngắn.
Chúa mới đẻ có lớp lông tơ nhiều, mịn, bò
nhanh nhẹn.
Ong chúa được sản sinh: Khi ong chia
đàn, khi chúa già đẻ kém, khi đàn ong mất
chúa. Ong chúa có thể chủ động đẻ trứng thụ
tinh để nở thành ong thợ hoặc trứng không thụ
tinh để trở thành ong đực
Ong chúa là cá thể duy nhất có khả năng sinh sản để duy trì bầy


đàn và điều tiết của hoạt động của đàn ong. Ong chúa của giống ong nội đẻ
trung bình 400 - 600 trứng/ngày đêm.
Vai trò tuyệt đốicủa ong chúa la do tuyến nước bọt của ong chứa
chứa đựng một kho các chất hóa học. Khi được “bức xạ” vào không gian
của loài ong, các chất này sẽ truyền tải thông tin đến từng con ong và mệnh
lệnh sẽ được chấp hành triệt để. Thành phần của các hóa chất nước bọt vô
cùng phức tạp. Người ta mới chỉ phân tích và biệt lập được trên 30 trong số
hàng trăm chất khác nhau. Nếu làm cho tuyến nước bọt của ong chúa
ngừng hoạt động, mọi quyền hành của nó cũng biến mất.
b.Ong đực :
Ong đực: thân dài 15 - 17 mm. Không có ngòi châm, cánh lớn.
Có màu đen và làm nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa.
Ong đực có thể sống trong 50 - 60 ngày. Sau khi giao phối, ong
đực bị chết hoặc khi thiếu ăn chúng sẽ bị ong thợ đuổi ra ngoài và bị chết
đói.


c.Ong thợ :
- Có số lượng đông nhất trong đàn. Ong thợ là những con ong cái mà bộ
phận sinh dục bị thoái hoá, không có khả năng thụ tinh. Ong thợ thực hiện
tất cả công việc của đàn ong: bảo vệ tổ, sản sinh sữa chúa để nuôi ấu trùng,
hút mật hoa luyện thành mật ong.
- Tuổi thọ của ong thợ chỉ kéo dài từ 5 - 8 tuần. Khi phải nuôi nhiều ấu
trùng, lấy mật nhiều thì tuổi thọ giảm và ngược lại.
- Một số ong thợ làm nhiệm vụ trinh sát, bay đi tìm nguồn mật, phấn hoa
và thông báo cho các ong thu hoạch biết đến hút mật chuyển cho ong tiếp
nhận. Ong tiếp nhận tiết thêm men vào mật, quạt gió và chuyển dần mật từ
các lỗ tổ ở phía dưới lên trên của bánh tổ.
2.
Các loài ong mật

Những loài thường gặp:
1. Ong Italia (A. mellifera): có nhiều chủng khác nhau, phân bố chủ yếu
ở Châu Âu. Hiện được di nhập, thuần hoá ở nhiều nước Châu Á.
2. Ong Châu Á (A. cerana): cơ thể nhỏ hơn ong Italia, có các chủng như
A. cerana japonica; A. cerana sinensis (cg. A. cerana cerana) và A.
cerana indica.
Các giai đoạn phát triển của ong A.cerana :
Giai đoạn
Loại ong

Trứng
(ngày)

Ấu trùng
(ngày)

Nhộng
(ngày)

Tổng số
(ngày)

Ong chúa

3

5

7-8


15 - 16

Ong thợ

3

5

11

19

Ong đực

3

6

14

23


3. Ong khoái (A. dorsata): có kích thước lớn (cg. ong khổng lồ), năng
suất mật cao, làm tổ ngoài trời, mỗi tổ chỉ có một cầu, đến nay chưa thuần
hoá được. Ong khoái rất hung dữ, khi tổ bị quấy phá thì cả đàn tấn công lại.

1. Ong đực; 2. Ong chúa; 3. Ong thợ (a. Túi phấn);
4. Tầng ong (a - Tổ ong chúa, b - Phấn, c - Mật, d - Trứng, e - Tổ đã bịt
nắp);

5. Tầng ong cắt dọc (a - Trứng, b - Ấu trùng, c - Tổ đã bịt nắp, d - Nhộng,
e - Ong non)
II.
KỸ THUẬT NUÔI ONG
1.
Cách bắt ong mật tự nhiên về nuôi
a.
Bắt bằng hánh ong
Là biện pháp đặt các thùng, đõ ở những nơi thích hợp để ong tự
về làm tổ. Ở các tỉnh miền Bắc, tháng 10-12 là mùa ong di cư từ vùng núi
cao về vùng đồi thấp, tháng 3-4 là mùa ong chia đàn, ong thường tìm nơi
thích hợp để làm tổ.
Chuẩn bị đõ ong phải được dọn sạch sẽ, kín và khô ráo, dùng sáp
ong đun chảy đổ vào đõ để có mùi thơm hấp dẫn ong mau về hơn. Có thể
treo đõ xung quanh nhà hoặc đặt dưới gốc cây to (cây to độc lập) ở trong
rừng hoặc ở một số vách đá nơi có ong soi nhiều. Khi ong đã về đõ thì
mang về nhà nuôi.
b.
Bắt ong bay
Khi phát hiện thấy đàn ong bay thấp ngang qua, ta tung đất cát, ném
quần áo hoặc té nước vào đám ong làm chúng hạ thấp độ cao, chờ ong đậu


vào cành cây, bắt ong vào nón (chuyên dùng bắt ong) để vào chỗ tối, mát
mẻ. Chiều tối chuẩn bị một thùng sạch, một ván ngăn, một cầu bánh tổ mới
có đủ mật, phấn, ổn định ong vào thùng đặt nơi thích hợp, cho ong ăn thêm
(pha thêm ít mật ong). Nếu không có bánh tổ viện thì nhốt chúa vài ngày,
theo dõi thấy ong thợ lấy phấn về thì thả chúa ra.
c.
Bắt ong trong hốc cây, hốc đá

Khi phát hiện thấy tổ ong trong hốc cây, hốc đá dùng rìu búa mở
rộng cửa tổ. Dùng khói phun nhẹ vào tổ để ong dạt vào một góc, cắt lấy
bánh tổ, bốc ong vào mũ lưới hoặc áo, khăn. Nếu tổ nằm ở vị trí sâu trong
hốc cây to hoặc vách đá không bắt được, dùng đất ướt trát bịt kín cửa tổ và
các khe hở lại. Sau 2-3 ngày đến mở lỗ tổ, ong sẽ tuôn ra, dùng nón bắt ong
bay hứng lấy. Cũng có thể thổi băng phiến vào rồi nút chặt cửa tổ 10-15
phút, khi mở cửa tổ ong sẽ tuôn ra và bắt vào nón. Hoặc bịt kín các khe hở
nơi ong ra vào, lấy một ống nứa nhỏ cắm vào lỗ tổ ong, trát đất xung
quanh. Ong ra được nhưng không vào được và đậu ở ngoài khu vực cửa tổ,
ta sẽ bắt quân.
Khi mang về nhà, rũ ong vào thùng. Bánh tổ được cắt bớt phần
mật, phần con được buộc vào thanh xà hoặc khung cầu dây thép. Tối cho
ong ăn thêm. Khoảng 3 ngày sau kiểm tra, nếu thấy ong đã gắn bánh tổ vào
khung cầu hoặc xà cầu, cởi dây buộc ra. Lưu ý, nên bắt từng đàn một đến
khi ong đi làm ổn định mới bắt đàn khác.
d.
Bắt ong soi đõ
Bắt ong soi đõ (ong trinh sát) là bắt ong thợ có nhiệm vụ tìm nơi
thích hợp rồi báo cho cả đàn bay tới xây tổ (tháng 11-12 ở những nơi có
nguồn giống ong tự nhiên có nhiều ong soi đõ). Ong soi đõ thường bay dọc
theo cột, vách nhà từ trên xuống dưới hoặc từ dưới lên trên, ong bay chậm,
đôi chân thứ 3 buông thõng xuống, khi bay phát ra các âm thanh to hơn các
ong khác.
Khi bắt, dùng vợt may bằng vải sô có cần để bắt, không nên dùng
tay vì dễ làm chết ong. Bắt được ong soi nhẹ nhàng thả ong qua cửa tổ vào
trong thùng đã chuẩn bị tốt (khô sạch, thơm mùi sáp) rồi đậy nút cửa tổ lại
chừng 10-20 phút, rồi thả ong ra. Sau một vài giờ đàn ong có thể kéo nhau
về tổ. Dùng đõ mồi làm bằng gỗ mít bắt ong soi là tốt nhất. Đõ mồi có
chiều dài 40-45cm, rộng 20cm. Mặt trước có lỗ cho ong ra vào, mặt sau có
cửa và có nắp đậy để kiểm tra, kích thước cửa 10x25cm để khi ong về lấy

ong ra dễ dàng. Trên nóc đõ làm gồ gề để ong xây bánh tổ được chắc.
Chú ý đàn hánh ong cuối cùng nên để nuôi trong đõ cho đõ ong
luôn được khô và thơm mùi ong, để sang năm hánh tiếp dễ dàng hơn
2.
Kỹ thuật nuôi ong cải tiến
Nước ta, ong nội (Apis cerana) đã được nuôi từ lâu đời với nhiều
hình thức khác nhau như : nuôi ong trong hốc cây hoặc hốc đá tự nhiên ;
nuôi trong thùng hoặc trong đõ đã có bánh tổ cố định và được đặt theo
nhiều tư thế khác nhau : đặt trong hốc tường, đặt đõ tròn thẳng đứng, có
nơi tiến bộ hơn thì nuôi ong trong thùng có thanh ngang...


Song, mọi phương thức nuôi ong kể trên đều mang tính chất thô
sơ, năng suất thấp.Ngày nay, việc áp dụng kỹ thuật nuôi trong thùng cải
tiến có khung cầu di động là một bước tiến nhảy vọt, đưa năng suất mật
tăng gấp 5 - 10 lần.Để nuôi ong thành công và thu được nhiều sản phẩm,
cần phải nắm vững và kết hợp hài hoà giữa nhiều yếu tố như : kỹ thuật tạo
chúa có chất lượng cao, kỹ thuật nuôi và xử lý đàn ong, các bước đi hoa,
phương pháp phòng và trị bệnh
a. Chọn điểm đặt ong

Chọn điểm nuôi ong :
Gần nguồn mật phấn hoa
Nơi không phun thuốc sâu hóa chất.
Không có dịch bệnh, ít hoặc không có ong rừng, chim thú hại.
Địa hình thoáng mát, yên tĩnh, không gần đường giao thông, nhà
máy đường, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến hoa qủa và không có hồ
lớn bao quanh...

Cách đặt thùng đàn ong

Thùng ong nên kê cao 25 - 30cm so với mặt đất, thùng nọ cách
thùng kia ít nhất là 1m, cửa ra vào đặt các hướng khác nhau, chọn nơi khô
ráo, thoáng mát như dưới hiên nhà, cạnh các gốc cây...
Không nên đặt trên sân gạch, nền xi măng, nơi qúa ẩm ướt hoặc
gần chuồng gia súc.
b. Chia đàn tự nhiên
Một bộ phận ong thợ cùng với ong chúa tách ra, bay đi để thành lập một
số ong mới. Chia đàn ong tự nhiên thường làm giảm năng suất mật.

Đàn ong chia đàn tự nhiên khi

Điều kiện bên ngoài :
Nguồn thức ăn (mật, phấn) nhiều.
Khí hậu thời tiết tốt (không nắng, nóng, lạnh qúa)

Điều kiện bên trong đàn ong :
Mật độ ong đông
Ong chúa đẻ mạnh, cầu con nhiều
Thức ăn dự trữ thừa
Ong sống trong thùng qúa chật trội.

Hiện tượng của đàn ong trước khi chia đàn tự nhiên :
Trước khi chia đàn vài tuần, ong xây nhiều lỗ tổ ong đực và xây
từ 3 - 10 mũ chúa ở hai góc và phía dưới bánh tổ.
Bình thường khi mũ chúa già thì ong chia đàn nhưng có khi mới
có nền chúa hoặc ong chúa mới đẻ vào đã chia đàn.
Ong chia đàn từ 8 - 11 giờ sáng và 14 - 16 giờ chiều vào những
ngày đẹp trời. Khi chia đàn, ong chúa cũ cùng với qúa nửa số ong thợ và
một số ong đực ăn no mật rồi bay ra khỏi tổ, sau đó tụ lại ở hiên nhà, cành
cây gần đó và quên tổ cũ, khi bắt đàn ong trở lại, nên cho ong vào thùng

khác và đặt bất cứ nơi nào.


-

bay.


Khi chia đàn tự nhiên, ong không ồn ào và náo động như khi bốc

Thời gian chia đàn tự nhiên :
Ở miền Bắc : ong thường chia đàn vào tháng 3 - 4, một số ít chia
vào tháng 10 - 11.
Ở miền Nam : ong thường chia đàn vào tháng 10 - 11 và tháng 2 4(đầu và giữa vụ mật).

Xử lý ong chia đàn tự nhiên :
Trong trường hợp đàn ong ít quân : khắc phục việc chia đàn bằng
cách thay ong chúa cũ bằng ong chúa mới vào lúc nguồn hoa phong phú,
cho thêm tầng chân, quay mật hoặc chuyển cầu mật cho đàn khác, nới rộng
khoảng cách cầu và bỏ vật chống rét ra ngoài, vặt các mũ chúa và cắt bỏ lỗ
tổ ong đực.
Trong trường hợp đàn ong mạnh thì chủ động chia đàn : cần cho
ăn đủ, chọn những mũ chúa thẳng dài ở vị trí trống như ở 2 góc và dưới
bánh tổ để sử dụng sau khi ong chia đàn mới.
Đàn ong chia đàn tự nhiên thường ăn no mật và phần đông ong
thợ trẻ đang độ tuổi tiết sáp, xây tầng nhanh, nên ngay sau khi ổn định có
thể cho đàn ong đó xây tầng chân. Đàn ong gốc chỉ giữ lại 1 mũ ong chúa
tốt nhất để thay chúa còn lại cắt bỏ tất cả các mũ chúa đi.
c.Ong bốc bay


Nguyên nhân và biểu hiện ong bốc bay :
Nguyên nhân bên ngoài : ong rừng, kiến hoặc hại khác quấy phá,
trời nắng, nóng, khô hanh ; thùng ong bị đồ, bị chấn động mạnh sau khi di
truyền...
Nguyên nhân bên trong : do đàn ong thiếu thức ăn, ong chúa
ngừng đẻ không có cầu con. Đặc biệt khi đàn ong bị bệnh và bị sâu phá
bánh tổ.
Hoặc do chuyển nơi ở theo mùa vì ong còn mang tính dã sinh.
Trước khi bốc bay ong chúa giảm đẻ sau đó ngừng hẳn, đàn ong
đi làm uể oải. Khi sắp bốc bay cả đàn đàn ong ồn ào, náo động, chúng ăn
no mật và ùn ùn kéo ra khỏi tổ.

Thời vụ và thời gian ong bốc bay :
Ở miền Bắc, ong thường bốc bay vào tháng 7 - 9 do thiếu ăn và
nắng nóng, ong di chuyển chỗ ở từ vùng thấp lên vùng cao mát mẻ hơn.
Tháng 10 - 11 ong lại bốc bay di cư về vùng thấp và tháng 1 - 2 bốc bay do
đói rét.
Ở miền Nam, ong bốc bay sau vụ mật vào tháng 7 - 9.

Biện pháp hạn chế ong bốc bay :
Tạo đàn ong có chúa trẻ dưới 8 tháng tuổi, đẻ tốt.
Thức ăn đủ (cả mật vít nắp và 1 - 2 cầu phấn).
Duy trì đàn ong lúc nào cũng có cầu con, nhất là cầu ấu trùng.
Phòng bệnh tốt, trị bệnh kịp thời và triệt để.
Chống nóng, nắng, hanh khô.
d. Phương pháp nhập đàn ong, cầu ong

Nhập ong thợ từ đàn này sang đàn khác nhằm :



-

Điều chỉnh thế ong cho đồng đều.
Xử lý các trường hợp : bốc bay, mất chúa, tăng lực lượng xây

bánh tổ.
Thao tác cần nhẹ nhàng để tránh ong đánh nhau gây tình trạng
mất ổn định trong đàn ong và những đàn xung quanh.

Các nguyên tắc nhập đàn ong, cầu ong :
Nhập vào buổi tối.
Nhập đàn ong không có chúa vào đàn ong có chúa.
Nhập đàn ong yếu vào đàn ong mạnh.

Các cách nhập ong :

Nhập gián tiếp (ngoài ván ngăn)
Khử hoặc tách chúa ở đàn bị nhập trước 6 giờ.
Đến tối nhấc các cầu định nhập đặt ngoài ván ngăn của đàn ong
được nhập.
Sáng hôm sau nhấc ván ngăn ra ngoài và ổn định cầu mới nhập
vào.

Nhập trực tiếp (trong ván ngăn)
Buổi chiều, tách ván ngăn ra xa, đến tối đặt nhẹ cầu nhập vào hoặc
thổi nhẹ cho ong già bay khỏi tổ, còn lại toàn ong non.
-

e. Phương pháp chia đàn ong
Chia đàn nhân tạo nhằm giảm sự chia đàn tự nhiên và tăng số đàn. Có

mấy phương pháp chia như sau :

Chia đàn song song
Sau khi chuẩn bị được ong chúa, mũ chúa, dùng một thùng mới
có mầu sơn giống với mầu thùng cũ của đàn ong định chia.
Chia đều số cầu, quân nhộng, ấu trùng và thức ăn ra làm đôi, đặt
2 đàn liền nhau.
Để 2 đàn cách đều vị trí đàn cũ 20 - 30cm. Nếu đàn ong vào
nhiều hơn thì nhích xa vị trí cũ, đàn nào vào ít thì nhích gần lại. Dần dần
tách 2 đàn ra xa nhau, quay cửa tổ ra 2 hướng.
Cách chia này có ưu điểm là : 2 đàn được chia đều, phát triển
nhanh, không phải mang ong đi, tiện kiểm tra, chăm sóc.

Chia dời chỗ :
Mang thùng mới đến gần đàn cơ bản, tách ra 2 - 3 cầu, chèn lại, rồi
chuyển đi cách đó 1km, thường mang ong chúa đã đẻ đi. Nên tiến hành
trước vụ mật 40 ngày.

Tách cầu ghép thành đàn mới :
Khi sắp tới vụ mật, có một số đàn ong mạnh muốn chia đàn tự
nhiên, nếu không chia ong sẽ tự chia đàn hoặc đi làm kém. Cần lấy từ các
đàn mạnh, mỗi đàn một cầu nhộng và quân để tách ra hình thành đàn mới.
Vừa chống chia đàn, vừa tăng sản lượng mật, tăng được số lượng đàn.
Ngày đầu chỉ nên lấy 1 cầu, ngày sau lấy 1 cầu của đàn khác và
hôm sau lấy thêm 1 cầu của đàn thứ 3. Nếu ong chúa đẻ, đàn ghép sẽ phát
triển nhanh.


f. Kỹ thuật tạo và nuôi dưỡng ong chúa
Ong chúa nuôi tồn tại 2 - 3 năm và cả đời ong chúa chỉ giao phối một lần

; sức đẻ trứng của ong chúa tăng dần và đỉnh cao nhất là trong khoảng thời
gian 6 - 9 tháng đầu tiên, càng già ong chúa càng đẻ kém đi và đẻ nhiều
trứng không thụ tinh, vì thế trong sản xuất người nuôi ong thường thay thế
chúa từ 6 - 12 tháng/lần.

Trong tự nhiên, ong chúa ra đời trong 3 trường hợp sau :
Ong chúa chia đàn tự nhiên : xảy ra khi đàn ong mạnh, nguồn
hoa phong phú ; đàn ong sẽ tạo ra từ 5 – 10 mũ chúa ở mép hoặc ở bánh tổ.
Ong chúa thay thế tự nhiên : khi ong chúa già hoặc bị bệnh, đàn
ong sẽ tạo ra 2 – 3 mũ chúa, các mũ chúa có cả trên bề mặt và mép dưới
của bánh tổ.
Ong chúa cấu tạo : khi ong chúa bị chết hoặc mất đột ngột, ong
thợ sẽ xây mũ chúa ở cả 2 mặt của cầu ong. Trong qúa trình nuôi dưỡng,
người nuôi ong rất ít khi sử dụng các loại ong chúa này vì chất lượng kém.

Chất lượng của ong chúa
Phụ thuộc 2 yếu tố chính : tính di truyền của đàn giống (đàn bố, đàn mẹ)
và điều kiện nuôi dưỡng ấu trùng ong chúa :

Đàn giống :
Đàn giống là đàn cung cấp ấu trùng để tạo ong chúa và các đàn tạo ra
các ong đực giao phối với những con ong chúa mới đó. Vì thế việc lựa
chọn và chăm sóc đàn giống được tiến hành rất cẩn thận.

Đàn nuôi dưỡng :
Các ong chúa tốt chỉ được tạo ra từ những đàn giống có chất
lượng cao, song vẫn chưa hẳn tạo được những ong chúa tốt nếu phương
pháp tạo chúa không đúng kỹ thuật. Chúng ta đều biết rằng, ấu trùng ong
thợ và ấu trùng ong chúa đều được tạo ra từ trứng đã thụ tinh, nghĩa là có
nguồn gốc di truyền như nhau, nhưng do mức độ thức ăn khác nhau mà

chúng trở thành ong chúa hay ong thợ. Vì lẽ đó, chế độ cung cấp thức ăn sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng ong chúa tạo ra.
Đàn nuôi dưỡng là đàn tiếp nhận các ấu trùng và nuôi dưỡng
chúng thành ong chúa trưởng thành (trong tạo chúa công nghiệp, người ta
còn tổ chức ra những đàn tiếp thu riêng để sau khi những cầu chúa được
tiếp nhận mới đưa ra đàn nuôi dưỡng). Đàn nuôi dưỡng cần phải mạnh,
đông quân và nhiều ong non, đủ thức ăn để nuôi được nhiều ong chúa và có
chất lượng cao.
Tuy nhiên, nếu tạo chúa vào giữa vụ mật, ong mải mê đi lấy mật
mà sao nhãng việc nuôi ấu trùng thì chất lượng ong chúa cũng không tốt.
Vì vậy, nên tạo chúa vào đầu hoặc cuối vụ mật. Khí hậu nước ta là khí hậu
nhiệt đới nên có thể tạo chúa quanh năm nhưng cần chú ý tạo chúa vào lúc
có nguồn thức ăn dồi dào thì chất lượng ong chúa mới tốt. Mặt khác cần
tránh tạo chúa vào mùa mưa, mùa đông rét mướt, mùa có gió to chúa
không đi giao phối được đạt tỷ lệ giao phối thấp.

Phương pháp tạo chúa


Nuôi ong cần nhiều chúa mới đẻ thay thế chúa già, chúa xấu hoặc để
chia đàn. Việc chủ động tạo chúa là biện pháp kỹ thuật quan trọng để tạo ra
đàn ong mạnh, cho năng suất cao.

Chọn đàn làm giống và đàn nuôi dưỡng :
Chất lượng ong chúa phụ thuộc vào nguồn gốc bố mẹ và yếu tố nuôi
dưỡng (đàn nuôi dưỡng, thức ăn). Vì vậy việc tạo chúa phải chọn được các
đàn giống tốt và đàn nuôi dưỡng tốt, trong đàn ong chia ra đàn mẹ và đàn
bố.

Đàn mẹ :

Là đàn cung cấp ấu trùng để tạo chúa, đàn mẹ phải đáp ứng được những
nhu cầu sau :
Tụ đàn đông (nhiều cầu)
Năng suất mật cao.
Không bị bệnh.
Đàn ong hiền lành, không bay bốc, không hoặc ít chia đàn.
Ở những trại ong lớn thương chọn từ 2 - 3 đàn mẹ để tránh cận huyết.
Trước khi lấy ấu trùng 1 - 2 ngày nên cho đàn mẹ ăn để ong tiết nhiều sữa
nuôi ấu trùng.

Đàn bố :
Là đàn ong tạo ra ong đực sẽ giao phối với ong chúa tơ. Để ong
đực ở độ tuổi giao phối thích hợp, cần tạo ong đực trước khi tạo chúa
khoảng 20 - 25 ngày. Cho đàn bố ăn bổ sung, viện thêm cầu nhộng, cắt góc
bánh tổ, đàn ong sẽ xây các lỗ đực và ong chúa sẽ đẻ trứng vào đó.
Tiêu chuẩn đàn bố giống như đàn mẹ; để tránh cận huyết mỗi trại
nên chọn từ 3 - 5 đàn bố, đồng thời tiến hành diệt ong đực ở đàn mẹ và các
đàn khác.


Đàn nuôi dưỡng :
Là đàn nuôi ấu trùng ong chúa cho đến khi nở thành chúa tơ. Đàn
phải thiếu nguồn mật tự nhiên, cần cho đàn nuôi dưỡng ăn trước khi tạo
thành chúa 4 - 5 ngày.
Cần rũ bớt cầu trong đàn nuôi dưỡng để ong bám trên cầu thật
đông tiếp thu chúa nhiều hơn.

Phương pháp di trùng :
Dùng kim di trùng băng nhôm hoặc lông ngỗng vót nhỏ đưa vào
phía lưng của ấu trùng, cố gắng lấy cả sữa chúa để ấu trùng không bị tổn

thương; đặt nhẹ kim di trùng vào giọt mật, ấu trùng sẽ nổi lên, nhẹ nhàng
rút kim ra và tiếp tục múc ấu trùng khác.
Nên chọn ấu trùng 1 ngày tuổi để tạo ong chúa là tốt nhất (vì tuổi
ấu trùng càng cao thì chất lượng ong chúa càng giảm) nếu cầu mới xây nên
cẩn thận khi di trùng vì đầu kim di trùng dễ đâm thủng đáy của lỗ tổ. Nếu
bánh tổ qúa cũ, lỗ tổ sẽ hẹp rất khó múc ấu trùng.


Khi di trùng cần tiến hành nhanh và ở nơi kín gió, vào lúc thời
tiết ấm áp, tránh ánh nắng chiếu vào sẽ làm khô ấu trùng khi thao tác.
Di trùng xong, xoay các chén sáp xuống phía dưới và đặt vào
giữa đàn nuôi dưỡng đã chuẩn bị sẵn.
Trước khi di trùng 24 - 48 giờ, bắt ong chúa ra khỏi đàn nuôi
dưỡng, rũ bớt cầu cho ong bám vào các cầu còn lại ; đồng thời trước khi di
trùng 2 - 3 giờ, dãn 2 cầu giữa đàn ra khoảng 3cm tạo thành khe để ong non
tập trung đến khu vực đó nhiều, chúng sẽ nhanh chóng tiếp nhận và nuôi
dưỡng ấu trùng.
Trong tạo chúa, một số người áp dụng phương pháp di đơn
nhưng phần lớn là áp dụng phương pháp di kép. Di đơn là phương pháp di
ấu trùng vào mũ chúa một lần để ong nuôi dưỡng ấu trùng đó thành ong
chúa. Di kép là di ấu trùng 2 lần vào chén sáp (tức là sau khi di trùng lần
thứ nhất 24 giờ, người ta gắp bỏ ấu trùng cũ đi và tiến hành di ấu trùng
khác vào) làm như thế, ấu trùng di lần 2 sẽ được ăn sữa chúa ngay nên phát
triển tốt.


Chăm sóc đàn nuôi dưỡng

Như trên đã nói, đàn nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến số lượng
và chất lượng chúa, nên phải chọn những đàn mạnh từ 5 - 6 cầu, sau đó rút

bớt 1 - 2 cầu để ong phủ kín trên các cầu còn lại. Cần tạo một khoảng trống
rộng từ 2 - 3cm ở giữa đàn ong để tạo ong non tập trung tại đấy trước khi
đặt cầu chúa vào 2 - 3 giờ. Nên cho đàn ong nuôi dưỡng ăn thêm trước khi
di trùng và cho ăn đến khi vít nắp các lỗ mật.
Nếu tạo chúa vào lúc đủ phấn, mật thì không cần cho ăn, nếu
thiếu thức ăn thì phải cho ăn thêm trước khi tạo chúa từ 2 - 3 ngày và cho
ăn đến khi ong vít nắp mũ chúa, nếu thiếu phấn phải cho ăn thêm phấn hoa.
Sau khi di trùng 1 ngày, kiểm tra thấy mũ chúa đạt từ 15 - 20 cái
là được nếu ít qúa phải di thêm, nếu nhiều qúa thì loạt bớt, kiểm tra để vặt
hết các mũ ong chúa cấp tạo ở trên bánh tổ.
Sau 5 ngày, kiểm tra lần 2 để tiếp tục vặt bỏ các mũ chúa cấp tạo,
nếu không chúa cấp tạo nở ra trước sẽ cắn hết các mũ chúa di trùng. Khi
kiểm tra các cầu chúa cần nhẹ nhàng, tránh rung, lắc, nhất là khi mũ chúa
mới vít nắp 1 - 2 ngày vì sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa sẽ bị
xoăn cánh.

Bảo quản và giới thiệu mũ chúa
Thông thường sau khi di trùng 11 - 12 ngày chúa tơ sẽ nở, do đó
sau 9 - 10 ngày, các mũ chúa già có thể lấy đi để giới thiệu vào các đàn
giao phối hoặc các đàn mất chúa. Trường hợp chưa sử dụng hết mũ chúa,
phải cho mũ chúa vào lồng lò xo cách ly để tránh con chúa đầu tiên nở ra
cắn phá các mũ chúa khác và được đặt trong đàn để ong ủ ấm. Một vài


ngày sau chúa tơ ra đời, có thể bán hoặc giới thiệu cho các đàn ong bị mất
chúa. Chúa tơ có thể sống ở trong lồng dự trữ từ 7 - 15 ngày.
Hiện nay, với ong nội người ta thường giới thiệu trực tiếp các mũ
chúa vào đàn ong sản xuất chứ ít khi sử dụng các đàn giao phối vì số lượng
ít.


Kỹ thuật tạo chúa đơn giản
Những nơi nuôi ít ong không có dụng cụ tạo chúa, có thể áp dụng
phương pháp đơn giản mà vẫn tạo được chúa có chất lượng tốt.

Sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên :
Vào mùa chia đàn tự nhiên : nhiều đàn ong mạnh có thể xây từ 5
- 10 mũ chúa cần chọn mũ chúa dài, thẳng đẹp từ đàn đủ tiêu chuẩn để làm
giống. Dùng dao sắc cắt trên góc mũ chúa 1,5cm rồi gắn vào đàn cần thay
chúa. Không dùng mũ chúa của các đàn yếu, bị bệnh.
Kích thích ong xây mũ chúa chia đàn tự nhiên : Chọn đàn ong
mạnh (đủ tiêu chuẩn) cho ăn 2 - 3 tối, viện thêm cầu nhộng già, rút bớt cầu
cũ để ong tập trung hơn.
Khi kiểm tra các cầu chúa cần làm nhẹ nhàng, tránh lắc, rũ mạnh
nhất là khi các mũ chúa vít nắp 1 - 2 ngày nếu không sẽ làm cho nhộng bị
chết hoặc khi nở ra chúa bị xoăn cánh.

Tạo chúa theo phương pháp cấp tạo :
Cách làm : chọn đàn ong mạnh, có năng suất cao nhất trại để làm
đàn giống và cho đàn ăn thêm sirô đường, rút bớt cầu ong để bám dày hơn
trên các cầu ong còn lại. Đặt cầu có trứng mới đẻ vào giữa tổ. Hai ngày
sau, kiểm tra để loại bỏ tất cả các mũ chúa trên bề mặt của bánh tổ và các
cầu khác, chỉ để các mũ chúa ở phía dưới của bánh tổ, sau khoảng 8 - 9
ngày thì tách các mũ chúa để sử dụng.
Cũng có thể cắt bớt phần dưới của một bánh tổ theo đường kính
dích dắc để ong xây nhiều mũ chúa ở chỗ bánh tổ có ấu trùng nhỏ. Nhưng
cần lưu ý chọn các bánh tổ còn mới để ong dễ tiếp thu hơn.
Ngày nay, để có nhiều ong chúa chất lượng cao phục vụ cho sản
xuất vào mùa nhân đàn, người ta tiến hành tổ chức sản xuất chúa theo
phương pháp công nghiệp. Đây là một công nghệ mới trong sản xuất ong
chúa, có nhiều ưu thế để nâng cao chất lượng ong chúa và đem lại hiệu qủa

kinh tế cao.
III. CHĂM SÓC ĐÀN ONG
1.
Một số bệnh ong thường gặp
Cũng như các ngành chăn nuôi khác, bệnh ong cũng gây nên những tổn
thất đáng kể cho người nuôi ong. Bệnh nhẹ thì ảnh hưởng đến thế đàn,
giảm năng suất, bệnh nặng thì đe dọa đến sự tồn vong của đàn ong.
Hiện nay trên đàn ong nội thường xuất hiện 3 bệnh chủ yếu sau :

Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ)

Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, bệnh ấu trùng túi)

Bệnh ỉa chảy lây lan.
2.
Các biện pháp phòng bệnh



Đàn ong sống trong một quần thể bầy đàn nên khả năng nhiễm và
lây lan bệnh rất cao. Khi bệnh phát ra, nó không chỉ tiêu diệt từng cá thể
con ong mà thường tiêu diệt cả đàn ong, thậm chí còn tiêu diệt cả một trại
ong trong một thời gian ngắn.

Cũng như con người và các loại vật khác, con ong cũng chịu sự
tàn phá của các loài vi khuẩn, vi rút và các loại ký sinh trùng... do đó việc
phòng bệnh cho ong là hết sức cần thiết, nên lưu ý một số điểm chính sau :
Chọn điểm đặt : chọn nơi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa
đông.
Thùng ong phải kín đáo, không bị dột nát.

Thường xuyên làm vệ sinh đàn ong.
Đặt ong gần nguồn nước sạch...

Việc phát hiện bệnh sớm và có biện pháp tròng trừ kịp thời là yếu
tố quyết định nuôi ong đạt hiêụ qủa kinh tế cao.
3.
Phương pháp chẩn đoán bệnh
Muốn điều trị bệnh có hiệu qủa thì việc đầu tiên là phải chẩn đoán đúng
bệnh. Việc kết luận bệnh nên dựa trên kết qủa chẩn đoán tổng hợp của các
phương pháp chủ yếu sau :
a.
Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp cảm quan :
Mỗi bệnh biểu hiện một số nét đặc trưng khác nhau và bằng phương
pháp cảm quan ta có thể nhận biết bệnh một cách tương đối chính xác.

Với bệnh thối ấu trùng Châu Âu : nhìn trong lỗ tổ thấy các ấu
trùng bị chết, ấu trùng chuyển từ màu trắng sang màu trắng đục. Khi nhấc
cầu ong lên thấy ong xào xạc và chạy tụt xuống phía dưới của đáy tổ ; ong
thợ có màu đen bóng do ấu trùng bị chết nên không có lớp ong non kế tiếp,
trên mặt lỗ tổ có lỗ thủng nhỏ và lõm xuống.

Với bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu) : thấy lỗ tổ vít nắp hơi lõm
xuống, một số cắn nham nhở, có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ
tổ.

Với bệnh ỉa chảy lây lan : nhìn thấy phân màu nâu sẫm trên lá
cây hay quần áo phơi xung quanh các điểm đặt ong : ong non yếu ớt, bụng
của ong trưởng thành trướng lên, ong sã cánh bò ra trước cửa sổ.
b.
Chẩn đoán thông qua việc nhận biết mùi đặc trưng của bệnh

Mỗi bệnh có một mùi đặc trưng, thông qua đó người nuôi ong có thể
nhận biết được bệnh đang xảy ra trên đàn ong là bệnh gì? Ví dụ :

Bệnh thối ấu trùng Châu Mỹ : có mùi khét đặc trưng của keo da
trâu.

Bệnh thối ấu trùng Châu Âu : có mùi chua.

Bệnh thối ấu trùng túi : không có mùi...
c.
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Muốn chẩn đoán được bệnh chính xác, tốt nhất nên gửi bệnh phẩm về
các có quan khoa học, các phòng phân tích để kiểm tra.
Trong qúa trình chẩn đoán, phải được tiến hành đồng bộ để có kết luận
đúng : đâu là bệnh chính, đâu là bệnh kế phát để có biện pháp điều trị có
hiệu quả
4.
Nguyên tắc điều trị bệnh ong


Khi điều trị cần tuân thủ các nguyên tắc sau :
a.
Điều trị đúng thuốc, đúng bệnh :
Các bệnh do các vi khuẩn gây nên gồm các vi khuẩn Gram dương hoặc
vi khuẩn Gram âm, mỗi một loại vi khuẩn có thuốc đặc trị khác nhau, nếu
điều trị không đúng thuốc sẽ không khỏi bệnh mà còn làm hại đến sức khỏe
của đàn ong. Cụ thể như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, mầm bệnh là vi
khuẩn Gram âm nên khi điều trị phải dùng thuốc đặc trị như Kanamycin,
Stretomycin hoặc ertromycin chứ không được dùng thuốc Penicillin hoặc
những thuốc đặc trị cho loại vi khuẩn Gram dương khác.

b.
Điều trị đủ liều :
Khi điều trị phải chú ý dùng liều cao ngay từ đầu, đồng thời dùng đủ liệu
trình theo chỉ dẫn để đạt hiệu qủa cao nhất và tránh được sự quen thuốc.
Hiện nay người nuôi ong điều trị bệnh thối ấu trùng không phải bằng cách
pha vào sirô đường cho ăn mà họ dùng cách hòa tan thuốc và phun trực tiếp
vào lỗ tổ. Nhưng nên chú ý rằng phương pháp này chỉ có hiệu qủa khi
thuốc được phun với liều lượng gấp 2 lần so với liều cho ăn.
c.
Điều trị đúng phương pháp :
Tùy từng bệnh mà có phương pháp điều trị thích hợp để nâng cao
hiệu qủa.
Ví dụ như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, trước đây điều trị bằng
phương pháp cho ăn nước sirô đường hòa với thuốc kháng sinh, nhưng
ngày nay bằng phương pháp phun trực tiếp vào bánh tổ. Điều trị bằng
phương pháp này vừa giải quyết được bệnh nhanh vừa giảm ảnh hưởng của
thuốc kháng sinh đến chất lượng mật ong. Song cách pha thuốc cũng phải
được chú ý : có loại thuốc chỉ được pha bằng nước nguội, nếu pha bằng
nước nóng thuốc sẽ bị phân hủy, thuốc không còn tác dụng điều trị.
5. Phương pháp phòng trị một số bệnh thường gặp ở ong
a.
Bệnh của ong trưởng thành :
Do một loại bảo tử trùng gây nên (Nosema apis). Bệnh này hay xảy ra
vào thời kỳ rét đậm, mưa nhiều, độ ẩm cao.

Triệu chứng
Ong trưởng thành ỉa lung tung vào các cửa sổ, vách thùng.
Đàn ong chết nhiều, thưa quân, mật ít.
Có một số ong bụng trướng lên, sã cánh bò trước cửa tổ.


Phương pháp điều trị
Luôn giữ cho đàn ong mạnh, đủ thức ăn.
Khi phát hiện thấy đàn ong bị bệnh thì thay thùng, loại bớt cầu
xấu cũ.
Cho ong ăn thuốc Fumagillin với liều lượng 100 mg/40 cầu/1 tối,
pha với 3 lít nước đường, cho ăn trong 10 ngày.
Nếu không có thuốc Fumagillin có thể cho ăn sirô pha nước gừng
tươi (9 - 10g gừng tươi/1 lít sirô cho 10 cầu/1tối).
b. Bệnh của ấu trùng ong :


Thường có 2 bệnh gây nên hiện tượng thối ấu trùng, đó là bệnh ấu trùng
Châu Âu và bệnh thối ấu trùng túi. Cần phải phân biệt rõ 2 bệnh này thì
mới có biện pháp điều trị hiệu qủa.

Bệnh thối ấu trùng Châu Âu :
Bệnh do vi khuẩn Melissococus pluton gây nên. ấu trùng mắc
bệnh ở tuổi 3 - 5, khi chết có mùi chua.
Ấu trùng bị bệnh chuyển từ màu trắng ngà sang trắng đục, sau
thối nhũn xẹp xuống, quan sát lỗ tổ thấy vít nắp lỗ chỗ.
Bệnh lây lan do khi kiểm tra đàn ong, dùng dụng cụ, ong ăn cướp
mật, do di chuyển và mua bán đàn ong.

Điều trị :

Bằng phương pháp cho ăn :
Streptomycin 1 lọ/10 cầu ; Kanamycin 0,5g/đàn, cho ăn liền 3 tối.
Sau 1tuần không khỏi cho ăn tiếp 3 tối nữa.
Lưu ý : Trước khi cho ăn nên loại bớt cầu bị bệnh nặng để nuôi
ong bám đông trên cầu còn lại.


Bằng phương pháp phun thuốc trực tiếp :
Sử dụng 2 loại thuốc trên nhưng liều lượng gấp đôi, pha với nước
sôi để nguội hoặc với nước đường loãng.
Dùng bình phun có hạt loại nhỏ phun lên 2 mặt cầu ong. Cách 1
ngày phun 1 lần, phun làm 3 lần.

Bệnh ấu trùng túi Sacbrood (do virut gây nên).

Triệu chứng :
Phần lớn ấu trùng chết ở giai đoạn cuối vít nắp hoặc thời kỳ tiền
nhộng (ấu trùng tuổi lớn) có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ.
Phía đuôi ấu trùng hình thành túi nước có màu trong suốt hoặc
vàng nhạt, ấu trùng chết không có mùi.

Điều trị :
Thay chúa của đàn bị bệnh bằng chúa tơ hoặc mũ chúa được tạo
ra từ những đàn không bị bệnh hoặc nhốt chúa đẻ 7 - 8 ngày, đồng thời loại
bớt cầu bệnh.
Cho ăn nước đường 3 - 4 tối hoặc di chuyển ong đến vùng có
nhiều mật, phấn dồi dào để kích thích ong đi làm vệ sinh và dọn sạch các
ấu trùng bệnh.

Tuy nhiên, cần phải hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinh
trong điều trị bệnh ong vì gây nên hiện tượng tồn dư chất kháng sinh trong
mật ong. Muốn khắc phục được tình trạng trên, nên đầu tư vào công tác
giống để nhanh chóng tạo ra giống ong có sức đề kháng bệnh cao, hoặc tổ
chức các đàn ong khỏe trước mùa khai thác... Trong trường hợp đàn ong
bị bệnh, nên tiến hành điều trị triệt để và phải chấm dứt việc dùng thuốc
kháng sinh trước mùa khai thác mật từ 30 - 40 ngày.

6. Phương pháp chống nóng, chống rét cho ong
a.
Tại sao phải chống nóng, chống rét :
Ta đã biết rằng : yêu cầu nhiệt độ trong đàn ong từ 33 - 35 0C, độ ẩm từ
60 - 80%. Cao hơn hoặc thấp hơn ong thợ sẽ làm những công việc sau :
Quạt gió cho mát (nếu nóng qúa)


Tụ lại rung cánh tạo nhiệt (rét qúa)
Đi lấy nước về tổ (hanh, thiếu ẩm độ)
b. Chống nóng cho ong :
Không để đàn ong ở ngoài nắng, không đặt cửa về hướng tây,
không để đàn ong chật chội.
Để máng có nước trong thùng ong vào những ngày nóng bức.
c. Chống rét, khô hanh cho ong :
Điều chỉnh đàn ong trước mùa rét để có thế đàn đông đều, nên
kết thúc nhân giống trước 30/11 để có thời gian nâng thế đàn tốt qua mùa
đông.
Cho ăn đầy đủ đến khi có mật vít nắp, nếu thiếu phấn kéo dài
phải cho ăn bổ sung.
Dùng rơm, lá chuối khô... làm vật chống rét để ở ngoài ván ngăn
hoặc bên trên xà cầu.
Bịt kín các khe hở của thùng ong, không để cửa tổ quay về hướng
bắc.
Nếu khô hanh qúa cho uống nước pha ít muối với tỷ lệ 9/1000.
-

B. TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM MẬT ONG
I. ĐỊNH NGHĨA SẢN PHẨM MẬT ONG
Mật ong là một chất ngọt sánh, có mùi thơm, vị ngọt, do ong mật

chế biến và cất giữ trong cầu ong từ nguyên liệu mật hoa, phấn hoa, cùng
một số men do ong tiết ra. MO có thể tồn tại ở thể lỏng, dính hoặc kết tinh,
màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến nâu đen tuỳ nguồn nguyên liệu; hương
vị của MO cũng tuỳ thuộc hương vị của cây nguồn mật.
Theo quy định của Hội đồng Ong mật Quốc gia Mỹ và nhiều quy
định về thực phẩm quốc tế khác quy định rằng "mật ong là một sản phẩm
thuần khiết không cho phép thêm bất kỳ chất gì vào...bao gồm nhưng
không giới hạn trong, nước và các chất ngọt khác".
II. THÀNH PHẦN HÓA HỌC, TÍNH CHẤT CỦA MẬT ONG
1.

Thành phần hóa học của mật ong

Để tạo ra mật, ong bắt đầu hút liên tục mật hoa, một dung dịch đường
loãng trong hoa. Sau đó, chúng hòa mật hoa với các enzym trong túi mật.
Hiện nay, Trung Quốc là nước sản xuất mật ong lớn nhất thế giới, khoảng


700 triệu lb/ năm. Mỹ là nước tiêu thụ mật ong lớn nhất thế giới, khoảng
300 triệu lb/ năm. Trong cả vòng đời, một con ong tạo ra gần 1/12 thìa cà
phê mật ong.
Mật ong là môt hỗn hợp gồm đường và các hợp chất khác.
Đường fructose và glucose chiếm tỉ lệ lớn nhất trong thành phần glucid của
mật ong: đường fructose chiếm khoảng 38,5% và đường glucose chiếm
khoảng 31%. Điều này làm cho mật ong tương tự hỗn hợp đường nghịch
đảo được tổng hợp với 47% fructose, 47% glucose và 5% saccarose. Mật
ong còn chứa các chất cacbonhydrat khác là matose, saccarose và các
cacbonhydrat khác.
Ngoài ra, mật ong còn có protein 0,3%, nhiều loại axit 0,45%
(những axit chính là axit malic, axit xitric, axit oxalic, axit lactic), chất

khoáng 0,03 - 0,2% (chủ yếu là kali, natri, canxi, magie, sắt, photpho,
nhôm, đồng, mangan, clo).
Mật ong còn chứa một lượng nhỏ các hợp chất khác như các chất
chống oxy hóa, bao gồm chrysin, pinobanksin, vitamin C, catalase và
pinocembrin. Chất chống oxy hóa đóng vai trò khử các gốc tự do-thành
phần gây ra các phản ứng của các hợp chất trong cơ thể. Các gốc tự do
được tạo thành thông qua quá trình trao đổi chất bình thường và nó là
nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm. Mật ong chứa polyphenol là
một chất hoạt động như một chất chống oxy hóa
Những enzim quan trọng trong mật ong gồm invectaza, lipaza,
gataclaza; Trong các loại thực phẩm, mật ong chiếm vị trí hàng đầu về hàm
lượng enzim.
Tỉ lệ nước trong mật ong đủ độ chín là 17 - 20%.
Bảng giá trị dinh dưỡng trong 100g mật ong
Honey
Nutritional value per 100 g (3.5 oz)
Energy 300 kcal 1270 kJ
Carbohydrates

82.4 g

- Sugars 82.12 g
- Dietary fiber 0.2 g
Fat

0g

Protein

0.3 g


Water

17.10 g

Riboflavin (Vit. B2) .038 mg 3%
Niacin (Vit. B3) .121 mg

1%

Pantothenic acid (B5) .068 mg 1%


Vitamin B6 .024 mg

2%

Folate (Vit. B9) 2 μg

1%

Vitamin C 0.5 mg

1%

Calcium 6 mg

1%

Iron .42 mg


3%

Magnesium 2 mg

1%

Phosphorus 4 mg

1%

Potassium 52 mg

1%

Sodium 4 mg

0%

Zinc .22 mg

2%

Shown is for 100 g, roughly 5 tbsp.
Percentages are relative to US
recommendations
for
adults.
Source: USDA Nutrient database


2. Tính chất của mật ong
- Phần lớn các vi sinh vật không sống trong mật ong vì mật ong có hoạt độ
nước thấp hơn 0.6.
- Mật ong có tỉ trọng 1.36kg/lít( lớn hơn 40% so với tỉ trọng của nước)
- Mật ong thường xuyên chứa các nội bào tử các vi khuẩn không hoạt
động Clostridium botulinum mà có thể nguy hiểm cho trẻ nhỏ do các nội bào
tử này có thể chuyển hóa thành các vi khuẩn tạo ra chất độc trong ruột trẻ nhỏ
và dẫn đến bệnh tật và thậm chí tử von
- Tính chất ở mật ong thay đổi tùy theo từng vùng, từng tỉnh và từng thời
kỳ lấy mật. Đặc biệt, mật ong có thể có chất độc nếu ong hút mật ở những cây
có hoa độc như hoa phụ tử, hoa thuốc lá, hoa cà độc dược. Màu sắc và hương
vị của mật ong khác nhau tùy thuộc vào nguồn hoa lấy mật.Đó là cơ sở khoa
học để phân biệt mật ong từng tỉnh như: mật ong Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh
Phúc, Phú Thọ, Quảng Ninh v.v... của ta.Khi soi mật ong dưới kính hiển vi, ta
sẽ thấy phấn hoa của nhiều loại cây khác nhau, người ta có thể dựa vào sự có
mặt của một số loại phấn hoa để xác định mật ong của vùng nào.
III. CÔNG DỤNG CỦA MẬT ONG
1. Tác dụng dinh dưỡng


- Mật ong là một loại thưc phẩm rất tốt do có 2 loại đường Dextrose
cung cấp năng lượng cho cơ thể do khả năng hấp thụ nhanh ở ruột và
Fructose có tác dụng duy trì lượng đường trong máu.
Dùng mật ong vào bữa điểm tâm, cơ thể có ngay được một lượng
dự trữ năng lượng từ sáng. Dùng 2 thìa canh mật ong trước thi đấu sẽ đạt
thành tích cao hơn. Giữa các hiệp đấu bóng (bóng đá, bóng rổ, bóng
chuyền), vận động viên dùng mật ong vào giờ giải lao thì khi vào hiệp 2 họ
thi đấu dễ dàng hơn vì chóng lại sức.
- Người ta còn dùng phấn hoa ong chế thành dạng viên cung cấp năng
lượng cho cơ thể, chống mệt mỏi, làm tinh thần phấn chấn do trong thành

phần của phấn hoa ong có các Protein, các Hydrat Carbon tạo năng lượng,
các vitamin và muối khoáng làm cho cơ thể khỏe mạnh
2.
Chữa viêm loét dạ dày tá tràng
• Do tính chất diệt khuẩn của mật ong đặc biệt tốt với vi khuẩn
H.Pylori, là một loại xoắn khuẩn gây viêm loét ở dạ dày, do đó mật ong
được dùng để chữa lành vết loét.
• Cách dùng: mỗi ngày uống 10 ml mật ong pha với 1 ly nước ấm,

nhấpdần từng ngụm cho tới hết, sau một thời gian vết loét sẽ liền sẹo. Có
thể trộn mật ong với bột nghệ hoặc chế thành viên nghệ mật ong để dùng.
3. Làm lành vết thương

Mật ong được sử dụng như một chất làm lành vết thương hiệu
quả. Đặc tính chống vi khuẩn của mật ong giúp chống lại sự nhiễm trùng ở
vết thương. Hoạt chất chống viêm trong mật ong làm giảm sưng tấy và làm
vết thương mau lành.
Khi da bị trầy xước, làm sạch vết thương rồi bôi mật ong lên, vết
xước sẽ mau lành và không bị nhiễm trùng, sưng tấy.
4. Trị ho, cảm cúm
Nếu bị cảm cúm, nên uống một cốc nước chanh nóng, pha thêm
hai thìa mật ong.
Nếu bị ho, lấy một quả chanh tươi, khía kiểu múi khế ở lớp vỏ
ngoài, sau đó cho một vài thìa cà phê mật ong cho ngấm đủ toàn bộ quả
trong chanh trong một cái chén. Để khoảng 1-2 tiếng rồi cắt ra ngậm.
5.
Một số công dụng khác
Mật ong đánh kem với lòng đỏ trứng gà, ăn mỗi ngày một quả sẽ
làm
da

dẻ
hồng
hào,

thể
khỏe
mạnh.
-Mật ong trộn với tam thất, ăn mỗi bữa một chén con sẽ giúp cơ thể hồi
phục
sau
khi
ốm
dậy.
Để giấc ngủ đến nhanh chóng và êm dịu, hòa hai thìa mật ong vào một cốc
sữa tươi nóng và uống từng ngụm nhỏ.
Mật ong tẩm vào bông có thể đánh sạch tưa lưỡi của trẻ.
-


IV. CÁCH BẢO QUẢN MẬT ONG
- Do mật ong rất nhạy cảm với nhiệt độ và
ánh sáng mặt trời nên phải đựng mật ong trong
những lọ, chai thuỷ tinh mờ và để ở những nơi
mát mẻ (nhiệt độ không quá 36oC).
- Không nên để mật ong ở những nơi ẩm thấp
và tránh tiếp xúc với không khí vì làm như vậy
mật ong sẽ bị lên men và biến chất.
- Nên đổ đầy đầy mật ong trong các vật chứa
và đóng nắp kín để hạn chế sự hút ẩm của mật.
- Không nên lưu giữ mật ong quá lâu (chỉ 2 năm trở lại). Nếu để lâu thì

chất lượng của mật sẽ giảm, nhiều chất dinh dưỡng trong mật đều bị phân
huỷ.
- Không cất mật ong gần nơi có mùi xăng, dầu, hành, tỏi… để tránh việc
làm mất phẩm chất của mật.

Các
tác
nhân
làm
mật
ong
kết
tinh:
- Mật ong dạng thô còn chứa nhiều phấn hoa thì nhanh bị kết tinh hơn mật
ong
tinh
khiết.
- Nhiệt độ lạnh cũng là một nguyên nhân làm mật ong kết tinh
 Làm mật ong hết kết tinh, hãy hâm nóng cách thuỷ, nhưng đừng đun
nóng quá hoặc đun sôi vì sẽ làm mất hương vị vốn có của mật ong.

V. CÁCH NHẬN BIẾT MẬT ONG TỐT
Mật ong giả là loại mật ong đã bị hoà lẫn với các loại: nước đường, muối ăn,
đạm hoá học, tinh bột, đường mạch nha... Mật ong chính hiệu đặc quánh, độ
kết dính cao, có mùi thơm, có các màu trắng, vàng nhạt hay hồng nhạt, trông
rất trong. Đây là một số cách nhận biết mật ong thật:
- Múc một ly nước trong rồi lấy chiếc đũa nhúng vào chai mật ong, cho nhỏ
một giọt vào ly nước, nếu giọt mật rơi ngay xuống đáy ly là thiệt.
- Nhỏ một giọt lên tờ giấy trắng, rồi cầm nghiêng tờ giấy, nếu mật ong
không chảy là thiệt. Mật ong chính hiệu sẽ thấm vào giấy rất chậm, còn loại giả

thì chỉ vừa phết lên giấy là đã thấm ướt ngay.
- Dùng một que tre sạch khuấy đều lên. Nếu trong mật ong có trộn lẫn các
chất khác thì sẽ thấy màu đùng đục hiện lên, còn mật chính hiệu thì không có
hiện tượng ấy.


- Dùng chiếc đũa tre sạch khêu một ít mật ong rồi kéo thành sợi, sợi kéo dài
thì sẽ đứt, nếu bị đứt mà nó co lại thành hình cục tròn thì đấy là loại hảo hạng.
Loại này, khi sợi kéo lên mà chảy xuống thì sẽ xếp nếp hình chóp.
- Mật ong nguyên chất thì khuấy thấy rất mềm, thò ngón tay vào không thấy
cảm giác sàn sạn, bỏ vào miệng nếm thì thấy tan rất nhanh. Còn mật ong giả thì
khi khuấy có cảm giác cưng cứng, đưa ngón tay vào day day thì thấy có cảm
giác sàn sạn, bỏ vào miệng nếm thấy tan rất khó.
- Mật ong nguyên chất thì khi nhấm có vị ngọt đậm, mùi thơm đậm, ngọt
nhưng không ngấy. Còn mật ong giả thì độ ngọt và mùi thơm đều nhạt, có thể
có mùi lạ, khi nuốt thấy có cảm giác vương vướng ở cổ.
VI. LƯU Ý KHI DÙNG MẬT ONG
- Không nên dùng mật ong cho các trường hợp ỉa chảy hoặc đầy bụng.
- Không nên dùng cho trẻ nhỏ, vì mật ong dễ bị trực khuẩn tấn công.
Chúng sẽ sinh sôi nẩy nở và thải ra chất độc.
- Khi mật ong xuất hiện bọt khí thì không nên để lâu. Nguyên nhân là trong
mật ong có một lượng đường khá lớn, nên có tính chất hút nước. Do sơ suất
trong bảo quản, lượng nước trong mật ong có thể tăng lên, nếu vượt quá
20% sẽ làm nấm men phát triển nhanh và phân giải các thành phần dinh
dưỡng, khiến mật biến chất. Bọt khí xuất hiện là dấu hiệu của sự biến chất
này.
- Không nên đựng và bảo quản mật ong trong đồ kim loại, vì trong mật ong
có axit hữu cơ và đường, dưới tác dụng của men, một phần các chất này sẽ
biến thành axit etylenic. Chất này sẽ ăn mòn lớp ngoài kim loại và làm tăng
hàm lượng kim loại trong mật ong, làm mật biến chất. Khi thành phần dinh

dưỡng của mật ong bị phá huỷ, người dùng dễ bị ngộ độc với các biểu hiện
như lợm giọng, nôn mửa.

C. CÁC SẢN PHẨM KHÁC TỪ ONG
I. SỮA ONG CHÚA
1. Định nghĩa
Sữa ong chúa là một loại dịch đặc biệt, do tuyến họng của ong
thợ tiết ra. Ấu trùng được nuôi bằng loại dịch mật này sẽ trở thành ong
chúa sống lâu gấp 50 lần ong thợ, và đây cũng là thức ăn của ong chúa nên
gọi là sữa ong chúa. Các loại ong trưởng thành không sử dụng sữa ong
chúa.
Mật ong thường và sữa ong chúa có khác nhau. Mật ong thường
không có các axit vô cơ, dextrin hay tinh bột chỉ có một số đường, axit hữu
cơ và các men tiêu hóa. Trong sữa ong chúa tỷ lệ đường ít hơn, có nhiều
chất mỡ, chất đạm và các vitamin hơn mật ong thường.


Tổ ong có chất lượng tốt có thể sản sinh khoảng 500g sữa ong
chúa trong khoảng 5-6 tháng. Những người nuôi ong thường lấy sữa ong
chúa từ tổ ong ra hai ba lần mỗi tuần và mỗi năm một tổ ong sản xuất ra
được 2-3 kilogram sữa ong
2.Thành phần hóa học
Nó còn chứa các sinh tố B complex gồm thiamine, riboflavin,
pyridoxine, niacin, pantothenic acid, biotin, inositol, và folic acid. Sinh tố
thì có A,C và E. Tới 20 chất amino acids tối cần thiết và nhiều loại khoáng
chất (minerals) như chất sắt, chất vôi, silicon và sulfur, phosphorous. Royal
jelly rất giàu protein, gồm. Nó cung cấp chất fatty acids quan trọng, các
chất đường, sterols, và acetylcholine, chất cần thiết trong việc chuyên chở
các tín hiệu trên giây thần kinh và giúp cho sự tiết các hạch tuyến.
Thành phần của Sữa ong chúa gồm có protein (với 20 axit amin cần thiết

cho hoạt động của cơ thể như cystine, lysine, và arginine ), glucid, lipid
(chủ yếu là DHA), chất quan trọng cho não bộ.
-

Thành phần cấu tạo sữa ong chúa gồm có:

67% nước
12,5% protein thô( bao gồm một lượng nhỏ các amino acid khác nhau)
11% đường đơn
5% acid béo.
Sữa ong chúa rất dồi dào chất nucleic acids, gồm DNA và RNA,
là chất căn bản của sự sống.
Sữa ong chúa còn có chất gelatin, chất sinh ra collagen. Collagen
là nhân tố mãnh liệt chống lại sự lão hóa (anti-ageing elements).
-

Ngoài ra, nó còn có nhiều vitamin nhóm B như vitamin B5( acid
pantothenic) và vitamin B6( pyridoxine)., biotin, PP… và các nguyên tố vi
lượng như chất khoáng vết, một số enzym, các chất kháng khuẩn và kháng
sinh và lượng rất nhỏ vitamin C. Trái với nhiều thông báo trên quảng cáo,
sữa ong chúa hoàn toàn không có vitamin A, D, E.
- Sữa ong chúa còn có sự hiện diện của chất gamma-globulin, là chất
chống nhiễm trùng và yếu tố tạo ra sự miển nhiễm.
- Ngoài ra trong sữa ong chúa còn chứa thêm chất decanoic acid, là
chất có khả năng diệt trùng và diệt nấm rất mãnh liệt. Nếu sữa ong chúa
không có chất này thì với sự dồi dào chất dinh dưỡng của sữa ong chúa sẽ
là môi sinh lý tưởng cho các loại vi khuẩn nguy hiễm sinh sôi nẫy nỡ.
- Đặc biệt, trong Sữa ong chúa có chứa nhiều hoóc môn giúp kích thích
tăng trưởng và cải thiện chức năng sinh lý rất rõ.



3.Tác dụng của sữa ong chúa
o Sữa ong chúa rất bổ dưỡng cho sức khoẻ, tăng cường sự dẻo dai cho
cơ thể.
o Ngăn ngừa ung thư, tác động mạnh đến hệ tim mạch như điều hoà
huyết áp, duy trì tính đàn hồi của mạch máu, bảo vệ cơ tim và tăng khả
năng làm việc của cơ tim.
o Sữa ong chúa còn có tác dụng chống dị ứng và viêm xoang mũi, tăng
cường chức năng hệ miễn nhiễm của cơ thể
o Sữa ong chúa có thể kích thích sự phát triển của các tế bào thần kinh
đệm và các tế bào thân nơron trong não. Nó cũng được xem là nhân tố hữu
ích chống bệnh Parkinson.
o Sữa ong chúa đặc biệt tốt cho làn da. Sữa ong chúa làm tăng sinh và
kéo dài tuổi thọ tế bào da rõ rệt, giúp da trắng hồng, căng mịn, ngoài ra còn
có khả năng sữa chữa những tế bào da bị tổn thương do hoá chất, tia xạ, tia
cực tím gây ra. Sữa ong chúa rất hiệu nghiệm trong việc chữa trị các trường
hợp da bị lão hoá, nám, sạm do tác động của môi trường và nhất là do thay
đổi nội tiết tố ở phụ nữ
o Đặc biệt nó có tác dụng điều hoà miễn dịch, kích thích sự phát dục
của cơ thể ở cả hai giới, cải thiện chức năng sinh lý rõ rệt, làm tăng khả
năng thụ thai (trẻ em đang phát triển tốt không nên dùng vì kích thích sự
phát dục sớm).
4.Cách sử dụng
- Có thể uống, nhỏ giọt dưới lưỡi, bôi bên ngoài, thậm chí tiêm bắp.
Thông dụng nhất là uống, tùy theo mục đích sử dụng mà liều lượng uống có
khác nhau.
- Sữa ong chúa không uống riêng, khi dùng thường theo cách phối hợp 1%
sữa ong chúa với mật ong hoặc có thể thêm rượu trắng.
- Liều dùng: Trẻ dưới 5 tuổi uống 5mg/ngày; từ 5 – 10 tuổi : 10mg/ngày;
trên 10 tuổi: 20mg/ngày, chia làm hai lần sáng và chiều.

- Thời gian tác dụng sau uống 4 tuần, liệu trình uống một đợt có thể kéo dài
6 – 10 tuần.
5.Bảo quản
 Bảo quản trong tủ lạnh (để trong tủ đá) có thể dùng trong một năm. Trộn
sữa ong chúa với mật ong theo tỷ lệ 5 phần sữa ong chúa và 95 phần mật ong.
 Vì sữa ong chúa rất mau hư hỏng, các nhà sản xuất phải có biện pháp tồn
trữ lạnh ngay lập tức sau khi thu sản phẩm( có thể để trong tủ lạnh gia đình hay
máy ướp lạnh) để bảo quản sữa ong chúa cho tới khi nó được bán hoặc chuyên
chở đi. Nó thường được kết hợp với mật ong hoặc sáp ong để bảo quản.



Việc bào chế ra những sản phẩm từ Sữa ong chúa để tiện sử dụng rất
khó khăn. Vì Sữa ong chúa rất nhanh hỏng, phải bảo quản lạnh trong những
bao bì kín, tránh tiếp xúc với không khí. Tuy nhiên, qua nhiều năm nghiên cứu,
Việt Nam đã thành công trong việc sản xuất ra viên nang mềm Sữa ong chúa
kết hợp với Dầu gấc và vitamin E thiên nhiên, vừa giúp bảo quản tối đa hoạt
chất, vừa tiện dụng.
II. PHẤN HOA ONG
1. Khái quát
Phấn hoa ong là phần trên các nhị hoa mà trong khi hút mật, ong gom lại và
đem về tổ. Thành phần của Phấn hoa ong cũng giống như Sữa ong chúa gồm các
chất đường, chất béo, các protein đầu bảng và các chất khoáng – vitamin. Chính
các chất vitamin và khoáng chất này kích thích hoạt động của các tuyến làm
chấn hưng và tăng cường sinh lực.
2. Thành phần hóa học
- Giàu vitamine, proteine, glucid.
- Phấn hoa còn chứa nhiều acid amine và nguyên tố vi lượng.
3. Tác dụng của phấn hoa ong
 Phấn hoa ong có vị ngọt, tính bình, thường được dùng để trị các chứng:

- Hoa mắt chóng mặt, đau lưng, mỏi gối.
- Mất ngủ, ăn kém, tiểu đêm nhiều lần.
- Suy giảm tình dục, liệt dương, di tinh.
- Mệt mỏi rã rời, bồn chồn, bực bội.
- Xuất tinh sớm, muộn con, tắt kinh sớm.
- Làm săn chắc, kích thích, làm cân đối và loại bỏ độc tố.
- Chữa bệnh biếng ăn, chữa thiếu máu, chữa mệt mỏi
- Phấn hoa còn rất có tác dụng trong việc chữa rụng tóc.
 Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy Phấn hoa ong có tác dụng phòng
chống một số bệnh như:
- Tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.
- Đái tháo đường.
- Viêm dạ dày.
- Viêm gan.
- Giảm khả năng phì đại của tuyến tiền liệt.
- Phòng chống ung thư, tăng cường khả năng tình dục.
3. Cách dùng
- Thường dùng Phấn hoa ong bằng cách ăn tự nhiên hoặc pha với nước sôi
để uống, ngâm rượu hoặc trộn với Mật ong để dùng,
- Liều dùng: 5g chia uống 2 – 3 lần/ngày.
- Phấn hoa còn được chế biến cùng thức ăn (chú ý phải ở nhiệt độ thấp để
không làm mất đi các chất bổ cho cơ thể).
III. TỔ ONG


Trong keo ong có chứa tới 30% là sáp, 50% là nhựa và nhựa thơm, 10%
dầu tự nhiên.
Keo ong có tác dụng chống khuẩn, chống oxy hoá, chống nấm, nhanh làm
liền sẹo, chống viêm nhiễm và có tác dụng gây tê. Vì vậy keo ong cũng được
dùng nhiều trong việc chữa các bệnh viêm nhiễm đường hô hấp như đau họng,

viêm họng, viêm xoang, sổ mũi dị ứng.
Keo ong còn được dùng rộng rãi để sản xuất kẹo cao su, siro ho, kem
đánh răng...
Sáp ong: được sử dụng trong việc sản xuất xi đánh giày, xi đánh bóng
gỗ.



×