Tải bản đầy đủ (.doc) (40 trang)

Sự phát triển kinh tế xã hội tỉnh hà tĩnh trong giai đoạn 30 năm đổi mới (từ 1986 2016) những thế mạnh và định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh hà tĩnh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (419.45 KB, 40 trang )

LỜI MỞ ĐẦU
Từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc “Đổi mới”: kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Với sự đổi mới trên, kinh tế Việt Nam
đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Sự nghiệp đổi mới của Đảng ta tới nay đã
hơn 30 năm. Với thời gian đó, cùng với sự chuyển mình của cả nước, Hà Tĩnh
đã thay đổi và lớn mạnh hơn lên, từ một tỉnh nghèo, kém phát triển đã vươn lên
trở thành tỉnh có nền kinh tế phát triển. Với mục tiêu hướng tới trở thành Trung
tâm công nghiệp miền Trung trong tương lai.
Sau hơn 30 năm đổi mới, Hà Tĩnh – mảnh đất miền Trung, “đòn gánh”
nối hai đầu đất nước. Mặc dù đối mặt với rất nhiều khó khăn do điều kiện tự
nhiên, thời tiết và hậu quả chiến tranh, nhưng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân
Hà Tĩnh luôn mạnh mẽ, cần cù, sáng tạo... giờ đây đã làm nên những kỳ tích
trong cơng cuộc tái thiết, xây dựng quê hương; đang thay da đổi thịt với nhiều
thành tựu vượt bậc. Tỉnh Hà Tĩnh hiện nay là một tỉnh có 13 đơn vị hành chính
cấp huyện gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 10 huyện, trong đó có với 262 đơn vị
hành chính cấp xã, gồm có 11 thị trấn, 21 phường và 230 xã. Với diện tích gần
5.998 km², dân số hơn 1.242.700 người.
Hiện nay, Hà Tĩnh là tỉnh có nền kinh tế phát triển ổn định. Trong 63 tỉnh
thành trong cả nước thì GDP của Hà Tĩnh đứng thứ 35, GDP bình quân đầu
người đứng thứ 46, thu ngân sách đứng thứ 17. Nền kinh tế của tỉnh đã và đang
có sự chuyển dịch cơ cấu theo ngành. Trong những năm qua, kinh tế có sự tăng
trưởng theo hướng tăng tỉ trọng của công nghiệp và dịch vụ, song chưa ổn định.
Đến nay thì Hà Tĩnh đã có bước tiến ngoạn mục khi đứng vào top đầu trong cả
nước trong thu hút đầu tư, đồng thời cịn có tên trong nhóm các tỉnh có tốc độ
tăng thu ngân sách "cực kỳ ấn tượng".
Hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại, đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân khơng ngừng được nâng cao. Các mặt văn hố xã hội, giáo
dục, y tế và con người đạt được nhiều thành tựu. An ninh, trật tự an toàn xã hội


được đảm bảo. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân trong tỉnh ngày càng


được cải thiện.
Chuyên đề "Sự phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh trong giai
đoạn 30 năm đổi mới (từ 1986- 2016). Những thế mạnh và định hướng phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh”, ngoài phần mở đầu và kết luận, gồm
các phần chính sau:
I. Những vấn đề chung
II. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn 30
năm đổi mới (từ 1986- 2016)
III. Những thế mạnh và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Hà Tĩnh.


CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN KINH TẾ- XÃ HỘI
1.1.1. Vị trí địa lý
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có toạ độ địa lý từ
0
17 53'50'' đến 18045'40'' vĩ độ Bắc và 105005'50'' đến 106o30'20'' kinh độ
Đơng.
Ranh giới hành chính của tỉnh như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía
Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Đơng giáp biển Đơng, phía Tây giáp với
nước Cộng hồ dân chủ nhân dân Lào.
Hình 1: Bản đờ hành chính tỉnh Hà Tĩnh

Hà Tĩnh có diện tích tự nhiên là 599.717,66 ha (chiếm 1,81% diện tích cả
nước và là tỉnh có diện tích đứng thứ 20/63 tỉnh, thành phố cả nước); có 12 đơn
vị hành chính cấp huyện, gồm: thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh và 10
huyện (Nghi Xuân, Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Vũ Quang, Lộc Hà,
Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xun, Kỳ Anh); có 262 đơn vị hành chính cấp xã
(gồm 235 xã, 15 phường và 12 thị trấn). Thành phố Hà Tĩnh là trung tâm chính



trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh; nằm cách Hà Nội 341km và cách thành phố Vinh
của tỉnh Nghệ An 50 km về phía Bắc theo quốc lộ 1A.
(Ng̀n: Số liệu kiểm kê đất đai và niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm
2010).
1.1.2. Địa hình
Hà Tĩnh là tỉnh có địa hình đa dạng (đủ các vùng đồi núi, trung du, đồng
bằng và biển). Địa hình của tỉnh hẹp và dốc, nghiêng dần từ Tây sang Đơng.
Phía Tây là núi cao (độ cao trung bình là 1.500 m, kế tiếp là miền đồi bát úp, rồi
đến dải đồng bằng nhỏ hẹp (độ cao trung bình 5 m) và cuối cùng là các bãi cát
ven biển.
Vùng đồng bằng Hà Tĩnh nằm dọc theo ven biển có địa hình trung bình trên
dưới 5 m, bị uốn lượn theo mức độ thấp ra cửa biển từ vùng đồi núi phía Tây,
càng về phía Nam càng hẹp. Nhìn chung, địa hình tương đối bằng phẳng nhất là
vùng hình thành bởi phù sa các sơng suối lớn trong tỉnh, đất có thành phần cơ
giới từ thịt trung bình đến nhẹ.
Địa hình bờ biển Hà Tĩnh với Vũng Áng, vũng Sơn Dương có điều kiện để thiết
lập cảng do diện tích mặt nước rộng, độ sâu trung bình từ 8 -12m từ bờ vào,
thuận tiện cho việc xây dựng cầu tàu.
1.1.3. Khí hậu
Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều. Ngồi ra,
tỉnh cịn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam,
với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đơng giá
lạnh của miền Bắc.
Hà Tĩnh có 2 mùa rõ rệt: mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, mùa này nóng, khơ
hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió Tây Nam (gió Lào) khơ nóng, nhiệt độ có
thể lên tới 40oC, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm
theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm;
mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đơng

Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 7OC.
Khí hậu của Hà Tĩnh có một số đặc điểm chính như mùa đơng lạnh do khối khí
lạnh từ phía Bắc tràn về; là tỉnh nằm ở khu vực có lượng mưa lớn nhất tồn
vùng, chịu ảnh hưởng của bão (chịu trực tiếp từ 3-4 cơn bão/ năm, chịu ảnh
hưởng từ 5-6 cơn bão/ năm. Khi có mưa bão thường bị ngập úng, lũ lụt kéo dài,
gây thiệt hại lớn về người và tài sản); khí hậu có sự biến động mạnh, thể hiện rõ
trong chế độ nhiệt mùa đông và chế độ mưa bão mùa hạ.
Nhiệt độ trung bình năm của Hà Tĩnh vào khoảng 23,6 0C - 24,60C. Biên độ giao
động ngày đêm của nhiệt độ vào khoảng 6,2 0C. Số giờ nắng trung bình năm vào
khoảng 1.800 giờ. Lượng mây trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 70-80%.
Lượng mưa trung bình năm ở Hà Tĩnh vào khoảng 2.000 - 2700 mm, với số
ngày mưa từ 140 - 160 ngày/năm. Độ ẩm trung bình năm rất cao, đạt tới 84 -


86%. Chênh lệch giữa độ ẩm trung bình của tháng ẩm nhất và tháng khô nhất tới
18 - 19%.
1.1.4. Thuỷ văn
Hà Tĩnh nằm trong lưu vực sông Ngàn Sâu thuộc hệ thống sông Cả. Sông Ngàn
Sâu thuộc loại nhiều nước nhất trong hệ thống sơng Cả. Tổng lượng nước bình
qn nhiều năm tính tới cửa sơng là 6,15 km 3, ứng với lưu lượng trung bình năm
là 195m3/s.
Mạng lưới sơng ngòi ở Hà Tĩnh tuy nhiều nhưng ngắn. Dài nhất là sông Ngàn
Sâu 131 km, ngắn nhất là sông Cày 9 km; sông Lam đoạn qua Hà Tĩnh
giáp Nghệ An cũng chỉ có 37 km. Sơng ngịi ở Hà Tĩnh có thể chia làm 3 hệ
thống: Hệ thống sơng Ngàn Sâu có lưu vực rộng 2.061 km 2; có nhiều nhánh
sông bé như sông Tiêm, Rào Trổ, Ngàn Trươi. Hệ thống sông Ngàn Phố dài 86
km, lưu vực 1.065 km2, nhận nước từ Hương Sơn cùng với sông Ngàn Sâu đổ
ra sơng La dài 21 km, sau đó hợp với sông Lam chảy ra Cửa Hội. Hệ thống cửa
sông và cửa lạch ven biển có nhóm Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng
1.2. Các nguồn tài nguyên

1.2.1. Tài nguyên đất
Hà Tĩnh có 599.717,66 ha; xét về mục đích sử dụng, đất đang sử dụng
cho mục đích nơng nghiệp có 476.157,55 ha (chiếm 79,40% diện tích tự
nhiên), sử dụng cho mục đích phi nơng nghiệp có 84.961,15 ha (chiếm
14,17% diện tích tự nhiên) và còn lại đất chưa sử dụng 38.598,96 ha (chiếm
6,43% diện tích tự nhiên).
Về tính chất thổ nhưỡng, Hà Tĩnh có 9 nhóm đất với đặc điểm phát sinh
và tính chất khá đa dạng; trong đó nhóm đất đỏ vàng là nhóm phổ biến, chiếm
tỷ lệ 51,6% so với diện tích tự nhiên của tỉnh.
1.2.2. Tài nguyên nước
- Nước mặt: Hà Tĩnh có nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sơng,
suối, hồ đập khá nhiều, có diện tích lớn và tập trung, đồng thời với vị trí địa lý
nên hàng năm lượng mưa ở Hà Tĩnh khá cao. Tồn tỉnh có 357 hồ chứa lớn nhỏ
với tổng dung tích trữ trên 767 triệu m3 (các hồ lớn như hồ Kẻ Gỡ, hồ sơng
Rác…), ngồi ra cịn có lượng nước từ các sông được sử dụng qua hệ thống trạm
bơm (282 trạm bơm có tổng lưu lượng 338.000 m3/s; 70 trạm bơm công suất
nhỏ) và các đập dâng (48 đập dâng tổng lưu lượng cơ bản 6,9 m3/s).
Tuy nhiên, nguồn nước sử dụng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và
sinh hoạt cịn bị hạn chế do bị khơ cạn vùng thượng lưu và nhiễm mặn ở hạ
lưu vào mùa khô và lũ lụt vào mùa mưa.


- Nước ngầm: Nước ngầm ở Hà Tĩnh tuy chưa có số liệu nghiên cứu, điều
tra, khoan thăm dị tồn diện nhưng qua các số liệu thu thập được cho thấy mức
độ nông sâu của mực nước ngầm thay đổi phụ thuộc địa hình và lượng mưa
trong mùa.
Đặc biệt, Hà Tĩnh có mỏ nước khống ở Sơn Kim huyện Hương Sơn có
chất lượng tốt, vị trí thuận lợi cạnh đường Quốc lộ 8 và gần cửa khẩu Quốc tế
Cầu Treo rất có điều kiện để phát triển thành một khu du lịch dưỡng bệnh.
1.2.3. Tài nguyên rừng

- Theo số liệu kiểm kê năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp Hà Tĩnh có
350.882,67 ha; trong đó rừng sản xuất có 161.244,38 ha, đất rừng phịng hộ
có 115.1040,48 ha và đất rừng đặc dụng có 74.597,81 ha. Độ che phủ rừng
đạt 52%.
- Thực vật rừng: Rừng Hà Tĩnh khá phong phú về loài, mang nhiều nét
đặc trưng của thảm thực vật Việt Nam, có đến 143 họ, 380 chi, 761 lồi thực
vật; với nhiều lồi gỡ q hiếm như Pơ mu, Gụ mật, Sến mật, Lim xanh, Dó
trầm... ngồi ra cịn có các loại lâm sản phi gỡ có giá trị khác. Tổng trữ lượng
gỗ khoảng 26.040.100 m3; gồm 2.546580 m3 gỗ rừng trồng và 23.494.420 m3
gỗ rừng tự nhiên và 32.443 ngàn cây nứa. Tuy vậy rừng Hà Tĩnh đã trải qua
nhiều thời kỳ khai thác nên diện tích rừng nghèo và nghèo kiệt phục hồi
chậm, cây mục đích đang giảm dần, tái sinh dưới tán rừng chủ yếu là cây ưa
sáng, mọc nhanh giá trị kinh tế thấp.
Hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển Hà Tĩnh cũng khá phong phú, có
nhiều loại thực động vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao. Tập trung phần lớn ở
khu vực các cửa sơng lớn như Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu...
- Động vật rừng: Ðộng vật rừng ở Hà Tĩnh khá phong phú, trong đó có các
lồi đặc hữu như Sao La, Hổ, Voi, Bị Tót; có 17 loài được ghi trong sách đỏ Việt
nam và thế giới, trong đó có các lồi đặc hữu như Gà Lơi Lam mào đen, Gà Lôi
Lam đuôi trắng, Trĩ Sao...
(Nguồn: Kiểm kê đất tỉnh Hà Tĩnh năm 2010; Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đến
năm 2020 tỉnh Hà Tĩnh).

1.2.4. Tài nguyên biển
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km, có 4 cửa sơng lớn (Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa
Nhượng, Cửa Khẩu) và nhiều vũng vịnh nước sâu như Vũng Áng, vũng Sơn
Dương nên đã tạo thuận lợi để xây dựng cảng biển, cảng cá, đánh bắt và nuôi
trồng thủy sản cũng như phát triển vận tải đường biển.



Biển Hà Tĩnh có khoảng 267 lồi hải sản, trữ lượng khai thác hàng năm
khoảng 85 ngàn tấn. Các cửa sơng chính và nhiều cửa lạch đã tạo ra vùng nước
mặn lợ có tiềm năng ni trồng thủy sản với diện tích khoảng 20.000 ha (hiện
nay đã khai thác sử dụng khoảng 7.000 ha).
Bờ biển Hà Tĩnh có tọa độ gần đường hàng hải quốc tế, lại có vũng nước
sâu nên có điều kiện xây dựng cảng biển chuyên dùng cho tầu có trọng tải lớn
đến 30 ngàn tấn cập cảng như cảng Vũng Áng (đã xây dựng) và Vũng Sơn
Dương (đang quy hoạch) tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông
bằng vận tải biển và khả năng mở rộng để phát triển kinh tế vùng Bắc Trung Bộ
nước ta, vùng Đông Bắc của Thái Lan và nước bạn Lào.
Nước biển Hà Tĩnh có nồng độ muối cao, chất lượng mơi trường tốt nên có
nhiều thuận lợi để phát triển nghề muối phục vụ cho sinh hoạt và công nghiệp,
sản lượng khai thác hàng năm khoảng 35 ngàn tấn.
Du lịch biển Hà Tĩnh có nhiều tiềm năng như xây dựng các khu nghỉ
dưỡng, du lịch như Chân Tiên, Thạch Hải, Thạch Bằng, Thiên Cầm, Xuân
Thành, Đèo Con…
1.2.5. Tài ngun khống sản
Hà Tĩnh là tỉnh có tiềm năng lớn về tài nguyên khoáng sản phong phú và đa
dạng, với hơn 160 điểm mỏ đã biết; có quy mơ lớn, trong đó các khống sản:
than, vàng, sắt, mangan, titan, ziricon, thiếc, kaolin, thạch anh sạch, sericit,
quaczit, đá xây dựng, sét, cát, cuội sỏi ..., có quy mơ khá lớn, làm nguồn lực
quan trọng có ý nghĩa phát triển kinh tế của tỉnh.
1.2.6. Tài nguyên nhân văn
Đến năm 2010 tỉnh Hà Tĩnh cịn trên 500 di tích lịch sử văn hóa, trong đó
có 260 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 72 di tích được xếp hạng cấp quốc gia
với đủ các loại hình đặc trưng như ngã ba Đồng Lộc, di tích ngã ba Nghèn, di
tích lưu niệm Bác Hồ, khu lưu niệm Trần Phú, khu lưu niệm Hà Huy Tập, khu
lưu niệm đại thi hào Nguyễn Du, chùa Chân Tiên, Hương Tích, đền Củi,..
Hà Tĩnh có nhiều lễ hội như hội chùa Hương Tích, Chiều Trưng, Hạ thủy, Cầu
ngư, Đua thuyền. Hà Tĩnh không chỉ là nơi có giá trị nhân văn nổi tiếng mà cịn là

điểm dừng chân của khách bộ hành du lịch trên các tuyến Bắc - Nam, Tây - Đông.
Hà Tĩnh (cùng với Nghệ An) còn là quê hương của làn điệu hát ví dặm nổi tiếng,
hiện đã được trình UNESCO cơng nhận là di sản phi vật thể của thế giới.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Hà Tĩnh luôn kề vai sát
cánh với quân dân cả nước chống giặc ngoại xâm; trong lao động có tinh thần


năng động sáng tạo, có ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn, kế thừa và
phát huy những kinh nghiệm, thành quả đạt được trong lao động sản xuất, cải
tạo tự nhiên, phát triển nền văn hoá đặc sắc. Vì vậy, nơi đây đã sản sinh ra
những con người anh hùng và những dòng thơ ca, những làn điệu hò cũng như
là nguồn cảm hứng sáng tác của các văn nghệ sĩ về mảnh đất mưa bom lửa đạn
với những tác phẩm kiệt xuất đã đi vào lòng người không chỉ hôm nay mà cho
muôn đời sau.

CHƯƠNG II : Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà
Tĩnh trong giai đoạn 30 năm đổi mới (từ 1986- 2016)
Từ sau khi Việt Nam thống nhất (Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), giai
đoạn 1976-1991, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhập làm một tỉnh và được
gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh.
Đến Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An
và Hà Tĩnh như ngày nay. Khi tách ra, tỉnh Hà Tĩnh có 9 đơn vị hành chính
gồm thị xã Hà Tĩnh và 8 huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương
Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà.
Cho nên ở bài này em xin điều tra và đánh giá thực trạng phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh sau khi tái lập tỉnh (từ năm 1991).
2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
2.1.1. Tăng trưởng kinh tế
2.1.1.2. Giai đoạn 2006- 2010
Tổng sản phẩm của tỉnh trong những năm qua có xu hướng năm sau cao
hơn năm trước, năm 2010 (theo giá so sánh năm 1994) đạt 6.747.493 triệu đồng,

tăng gấp 1,43 lần so với năm 2006. Trong đó, khu vực cơng nghiệp xây dựng
năm 2010 đạt 2.419.339 triệu đồng, tăng gấp 1,87 lần so với năm 2006; khu vực
dịch vụ năm 2010 đạt 2.643.470 triệu đồng, tăng gấp 1,52 lần so với năm 2006;
khu vực nông, lâm ngư nghiệp đạt 1.684.684 triệu đồng, tăng 1,01 lần so với
năm 2006.


Bảng 1.2: Tổng giá trị sản phẩm và tốc độ tăng trưởng kinh tế
của tỉnh Hà Tĩnh (theo giá so sánh) qua các năm
Đơn vị tính: Giá trị (triệu đờng); chỉ số (%)
Năm
2006
2007
2008
Tổng giá trị sản phẩm
4.708.209 5.116.283 5.646.404
Chỉ số phát triển
109,52
108,67
110,36
Nông, lâm, ngư nghiệp
101,39
95,87
106,78
Công nghiệp và xây dựng
121,52
117,25
114,32
Dịch vụ
109,96

114,64
110,24
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

2009
6.154.225
108,99
101,67
118,01
107,61

2010
6.747.493
109,64
96,50
118,43
111,74

Tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng và ổn định qua các năm; bình quân giai
đoạn 2005 - 2010 đạt 9,35%. Năm 2005 tăng trưởng 8,93% thì đến năm 2006
tăng trưởng 9,52% và năm 2010 tăng trưởng 9,64%. Năm 2010 tốc độ tăng
trưởng khu vực kinh tế công nghiệp - xây dựng là 18,43% và khu vực dịch vụ là
11,74%; riêng khu vực nông - lâm - ngư nghiệp năm 2010 mức tăng trưởng thấp
hơn so với năm 2009 do điều kiện gặp nhiều khó khăn về hạn hán, sâu bệnh
bùng phát trên diện rộng, lũ lụt kéo dài gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến
tính mạng và tài sản của nhân dân.
(Nguồn: Niên giám thông kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010 và Báo cáo tình hình thực hiện kinh
tế xã hội của tỉnh Hà Tĩnh năm 2010).

2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

2.1. 2.1. Giai đoạn 2006- 2010
Cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành
công nghiệp và xây dựng; giảm dần tỷ trọng ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Ngành công nghiệp - xây dựng trong những năm gần đây và hiện nay là
ngành đang có đóng góp lớn nhất cho GDP tỉnh; năm 2006 là 1.878.666 triệu
đồng (chiếm 26,68%) thì đến năm 2010 tăng lên 5.333.830 triệu đồng (chiếm
33,57%).
Tỷ trọng của ngành dịch vụ trong GDP cũng đã tăng từ 3.533.372 triệu
đồng (năm 2008, chiếm 31,42%) đến năm 2010 tăng lên 5.200.189 triệu đồng
(chiếm 32,73%). Tuy nhiên về giá trị tuyệt đối tương đương với khu vực công
nghiệp và xây dựng cũng như ngành nông, lâm ngư nghiệp; nhưng mức tăng tỷ
trọng chưa cao, nguyên nhân chủ yếu là do các ngành dịch vụ của tỉnh chưa có
đủ các điều kiện cần thiết để phát triển (sản phẩm mũi nhọn, vốn, trang thiết bị,
tổ chức kinh doanh, cơ chế chính sách, thị trường...).


Bảng 1.3: Tổng sản phẩm (theo giá thực tế) và cơ cấu kinh tế
phân theo khu vực kinh tế
Đơn vị tính: Giá trị (triệu đờng); cơ cấu
(%)
Tổng sản phẩm

Năm

2006
2007
2008
2009
2010


Tổng số
7.041.703
8.790.959
11.244.861
13.389.909
15.889.546

Cơ cấu
Nôn
Nông
Công
g lâm,
Công
Tổng
lâm, ngư nghiệp và Dịch vụ
ngư nghiệp và
số
nghiệp xây dựng
nghiệ xây dựng
p
2.836.893 1.878.666 2.326.144 100,00 40,29
26,68
3.223.435 2.609.890 2.957.634 100,00 36,67
29,69
4.390.979 3.320.510 3.533.372 100,00 39,05
29,53
4.897.138 4.376.538 4.116.233 100,00 36,57
32,69
5.355.527 5.333.830 5.200.189 100,00 33,70
33,57

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

Dịch
vụ
33,03
33,64
31,42
30,74
32,73

Phần đóng góp của ngành nơng, lâm ngư nghiệp cho GDP của tỉnh giảm
nhanh qua các năm (mặc dù vẫn tăng lên về giá trị tuyệt đối) là phù hợp với chủ
trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hố của
tỉnh. Tỷ trọng của ngành này giảm từ 40,29% năm 2006 xuống 33,70% năm
2010.
Cơ cấu kinh tế 3 khu vực của cả nước năm 2010 là nông, lâm nghiệp và
thủy sản 20,58%; công nghiệp và xây dựng 41,10%; dịch vụ 38,32%. Như vậy,
cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch theo chiều hướng tích cực nhưng chưa
theo kịp với xu thế chung của cả nước.
Cơ cấu theo thành phần kinh tế đang chuyển dịch theo đúng quy luật của
nền kinh tế thị trường với sự tăng trưởng nhanh và gia tăng dần tỷ trọng trong
cơ cấu tổng sản phẩm (theo giá thực tế) của khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
(tăng từ 74,35% năm 2006 lên 80,58% năm 2010) nhất là trong các lĩnh vực
thương mại, dịch vụ khách sạn - nhà hàng, công nghiệp chế biến, xây dựng và
giao thông vận tải. Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động của khu vực kinh tế
ngoài nhà nước chủ yếu là tư nhân (chiếm 76,97%) và cá thể (chiếm 21,54%)
nhưng quy mơ cịn nhỏ bé, vốn và lực lượng lao động ít, hiệu quả kinh doanh
chưa cao. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi (FDI) cũng có đóng
góp cho GDP tỉnh và xuất khẩu nhưng tỷ trọng còn nhỏ và mới chủ yếu trong
lĩnh vực công nghiệp. Năm 2010 khu vực này đóng góp 1,82% trong cơ cấu

tổng sản phẩm của tỉnh và 12% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh.
Cơ cấu kinh tế theo lãnh thổ cũng đang có sự chuyển dịch theo hướng giảm


bớt chênh lệch giữa các vùng, khu vực đô thị được mở rộng, hiện đại hố nơng
nghiệp, nơng thơn được quan tâm đầu tư. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành các
tiểu vùng kinh tế: Tiểu vùng quốc lộ 8, dải hành lang kinh tế Đông - Tây; Tiểu
vùng thành phố Hà Tĩnh - Thạch Khê chủ yếu phát triển công nghiệp; Tiểu vùng
kinh tế Vũng Áng phát triển công nghiệp luyện thép, đóng tàu, dịch vụ cảng
biển; Tiểu vùng kinh tế Tây Nam chủ yếu phát triển nông lâm nghiệp.
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010; Quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020).

2.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
2.2.1. Khu vực kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp
Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp tuy chiếm tỷ trọng ngày càng giảm dần
trong nền kinh tế, nhưng vẫn là một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh; ngành
này đang từng bước tiếp cận với sản xuất hàng hố. Tốc độ tăng trưởng bình
qn chưa cao, chỉ đạt 2,25%/năm (từ năm 2006 đến năm 2010); trong đó ngành
nơng nghiệp có tốc độ tăng trưởng bình qn 1,96%/năm, lâm nghiệp tăng
trưởng 2,88%/năm và thủy sản tăng trưởng bình quân 3,33%/năm.
Bảng 1.4: Giá trị sản xuất Nông - lâm và ngư nghiệp theo
giá so sánh 1994
Giá trị sản xuất (triệu đồng)
Năm

Tổng số

2006
2007

2008
2009
2010

2.564.908
2.461.824
2.742.501
2.884.642
2.793.245

Nông
Lâm
nghiệp
nghiệp
2.069.818 186.989
1.939.222 204.015
2.221.561 197.916
2.307.523 213.715
2.210.851 210.431

Chỉ số phát triển (%)

Ngư
nghiệp
308.101
318.587
323.024
363.404
371.963


Chỉ số
chung
101,27
95,98
111,40
105,18
96,83

Nông
nghiệp
101,87
93,69
114,56
103,87
95,81

Lâm
Ngư
nghiệp
nghiệp
101,95
97,01
109,11 103,40
97,01 101,39
107,98 112,50
98,46 102,36

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

Giá trị sản xuất nông, lâm và ngư nghiệp năm 2010 (theo giá so sánh năm

1994) là 2.793.245 triệu đồng, giảm 3,17% so với năm 2009; trong đó giá trị sản
xuất nơng nghiệp 2.210.851 triệu đồng, giảm 4,19%; giá trị sản xuất lâm nghiệp
210.431 triệu đồng, giảm 1,54%; chỉ có giá trị giá trị sản xuất ngư nghiệp tăng
2,36% so với năm 2009 (đạt 371.963 triệu đồng).
Bảng 1.5: Giá trị sản xuất nông - lâm và ngư nghiệp theo giá thực tế
Giá trị sản xuất (triệu đồng)
Năm

Tổng số

2006 4.349.036

Nông
nghiệp

Lâm
nghiệp

3.582.61
3

252.753

Ngư
nghiệp

Cơ cấu (%)
Tổng
số


513.670 100,00

Nông
nghiệp
82,38

Lâm
nghiệp
5,81

Ngư
nghiệp
11,81


2007 4.940.287 4.045.17 286.889 608.223 100,00
2008 7.363.562 6.337.625 295.131 730.802 100,00
2009 8.215.273 7.001.349 345.162 868.771 100,00
2010 8.984.242 7.603.820 364.348 1.016.069 100,00
5 kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)
(Nguồn: Niên giám thống

81,88
80,07
82,22
84,64

5,81
4,01
4,20

4,06

12,31
15,92
13,58
11,30

- Trong cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (theo giá thực
tế) thì nơng nghiệp ln chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 80%. Năm 2010 nông
nghiệp chiếm tỷ trọng 84,64%; thì lâm nghiệp chỉ chiếm 4,06% và ngư nghiệp
11,30% (cả hai ngành chiếm dưới 20%).
a. Nông nghiệp
Giá trị sản xuất tồn ngành nơng nghiệp của tỉnh năm 2010 đạt 2.210.851
triệu đồng theo giá so sánh 1994 (7.603.825 triệu đồng theo giá thực tế). Đã hình
thành một số vùng sản xuất hàng hoá tập trung hướng vào các loại cây, con có sản
lượng và giá trị kinh tế cao như vùng chè, cao su, cam, bưởi,... Các sản phẩm
nông nghiệp chủ yếu của tỉnh là lúa, ngô, khoai, lạc, chè, cao su, gia súc, gia cầm,
hoa quả tươi (cam, bưởi).
Bảng 1.6: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế
phân theo ngành kinh tế
Đơn vị: (%)
Ngành
2006
2007
2008
Trồng trọt
67,02
62,41
65,32
Chăn nuôi

29,97
34,45
32,58
Dịch vụ
3,01
3,14
2,10
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

2009
61,76
36,19
2,05

2010
61,69
36,36
1,95

- Trồng trọt: Trong giá trị sản xuất nơng nghiệp thì trồng trọt vẫn chiếm tỷ
trọng lớn; tuy nhiên có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2006 giá trị sản
xuất ngành trồng trọt chiếm 67,02% giá trị sản xuất ngành nơng nghiệp thì đến
năm 2010 giảm xuống còn 61,69%. Giá trị sản xuất trên diện tích đất nơng
nghiệp (theo giá thực tế) đạt 44 triệu đồng/ha, tăng 5,9% so với năm 2009.
Sản xuất lương thực cơ bản đáp ứng được mục tiêu bảo đảm an ninh lương
thực, đồng thời hình thành và phát triển được những vùng lúa tập trung; trong
năm 2010 sản xuất lương thực gặp nhiều khó khăn do hạn hán, mất điện kéo dài,
bão số 3 và 2 trận lũ lịch sử (29/9 - 05/10 và 15/10 - 19/10) nên năng suất và
chất lượng đều giảm. Năng suất, sản lượng một số loại cây lương thực năm
2010: lúa toàn tỉnh gieo cấy được 99.003 ha, giảm 1.561 ha (1,55%) so với năm

2009; sản lượng lúa đạt 414.388 tấn, giảm 11,40% so với năm 2009. Diện tích
gieo trồng ngơ 8.060 ha, tăng 23,96% nên sản lượng ngô cả năm đạt 27.772 tấn,


tăng 45,81% so với năm 2009. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2010 đạt
442.160 tấn, giảm 9,16% so với năm 2009; bình quân lương thực đầu người đạt
360,16 kg/người.
Sản lượng đối với những loại cây trồng khác như rau các loại tăng 5,94%,
lạc tăng 0,45%, chè tăng 6,72%, cao su tăng 64,61%, cam giảm 29% và bưởi
tăng 56% so với năm 2009.
- Chăn ni: Cơng tác phịng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm được tập
trung thực hiện, tiêm phịng đạt kết quả khá, khơng để xảy ra dịch bệnh lớn. Giá
trị sản xuất ngành chăn nuôi (theo giá so sánh 1994) năm 2010 đạt 834.836 triệu
đồng, giảm 0,6% so với năm 2009; tuy nhiên, tỷ trọng của chăn nuôi trong tổng
giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm 36,36%. Vật ni chủ yếu là đàn trâu 96
nghìn con, đàn bị 166 nghìn con, đàn lợn 356 nghìn con; gia cầm 4,96 triệu con.
Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 63.749 tấn.
b. Lâm nghiệp
Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá thực tế năm 2010 là 364.348 triệu đồng
trong đó; khai thác lâm sản vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu nội ngành
lâm nghiệp (đạt 268.320 triệu đồng, chiếm 73,64%), trồng và nuôi rừng 36.055
triệu đồng (chiếm 9,90 và các hoạt động dịch vụ lâm nghiệp khác 59.973 triệu
đồng (chiếm 16,46%). Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá so sánh 1994 là
210.431 triệu đồng, giảm 1,54% so với năm 2009.
Năm 2010 công tác quản lý, bảo vệ, trồng mới, khoanh nuôi và tái sinh rừng
được triển khai đúng kế hoạch, độ che phủ rừng đạt trên 52%. Trồng mới 7.648
ha rừng; trong đó trồng mới 1.500 ha cây cao su, trồng rừng phòng hộ và đặc
dụng 1.350 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng 9.082 ha. Đã chủ động các
phương án phòng chống cháy rừng nên không để xảy ra các vụ cháy lớn.
c. Nuôi trồng thủy sản

Ngành thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong giá trị nông - lâm - thuỷ sản
của tỉnh; giá trị sản xuất thủy sản theo giá thực tế năm 2010 là 1.016.069 triệu
đồng, chiếm 11,30% giá trị sản xuất nơng - lâm - thuỷ sản; trong đó chủ yếu là
khai thác tăng lên nhanh trong những năm gần đây, đạt 606.609 triệu đồng
(chiếm 59,60%), nuôi trồng (đạt 337.269 triệu đồng, chiếm 36,74%) và dịch vụ
37.191 triệu đồng (chiếm 3,66%). Sản lượng thủy sản đạt 36.120 tấn, tăng
1,47% so với năm 2009; trong đó sản lượng khai thác 26.121 tấn (chiếm
72,32%) và sản lượng nuôi trồng 9.999 tấn (chiếm 27,68%). Sản lượng thủy sản
khai thác chủ yếu là khai thác biển (23.395 tấn) chiếm 89,56% sản lượng khai
thác, khai thác nội địa chỉ chiếm 10,44%. Sản phẩm chủ yếu là các loại cá,
tơm ...với diện tích ni trồng nước mặn, lợ là 2.197 ha và diện tích nước ngọt
3.980 ha.


2.2.2. Khu vực kinh tế công nghiệp và xây dựng
Hà Tĩnh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển khu vực kinh tế công
nghiệp - xây dựng, nhất là trong những năm gần đây. Trong thời kỳ 2005 - 2010
tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 17,91%; tỷ trọng của ngành qua các
năm trong GDP liên tục tăng lên, năm 2006 ngành công nghiệp - xây dựng
chiếm 26,68% GDP của tỉnh, đến năm 2010 chiếm 33,57%. Sự chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa đã góp phần quan trọng vào sự tăng
trưởng kinh tế, từng bước khẳng định xu thế đúng đắn trong chuyển dịch cơ cấu
kinh tế của tỉnh.
a. Sản xuất công nghiệp
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 (theo giá so sánh) trên địa bàn đạt
2.066.548 triệu đồng; tăng 14,60% so với năm 2009; trong đó thành phần kinh tế
Nhà nước 454.650 triệu đồng, tăng 1,83% (Trung ương 353.364 triệu đồng và địa
phương 103.286 triệu đờng), kinh tế ngồi Nhà nước đạt 1.397.688 triệu đồng,
tăng 11,26% và cơng nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 214.210 triệu đồng,
tăng 112,94%.

Bảng 1.7: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 1994
phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: Giá trị (triệu đồng); Chỉ số phát triển(%)
TT

Thành
phần
kinh tế

2006
Giá
trị

Chỉ số

2007
Giá trị Chỉ số Giá trị

Tổng số

1.203.
493

114,1 1.415.34
8
0

1

Kinh tế

Nhà nước

300.1
30

86,98

2

Kinh tế ngoài 753.4
126,44
Nhà nước
27
Khu vực
149.9
có vốn đầu
132,59
36
tư NN

3

2008

117,6 1.658.19
0
9

326.253 108,70


421.119

916.854 121,69 1.096.989
172.233 114,87

140.091

2009

Chỉ số

Giá trị

2010

Chỉ số

Giá trị

Chỉ số

117,16

1.803.27
108,75 2.066.548
1

114,60

129,08


446.467 106,02

454.650

101,83

119,65 1.256.209 114,51 1.397.688

111,26

81,34

100.595

71,81

214.210

212,94

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế năm 2010 đạt 5.089.252 triệu
đồng; trong đó kinh tế Nhà nước 1.077.577 triệu đồng, chiếm 21,17% (Nhà
nước Trung ương chiếm 11,44% và Nhà nước địa phương chiếm 9,73% so với
tổng giá trị sản xuất cơng nghiệp); nhiều nhất là kinh tế ngồi Nhà nước
3.401.313 triệu đồng, chiếm 66,83% và ít nhất là khu vực có vốn đầu tư nước
ngồi 610.362 triệu đồng, chiếm 8,39%. Nhóm ngành cơng nghiệp chế biến tạo
ra giá trị sản xuất nhiều nhất, năm 2010 đạt 3.853.454 triệu đồng, chiếm 75,72%

giá trị sản xuất công nghiệp (chủ yếu là sản xuất thực phẩm và đồ uống với
1.465.134 triệu đồng, sản xuất sản phẩm gỗ và lâm sản 964.048 triệu đồng, các
sản phẩm từ khoáng phi kim loại 391.829 triệu đờng...); tiếp đến là nhóm ngành


công nghiệp khai thác đạt 752.171 triệu đồng, chiếm 14,78% (sản xuất chủ yếu
là khai khác quặng kim loại 417.131 triệu đồng, khai thác đá và mỏ khác
329.528 triệu đồng...) và cuối cùng là nhóm cơng nghiệp sản xuất và phân phối
điện, khí đất, nước đạt 483.625 triệu đồng, chiếm 9,50% giá trị sản xuất công
nghiệp.
b. Xây dựng cơ bản
Công tác đầu tư xây dựng được tăng cường, năm 2010 giá trị sản xuất
ngành xây dựng theo giá thực tế đạt 6.579.104 triệu đồng; trong đó kinh tế Nhà
nước chiếm 2,23%, kinh tế ngoài Nhà nước chiếm 97,77%. Hoạt động xây dựng
chủ yếu là các cơ sở hạ tầng sản xuất công nghiệp và giao thông; các dự án trọng
điểm được tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai, như: Dự án khai thác mỏ sắt
Thạch Khê, Dự án Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 và các dự án phát triển công
nghiệp tại Khu kinh tế Vũng Áng... đã tổ chức khởi cơng gói thầu bóc đất tầng
phủ Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, khởi công tiểu dự án đầu mối hệ thống
thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, dự án khu dịch vụ - đô thị và khu công nghiệp
Phú Vinh... Một số nhà máy đã hoàn thành và đi vào hoạt động như nhà máy chế
biến tinh bột sắn VEDAN, nhà máy gạch Tuynel tại Đức Thọ, Kỳ Anh ... Năm
2010 đã lồng ghép các nguồn vốn xây dựng trên 350 km đường nhựa và bê tơng,
cứng hóa 85 km kênh mương nội đồng. Tổng nguồn vốn đầu tư xã hội trên địa
bàn đã giao là 9.625,461 tỷ đồng.
(Ng̀n: Báo cáo tình hình thực hiện kinh tế - xã hội của tỉnh Hà Tĩnh năm 2010).

2.2.2.3. Khu vực kinh tế dịch vụ
Lĩnh vực thương mại - dịch vụ duy trì tốc độ ổn định, đáp ứng được nhu
cầu sản xuất và tiêu dùng trên địa bàn, tăng trưởng bình quân 10,84%/năm (từ

năm 2006 - 2010); tỷ trọng chiếm trong cơ cấu kinh tế của tỉnh trên 32%.
Tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ theo giá thực tế năm 2010 đạt
14.635.548 triệu đồng, tăng 27,57% so với năm 2009; trong đó thương mại
chiếm tỷ trọng lớn nhất, chiếm 87,99%; tiếp đến là khách sạn, nhà hàng chiếm
9,20% và ít nhất là doanh thu du lịch, chiếm 0,01%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2010 đạt 62.478 USD, trong đó chủ yếu là
xuất khẩu trực tiếp (chiếm 93,40%); mặt hàng xuất khẩu gồm có hàng cơng
nghiệp nặng và khống sản, hàng lâm sản, hàng nơng sản, thủy sản, hàng công
nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp... Trị giá hàng nhập khẩu năm 2010 là 68.711
USD, nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng (chiếm 79,36% trị giá
hàng nhập khẩu), còn lại nhập tư liệu sản xuất.
Bảng 1.8: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu
dùng
theo giá thực tế phân theo ngành hoạt động


Đơn vị: Giá trị (triệu đồng); cơ cấu
(%)
Năm
Tổng số
Thương mại
Khách sạn,
nhà hàng
Du lịch
Dịch vụ

Giá trị
Cơ cấu
Giá trị
Cơ cấu

Giá trị
Cơ cấu
Giá trị
Cơ cấu

2006
4.642.063
4.174.250
89,92
350.425
7,55
1.829
0,04
115.559
2,49

2007
6.826.626
6.007.998
88,02
650.050
9,52
3.058
0,04
165.520
2,42

2008
8.985.273
7.855.608

87,43
909.947
10,13
3.904
0,04
215.814
2,40

2009
11.471.920
9.853.881
85,90
1.225.607
10,68
4144
0,04
388.288
3,38

2010
14.635.548
12.878.259
87,99
1.345.780
9,20
1888
0,01
409.621
2,80


(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

Các hoạt động dịch vụ khác như vận tải hàng hóa, vận tải hành khách; hoạt
động bưu chính, viễn thơng; tín dụng, ngân hàng... đã cơ bản đáp ứng được nhu
cầu phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
2.3. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
2.3.1. Dân số
Năm 2010 Hà Tĩnh có dân số trung bình là 1.227.673 người; trong đó nam
606.979 người, chiếm 49,49%; nữ 620.694 người, chiếm 50,51%. Qua các năm
dân số của tỉnh không ngừng tăng lên, do cả biến động cơ học và biến động tự
nhiên. Tốc độ tăng dân số trên địa bàn khá cao và có xu hướng giảm dần qua các
năm. Tỷ lệ sinh năm 2006 là 12,90% o; tỷ lệ chết 5,54%o; tỷ lệ tăng tự nhiên
7,36%o thì đến năm 2010 tỷ lệ sinh là 12,47%o; tỷ lệ chết 6,56%o; tỷ lệ tăng tự
nhiên 5,91%o. Dân số của tỉnh trong giai đoạn 2006 - 2010 có xu hướng giảm
nhẹ.
Bảng 1.9: Tổng dân số và cơ cấu dân số phân theo giới tính và khu vực
Tổng số
Phân theo giới tính (%) Phân theo khu vực (%)
Chỉ số
(Người) phát triển (%)
Nam
Nữ Thành thị Nông thôn
2006
1.243.567
99,66
49,66
50,34
12,99
87,01
2007

1.238.953
99,63
49,66
50,34
13,61
86,39
2008
1.233.957
99,60
48,01
51,99
14,26
85,74
2009
1.226.360
99,38
49,44
50,56
15,15
84,85
2010
1.227.673
100,11
49,49
50,51
15,49
84,51
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010)

Năm


Mật độ dân số trên địa bàn tỉnh năm 2010 là 205 người/km 2 thấp hơn so với
mật độ dân số trung bình của cả nước (260 người/km 2). Dân cư phân bố không
đồng đều giữa các vùng, vùng đồng bằng đất đai ít nhưng dân cư lại sống tập
trung. Mật độ dân số tập trung cao nhất tại thành phố Hà Tĩnh với 1.625
người/km2 và thấp nhất là huyện Vũ Quang với 49 người/km2.


Dân số thuộc khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số
của tỉnh. Tỷ trọng này có xu hướng giảm dần qua các năm, tuy nhiên vẫn cịn ở
mức cao. Dân số thuộc khu vực nơng thơn năm 2006 là 87,01% và giảm xuống
cịn 84,61% vào năm 2010; dân số thành thị tăng lên, từ 12,99% năm 2006 lên
15,49% năm 2010. Như vậy, đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu dân số giữa khu
vực thành thị và nơng thơn mặc dù cịn chưa rõ nét.
2.3.2. Lao động, việc làm và thu nhập
Năm 2010 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế là 638.752
người (chiếm 52,03% dân số của tỉnh). Trong đó số người đang lao động sản
xuất trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản là chủ yếu với 379.635
người; lĩnh vực thương nghiệp và sửa chữa là 56.762 người; lao động trong lĩnh
vực xây dựng là 33.457 người; công nghiệp khai thác 31.087 người; công
nghiệp chế biến, chế tạo 29.482 người; còn lại lao động đang làm việc trong lĩnh
vực khác.
Công tác đào tạo, giải quyết việc làm được đặc biệt quan tâm, nhất là đào tạo
nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của Khu kinh tế Vũng Áng; tỉnh đã tổ chức xây
dựng Đề án quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 - 2010, triển khai
thực hiện Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐTTg ngày 21/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ. Lao động nơng thơn vùng di dời
tái định cư được quan tâm hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề. Sàn giao dịch việc làm
của tỉnh hoạt động tốt; cơ chế đặt hàng dạy nghề, kết nối thông tin lao động giữa
cơ sở đào tạo với doanh nghiệp và người lao động được phối hợp đồng bộ. Năm
2010 đã giải quyết việc làm mới cho 28.621 người; đào tạo nghề cho 25.222

người, trong đó trình độ cao đẳng, trung cấp nghề 7.430 người, sơ cấp và dạy
nghề thường xuyên 17.792 người.
GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 12,17 triệu đồng, thu nhập bình
quân một lao động một tháng trong khu vực nhà nước của tỉnh Hà Tĩnh có sự
tăng lên qua các năm. Thu nhập bình quân một lao động một tháng năm 2007 là
1.744 nghìn đồng/người tăng lên 2.613 nghìn đồng/người năm 2010 (theo giá
thực tế). Tuy nhiên, mức thu nhập cịn có sự chênh lệch, thu nhập của lao động
khu vực Nhà nước do Trung ương quản lý (3.136 nghìn đồng/tháng) cao hơn
của lao động khu vực Nhà nước do địa phương quản lý (2.512 nghìn
đồng/tháng) là 1,24 lần.
Cơng tác chính sách xã hội, xố đói giảm nghèo được các cấp, các ngành
quan tâm; thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người có cơng, thương binh và


gia đình liệt sĩ. Cơng tác đảm bảo an sinh xã hội nhất là giải quyết chế độ trợ cấp
thường xun tại cộng đồng, chính sách tiền cơng, tiền lương, bảo hiểm xã hội
được thực hiện kịp thời, đúng chế độ. Đã tổ chức 8 lớp học đào tạo tập huấn
nâng cao năng lực giảm nghèo cho trên 3.800 người, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống
cịn 12,71%.
(Ng̀n: Niên giám thống kê tỉnh Hà Tĩnh năm 2010; Báo cáo tổng kết kinh tế xã hội
tỉnh Hà Tĩnh năm 2010).

Những thế mạnh và định hướng phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Hà Tĩnh.
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trên 14%. Đến năm 2015, có cơ
cấu GDP: cơng nghiệp - xây dựng 41,6%; thương mại - dịch vụ 40,3%; nông lâm - ngư nghiệp 18,1%; sản lượng lương thực đạt trên 51 vạn tấn, giá trị sản
xuất đạt trên 65 triệu đồng/ha/năm; 20% số xã đạt tiêu chí nơng thơn mới; GDP
bình qn đầu người trên 35 triệu đồng/năm; thu ngân sách nội địa đạt trên
5.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu trên 280 triệu USD.
Đảm bảo 100% giáo viên các cấp đạt chuẩn, 85% trường học đạt chuẩn quốc

gia; 90% trạm y tế xã, phường có bác sĩ, 80% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế
giai đoạn II, 30 giường bệnh/1 vạn dân, 6,21 bác sỹ/1 vạn dân; tỷ lệ gia tăng dân
số tự nhiên là 0,7%; hạ tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 10%;
mở rộng bảo hiểm y tế tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; tỷ lệ hộ nghèo (theo
chuẩn mới) hàng năm giảm 3 - 4%; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50%, mỗi năm
giải quyết việc làm cho trên 3,2 vạn lao động. Hồn thành việc số hố trong xây
dựng và truyền dẫn các chương trình truyền hình của tỉnh, đồng thời phủ sóng
qua vệ tinh.
Đảm bảo 100% đơn vị xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn cơ sở an toàn làm chủ
- sẵn sàng chiến đấu và giữ vững ổn định chính trị - xã hội.


Hà Tĩnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp
tỉnh Quảng Bình, phía đơng giáp biển Đơng, phía tây giáp nước Cộng hịa Dân
chủ Nhân dân Lào; cách Thủ đô Hà Nội 340km về phía bắc, cách thành phố Hồ
Chí Minh 1.348km về phía nam; diện tích đất tự nhiên 6.025,6 km2, dân số gần
1,3 triệu người, trong đó có 52,6% dân số trong độ tuổi lao động. Với điều kiện
vị trí thuận lợi, cùng với sự phát triển của Khu kinh tế Vũng Áng, Cụm cảng
biển nước sâu Vũng Áng – Sơn Dương, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Cầu
Treo,... Hà Tĩnh trở thành nút giao thông quan trọng, cửa ngõ giao lưu quốc tế
giữa các nước trong khu vực (Việt Nam – Lào – Thái Lan – Myanma – Trung
Quốc...)

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
Tài nguyên rừng
Rừng và kinh tế rừng là thế mạnh của Hà Tĩnh, với 365.577ha diện tích rừng
(đất có rừng 299.603ha, đất chưa có rừng 65.974ha); thảm thực vật rừng rất đa
dạng, có trên 86 họ và 500 lồi gỡ; có nhiều loại gỡ q như lim, sến, táu, đinh,
gụ, pơmu,..; nhiều loại thú quý hiếm như sao la, mang, hổ, báo, hươu đen, dê
sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loại bị sát. Đặc biệt có Vườn quốc gia Vũ Quang

rộng 52.882ha và Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỡ rộng 21.759ha thuộc rừng
đặc dụng, có khả năng phát triển các điểm du lịch sinh thái và du lịch thể thao
hấp dẫn.

Tài nguyên biển
Bờ biển dài 137km, với 18.000 km2 mặt biển và 4 cửa sơng lớn; có 267 lồi cá,
trong đó 60 lồi có giá trị kinh tế cao, hơn 20 lồi tơm; là một ngư trường rộng
lớn để phát triển ngành khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản.


Biển có nhiều bãi ngang, bờ thoải, cát mịn, nước trong xanh; cạnh bờ biển có
núi, ngồi bờ có các đảo nhỏ tạo thành những bãi tắm lý tưởng như Xuân Thành,
Chân Tiên, Thạch Hải, Thiên Cầm, Kỳ Ninh, Đèo Con, v.v. Đây là những khu
du lịch biển đầy tiềm năng đã được quy hoạch, sẵn sàng mời gọi các nhà đầu tư
đến tìm hiểu, nghiên cứu và thực hiện dự án đầu tư.

Tài nguyên khoáng sản
Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, phong phú như: titan, vàng, mangan,
thiếc, đá granit, nước khống nóng,… và đặc biệt là mỏ sắt Thạch Khê với trữ
lượng 540 triệu tấn, chiếm hơn 60% trữ lượng sắt cả nước, hàm lượng Fe từ
61,39 đến 62,38%, đây là mỏ sắt lớn nhất khu vực Đông Nam Á; mỏ titan có trữ
lượng trên 5,3 triệu tấn, đá granit có trữ lượng hơn 1 tỷ m3, các chỉ tiêu kỹ thuật
đảm bảo yêu cầu cho các công trình chất lượng cao; mỏ nước khống nóng,
nhiệt độ 760C, lưu lượng trên 400m3/ ngày, chất lượng tốt, nằm cạnh khu rừng
đặc dụng có diện tích trên 30.000ha, rất thuận lợi cho sản xuất nước khống
đóng chai và đầu tư xây dựng khu ngâm tắm, nghĩ dưỡng kết hợp du lịch sinh
thái...

KẾT CẤU HẠ TẦNG
Giao thơng

Hà Tĩnh hiện có 5 tuyến đường quốc lộ đi qua với tổng chiều dài 383km,trong
đó có đường Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt quốc gia chạy dài
chiều dài của tỉnh; đường Quốc lộ 8A nối thị xã Hồng Lĩnh với nước Cộng hòa
Dân chủ Nhân dân Lào và Thái Lan qua cửa khẩu quốc tế Cầu Treo; Quốc lộ
12A nối Khu kinh tế Vũng Áng với vùng Đông Bắc Thái Lan qua cửa khẩu
Chalo. Hà Tĩnh là một trong những cửa ngõ lớn, có rất nhiều lợi thế của trục
hành lang kinh tế Đơng – Tây, có ảnh hưởng trực tiếp tới nước CHDCND Lào
và vùng Đông Bắc Thái Lan.


Hà Tĩnh cịn có lợi thế về phát triển cảng biển, với cảng Vũng Áng đã tiếp nhận
tàu 50.000 tấn, cảng nước sâu Sơn Dương có khả năng tiếp nhận tàu 300.000
tấn, ngồi ra cịn có cảng Xn Hải tiếp nhận tàu 3.000 tấn.

Về đường hàng không, cách Hà Tĩnh 50km về phía bắc có sân bay Vinh (tỉnh
Nghệ An), cách Khu kinh tế Vũng Áng 100km về phía nam có sân bay Đồng
Hới (tỉnh Quảng Bình) đón khách đi Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và ngược
lại, rất thuận tiện đi lại bằng đường hàng không đến Hà Tĩnh.

Điện
Nguồn điện được tăng cường cả về số lượng và chất lượng. Các tuyến 110KV,
220KV, 500KV thuộc hệ thống lưới điện Quốc gia đều qua Hà Tĩnh. Tại Khu
kinh tế Vũng Áng, Chính phủ đã qui hoạch cụm nhiệt điện có cơng suất
4.800MW. Trong đó, Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1 cơng suất 1.200MW do
Tập đồn dầu khí Việt Nam đầu tư xây dựng và đã lắp đặt xong hạng mục lị
hơi, đến năm 2012 sẽ hồn thành. Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 2 chuẩn bị
được khởi công.

Nước
Nguồn nước mặt phong phú nhờ hệ thống sông, suối, hồ đập khá nhiều. Có 13

con sơng lớn, nhỏ, 266 hồ chứa, 15 đập dâng với tổng dung tích trên 1.600 triệu
m3 nước; nhiều cơng trình thủy lợi lớn đang được xây dựng nhằm đáp ứng cơ
bản nhu cầu nước cho sản xuất và dân sinh.

Lao động và giáo dục
Số người trong độ tuổi lao động chiếm 52,6% dân số, trong đó có khoảng 20%
đã được đào tạo; số học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm khoảng
từ 20.000 đến 25.000, là nguồn dồi dào bổ sung cho lực lượng lao động.


Hệ thống giáo dục đang ngày càng được cải thiện, tạo điều kiện thuận lợi để
thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng lao động hiện tại và tương lai. Hà
Tĩnh hiện có 1 trường Đại học, 4 trường Cao đẳng, 3 trường Trung học chuyên
nghiệp và 33 cơ sở đào tạo nghề

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2006-2010
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm đạt 9,6% (giai đoạn 2001 –
2005 là 8,6%/năm); khu vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ
chuyển biến nhanh, đóng góp trên 73% tăng trưởng kinh tế, cơ cấu chuyển dịch
theo hướng tích cực: cơng nghiệp - xây dựng từ 25,56% tăng lên 32,4%;
thương mại - dịch vụ tăng từ 31,29% lên 32,6%; nông - lâm - ngư nghiệp từ
43,15% giảm xuống cịn 35%. GDP bình qn đầu người năm 2010 đạt 11 triệu
đồng, vượt mục tiêu Đại hội đề ra.

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng trưởng nhanh, tạo nền tảng
cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển dịch vụ, đô thị và chuyển
dịch lao động ở khu vực nông thôn. Sản xuất công nghiệp có bước chuyển dịch
tích cực trong cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu sản xuất nội ngành; giá trị sản
xuất tăng bình quân hàng năm 18,7% (giai đoạn 2001 - 2005 là 15,7%). Chất
lượng sản phẩm được nâng cao; tỷ trọng cơng nghiệp khai khống từ 24,4%

giảm xuống cịn 19,5%, công nghiệp chế biến và phân phối điện, nước tăng từ
75,6% lên 78,3%. Tiềm năng, lợi thế trong phát triển cơng nghiệp đã được khai
thác, phát huy tồn diện và hiệu quả hơn, đã thu hút và triển khai đầu tư một số
dự án trọng điểm có quy mơ quốc gia, từng bước hình thành trung tâm cơng
nghiệp nặng quy mô lớn của khu vực và cả nước tại Khu kinh tế Vũng Áng với
các sản phẩm chủ lực là gang thép, nhiệt điện, lọc hóa dầu, cơng nghiệp phụ trợ,
cảng biển. Các doanh nghiệp đã khắc phục khó khăn do ảnh hưởng của suy
thoái kinh tế thế giới và suy giảm kinh tế trong nước, từng bước khôi phục và
phát triển sản xuất. Một số cơng trình, dự án đã tập trung hoàn thành giai đoạn


đầu tư, từng bước đi vào hoạt động góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng
khu vực công nghiệp, xây dựng như: Nhà máy Tuyển quặng sắt Vũ Quang, Nhà
máy Thủy điện Hương Sơn, Nhà máy Sản xuất que hàn LILAMA, Nhà máy Chế
biến tinh bột sắn Vedan…

Đã quan tâm phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các làng nghề truyền
thống, tạo thuận lợi về cơ chế, chính sách, ưu tiên nguồn vốn đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng và hỗ trợ phát triển sản xuất. Hoạt động khuyến công được
đẩy mạnh, huy động được nguồn lực của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đầu
tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập, góp phần chuyển đổi
cơ cấu kinh tế, chuyển dịch lao động ở nông thôn. Tập trung chỉ đạo lồng ghép
các nguồn vốn đầu tư xây dựng hệ thống các công trình hạ tầng thiết yếu tại Khu
kinh tế Vũng Áng, Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, Thành phố Hà Tĩnh
và các khu, cụm công nghiệp tập trung, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình
doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

Môi trường đầu tư được cải thiện, đã ban hành cơ chế khuyến khích, ưu đãi đầu
tư vào Khu kinh tế Vũng Áng, Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo và các
khu công nghiệp; các ngành, các cấp tập trung đẩy mạnh cải cách hành chính,

giải quyết nhanh, gọn các thủ tục… tạo điều kiện thu hút đầu tư đạt kết quả cao.
Đã tổ chức Lễ ký kết thỏa thuận hợp tác về đầu tư phát triển tồn diện giữa Tập
đồn Dầu khí quốc gia Việt Nam với tỉnh Hà Tĩnh. Đến nay, đã cấp giấy chứng
nhận đầu tư cho 133 dự án với tổng vốn đăng ký 192.247 tỷ đồng, trong đó có
nhiều dự án có tổng mức đầu tư lớn như: Khu Liên hợp gang thép và Cảng Sơn
Dương Formosa Hà Tĩnh, Khai thác mỏ sắt Thạch Khê, Nhà máy Nhiệt điện
Vũng Áng I và II...
Chú trọng thực hiện công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, nhằm tạo tiền đề
cho sự phát triển các ngành, lĩnh vực và góp phần cụ thể hóa các định hướng
phát triển kinh tế - xã hội, làm cơ sở cho đầu tư phát triển và xây dựng hệ thống
hạ tầng kỹ thuật. Đã hợp đồng với đơn vị tư vấn nước ngoài triển khai xây dựng


quy hoạch tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh gắn với quy
hoạch chung phát triển thành phố Hà Tĩnh. Hệ thống quy hoạch các ngành, các
địa phương, lĩnh vực quan trọng đang được xây dựng, rà soát và bổ sung, điều
chỉnh; 100% các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp đã được phê duyệt
quy hoạch chung và triển khai các quy hoạch xây dựng chi tiết 1/2.000, góp
phần từng bước nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý của các cấp chính quyền,
tạo điều kiện cho người dân và nhà đầu tư được tham gia vào sự phát triển
chung của tỉnh.

Thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác quản lý quy hoạch và bảo vệ
quy hoạch; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các tập thể, cá nhân vi phạm.

Khu kinh tế Vũng Áng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 84 dự án với số vốn
đăng ký trên 180.000 tỷ đồng. Một số cơng trình, dự án lớn đang được đẩy
nhanh tiến độ, như: Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng I (1.200MW); Khu Liên
hợp gang thép và Cảng Sơn Dương Formosa Hà Tĩnh; Khu Du lịch Hồ Tàu Voi;
Khu Đô thị - Dịch vụ Phú Vinh; Nhà máy Liên hợp gang thép của Công ty cổ

phần gang thép Hà Tĩnh... Nhiều dự án có quy mơ lớn đang triển khai các bước
để được cấp giấy chứng nhận đầu tư, như: Nhà máy Lọc hóa dầu cơng suất 16
triệu tấn/năm (12,47 tỷ USD); Nhà máy Luyện thép của Công ty cổ phần Sắt
Thạch Khê; Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II... Nhiều cơng trình kết cấu hạ
tầng quan trọng đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Dự án Hệ thống thủy lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang đã tổ chức khởi công xây
dựng tiểu Dự án đập đầu mối. Tỉnh đang tập trung đẩy nhanh tiến độ hoàn thành
phê duyệt tiểu Dự án hệ thống kênh mương để triển khai các bước tiếp theo.

Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo đã có 8 dự án đầu tư, 115 doanh nghiệp
và trên 600 hộ đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đến nay, đã
hoàn thành phê duyệt quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết một số khu chức


năng: Khu vực cổng B, Khu công nghiệp - dịch vụ Đại Kim, Khu tái định cư Hà
Tân, Khu đô thị tổng hợp Đá Mồng, quy hoạch chi tiết khu vực Cửa khẩu. Tập
trung đẩy nhanh tiến độ xây dựng các cơng trình hạ tầng kỹ thuật, triển khai các
dự án đầu tư của các doanh nghiệp vào Khu kinh tế ...

Hoạt động thương mại - dịch vụ từng bước được mở rộng, nâng cao chất lượng,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và tiêu dùng; thương mại nội địa
chuyển biến tích cực; tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của các ngành
dịch vụ đạt 10,3%, đóng góp trên 30% tăng trưởng GDP. Tổng mức bán lẻ hàng
hóa và doanh thu dịch vụ xã hội bình quân hằng năm tăng trên 30%. Giá trị kim
ngạch xuất khẩu tăng bình quân 8%/ năm và năm 2010 đạt 55 triệu USD.

Một số cơng trình, dự án đã hồn thành, đi vào hoạt động góp phần đẩy nhanh
tốc độ tăng trưởng khu vực thương mại, dịch vụ như: Bến số 1 và 2 cảng Vũng
Áng, Tổng kho Xăng dầu Vũng Áng, Tổng kho Khí hóa lỏng Bắc Trung Bộ,

Trung tâm Thương mại và Khách sạn BMC…
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2006-2010
(tiếp)
Sản xuất nông nghiệp đạt kết quả toàn diện cả về cây trồng và vật ni, giá trị
sản xuất tăng bình qn hàng năm 5,64%; sản lượng lương thực bình quân đạt
47 vạn tấn/năm, riêng năm 2010 đạt 49 vạn tấn. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi
chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa; nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, đặc
biệt là giống, biện pháp thâm canh mới, cơ giới hóa... đã được ứng dụng, góp
phần tăng năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm; năm 2010, giá trị sản xuất
đạt trên 44 triệu đồng/ha canh tác, tăng 1,9 lần so với đầu nhiệm kỳ. Chăn nuôi
phát triển cả về số lượng và chất lượng, tỷ trọng chăn nuôi, trong nông nghiệp
tăng từ 31,39% lên 42%; làm tốt cơng tác phịng, chống dịch bệnh gia súc, gia
cầm, không để lây lan ra diện rộng.


×