Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

TIỂU LUẬN tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về kết hợp sức MẠNH dân tộc với sức MẠNH THỜI đại đễ xây DỰNG CHỦ NGHĨA xã hội

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (152.15 KB, 19 trang )

1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI
SỨC MẠNH THỜI ĐẠI ĐỂ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá
nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đoàn kết toàn dân
tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân
và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát
triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư; về chăm lo
bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh... Tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một bộ
phận quan trọng trong tư tưởng của Người. Trước những biến đổi nhanh chóng,
phức tạp của tình hình thế giới, trong nước và khu vực, để công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội đi đến thành công, một trong những điều kiện quan trọng là phải
biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Vậy những nội dung tư
tưởng đó của Người là gì, ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay ra sao?
NỘI DUNG
1. Nội dung Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại.


2

Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một tư tưởng lớn của chủ


tịch Hồ Chí Minh, một trong những bài học thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nhân tố đã làm nên thắng lợi vĩ đại
và hào hùng của dân tộc ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất
đất nước. Bằng sự kết hợp chặt chẽ giữa phát huy sức mạnh của cả dân tộc với tranh
thủ sự ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh thần của các lực lượng cách mạng và loài
người tiến bộ khắp năm châu, đặt cách mạng nước ta trong trào lưu chung của cách
mạng thế giới để tạo thành sức mạnh tổng hợp, chúng ta đã đè bẹp ý chí của quân
xâm lược lớn hơn ta rất nhiều lần. Cũng chính sự kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại là nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của công cuộc
đổi mới của Đảng và nhân dân ta
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về giải quyết các mối
quan hệ: giai cấp- dân tộc; quốc gia - quốc tế; giai cấp – dân tộc và nhân loại.
Mác - Ăng ghen trong quá trình nghiên cứu lịch sử xã hội loài người trên cơ sở
phép biện chứng duy vật đã chỉ ra: Giải phóng giai cấp vô sản là sự nghiệp của
chính bản thân giai cấp vô sản nhưng để có lực lượng cách mạng to lớn thì “ Giai
cấp vô sản tất cả các nước liên hiệp lại”. Đó là một chủ trương chiến lược khoa
học đúng đắn. Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp quốc tế,
nhưng trước hết nó phải diễn ra trên từng địa bàn dân tộc, giai cấp vô sản mỗi
nước trước tiên phải hoàn thành cách mạng ở nước mình, vươn lên thành dân
tộc, đại biểu lợi ích của toàn dân tộc. Các ông còn chỉ ra: hãy xoá bỏ tình trạng
giai cấp này áp bức, bóc lột giai cấp khác thì sẽ xoá bỏ được tình trạng dân tộc
này áp bức, bóc lột dân tộc khác. Mối quan hệ giai cấp và dân tộc gắn bó chặt
chẽ với nhau. Tuy nhiên, lúc đó vấn đề giai cấp được đặt lên hàng đầu. Lênin là
người đã kế thừa chủ nghĩa Mác trong điều kiện chủ nghĩa tư bản đã chuyển


3

thành chủ nghĩa đế quốc, những biến đổi của tình hình thế giới có nhiều thay đổi
so với thời kỳ Mác – Ăng ghen. Lênin đã phát triển khẩu hiệu chiến lược của

Mác thành “ Giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức liên hiệp lại”. Đây cũng là
một phát kiến vĩ đại, phù hợp với tình hình mới của thời đại. Lênin đã đưa ra
cương lĩnh dân tộc gồm 3 nội dung cơ bản để giải quyết quan hệ giai cấp, dân
tộc, quốc gia, quốc tế trong tình hình mới. Người còn đưa ra cương lĩnh dân tộc
và thuộc địa, Người kêu gọi các nhà cách mạng phương Đông: “Trước mắt các
bạn đang có một nhiệm vụ mà trước kia những người cộng sản thế giới không
có: dựa vào lý luận và thực tiễn chung của chủ nghĩa cộng sản áp dụng vào
những điều kiện đặc biệt, không có ở các nước châu Âu, các bạn phải biết vận
dụng lý luận và thực tiễn ấy vào điều kiện, khi nông dân là quần chúng cơ bản,
khi cần phải giải quyết nhiệm vụ đấu tranh không phải chống tư bản mà chống
những tàn tích của thời trung cổ”. Với tư tưởng quan trọng này đã chi phối toàn
bộ tư duy chính trị Hồ Chí Minh khi bắt gặp chủ nghĩa Lênin.
Xuất phát từ quan điểm về sức mạnh quần chúng và sức mạnh tổng hợp của
chủ nghĩa Mác – Lênin. Quần chúng nhân dân vừa là chủ thể của lịch sử vừa là
người sáng tạo ra lịch sử. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của quần chúng,
nhưng không phải là một đám quần chúng ô hợp mà phải được tổ chức, giáo dục,
giác ngộ. Sức mạnh của giai cấp nông dân được Lênin ví như bao khoai tây nếu
đổ ra lăn mỗi nơi mỗi củ, nhưng đựng vào bao tải nó sẽ tạo nên sức mạnh vô
địch đè bẹp mọi kẻ thù. Vì vậy, “ Tổ chức, tổ chức và tổ chức, hãy cho tôi một tổ
chức, tôi sẽ làm đảo lộn nước Nga”. Cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là kết
hợp giữa điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan, nhân tố bên trong kết hợp với
nhân tố bên ngoài, trong đó nhân tố bên trong giữ vai trò quyết định.


4

Là nhà yêu nước vĩ đại, rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, Người mang
theo nhận thức và niềm tin bất diệt vào sức mạnh dân tộc. Lòng yêu nước Việt
Nam đã trở thành sức mạnh, một đạo lý, một lẽ sống của mỗi người dân, Người
nhận thấy: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý

báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi
nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”. Chính với
nhận thức sâu sắc về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, Hồ
Chí Minh đã khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Hơn
nữa, trong cuộc đấu tranh giành độc lập “Người ta sẽ không thể làm gì được cho
người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời
sống của họ”. Nhận thức của Hồ Chí Minh về sức mạnh thời đại được hình thành
từng bước thông qua hoạt động thực tiễn phong phú, từ đó tổng kết thành lý
luận. Sự phát triển khách quan của lịch sử đã tạo ra những điều kiện quốc tế và
trong nước đưa Hồ Chí Minh đến con đường cách mạng vô sản.
Qua khảo sát thực tế về chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh đã nhận thức sâu
sắc về chủ nghĩa đế quốc, đó là một lực lượng phản động quốc tế, là kẻ thù
chung của nhân dân lao động ở cả chính quốc và thuộc địa. Vì vậy, muốn đánh
thắng chúng, phải thực hiện khối liên minh giữa lao động ở các thuộc địa với
nhau và giữa lao động ở thuộc địa với vô sản ở chính quốc. Đây chính là điểm
vượt lên, hơn hẳn của Hồ Chí Minh so với các lãnh tụ yêu nước ở Việt Nam đầu
thế kỷ XX. Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại nổ ra và thắng lợi mở ra một
chương mới trong lịch sử loài người, là một hiện tượng mới trong lịch sử phát
triển của xã hội loài người, nó chứng minh chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ
nghĩa tư bản là một xu thế khách quan. Sự kiện lịch sử quan trọng này đã đưa


5

đến sự khẳng định mạnh mẽ của Hồ Chí Minh: Trên thế giới bây giờ chỉ có cách
mạng Nga là cuộc cách mạng đến nơi đến chốn. Người Việt Nam muốn được
giải phóng phải đi theo con đường cách mạng tháng Mười. Nói cách khác, con
đường cách mạng Việt Nam chỉ có thể là con đường cách mạng vô sản
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc là sức mạnh tổng hợp

của các cộng đồng quốc gia dân tộc và các dân tộc trong một quốc gia gồm cả
sức mạnh vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội, an ninh, quốc phòng, được xây dựng và tăng cường trong mỗi giai đoạn và
cả quá trình lịch sử dân tộc. Nó quyết định sự trường tồn phát triển của mỗi dân tộc
và các quốc gia dân tộc. Như vậy, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc
được biểu hiện thông qua: Sức mạnh của thể chế chính trị; tiềm lực kinh tế, chính
trị, quốc phòng an ninh; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh của
truyền thống và các giá trị văn hóa được khơi dậy, phát huy trong đó yếu tố quyết
định để phát huy sức mạnh dân tộc là giữ vững tinh thần độc lập tự chủ, tự lực tự
cường dựa vào sức mình là chính và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sức mạnh thời đại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là sức mạnh chân lý, lẽ
phải, niềm tin, trí tuệ của nhân loại. Là tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội và các
nhân tố tiến bộ xã hội của thời đại. Biểu hiện của sức mạnh thời đại chính là sự
hình thành, tồn tại và phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới cùng
với tính ưu việt của nó đã trở thành một nhân tố làm nên sức mạnh thời đại. Sức
mạnh thời đại còn là những thành tựu của khoa học công nghệ, thế giới ngày nay
đang tiến những bước khổng lồ về mặt kiến thức của con người. Khoa học tự
nhiên cũng như khoa học xã hội không ngừng mở rộng ra những chân trời mới,
con người ngày càng làm chủ được thiên nhiên, cũng như làm chủ được vận
mệnh của xã hội và của bản thân mình và sức mạnh của các lực lượng yêu


6

chuộng hòa bình trên thế giới, của tình đoàn kết quốc tế vô sản vô tư trong
sáng…Tiếp cận chủ nghĩa Mác – Lênin, cụ thể là vấn đề giải quyết mối quan hệ
mối quan hệ giai cấp - dân tộc - nhân loại; về quan điểm sức mạnh quần chúng
và sức mạnh tổng hợp, qua thực tiễn hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh ngày
càng nhận thức được tầm quan trọng và nội dung của việc kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại. Người khẳng định, sức mạnh của dân tộc chỉ được

phát huy đầy đủ và đưa đến thắng lợi khi biết kết hợp chặt chẽ với sức mạnh thời
đại. Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX cho thấy không phải vì nhân dân ta thiếu anh hùng, các lãnh tụ phong
trào đó kém nhiệt huyết mà chủ yếu là do không nhận thức được đặc điểm, bản
chất của thời đại, không tận dụng được sức mạnh của thời đại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là
một hệ thống luận điểm khoa học thấm đượm tinh thần độc lập, tự chủ và tinh thần
quốc tế trong sáng, những tư tưởng của Người về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại được thể hiện sâu sắc trên những luận điểm sau:
Một là, Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó với
cách mạng vô sản thế giới.
Ra đi tìm đường cứu nước, hành trang của Người là chủ nghĩa yêu nước nhân văn Việt Nam và khát vọng giành độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào,
trải qua cuộc sống lao động, học tập, nghiên cứu lý luận và nhất là qua thực tiễn
đấu tranh cách mạng phong phú ở nhiều nước. Hồ Chí Minh đã thấy vấn đề giải
phóng dân tộc và con người là nhu cầu cấp thiết không chỉ của Việt Nam mà của
tất cả các dân tộc thuộc địa và nhân dân bị áp bức trên toàn thế giới. Tiếp thu thế
giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin,
bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và


7

tính chất của thời đại mới mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã đi tới
khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản". Chính nhờ nắm bắt được đặc điểm và xu thế phát
triển của thời đại mà Hồ Chí Minh đã xác định chính xác đường lối chiến lược,
sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải
phóng dân tộc Việt Nam theo con đường của cách mạng vô sản. Một điểm sâu
sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế quốc
không chỉ áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc, mà còn

thống trị nhân dân lao động và giai cấp vô sản chính quốc. Chủ nghĩa đế quốc
giống như "con đỉa" hai vòi. Người khẳng định, muốn tiêu diệt con đỉa đó, phải
đồng thời cắt đứt cả hai vòi, tức là phải kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc ở
thuộc địa với cách mạng vô sản ở chính quốc. Đồng thời cách mạng giải phóng
dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản, tức là phải đi
theo đường lối Mác-Lênin.
Hồ Chí Minh chính là người Việt Nam đầu tiên phá thế đơn độc của cuộc
đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Người chỉ rõ: “Cách mệnh
An Nam cũng là một bộ phận trong cách mệnh thê giới. Ai làm cách mệnh trong
thế giới đều làm đồng chí của dân An Nam”. Đặc biệt Người còn chỉ ra một
trong những nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông đó là
sự biệt lập, thiếu sự tin cậy lẫn nhau và sự hành động phối hợp với nhau. Ðặt
cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa trong quỹ đạo của cách mạng
vô sản và là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Ðó là con đường
cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân do Ðảng Cộng sản của giai cấp công nhân
lãnh đạo nhằm đánh đế quốc và phong kiến tay sai, giành độc lập dân tộc, thực


8

hiện người cày có ruộng, sau đó tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Ðó là
đường lối giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp và giải phóng con người.
Không chỉ khai thông bế tắc trong đường lối giải phóng dân tộc, mà còn
giải quyết đúng đắn, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thắng lợi các vấn đề trọng
yếu nhất của cách mạng nước ta. Ðó là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước để xây dựng Ðảng Cộng sản Việt

Nam xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc. Ðó là việc xây dựng thành công lực
lượng cách mạng với Mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi, xây dựng lực lượng vũ
trang nhân dân anh hùng, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Ðó là việc
xác định chính xác phương pháp cách mạng phù hợp với thực tiễn đất nước để
thực hiện thành công các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trước các biến động
hết sức phức tạp trong các quan hệ quốc tế.
Hai là, Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô
sản, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Từ vị trí của người dân thuộc địa mất nước, từ truyền thống dân tộc Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh
thần dân tộc chân chính, coi đó là một động lực lớn mà những người cộng sản
phải nắm lấy và phát huy. Đồng thời phải ra sức phát triển tinh thần yêu nước,
làm cho nó được thực hành vào công việc yêu nước, công việc kháng chiến.
Người luôn nhắc nhở nhân dân ta rằng: “Tinh thần yêu nước chân chính khác
hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ phận của


9

tinh thần quốc tế”. Cách mạng giải phóng dân tộc khi đã đặt vào quỹ đạo cách
mạng vô sản thì chủ nghĩa yêu nước truyền thống sẽ phát triển thành chủ nghĩa
yêu nước hiện đại, kết hợp trong đó cả chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế
vô sản. Trong thời đại Hồ Chí Minh chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được nâng
lên tầm cao mới, được đúc kết nổi bật thành chân lý “không có gì quý hơn độc
lập tự do”, “chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất
định không chịu làm nô lệ”.
Là nhà yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh đã triệt để phát huy sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Đồng thời là nhà quốc tế chủ nghĩa trong
sáng, Người đã suốt đời đấu tranh để củng cố và tăng cường tình đoàn kết và hữu

nghị giữa Việt Nam và các dân tộc khác đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là tư tưởng chủ đạo, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình hình thành, phát
triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự gắn bó hữu cơ giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa
xã hội là tư tưởng quan trọng, nhất quán của Hồ Chí Minh. Nó phản ánh quá trình
tất yếu của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, quốc
gia và quốc tế và đã phát huy tối đa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa
dân tộc ta vượt mọi khó khăn. Độc lập dân tộc chính là mục tiêu trước mắt, là tiền
đề để tiến lên thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Độc lập dân tộc là mục tiêu cao
cả, là giá trị tinh thần quý nhất của người Việt Nam, là sự thể hiện tập trung của
chủ nghĩa yêu nước và ý chí tự lực, tự cường Việt Nam. Đây chính là nguồn sức
mạnh vô tận của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, theo Hồ Chí Minh, để giành
được độc lập dân tộc, đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ sức mạnh của yếu tố dân tộc
với chủ nghĩa quốc tế. Xây dựng chủ nghĩa xã hội là bước phát triển tất yếu, là


10

điều kiện vững chắc để bảo vệ và củng cố nền độc lập. Cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp
công nhân đã thể hiện sâu sắc vấn đề dân tộc được nhận thức và giải quyết trên lập
trường của giai cấp công nhân. Vì vậy, cách mạng dân tộc dân chủ sau khi thắng
lợi sẽ chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là bước phát triển tất yếu. Chỉ
có chủ nghĩa xã hội mới xóa bỏ được tận gốc tình trạng người bóc lột người, tình
trạng áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, để đi tới một xã hội dân giàu, nước mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh. Ngay sau cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã
chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự
do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ”. Người còn nhấn mạnh, sau khi giành được độc lập,

cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa
thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn, vì “có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân
mình mới ngày càng no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.
Ba là, Dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các
nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại, đồng thời không quên nghĩa vụ
quốc tế cao cả.
Hồ Chí Minh xác định sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định trong mối
quan hệ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh thời đại có vai
trò quan trọng, sức mạnh thời đại chỉ phát huy thông qua sức mạnh dân tộc. Vì
vậy, trong đấu tranh cách mạng, Người luôn nêu cao khẩu hiệu “tự lực cánh sinh,
dựa vào sức mình là chính”. “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi
chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Độc lập tự chủ, tự
lực cánh sinh là tư duy nổi bật, nhất quán trong toàn bộ hoạt động chính trị của
Hồ Chí Minh. Nguyên lý chủ yếu, xuyên suốt trong tư tưởng của Người đó là:


11

“Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã”. Độc lập
tự chủ thể hiện trước hết ở tư duy nhận thức và hành động tự chủ, sáng tạo, không
giáo điều và dập khuôn. Từ quan điểm mácxít về vai trò quyết định của nhân tố
bên trong khi giải quyết mâu thuẫn, Hồ Chí Minh chủ trương tận lực phát huy sức
mạnh của dân tộc, sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước, đại đoàn kết dân tộc, chủ
động xây dựng lực lượng cách mạng để đón bắt thời cơ. Đó là cơ sở để thực hiện
hợp tác quốc tế và tranh thủ sự giúp đỡ bên ngoài. Trong quan hệ quốc tế và đối
ngoại của Việt Nam, Hồ Chí Minh khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều
khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”.
Trong lời kêu gọi gửi tới những người anh em ở thuộc địa, Người viết: Anh em
phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Mác, chúng tôi xin
nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực hiện được bằng

sự nỗ lực của bản thân anh em.
Độc lập tự chủ nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc chính đáng, thực hiện các
quyền dân tộc cơ bản trong điều kiện lợi ích của các dân tộc đan xen, chồng
chéo. Nhưng độc lập tự chủ và tự lực tự cường xa lạ với sự biệt lập và chủ nghĩa
biệt phái. Để chiến thắng những kẻ thù mạnh hơn mình gấp nhiều lần trong bối
cảnh thời đại mới, Hồ Chí Minh luôn chủ trương tăng cường đoàn kết và tranh
thủ hợp tác quốc tế và coi đây là một vấn đề có tầm chiến lược hàng đầu trong
đường lối cách mạng Việt Nam. Mục tiêu của đoàn kết và hợp tác quốc tế là tập
hợp lực lượng bên ngoài, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và sự giúp đỡ quốc tế,
đặc biệt là sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại
tiến bộ trên thế giới làm tăng thêm khả năng tự lực tự cường, tạo điều kiện làm
chuyển biến so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng. Hồ Chí Minh đánh giá cao
sự ủng hộ vật chất và tinh thần của các nước bạn, trước hết là Liên Xô và Trung


12

Quốc. Người nhấn mạnh: “Tinh thần quốc tế ấy là một trong những điều kiện
giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công”. Vì vậy, theo tư tưởng Hồ
Chí Minh, độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn với đoàn kết và hợp tác quốc
tế nhằm tăng cường nội lực và sức mạnh tổng hợp để thực hiện các nhiệm vụ
chiến lược của mình. Đồng thời, nhân dân Việt Nam có nghĩa vụ đóng góp vào
sự nghiệp đấu tranh của nhân thế giới theo tinh thần “người cùng một hội một
thuyền, phải giúp đỡ lẫn nhau”, phải coi “giúp bạn tức là tự giúp minh”. Để tranh
thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, sự đồng tình, ủng
hộ của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, Người yêu cầu Đảng ta phải
có đường lối độc lập, tự chủ đúng đắn. Trong đường lối đó, phải kết hợp chặt chẽ
mục tiêu đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình với các mục tiêu cơ bản
của loài người tiến bộ là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Bên cạnh đó, Người cũng yêu cầu Đảng ta phải động viên nhân dân ta tích cực

thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Không chỉ trên phương diện lý luận,
bằng hành động thực tế, theo tinh thần vừa hợp tác vừa đấu tranh, Hồ Chí Minh
tích cực hoạt động nhằm đoàn kết phong trào cộng sản và công nhân quốc tế,
trước hết là Liên Xô và Trung Quốc – mối quan hệ mà Người nhận thức có tầm
quan trọng quyết định đối với đoàn kết quốc tế xã hội chủ nghĩa.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh phấn
đấu không mệt mỏi cho việc tăng cường hiểu biết giữa các dân tộc, xây dựng
tình đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng, thúc đẩy quan hệ quốc tế hữu nghị
và hợp tác giữa các quốc gia, nhằm bảo vệ hòa bình và độc lập dân tộc. Mặt
khác, Người kiên quyết đấu tranh chống chiến tranh xâm lược, cường quyền, áp
đặt trong quan hệ quốc tế, cũng như mọi hành động can thiệp và xâm phạm lợi
ích chính đáng của các dân tộc.


13

Bốn là, Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với
tất cả các nước dân chủ”.
Hồ Chí Minh là người đã đặt cơ sở đầu tiên cho tình hữu nghị giữa nhân
dân Việt Nam với nhân dân nhiều nước trên thế giới. Sự hiểu biết và tin cậy lẫn
nhau giữa Việt Nam và các nước đã được Người tạo dựng ngay từ những năm
tháng Người bôn ba ở nước ngoài. Từ khi nước ta giành được độc lập, những
hoạt động ngoại giao không mệt mỏi của Người đã nâng cao địa vị của nước ta
trên trường quốc tế, tăng cường quan hệ hữu nghị với các nước, các dân tộc.
Phương châm đối ngoại mà Hồ Chí Minh đề ra cho Việt Nam sau khi nước ta
giành được độc lập là sẵn sàng làm bạn với mọi nước dân chủ không gây thù oán
với bất cứ một ai: “Chính sách ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức
là thân thiện với tất cả các nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hoà bình”. Ngay
đối với nước Pháp, nước đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam,
Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân

Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ
muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan
nghênh họ như anh em bầu bạn”.
Trong quan hệ với tất cả các nước, Hồ Chí Minh đã giành ưu tiên cho quan hệ
với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và các nước láng giềng gần gũi với Việt
Nam. Người nhấn mạnh sự hợp tác toàn diện với các nước xã hội chủ nghĩa, là yếu
tố rất quan trọng để ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, thúc đẩy sự tiến bộ và củng cố
độc lập dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, quan hệ với các nước láng giềng luôn có tầm
quan trọng đặc biệt đối với nước ta vì trước hết phải xây đắp và củng cố được mối
quan hệ hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng có chung biên giới thì mới giữ
“nội yên, ngoại tĩnh” từ đó mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế


14

giới. Hồ Chí Minh cũng hết sức coi trọng thiết lập mối quan hệ hữu nghị và mở
rộng hợp tác với các nước có chế độ chính trị khác nhau. Điểm then chốt của tư
tưởng Hồ Chí Minh là mở rộng quan hệ quốc tế, với phương châm “làm cho
nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”.
Đoàn kết, hữu nghị, giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác cùng có lợi trên cơ sở bình
đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào công việc nội
bộ của nhau là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về quan hệ Việt Nam với các
nước trên thế giới. Những hoạt động ngoại giao không mệt mỏi của Người đã
nâng cao địa vị của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Ý nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là
một bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng của Người. Nhờ thiên tài trí tuệ và
vốn hoạt động thực tiễn phong phú, Hồ Chí Minh đã sớm đến được với chủ nghĩa
Mác - Lênin. Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác-Lênin đã giúp cho

Người thấy rõ được đặc điểm và bản chất của thời đại, đặt cách mạng Việt Nam
trong sự gắn bó với cách mạng thế giới, đề ra được đường lối đúng đắn để dẫn dắt
nhân nhân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tư tưởng kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại trong đấu tranh giành chính quyền, giữ chính quyền và
xây dựng chính quyền, bảo vệ tổ quốc của Người đến nay không những nó vẫn còn
nguyên giá trị mà còn chứng minh tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin về sức
mạnh của quần chúng nhân dân khi đã được tập hợp.
Đối với lịch sử và hiện tại: Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ
nghĩa Mác - Lênin về vai trò sức mạnh của quần chúng nhân dân, nó chứng minh


15

tính đúng đắn quan điểm “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” mà chủ nghĩa
Mác - Lênin đã chỉ ra là hoàn toàn đúng đắn. Cách mạng Việt Nam đã giành được
nhiều thắng lợi vĩ đại, vượt qua mọi khó khăn thử thách để tiến lên. Đó là kết quả
của sự nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về mối quan hệ giữa dân tộc với thời đại, quốc gia với quốc tế, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển đất nước. Những thành công của
cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đã chứng minh giá trị, ý nghĩa to lớn của tư
tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Cách
mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi là kết quả của sự nỗ lực rất cao của toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân ta, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh về tự lực tự
cường “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Là điển hình của việc kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực với tranh thủ ngoại lực để
giành chính quyền. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức
mạnh tổng thể để đánh thắng kẻ địch mạnh ta gấp nhiều lần, là bài học lớn, vô cùng
quý báu mà chúng ta rút ra được trong tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước. Đó cũng chính là một quyết sách vô cùng đúng đắn của Đảng ta và chủ tịch

Hồ Chí Minh khi vạch ra đường lối quan hệ quốc tế lúc bấy giờ, góp phần quan
trọng dẫn đến thắng lợi hoàn toàn cho công cuộc giải phóng dân tộc và thống nhất
đất nước. Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất
vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Để giành thắng lợi, những người
cộng sản phải biết kết hợp sức mạnh của chính dân tộc mình với sức mạnh thời
đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế mới có thể giành thắng lợi.
Đối với cách mạng Việt Nam hiện nay: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh
nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế,


16

phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống
với yếu tố hiện đại” là một trong 5 bài học từ thực tiễn cách mạng phong phú mà
Đảng ta chỉ ra trong lần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11, là bài học có ý nghĩa
rất quan trọng đối với cách mạng nước ta nhất là trong bối cảnh hiện nay. Tư tưởng
Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã nêu cao tinh
thần tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính với mở rộng quan hệ quốc tế, tranh
thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới, là một
trong những nhân tố cơ bản bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Vận dụng và phát triển sáng tạo bài học đó, sau 25 năm thực hiện đường lối
đổi mới của Đảng, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng
trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng - an ninh,
đối ngoại, hội nhập quốc tế. Thế và lực của đất nước đã vững mạnh thêm nhiều;
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng lên, tạo tiền đề quan trọng để
đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và nâng cao chất lượng cuộc
sống của nhân dân. Những thành tựu có ý nghĩa lịch sử đó chứng minh rằng, để
tạo nên sức mạnh to lớn, giành thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo
vệ Tổ quốc và đổi mới xây dựng đất nước, chúng ta phải biết khai thác và phát

huy cao nhất sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sức mạnh
trong nước với sức mạnh quốc tế, trên cơ sở kiên định ý chí độc lập, tự chủ, phát
huy sức mạnh nội lực, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực,
khai thác tối đa sức mạnh của thời đại.
Hiện nay, bối cảnh quốc tế, khu vực có những biến đổi to lớn và sâu sắc,
với nhiều mối quan hệ đan xen, đa dạng, phức tạp; trong đó, các nước với chế độ
xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh,
cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Vì vậy chúng ta phải “tiếp tục


17

nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn
dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến nắm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”quá trình lãnh
đạo cách mạng đòi hỏi Đảng ta phải trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào những điều kiện, tình hình cụ thể. Phải
có cách nhìn biện chứng, khách quan, chính xác về thế giới, về thời đại một cách
khoa học. Sức mạnh thời đại ngày nay thể hiện ở xu thế tất cả các nước phát
triển hay đang phát triển đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi kinh tế có ý
nghĩa quyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Vị
thế quốc tế của mỗi nước ngày càng tuỳ thuộc vào sức mạnh kinh tế hơn là sức
mạnh quân sự. Các nước đều ý thức được rằng, muốn có điều kiện để giữ vững
an ninh, ổn định thì trước hết tiềm lực kinh tế phải mạnh. Từ đó, lợi ích kinh tế
trở thành động lực chính trong quan hệ đối ngoại cả về song phương và đa
phương. Nhu cầu phát triển kinh tế vừa là động lực thúc đẩy các nước cải thiện
và phát triển quan hệ hợp tác, vừa là nhân tố làm gia tăng sự cạnh tranh kinh tế
giữa các nước trên thế giới. Kiên định ý chí độc lập, tự chủ, khơi dậy sức mạnh
tổng hợp của toàn dân tộc, phát huy cao độ nội lực; đồng thời, chủ động và tích
cực hội nhập quốc tế, tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực bên ngoài. Trong

bối cảnh toàn cầu hoá, ta cần coi trọng tạo dựng, nắm bắt và lợi dụng thời cơ, tranh
thủ sức mạnh của thời đại thông qua chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế
để phát huy nội lực, bứt phá nhanh hơn trong phát triển. Kiên định phải đi liền với
đổi mới, kiên định trong đổi mới, để đổi mới đúng đắn và hiệu quả cao. Đổi mới
không nắm vững mục tiêu sẽ có nguy cơ chệch hướng hoặc tụt hậu, hoặc mất cảnh
giác. Đổi mới nhưng phải biết chọn lọc, kế thừa những thành tựu, hình thức, bước
đi, biện pháp để làm sáng tỏ mục tiêu và đi đến mục tiêu nhanh hơn.


18

Là cơ sở để chúng ta vận dụng và xử lý linh hoạt, sáng tạo việc kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ quốc
phòng – an ninh, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Quốc phòng – an ninh vững
mạnh, giữ vững ổn định chính trị của đất nước là một yếu tố cơ bản quyết định
việc tiếp thu có hiệu quả nguồn ngoại lực và sức mạnh quốc tế. Trong chiến
tranh, chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm quý về tận dụng và phát huy những
thành quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, nhất là đào tạo cán bộ, tiếp
thu những thành tựu tiên tiến của khoa học nghệ thuật quân sự, khoa học kỹ
thuật quân sự..., để xây dựng quân đội, tăng cường sức mạnh cho cuộc kháng
chiến. Ngày nay, trong điều kiện và hoàn cảnh mới, cần nhận thức đúng về hợp
tác quốc phòng, phát huy sức mạnh thời đại để xây dựng quân đội, củng cố quốc
phòng trong điều kiện mới.
Ý nghĩa đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tư tưởng về kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Hồ Chí Minh đã đã giải quyết
thành công mối quan hệ dân tộc, giai cấp và nhân loại. Nó giúp cho phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế có thêm kinh nghiệm trong đấu tranh cách mạng,
trong đấu tranh chống áp bức bóc lột, bất công, bất bình đẳng…tiến tới đấu tranh
cho xây dựng một xã hội mới vì hòa bình, tiến bộ, dân chủ, văn minh.


KẾT LUẬN
Là người Mácxít chân chính, triệt để và sáng tạo, với thế giới quan duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử, tiếp thu những tinh hoa dân tộc và nhân loại, Hồ Chí
Minh đã giải quyết thành công mối quan hệ dân tộc, giai cấp và nhân loại. Kết


19

hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nội dung cơ bản quan trọng
chiếm vị trí đặc biệt trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là bài học lớn trong quá trình
lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, là quy luật thắng lợi của cách mạng Việt Nam,
giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại, độc lập tự chủ và hợp tác quốc
tế, nội lực và ngoại lực là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong chỉ đạo chiến
lược và sách lược cách mạng của Đảng ta, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay.
Quán triệt và vận dụng sâu sắc, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nội dung rất quan trọng, có ý nghĩa quyết
định để giải quyết tốt những vấn đề đối nội, đối ngoại, từng bước đạt được các
mục tiêu để đi đến thắng lợi hoàn toàn trong một thế giới đang có những biến
động phức tạp. Chúng ta phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng
cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy
cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với
yếu tố hiện đại để xây dựng cho được chủ nghĩa xã hội ở nước ta./



×