LỊCH SỬ THẾ GIỚI CẬN ĐẠI
( 1640 – 1900 )
Thời kì cận đại lịch sử thế giới bắt đấu vào năm 1640 và kết thúc vào năm 1900. Giai đoạn
chủ yếu là lịch sử thăng tiến và phát triển của chủ nghĩa tư bản.
Thật vậy, thời kì thăng tiến của chủ nghĩa tư bản không thể tách rời được với việc cướp bóc
ở những vùng đất thuộc địa bên ngoài và sự bóc lột với nhân dân lao động trong nước. Do
vậy, nó có mặt tiêu cực của nó. Tuy nhiên, nếu đem so sánh với chế độ phong kiến trong thời
trung cổ, thì nói cho cùng nó cũng là một bước tiến to lớn trong lịch sử. “ Sự sáng tạo sinh
sản của giai cấp tư sản trong thời gian họ thống trị chưa đến 100 năm, vẫn nhiều hơn so với
sự sáng tạo sức sản xuất của tất cả thời đại trước.” ( Marx – Engels: “ Tuyên ngôn của Đảng
cộng sản” . “ Đó là công lao và thành tích vĩ đại của giai cấp tư sản. Hơn nữa, về mặt văn hóa
tinh thần trong giai đoạn này như triết học, văn học, sử học, nghệ thuật và tư tưởng chính trị
xã hội đều có những thành tựu sáng chói. Kế đó, trong quá trình lâu dài chống lại chế độ
phong kiến của giai cấp tư sản, chẳng những họ lật đổ được chế độ phong kiến mà còn phá
tan sự thống trị thần quyền và chủ nghĩa mông mụi đã xiềng xích tâm linh con người; lật đổ
được chế độ quân chủ tuyệt đối và chủ nghĩa chuyên chế bóp chết tự do cá nhân và mầm sống
của xã hội; xây dựng một chế độ dân chủ của gia cấp tư sản thích ứng với sự phát triển xã
hội, kinh tế và văn hóa. Sau hết, do sự phất triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã dần dần xóa
bỏ được trạng thái ngăn cách giữa các khu vực, làm cho cả thế giới trở thành một khối hoàn
chỉnh.
Lịch sử cận đại của thế giới có thể chia thành hai thời kì chủ yếu. Thời kì thứ nhất bắt đầu
từ 1640 – 1870. Thời kì thứ hai bắt đầu từ 1871 -1900. Thời kì thứ nhất chính là thời kì chủ
nghĩa tư bản xác lập và dành được sự thắng lợi ở những nước tiên tiến Âu Mỹ, cũng tức là
thời kì chủ nghĩa tư bản “ tự do”. Thời kì thứ hai là thời kì chủ nghĩa tư bản “ tự do” chuyển
sang chủ nghĩa tư bản “ lũng đoạn”.
Sự xác lập và sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản ở các nước Âu Mỹ được hoàn thành qua
hàng loạt những cuộc cách mạng và cải cách của giai cấp tư sản.
Cuộc cách mạng của giai cấp tư sản tại Anh, lần đầu tiên đã lật đổ được chế độ phong kiến
của một nước lớn ở Châu Âu, xác lập được chủ nghĩa tư bản. Nó đã thúc đẩy được những
phong trào cách mạng của giai cập vô sản, và một số nước khác ở Châu Âu phát triển lên.
Cuộc chiến tranh giành độc lập xảy ra ở nước Mỹ vào cuối thế kỉ thứ 18, là một cuộc cách
mạng thứ hai của giai cấp tư sản trong lịch sử cận đại. Nó đã lật đổ được sự thống trị của chủ
nghĩa thực dân Anh tại vùng Bắc Mỹ. Xây dựng được nước hợp chủng Quốc Mỹ, từ đó đảm
bảo cho sự phát triển thuận lợi của chủ nghĩa tư bản ở nước Mỹ.
Cuộc đại cách mạng ở Pháp bùng nổ vào cuối thế kỉ 18, đã mở ra một con đường cho chủ
nghĩa tư bản ở Châu Âu phát triển và giành được thắng lợi. Cuộc đại cách mạng ở Pháp là
cuộc cách mạng của giai cấp tư sản có ảnh hưởng tương đối lớn trong thời đại chủ nghĩa tư
bản “ tự do”. Sau cuộc đại cách mạng ở Pháp, phong trào đấu tranh mang tính chất dân chủ
và dân tộc của giai cấp tư sản ở nhiều quốc gia Châu Âu, cũng như phong trào quần chúng
nhân dân chống chế độ phong kiến đã liên tiếp xảy ra không bao giờ chấm dứt. Dưới tình
trạng chia năm sẻ bảy ở nước Đức và Ý; dưới sự thống trị chuyên chế phong kiến Tây Ban
Nha, Bồ Đào Nha ở châu Mỹ cũng bùng nổ những cuộc đấu tranh giành độc lập trong trào
lưu chung của thời kì cách mạng này, đồng thời họ cũng giành được nhiều thắng lợi to lớn.
Sự thắng lợi qua những cuộc cách mạng của gia cấp tư sản , đã dọn đường cho chủ nghĩa tư
bản phát triển, tạo điều kiện cho sự bùng nổ của một cuộc cách mạng công nghiệp. Cuộc cách
mạng công nghiệp bùng nổ trước tiên ở Anh ( vào cuối thế kỉ 18 ). Đến đầu thế kỉ 19, tại các
nước Pháp, Mỹ, và Đức đã lần lượt tiến vào thời cách mạng công nghiệp. Cuộc cách mạng
công nghiệp chẳng những có nghĩa là nền thủ công tư bản chủ nghĩa đã bước sang nền đại
công nghiệp tư bản chủ nghĩa, mà nó còn làm thay đổi một cách sâu sắc và rộng rãi cục diện
xã hội, trong đó có sự hình thành giai cấp vô sản và đã phát triển thành một lực lượng chính
trị độc lập mạnh mẽ, to lớn. Cuộc khỡi nghĩa của công nhân xảy ra tại Lyon ở nước Pháp vào
những thập niên 30 – 40 của thế kỉ 19, cũng như cuộc khỡi nghĩa của công nhân tại tại Silesia
ở Đức và phong trào Hiến Chương ở Anh, đã thể hiện rõ giai cấp vô sản có thể bước lên vủ
đài chính trị một cách độc lập.
Theo đà phát triển của những cuộc đấu tranh giai cấp vô sản và gia cấp tư sản, đến thập niên
40 của thế kỉ 19, chủ nghĩa xã hội không tưởng đã phát triển thành chủ nghĩa xã hội khoa
học; chủ nghĩa Marx – lý luận cách mạng của giai cấp vô sản đã xuất hiện. Tháng 2 / 1848,
bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản do Marx và Engels cùng soạn thảo đã được công bố. Đó là
một văn kiện có tính cương kĩnh đầu tiên trong phong trào cách mạng của giai cấp vô sản. Nó
dẫn giải một cách khoa học và toàn diện quy luật phát triển của xã hội và nguyên lí cơ bản
của chủ nghĩa cộng sản; vạch rõ quy luật khách quan của sự phát triển là tiêu diệt chủ nghĩa
tư bản; vạch rõ sứ mệnh lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản và luận chứng về tính tất nhiên một
cuộc cách mạng của giai cấp vô sản.
Đứng trước tình hình lớn mạnh của lực lượng chính trị trị thuộc giai cấp vô sản, giai cấp tư
sản tỏ ra sợ hãi giai cấp vô sản nên trong cuộc đấu tranh chống phong kiến họ bằng lòng thỏa
hiệp với thế lực phản động, bán rẻ cách mạng. Điều đó đã thể hiện rõ ràng qua những cuộc
cách mạng với một số nước tại châu Âu năm 1848. Những cuộc cách mạng bùng nổ tại Pháp,
Đức và Áo trong năm 1848, chính là cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nhưng do giai cấp tư
sản có những hành vi phản bội và bán đứng những cuộc cách mạng nên đã dẫn tới thất bại.
Sau những cuộc cách mạng 1848 bị thất bại, vào thập niên 50 và 60 của thế kỉ 19, lại xuất
hiện cao trào phát triển của chủ nghĩa tư bản. Nước Anh đã trở thành “ công xưởng của thế
giới ”, chiếm địa vị lũng đoạn trong việc sản xuất công nghiệp của thế giới. Ở Mỹ, Đức,
Pháp, Ý và Nga cũng xuất hiện tình hình tăng trưởng của chủ nghĩa tư bản với mức độ khác
nhau. Do công cụ giao thông vận tải trên thế giới của chủ nghĩa tư bản đại thể cũng được
hoàn thành. Trên cơ sở phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, bắt đầu từ thập niên 50,
những cuộc cách mạng và những phong trào thống trị của giai cấp tư sản lại bắt đầu lên cao.
Đến thập niên 50, Ý và Đức đã lần lượt hoàn thành thống nhất đất nước. Tại Nga vào năm
1861, đến năm 1865cung4 dẫn đến xóa bỏ chế độ nô lệ ở phía Nam. Như vậy đến cuối thập
niên 60 thì tại các nước lớn ở Âu Mỹ đã lần lược xác lập được sự thống trị hoàn chỉnh của
chủ nghĩa tư bản.
Việc xác lập sự thống trị của chủ nghĩa tư bản đã làm cho đời sống vốn nghèo nàn, cơ cực
của giai cấp vô sản trở thành gay gắt hơn. Do vậy, sự đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại
giai cấp tư sản cũng theo đó quyết liệt hơn. Trong những thập niên 50 và 60, tại Âu Mỹ đã
xuất hiện những phong trào công nhân sôi nổi. Những cuộc đấu tranh qua hình thức bãi công
liên tục xảy ra, những tổ chức công đoàn cũng nhanh chóng phát triển, sự liên hệ có tính quốc
tế của giai cấp công nhân cũng được tăng cường hơn. Chủ nghĩa Marx cũng bắt đầu truyền bá
rộng rãi vào giới công nhân trên cơ sở đó. Vào năm 1864, một tổ chức quốc tế của giai cấp
công nhân lớn mạnh cũng bắt đầu chào đời. - Quốc tế một. Năm 1869, tại nước Đức đã hình
thành một chính Đảng của công nhân – Đảng xã hội dân chủ.
Sự phát triển của xã hội tư bản của Âu Mỹ, là việc không thể tách rời được với sự cướp bóc
của họ tại khu vực có nền kinh tế lạc hậu trên thế giới. Các nước Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Anh, Pháp ngày từ thế kỉ 16, 17 , 18 đã lần lượt chiếm được rất nhiều đất thực dân
trên khắp thế giới. Sa Nga Hoàng cũng đã cướp đi rất nhiều lãnh thổ của Trung Quốc tại vùng
phía Tây Bắc và Đông Bắc nước này. Họ đã tàn sát và nô dịch nhân dân ở vùng biên cương
Trung Quốc. Sau khi bước vào thế kỉ XIX, tư bản chủ nghĩa Âu Mỹ đã tăng cường những
biện pháp xâm lược về quân sự, chính trị và kinh tế đối với những quốc gia kinh tế chưa phát
triển, biến những quốc gia này thành nước thuộc địa hoặc nửa thuộc địa. Nước Anh trở thành
đế quốc thực dân mới nhất. Nước Trung Quốc từ sau cuộc chiến tranh nha phiến xảy ra hồi
1840, cũng rơi vào tình trạng nửa thuộc địa. Đứng trước sự cướp bóc điên cuồng và sự đàn áp
tàn khốc của các cường quốc tư bản chủ nghĩa đối với những nước thuộc địa và nửa thuộc
địa, đã dẫn đến những cuộc phản kháng của nhân dân các nước này liên tục xảy ra. Vào giữa
thế kỉ 19, phong trào cách mạng chống chủ nghĩa thực dân và phong kiến đã lan tràn khắp
vùng Châu Á, trong số đó, những cuộc cách mạng có thể xem là to lớn nhất là cuộc cách
mạng thái bình thiên quốc ở Trung Quốc, cuộc đại khởi nghĩa có tính dân tộc ở Ấn Độ và
cuộc khởi nghĩa của tín đồ tôn giáo Bab ở Iran. Những phong trào cách mạng đó đã đành
những đòn mạnh vào thế lực của thực dân cũng như thế lực của giai cấp phong kiến ở bản
quốc. Mặc dù những cuộc cách mạng đó đều bị thất bại, nhưng nó đã bộc lộ một cách đầy đủ
tinh thần cách mạng , anh dũng bất khuất của nhân dân bị áp bức. Thời bấy giờ ở Châu Á, chỉ
có Nhật Bản làm cách mạng thành công. Trải qua cuộc cách mạng không triệt để của giai cấp
tư sản Nhật Bản ( tức cuộc Duy Tân Minh Trị của Thiên Hoàng), giúp họ tránh khỏi số phận
bị rơi vào địa vị thuộc địa và bước lên con đường tư bản chủ nghĩa phát triển.
Năm 1871, Paris công xã là cuộc cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản trong lịch sử.
Trong cuộc cách mạng này, giai cấp vô sản tại Paris đã thành lập chính quyền đầu tiên của
giai cấp vô sản.
Vào thập niên 30 của thế kỉ 19, khoa học kĩ thuật đã phát triển nhanh chóng, dẫn đến cuộc
cách mạng công nghiệp lần hai ( bắt đầu từ thập niên 60, 70 của thế kỉ 19, cho đến đầu thế kỉ
20 thì hoàn thành.) Do khoa học kĩ thuật được ứng dụng một cách rộng rãi, nên công nghiệp
đã tăng trưởng chưa bao giờ có, đồng thời đã xuất hiện nhiều ngành công nghiệp mới. Sự
phát triển của công nghiệp đã làm cho nền kinh tế bị khủng hoảng;từ đó dẫn đến sản xuất bị
tích tụ và tư bản bị tập trung và cũng từ đó sản sinh ra tư bãn lũng đoạn. Hiện tượng này có
nghĩa là chủ nghĩa tư bản tự do đã bước sang chủ nghĩa tư bản lũng đoạn.
Để thích ứng với giai đoạn quá độ từ tư bản tự do sang tư bản lũng đoạn, tập đoàn thống trị
của các quốc gia tư bản chủ nghĩa tại Âu Mỹ đã tiến hành điều chỉnh về các mặt chính trị và
xã hội. Chính nhờ vậy đã làm hòa dịu được mâu thuẫn giai cấp và tạo được một sức sống mới
cho chủ nghĩa tư bản, đảm bảo cho nên kinh tế của chủ nghĩa tư bản được phát triển mạnh mẽ
và nhanh chóng hơn.
Trong thời kì này, lực lượng của giai cấp vô sản ở các nước cũng tăng trưởng một cách
mạnh mẽ. Ở các nước đã lần lượt thành lập những chính Đảng của giai cấp công nhân. Chủ
nghĩa Marx đã tiến lên một bước truyền bá rộng rãi hơn. Trên cơ sở đó, năm 1889, dưới sự
chỉ đạo của Angel. Quốc tế hai đã được thành lập. Nhưng sau khi Angel chết, chủ nghĩa xét
lại đã chiếm địa vị thống trị trong quốc tế hai và trong các Đảng công nhân ở các nước.
Đi đối với sự xuất hiện của tư bản lũng đoạn, nhằm cướp đoạt nguyên liệu mở rộng thị
trường tiêu thụ hàng hóa và đâu tư, các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã dấy lên phong trào
chia cắt thế giới. Đến cuối thế kỉ 19, cả Châu Phi đã bị các nước Anh, Pháp, Đức, Bỉ... chia
cắt. Riêng nước Mỹ cũng đã hai lần thò tay thế lực của họ vào Châu Mỹ La Tinh. Nước Nhật
sau cuộc Duy Tân Minh Trị của Thiên Hoàng, cũng đã thò nanh vuốt xâm lược của họ đến
lãnh thổ Trung Quốc. Trước tình trạng xâm lược của chủ nghĩa đến quốc, các dân tộc ở Châu
Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh cũng ngày càng khốn đốn. Chính vì vậy, phong trào chống
sự áp bức của chủ nghĩa thực dân cũng như phong trào giải phóng dân tộc đã liên tục bùng nổ
khắp mọi nơi.
Bài 1: Dẫn nhập vào lịch sử thế giới cận đại
1) Vị trí:
Môn học thuộc nhóm kiến thức cơ sở ngành mang tính bắt buộc.
Tập trung kiến thức hậu kì trung đại
Phương pháp luận sử học.
2) Mục tiêu:
Vì sao phải học lịch sử thế giới cận đại:
1. Cung cấp kiến thức mang tính cơ bản và có hệ thống về thời kì lịch sử thế giới cận
đại. Từ CMTS Anh CMT10 Nga ( 1640 – 1917).
2. Giúp cho sinh viên biết lịch sử thế giới hiện đại ( tiếp cận giai đoạn sau) tiếp cận môn
học thuộc kiến thức chuyên ngành.
3) Đối tượng nghiên cứu:
1. Lịch sử là gì? Lịch sử là một từ hán việt. Khái niệm lịch sử được cấu tạo bằng hai
từ khác nhau. “ Lịch” là cái gì đã trải qua. “ Sử” là sự ghi chép. Có hai nghĩa khác
nhau. Lịch sử là những gì đã xảy ra, là quá khứ ( cái có trước.) Lịch sử là sự ghi
chép lại quá khứ ( cái có sau.)
2. Khoa học lịch sử hay sử học là ngành học trực thuộc các ngành học nhân văn có
đối tượng nghiên cứu là quá khứ của con người và xã hội loài người kể từ khi con
người xuất hiện cho đến nay.
3. Thế giới là khái niệm dùng để chỉ không gian và thời gian mang tính toàn cầu, quy
mô toàn bộ hành tinh chúng ta.
4. Lịch sử thế giới là một phân ngành của khoa học lịch sử thế giới, có đối tượng
nghiên cứu là quá trình hình thành, phát triển, tiêu vong của các quốc gia, dân tộc
trên thế giới. Kể từ khi con người xuất hiện cho đến nay nhằm tìm ra quy luật phát
triển, con đường phát triển của xã hội loài người. Cột mốc kết thúc thời kì lịch sử
này là cột mốc mở đầu sự kiện lịch sử khác.
4) Phân kì: Chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn 1: ( 1640 – 1870 ) Chủ nghĩa tư bản từ một nước phát triển thành một
hệ thống trên thế giới.
Giai đoạn cách mạng tư sản.
Nước Nhật 1858 diễn ra cuộc cải cách Minh Trị - Duy Tân ( thực chất là CMTS). Đến CMTS
thành công, gia nhập vào hàng ngủ của các nước đề quốc ở giai đoạn sau đó. Nước duy nhất
ở các nước Châu Á CMTS thành công.
Về kinh tế - chính trị: Cột mốc hoàn thành và phát triển chủ nghĩa tư bản tự do ở Châu Âu.
Bước vào thời kì đế quốc chủ nghĩa, sự xuất hiện của các tổ chức độc quyền dưới các dạng
thức khác nhau trong nền kinh tế của các quốc gia tư bản chủ nghĩa chủ yếu ở Châu Âu.
Về phong trào đấu tranh của Châu Âu: Giai cấp tư sản đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của
mình các cuộc cách mạng trên thế giới đều do giai cấp tư sản lãnh đạo
Năm 1760 là cột mốc khởi đầu của cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu thực chất là cuộc
cách mạng kĩ thuật do giai cấp tư sản tiến hành mà nội dung là thay thế lao động chân tay
bằng lao động máy móc. Kết thúc khi lao động máy móc thay thế hoàn toàn bằng lao động
chân tay trong các ngành công nghiệp chủ yếu ở Châu Âu. Cách mạng công nghiệp tạo nên
năng suất lao động cao hơn năng suất lao động của cách mạng phong kiến.
Cách mạng tư sản Anh, Pháp, Mỹ là ba cuộc cách mạng tư sản tiêu biểu của thời kì cận đại
trong thế kỉ XVII và thế kỉ XVIII đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa tư bản trong những năm
20, 30.
Đầu thế kỉ XIX hàng loạt cuộc CMTS khác nổ ra ở Châu Âu đến những năm 50, 60 thế kỉ
XIX đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của CNTB so với chế độ phong kiến.
Giai đoạn 2: ( 1870 – 1917) Về cơ bản, các cuộc CMTS ở Châu Âu đã hoàn thành, giai
cấp tư sản lên nắm chính quyền ở Châu Âu. Sự diệt vong của chế độ phong kiến không
còn là vấn đề bàn cãi nữa. CMTS đã hoàn thành ở toàn bộ khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ.
Giai đoạn 30 năm cuối của thế kỉ XIX:
Giai đoạn quá độ từ CNTB tự do cải cách tiến lên chủ nghĩa đế quốc. Sự xuất hiện của các tổ
chức kinh tế độc quyền ở các dạng thức khác nhau. Có 3 dạng thức chủ yếu ( CARTEL,
TRUST, SYNDICAT) yếu tố cơ bản nhất CNTB tự do cạnh tranh sang gia đoạn đế quốc
chủ nghĩa.
Đầu thế kỉ XX có 4 sự kiện lớn nổ ra.
1. Cuộc khủng hoảng kinh tế mang tính chu kì của CNTB ( 1900 – 1903 ) khủng hoảng
thừa.
2. Cuộc chiến tranh giữa Mỹ và Tây Ban Nha 1895 ( chiến tranh nhằm phân chia lại thị
trường thế giới.
3. Cuộc chiến tranh giữa người Anh và người Boers ( 1899 – 1902). Tranh giành thị
trường Nam Mỹ.
4. Chiến tranh Nga Nhật ( 1904 – 1905) phân chia thị trường ở Đông Bắc Trung quốc.
Bản chất là các cuộc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa.
•
Chủ nghĩa đế quốc là gì?
1. Xuất khẩu tư bản thay thế xuất khẩu hàng hóa.
2. Sự xuất hiện của các tổ chức lũng đoạn dưới nhiều hình thức khác nhau.
3. Sự dung hợp giữa tư bản chủ nghĩa và tư bản ngân hàng để hình thành nên các tập
đoàn tư bản tài chính chi phối nền kinh tế các nước.
4. Thị trường thế giới về cơ bản đã phân chia xong, không còn vùng đất trống.Dẫn đến
những cuộc đấu tranh phân chia lại thị trường thế giới. Sự phát triển không đều về
kinh tế phát triển không đều về chính trị mâu thuẫn tư bản tập trung hết sức gay
gắt không mang tính đồng bộ cách mạng giành thắng lợi trong từng nước riêng lẽ.
•
Nội dung của lịch sử thế giới cận đại:
1. Nghiên cứu các cuộc cách mạng tư sản. Nghiên cứu sự hình thành và phát triển
của chủ nghĩa tư bản
+ Thời kì chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.
+ Chủ nghĩa đế quốc
2. Cùng ra đời chủ nghĩa tư bản, cách mạng công nghiệp, một lực lượng mới ra đời
trong lòng chủ nghĩa tư bản sự ra đời của giai cấp tư sản và phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân.
3. Cùng phát triển chủ nghĩa tư bản sự phát triển chủ nghĩa tư bản gắn liền với thị
trường trong nước và ngoài nước đi kèm xâm lược Á Phi Mỹ La Tinh của các
nước tư bản và các nước đế quốc.
Tiếp cận phong trào kháng chiến chống xâm lược đấu tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân Á Phi Mỹ La Tinh
•
Lưu ý: Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, các quốc gia Tây Nam Á.
Bài 2: CÁCH MẠNG TƯ SẢN VÀ SỰ RA ĐỜI PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN Ở CHÂU ÂU
I)
Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản:
Chủ nghĩa tư bản xuất hiện trong lòng chế độ phong kiến châu Âu, trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thời kì mầm móng tư bản chủ nghĩa.
Mầm móng tư bản chủ nghĩa ra đời ở các thành thị miền Bắc nước Ý. Ra đời giữa thế kỉ XIV
bốn thành thị Genes, Florenee, Venise, Milan. Xuất hiện lao động làm thuê.
Giai đoạn 2: Chủ nghĩa tư bản phát triển trong lòng chế độ phong kiến.
Nơi chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh nhất là nước Anh thế kỉ XVI.
II)
Cách mạng tư sản Châu Âu:
1. Cách mạng tư sản là gì?
Là phương thức chuyển từ hình thái kinh tế xã hội phong kiến sang TBCN thực hiện bằng
cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt nhằm giành chính quyền giữa các tập đoàn phong kiến bảo
thủ lạc hậu với giai cấp TSTB có sự tham gia của quần chúng nhân dân.
Xem xét trong tiến trình phát triển, cách mạng tư sản là một hiện tượng xã hội hợp quy luật,
giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới, với quan hệ sản xuất cũ lỗi thời ( quan hệ
sản xuất phong kiến), giải quyết mâu thuẫn hết sức gay gắt, giữa giai cấp tư sản đang lên với
giai cấp quý tộc suy tàn, là yêu cầu khách quan của lịch sử xã hội mang tính tất yếu hợp quy
luật.
2. Cách mạng sân chủ tư sản là gì?
Động lực: quần chúng nhân dân. Cách mạng có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân
dân, giải quyết triệt để nhiệm vụ cách mạng tư sản, là cuộc cách mạng dân chủ tư sản ( Đại
cách mạng tư sản Pháp).
3. Cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới là gì?
Vốn là cách mạng dân chủ tư sản, giai cấp lãnh đạo là giai cấp vô sản, đủ tiền đề đưa cách
mạng tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa ( Cách mạng Nga 1905 – 1907 kiểu mới).
4. Những tiền để của cách mạng tư sản:
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời trong lòng chế độ phong kiến ( mỗi nước có
đặc điểm khác nhau).
Thể hiện chủ yếu ở các công trường thủ công tư bản chủ nghĩa.
Phải có giai cấp tư sản và các giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất TBCN xuất hiện
( ở mỗi nước có đặc điểm và tên gọi khác nhau ). Mâu thuẫn sâu sắc với giai cấp phong kiến,
dựa vào giai cấp phong kiến nắm chinh quyền.
Có sự xuất hiện của hệ tư tưởng dân chủ tư sản, công kích mạnh mẽ hệ tư tưởng của chế độ
phong kiến, chuẩn bị cho cuộc cách mạng sắp đến, tư tưởng thanh giáo.
5. Động lực của cách mạng tư sản:
Động lực của cách mạng là những giai cấp làm cách mạng. Giai cấp lãnh đạo cách mạng và
quần chúng nhân dân tham gia.
a. Giai cấp lãnh đạo cách mạng tư sản thông thường là gia cấp tư sản, nhưng do
hoàn cảnh lịch sử mỗi nước khác nhau, nên còn có nhưng bộ phận khác nhau.
Ví dụ: Anh ( quý tộc mới), Mỹ ( Chủ nô), Pháp ( Đại tư sản, tư sản cung, tư
sản nhỏ.)
Thực tiễn cách mạng trên thế giới cho rằng lãnh đạo cách mạng là tư sản hay
tiểu tư sản thì sẽ đưa cách amng5 đi đến triệt để hơn các thành phần khác phân
hóa từ giai cấp phong kiến. Ví dụ: CMTS Pháp 1789 ( triệt để nhất)
b. Quần chúng nhân dân
Đông đảo nhất là giai cấp nông nhân. Tầng lớp bình dân thành thị: tiểu thương, công nhân,
thị dân, nô lệ, một bộ phận thổ dân
Trong bất kì giai đoạn nào của cách mạng, quần chúng nhân dân tham gia
càng đông đảo thì tính chất bạo lực cách mạng càng lớn ( bạo lực chính trị và
bạo lực vũ trang) bạo lực càng lớn thì cách mạng càng đi đến triệt để, ví dụ:
CMTS Pháp 1789. Tuy nhiên liên minh giữa giai cấp lãnh đạo cách mạng và
giai cấp dân chủ diễn ra trong một giai đoạn nhất định, giai cấp lãnh đạo
thường sử dụng bạo lực quần chúng để đạt được mục đích của mình, là lật đổ
chế độ phong kiến, thiết lập chính quyền giai cấp tư sản.
Giai cấp tư sản sau khi giành được chính quyền thường không quan tâm đến
lợi ích của quần chúng nhân dân. Quần chúng thường nổi lên chống chính
quyền tư sản và bị giai cấp tư sản đàn áp khốc liệt. Ví dụ: CM Pháp, chia đều
ruộng đất cho nông dân, nhưng trong ba cuộc cách mạng khi bộ phận tư sản
cầm quyền đạt được mục đích thì quay lại đối phó phong trào quần chúng
nhân dân.
6. Nhiệm vụ của cách mạng tư sản?
Từ thực tiễn cách mạng thì thời kì cận đại thường thực hiện hai nhiệm vụ: Nhiệm vụ dân
tộc và nhiệm vụ dân chủ.
a. Nhiệm vụ dân tộc:
Xóa bỏ tình trạng phong kiến các cứ, thống nhất thị trường, tạo thành một quốc gia dân tộc
tư sản. Bao gồm 4 yếu tố. Lãnh thổ chung, kinh tế chung, ngôn ngữ chung và văn hóa chung.
Tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử mỗi cuộc cách mạng khác nhau, biểu hiện của nhiệm vụ dân
tộc khác nhau.
Ví dụ: Nước Pháp, chế độ phong kiến tập quyền, không tồn tại chế độ phong kiến chia cắt,
nhiệm vụ dân tộc, xóa bỏ chế độ đặc quyền quý tộc địa phương về tập quán, thuế khóa. Đức
vá Ý: CMTS là cuộc đấu tranh thống nhất hai nước nhiệm vụ dân tộc chủ yếu là xóa bỏ tình
trạng phong kiến các cứ Nhiệm vụ dân tộc Mỹ, thống nhất 13 thuộc địa thành một nước
thống nhất, diễn ra dưới nhiều hình thức đấu tranh giai phóng. Nhật Bản, CMTS Minh Trị Duy Tân nhiệm vụ dân tộc là xóa bỏ các phiên quốc và đặc quyền của Daimyo đang thống trị,
biến nước Nhật thành các phủ quyền đặt dưới sự thống trị của chính phủ thiên Hoàng.
Nhiệm vụ dân tộc trong các cuộc CMTS cận đại nhằm mục đích cuối cùng là
thúc đẩy kinh tế TBCN phát triển.
b. Nhiệm vụ dân chủ: gồm dân chủ về chính trị và dân chủ về kinh tế.
•
Dân chủ về chính trị: xóa bỏ chế độ phong kiến chuyên chế, xác lập nền dân chủ tư
sản có hiến pháp và quốc hội riêng, mỗi người dân đều có quyền tự do về chính trị,
kinh doanh và tư hữu.
Nhiệm vụ dân chủ này được nêu lên đầy đủ qua các cuộc tuyên ngôn, hiến pháp của
cách mạng tư sản.
Ví dụ: CMTS Anh, tuyên ngôn về quyền hành gồm 13 điều. Mỹ, gồm tuyên ngôn độc
lập Mỹ năm 1776. Pháp, Tuyên ngôn nhân quần và dân quyền 1789.
Nhấn mạnh quyền tư hữu tài sản là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm,
quyền tư hữu có ý nghĩa cục kì quan trọng vì bảo đảm cho sự phát triển của xã
hội. Tất cả thành tựu dân chủ mà giai cấp tư sản và quần chúng nhân dân
giành được trong thời kì cận đại qua các cuộc cách mạng tư sản bằng nhưng
tuyên ngôn và hiến pháp, nhưng rất quan trọng xây dựng theo chế độ tam
quyền phân lập: lập pháp tư pháp và hành pháp thuộc về ba quan điểm khác
nhau, biệt lập và kiềm chế lẫn nhau. Ví dụ: 1689, tư tưởng đầu tiên ra đời ở
nước Anh trong tuyên ngôn quyền hành, quyền lực thuộc về nghị viện thế
kỉ 18, tư tưởng tam quyền phân lập được nâng lên thành lí luận là Mongteckio
( tinh thần luật Pháp của Mongteckio).
•
Dân chủ về kinh tế:
Thể hiện ở việc xác lập quyền tư hữu về ruộng đất của nông dân. Tuy nhiên do hoàn
cảnh lịch sử của mỗi nước khác nhau, nên quyền giải quyết vấn đề tư hữu về ruộng
đất mỗi nước khác nhau. Cuộc cách mạng này do tư sản và quý tộc mới tiến hành.
Ví dụ: Nước Anh, biến ruộng đất thành những trại chăn nuôi, không chia ruộng đất
cho nông dân, tạo ra vô số những thành phần vô sản tay trắng, chạy ra thành thị để tìm
kiếm việc làm. CMTS Mỹ, Sau cuộc chiến tranh giành độc lập, mỗi mãnh đất có giá
642 đô la. CM Pháp. 1789 đã từng bước giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.
CMTS Pháp tạo ra tầng lớp tiểu nông hết sức đông đảo.
Việc thực hiện tư hữu ruộng đất, việc khác nhau tùy thuộc vào hoàn cảnh địa
lí, hoàn cảnh lịch sử và tùy thuộc vào giai cấp lãnh đạo cuộc cách mạng đó.
Nhưng nói cho cùng, việc xác lập cách mạng tư hữu ruộng đất, xác lập tư bản
chủ nghĩa ở nông thôn, thúc đẩy sản xuất tư bản chủ nghĩa nông thôn, thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp phát triển mạnh mẽ ở Châu Á.
CÁCH MẠNG TƯ SẢN ANH
1. Đặc điểm cách mạng tư sản Anh:
Cách mạng tư sản Anh là nội chiến.
Cách mạng tư sản Anh diễn ra dưới nhiều hình thức chiến tranh tôn giáo “ Thánh chiến”.
Cuộc cách mạng tư sản Anh mang tính chất bảo thủ và không triệt để.
Cuộc cách mạng của giai cấp tư sản tại nước Anh đã xảy ra đầu tiên tại một
nước lớn ở Châu Âu và nó đã lật đổ được chế độ phong kiến, xác lập được chế
độ tư bản chủ nghĩa. Cuộc cách mạng này cũng đã thúc đẩy phong trào cách
mạng của giai cấp tư sản ở Pháp và một số nước khác tại Châu Âu, làm cho
chế độ phong kiến Châu Âu ngày càng nhanh chóng tan rã. Tư tưởng chính trị,
tư tương triết học của giai cấp tư sản xuất hiện trong thời kì cách mạng tại Anh
cũng như sau đó đã xúc tiến sự vươn lên của tư tưởng mới vào thế kỉ 18 ở
Pháp. Do vậy cuộc cách mang của giai cấp tư sản ở Anh vào thế kỉ 17 là dấu
hiệu mở đầu cho lịch sử cận đại của thế giới.
2. Bối cảnh của cách mạng:
a. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp:
Ngay từ cuối thế kỉ 15, tại các vùng phía đông và các vùng phía Tây Nam đã bắt đầu dấy lên
phong trào “ khoanh chiếm đất đai”. Phong trào khoanh chiếm đất đai đã dẫn đến một hậu
quả to lớn. Thứ nhất, nó làm cho người trực tiếp sản xuất trong nông nghiệp ( nông dân) và
phương tiện sản xuất ( ruộng đất) bị tách rời nhau, khiến nước Anh trở thành một quốc gia
điển hình trong việc tích lũy tư bản nguyên thủy. Thứ hai, kết quả của việc khoanh chiếm đất
đã dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn tại nước Anh. Sự bóc
lột phong kiến của địa chủ đối với nông dân đã chuyển sang sự bóc lột tư bản chủ nghĩa đối
với người công nhân nông nghiệp của các nhà nông nghiệp tư bản.
Những địa chủ tiến hành việc khoanh chiếm ruộng đất, bất luận do họ đứng ra kinh doanh
nông trường theo dạng tư bản chủ nghĩa hay là đem số đất đó cho các nhà tư bản nông nghiệp
thuê, đều trở thành những người có mối quan hệ trực tiếp với tư bản chủ nghĩa, tức là họ đã
trở thành giai cấp tư sản, Marx gọi những người địa chủ quý tộc dạng này là “ quý tộc mới”
để phân biệt với loại quý tộc phong kiến.
Thứ ba, tại những nông trường tư bản chủ nghĩa xuất hiện sau phong trào khoanh chiếm đất
đai có sự phát triển rất to lớn, cải tiến về kĩ thuật công nghiệp cũng như phương pháp canh
tác, năng suất lao động tăng cao, sản lượng tăng gấp nhiều lần.
Tuy nhiên, phong trào khoanh chiếm đất đai cũng như sự phát triển nông nghiệp tư bản chủ
nghĩa vẫn còn giới hạn, người nông dân vẫn còn chịu sự bóc lột của đại chủ. Đến thế kỉ 17,
do chịu ảnh hưởng của cuộc cách mạng giá cả, sức mua của đồng tiền bị tụt mạnh, nên có
nhiều địa chủ không cần quan tâm đến thói quen truyền thống, đã tăng cao địa tô đóng bằng
tiền tệ để bóc lột nhiều hơn đối với người nông dân.
b. Sự phát triển của công thương nghiệp
Công nghiệp dệt len, nỉ dạ là công nghiệp “ dân tộc của nước Anh” Ngay từ thế kỉ 16, trong
nghề dệt len, nỉ ở Anh đã xuất hiện nhân tố tư bản chủ nghĩa. Có nhiều ngành sản xuất đã sử
dụng hình thức công trường thủ công phân tán, nhưng cũng có nhiều ngành sản xuất đã tiến
lên giai đoạn công trường thủ công tập trung. Có một số công trường thủ công tập trung quy
mô tương đối lớn. Những chủ nhân giàu có của công trường thủ công thông qua sự bóc lột
tàn nhẫn thợ thuyền và những người học việc đã trở thành giàu có. Chính vì vậy công trường
thủ công của họ đã dần dần mang tính chất công trường thủ công tư bản chủ nghĩa.
Theo đả phát triển của công nghiệp, việc mậu dịch đối ngoại cũng bắt đầu hưng thịnh lên.
Nước Anh chẵng những xuất khẩu những sản phẩm công nghiệp như len, nỉ, dạ mà còn nhập
khẩu một lượng lớn nguyên liệu. Sự phát triển của công trường thủ công cũng như sự tăng
trưởng của mậu dịch đối ngoại đã thúc đẩy ngành tài chính phát triển theo. Ở nước Anh,
những thợ bạc chính là những người làm chức năng ngân hàng sớm nhất. Nhiều thợ bạc đã
cho tư nhân gởi tiền và cũng mở tài khoản tín dụng đối ngoại và nghiệp vụ chuyển đổi tiền tệ
giữa các nước. Điều đó có thể nói là sự manh nha đối với ngành ngân hàng. Luân đôn là
trung tâm mậu dịch của nước Anh và cũng là trung tâm của ngành tài chính
Nói chung, đến đầu thế kỉ 17, nước Anh vẫn còn là một quốc gia nông nghiệp.
Nông nghiệp vẫn còn chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân ở Anh. Công
thương nghiệp ở Anh so với các nền kinh tế khác vẫn chưa thể gọi là tiên tiến
nhất. Vì bất luận về mặt kỹ thuật hay về mặt chất lượng thì ở Anh vẫn còn
kém xa so với Hà Lan và Pháp, nhưng nếu so với các nước khác ở Châu Âu thì
thành tựu của nó to lớn hơn. Điều đó do mức độ xâm nhập của nông nghiệp
của chủ nghĩa tư bản ở Anh rất cao mà các quốc gia khác không bằng.
c. Tình trạng giai cấp trong xã hội Anh qua sự biến động về kinh tế:
Phong trào khoanh chiếm đất đã làm cho mối quan hệ ở nông thôn Anh có sự thay đổi rất to
lớn. Trước hết tầng lớp quý tộc trước đây nguyên là một tầng lớp thống nhất thì nay chia
thành hai tập đoàn lớn đối địch nhau.Ở nông thôn xuất hiện một tầng lớp quý tộc có mối quan
hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với tư bản chủ nghĩa – quý tộc mới. Quý tộc mới hầu hết là từ
trong số quý tộc bậc trung và nhỏ biến thành, vì số người này tham gia vào phong trào
khoanh chiếm đất đai sôi nổi nhất. Ruộng đất và tài sản của quý tộc mới không ngớt gia tăng,
ngoài ra, tầng lớp quý tộc mới còn đầu tư vào công thương nghiệp và trở thành người sỡ hữu
ruộng đất lại vừa kiêm nhiệm cả ngành công thương. Địa vị của tầng lớp quý tộc mới luôn
được ưu việt. Ruộng đất của quý tộc mới không phải là tài sản mang tính phong kiến mà là tài
sản mang tính chất giai cấp tư sản, quyền lợi của họ luôn nhất trí với quyền lợi của giai cấp tư
sản. Giai cấp tư sản và quý tộc mới trở thành một khối đồng minh.
Tuy nhiên ở nước Anh từ thời trung cổ trở về sau vẫn duy trì cái gọi là chế độ kị sĩ.Theo chế
độ này, ruộng đất của mỗi địa chủ ở nước Anh vẫn không được xem là tài sản tư hữu của họ.
Về mặt pháp luật, quốc vương được xem là người sở hữu tối cao về ruộng đất, tất cả ruộng
đất trong cả nước đều thuộc sở hữu của nhà vua.Do vậy quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ
được xem là có điều kiện, họ cần phải phục vụ quân dịch đối với nhà vua. Nhà vua thường
lấy tư cách là người sở hữu tối cao ruộng đất để can thiệp vào phong trào khoanh chiếm
ruộng đất của địa chủ, phạt tiền đối với những người tiến hành khoanh chiếm ruộng đất đã trở
thành nguồn thu nhập chính của nhà vua trong thế kỉ 16, 17.
Chế độ kị sĩ thế kỉ 17 đã trờ thành mâu thuẫn gay gắt với những người sỡ hữu ruộng đất. Do
vậy họ có sự yêu cầu bức xúc phải bỏ chế độ sỡ hữu kị sĩ để biến tài sản phong kiến của mình
thành tài sản tư hữu của giai cấp tư sản một cách vô điều kiện.
Những quý tộc phong kiến không tham gia phong trào khoanh chiếm đất đai vẫn tiếp tục
kinh doanh theo kiểu cũ, họ dựa vào sự bóc lột địa tô phong kiến đối với nông dân để duy trì
cuộc sống.Kết quả của cuộc cách mạng giá cả khiến địa tô cố định của họ bị sụt giảm, đời
sống của họ bị xuống thấp. Mặc dù về mặt kinh tế, những quý tộc cũ này bị suy sụp, nhưng
về mặt chính trị họ vẫn là người trong giai cấp thống trị. Số phận của họ luôn gắn chặt với
chế độ phong kiến. Do vậy họ cũng giống như tầng lớp tăng lữ trong giáo hội quốc giáo,
thuộc tập đoàn phản động nhất nước Anh.
Giai cấp tư sản bao gồm những nhà tư bản nông nghiệp và những nhà tư bản công thương ở
thành phố. Cuộc cách mạng giá cả vào cuối thế kỉ 16 đã giúp cho họ phát tài nhanh chóng
hơn. Cho nên về mặt kinh tế họ gắn liền với thành phần quý tộc mới.Cuối thế kỉ 16, đầu thế
kỉ 17, chính phủ Anh thực hiện chế độ buôn bán độc quyền, làm cho họ thiệt thòi rất lớn.
Đứng trước thực trạng đó, họ phản đối chế độ buôn bán độc quyền.
Nông dân là tầng lớp đông đảo nhất tự canh tác trên những mảnh đất công bạ, phải gánh vác
nhiều nhiệm vụ phong kiến hết sức nặng nề. Do vậy, yêu cầu bức xúc của họ là phải hủy bỏ
ngay chế độ phong kiến và đòi hỏi mảnh đất của họ đang canh tác phải là tài sản chân chính
của họ.
Công nhân nông nghiệp làm thuê trong các nông trường tư bản chủ nghĩa, đời sống cũng
không có gì khá hơn. Đồng lương rất thấp, lúc nào cũng không chạy theo kịp giá cả lương
thực trên thị trường. Công nhân làm thuê trong các công trường thủ công cũng hết sức nghèo
khó, tiền lương không đủ đảm bảo đời sống hàng ngày, người thợ và những người học việc
luôn bị sự bóc lột của thợ cả. Người lao động ở thành thị luôn bị sự áp bức vể mặt chính trị
của chế độ chuyên chế
Hành vi bóc lột tàn nhẫn và phong trào khoanh chiếm đất đai của địa chủ một
lần nữa đã khiến cho nhân dân lao động đứng lên phản đối. Những cuộc đấu
tranh của nông dân đứng lên chống lại chống lại sự bóc lột của địa chủ phong
kiến, chống phong trào khoanh chiếm đất đai liên tục xảy ra. Những cuộc đấu
tranh của nhân dân lao động làm thuê chống lại các quan viên thu thuế của
chính phủ chuyên chế, cũng như những cuộc đấu tranh của nhân dân ở các địa
phương chống lại các quan viên trong ngành trị an cũng liên tục xảy ra. Phong
trào đấu tranh của những người thành thị cũng ngày càng gia tăng.
d. Phong trào của quý tộc mới, giai cấp tư sản và những tín đồ Thanh giáo.
Cũng giống như tất cả các nước phương Tây, Anh là một quốc gia tín ngưỡng Thiên chúa
giáo sớm nhất. Đén thế kỉ 16, ở nước Anh cũng xảy ra phong trào cải cách tôn giáo.
Tầng lớp quý tộc mới thuộc giai cấp tư sản Anh ngày càng lớn mạnh, dần dần cảm thấy
quốc giáo của Anh không có lợi cho sự ohat1 triển của bản thân mình. Điều đó là do: thứ
nhất, giáo hội ở nước Anh đã trở thành công cụ trong tay nhà vua, tức trở thành cậy trụ chống
để củng cố chế độ chuyên chế. Thứ hai, đời sống của các tăng lữ giáo hội quốc giáo rất xa
hoa, bóc lột tín đồ một cách rất tàn nhẫn, ảnh hưởng đến sự tiết kiệm và mở rộng các hoạt
động về mặt thương nghiệp của giai cấp tư bản. Thứ ba, trong giáo hội quốc giáo đã bảo tồn
rất nhiều nghi thức và tập quán của giáo hội Thiên chúa giáo và những nghi thức phiền toái
khác làm lãng phí thời gian một cách vô ích.
Để chống lại quốc giáo, giai cấp tư sản Anh đã dùng giáo lý sẵn có của giáo phái Calvin làm
vũ khí đấu tranh. Giáo phái Calvin ở Anh cũng được gọi là Thanh giáo. Khi giáo phái này
xuất hiện họ đã có ngay một tư thế chiến đấu. Họ đã công kích một cách dữ dội đạo đức hủ
bại, đời sống trụy lạc của giáo hội trong quốc giáo và nêu lên ý tưởng phải sống nghiêm túc,
cần lao.. Đứng phía sao những yếu tố đơn giản hóa và ít tốn kém của những tín đồ Thanh
giáo là sự tiềm ẩn của dục vọng chạy theo lợi nhuận và tích lũy tư bản của họ.Nhưng giáo lí
của Thanh giáo đã thể hiện rõ ý thức hệ của một chủ nghĩa tư bản đang vươn lên.
Tuy nhiên tín đồ Thanh giáo không phải là một khối duy nhất.Ngay từ thế kỉ 16, nội bộ của
họ đã bắt đầu chia thành hai phái “ Hội trưởng lão” và “ phái độc lập”. Phái trưởng lão là tập
đoàn giàu có nhất- quý tộc mới – tầng lớp trên trong giai cấp tư sản chủ trương dựa vào hình
thức của Thanh giáo để cải cách một cách triệt để giáo hội quốc giáo. Họ cho rằng, các
trưỡng lão chẵng những phải có địa vị trong quốc hội mà còn phải có tác dụng lãnh đạo trong
bộ máy quốc gia. Riêng phái độc lập thì chủ trương mỗi đoàn thể tôn giáo đều phái đứng độc
lập ngoài quyền lực của quốc gia và quyền lực của giáo hội quốc giáo. Mỗi tín đồ không cần
phải phục tùng nhà vua, mà cũng không cần phải phục tùng những trưỡng lão và những hội
nghị tôn giáo.
•
Một số ý chắt lọc từ sách:
Sau thời gian phục hồi chế độ chuyên chế ở Anh, sự tích lũy nguyên thủy của giai cấp tư sản
ở Anh đước xúc tiến càng nhanh hơn
Ý nghĩa quan trong của cuộc cách mạng 1688: Cuộc cách mạng 1688 chẳng qua là một đoạn
nhạc chen vào không đáng kể. Đối với sự phát triển chính trị và kinh tế của nước Anh sau
này, nó có một tác dụng mang tính quyết định. Thứ nhất, giống như Engels đã viết “ Sau
những hoạt động cách mạng có tính cực đoan, thì sự phản động nối tiếp xảy đến là điều
không thể tránh được. Sự phản động của đó cũng vượt qua khỏi khả năng tồn tại của nó. Sau
khi trải qua nhiều sự xáo trộn, một trọng tâm mới rốt cuộc đã được xác lập, hơn nữa đã trở
thành khởi điểm mới để phát triển từ đây về sau.( Sách Marx – Engels tuyển tập.) Kể từ đó
trở về sau, chủ nghĩa tư bản ở Anh đã phát triển bình thường theo quỹ đạo của nó. Cuộc cách
mạng vào thập niên 40 của thế kỉ 17 ở Anh tuy đã đánh một đòn chí mạng vào chế độ chuyên
chế nước Anh, nhưng phải đến sau cuộc cách mạng 1688, thì chế độ chuyên chế này mới
thực sự tuyệt tích ở Anh, chế độ quan chủ lập hiến được củng cố và xác lập. Thứ ba, sự xác
lập quân chủ lập hiến từ 1688 trở về sau có ý nghĩa là sự thống trị của giai cấp tư sản và tầng
lớp quý tộc mới đã được xác lập , qua đó sự tích lũy tư bản nguyên thủy ở Anh đã tăng
trưởng nhanh chóng hơn, thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp đến sớm hơn.
TỔNG KẾT: Cuộc cách mạng của giai cấp tư sản Anh thế kỉ 17 được các nhà sử học
của giai cấp tư sản gọi là cuộc cách mạng của các tín đồ Thanh giáo. Điều đó là do giai
cấp tư sản có dụng ý muốn muốn che dấu nội dung giai cấp trong cuộc cách mạng này.
Đúng vậy, trong khi giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc mới muốn tiến hành chiến đấu
với quân đội quốc vương, thì họ đã sự dụng lá cờ tôn giáo. Nhưng phía sau đó là tiềm ẩn
sự đòi hỏi về quyền lợi của giai cấp tư sản. Trong hai cuộc nội chiến ở Anh trên thực
chất là một cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản quý tộc mới và quốc vương với quý tộc
phong kiến. Kết quả của cuộc đấu tranh đó thì giai cấp TS và quý tộc mới đã thắng.
Chế độ chuyên chế phong kiến bị lật đổ. Do vậy tính chất của cuộc cách mạng này là
một cuộc cách mạng của giai cấp tư sản.
Đặc điểm của cuộc cách mạng này là giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc mới đã liên
minh với nhau để lật đổ sự thống trị của quý tộc phong kiến, giáo hội quốc giáo và quốc
vương. Lực lượng đấu tranh cách mạng cũng như lực lượng thúc đẩy chính là 9dong6
đảo quần chúng nhân dân, Tuy nhiên, do bởi lãnh đạo của cuộc cách mạng này liên
minh giai cấp tư sản và tầng lớp quý tộc mới nên kết quả cách mạng là chế độ quân chủ
được bảo tồn, chế độ sỡ hữu ruộng đất được duy trì và người nông dân vẫn tiếp tục chịu
sự áp bức của giai cấp địa chủ.
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP Ở ANH
1. Bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp
a) Sự xác lập quốc hội của giai cấp tư sản:
Trải qua gần một thế kỉ với nhiều sự thay đổi, đến cuối thể kỉ 18, ở nước Anh đã xác lập
được một chế độ quốc hội của giai cấp tư sản. Chế độ đó bao gồm mấy đặc điểm sao:
Thứ nhất, quốc hội nắm toàn quyền lập pháp, quốc vương không có quyền phủ quyết. Thứ
hai, cơ cấu hành chính tối cao là nội các sản sinh từ hạ viện, nhà vua chỉ có quyền phủ định
lãnh tụ Đảng đa số ở Hạ viện đứng ra thành lập nội các. Thứ ba, nội các chịu trách nhiệm
trước Hạ viện, thủ tướng hoặc những vị đại thần phải báo cáo công tác của mình trước quốc
hội. Thứ tư, nội các phải được sự tín nhiệm của hạ viện. Thứ năm, quốc hội có quyền tố cáo
và bãi miễn.
Qua đó cho thấy, chế độ quốc hội của giai cấp tư sản, quốc hội chẳng những là
cơ quan lập pháp tối cao, mà còn có quyền quyết định thành phần nội các, duy
trì hoặc giải tán nội các, có quyền can dự đến công tác của ngành tư pháp.
Cùng lúc đó, vua Anh đã mất quyền lực và trở thành một ông vua chỉ có “hư
vị”. Nước Anh đã trở thành một quốc gia quân chủ lập hiến. Theo đà phát triển
của chủ nghĩa tư bản, xã hội kinh tế của giai cấp địa chủ tư sản càng ngày càng
lớn mạnh. Đứng trước liên minh giai cấp lớn mạnh đó, quốc vương tất nhiên
phải nhượng bộ từng bước.
Nếu đem so sánh chế độ chuyên chế đang thịnh hành tại Châu Âu, thì chế độ quốc hội ở
Anh rõ ràng là chế độ chính trị tiến bộ hơn nhiều. Vì nó thống trị qua một cơ cấu đại nghị chứ
không phải sự độc đoán của một cá nhân quốc vương, Nó phục vu cho một giai cấp mới đang
vươn lên, chứ không phải công cụ để duy trì và bảo vệ sự thống trị của giới quý tộc phong
kiến phản động. Nó đã xúc tiến cho xã hội và kinh tế phát triển, chứ không phải bóp nghẹt sự
phát triển xã hội và kinh tế như chế độ quân chủ.
Giai cấp đại địa chủ và tư sản đã thông qua chế độ quốc hội và chế độ bầu cử hủ bại nắm
chính quyền để phục vụ quyền lợi cả thượng tầng kiến trúc về mặt chính trị và giai cấp họ.
Nó có một chính sách đối nội và đối ngoại cướp đoạt, như đẩ mạnh phong trào khoanh chiếm
đất, tiến hành chế độ quốc trái, mở những cuộc chiến tranh với nước ngoài và cướp đoạt
những vùng đất thực dân. Từ đó nó đẩy nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy của chế độ tư
bản.
b. Đẩy nhanh quá trình tích lũy nguyên thủy
Tầng lớp đại địa chủ và giai cấp đại tư sản ở Anh sau khi thông qua cuộc cách mạng 1688
để bước lên vũ đài chính trị không bao lâu, đã lợi dụng thượng tầng kiến trúc về mặt chính trị
củng cố tư bản chủ nghĩa và đã thông qua quốc hội, trình tự lập pháp để mưu lợi cho giai cấp
của mình.
Đẩy mạnh trình tự khoanh chiếm đất hợp pháp, chiếm đất của nông nhân để làm bãi chăn
nuôi hoặc nông trường. Marx có nói rõ: “ Thực chất của việc khoanh chiếm đất trong phạm vi
đất công thì thật là những pháp lệnh để địa chủ dựa vào đó xem ruộng đất của nông dân là tài
sản riêng của mình và tư tặng nó cho mình. Đó là một thứ pháp lệnh tước đoạt của nhân dân.
“ Theo sách tư bản luận của Marx”.
Những địa chủ đoạt được ruộng đất qua phong trào khoanh chiếm đất, đem số ruộng này
cho chủ nông trường kinh doanh theo tư bản chủ nghĩa thuê.Các nhà tư bản nông nghiệp thuê
công nhân và dựa vào ưu thế nông trại lớn để cải tiến kĩ thuật canh tác. Họ luân canh thay vì
hữu canh như trước kia. Dê cừu tư chỗ thả rong chuyển thành chăn nuôi trong rào chắn.Marx
có nói rõ “ Những điều kiện chuyển hóa tiểu nông thành người công nhân làm thuê, việc
chuyển hóa tư liệu sinh hoạt, tư liệu lao động của họ thành yếu tố vật chất của tư bản, đồng
thời cũng là việc mở rộng thị trường trong nước tư bản.
Phong trào khoanh chiếm đất ở Anh kéo dài đến hơn 300 năm. Mãi đến giữa thế kỉ 19
phong trào này mới được hoàn thành. Nó đã cung cấp cho cách mạng công nghiệp đông đảo
những người lao động tự do và củng cố thị trường công nghệ phẩm trong nước.
Với số tài sản không lồ mà họ vơ vét được từ các vùng thực dân, cũng như lợi nhuận khổng
lồ họ thu được qua mậu dịch đều được đưa về nước Anh chuyển hóa thành tư bản. Hơn nữa,
việc mở rộng vùng thực dân cũng đã mở rộng thị trường cho các hàng hóa của nước Anh tại
hải ngoại.
Sau hết, thông qua chế độ quốc trái cùng với các chính sách thuế khóa cận đại, họ đã tăng
cường bóc lột đối với nhân dân trong nước. Cùng một lúc đối với việc bán quốc trái, chính
phủ Anh còn tăng thêm mức thuế trong nhân dân, đặc biệt là thuế tiêu thụ. Như vậy, một mặt
chính phủ chi trả lãi suất cao cho giới tư sản mua công trái và mặt khác lại vơ vét số tiền thuế
khổng lồ từ nhân dân. Điều đó có nghĩa là, một số tài sản khổng lồ trong tay người dân, qua
cơ cấu thuế của quốc gia đã chảy thẳng vào kho vàng của giai cấp đại tư sản. Chính vì vậy,
chế độ quốc trái cũng như chính sách thuế khóa của nhà nước Anh đã trở thành đòn bãy trong
việc tích lũy tư bản nguyên thủy tư bản ở nước Anh
Tóm lại, từ cuối thế kỉ 18, kết quả của việc đẩy mạnh phong trào khoanh
chiếm đất đai ở Anh đã xuất hiện một đội quân vô sản đông đảo chưa bao giờ
có. Thông qua sự cướp đoạt thẳng tay ở các vùng thực dân, qua việc mậu dịch
trên biển, qua chế độ quốc trái và chính sách thuế tiêu thụ, đã làm cho tài sản
của nhân dân lao động trong nước cũng như nước ngoài đã tập trung vào giai
cấp tư sản Anh và chuyển hóa nó thành tư bản. Tất cả những điều đó đã tạo
nên tiền đề quan trọng cho cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ tại Anh vào
thập niên 60 của thế kỉ 18.
Nhưng sự bùng nổ của cách mạng công nghiệp cũng có tương quan mật thiết đến sự phát
triển của công trường thủ công ở Anh. Từ cuối thế kỉ 17 đến giữa thế kỉ 18, các công trường
thủ công theo tư bản chủ nghĩa tại Anh phát triển rất sôi nổi. Công trường thủ công chính là
hình thức quá độ từ sản xuất nhỏ dạng thủ công sang sản xuất lớn dạng cơ khí. Việc cải tiến
hóa và đa dạng công cụ lao động là một trong những điều kiện vật chất để sáng tạo và phát
minh máy móc, vì máy móc là do rất nhiều công cụ đơn giản kết hợp lại. Công trường thủ
công còn bồi dưỡng ra những công nhân lành nghề chuyên thao tác trong những công đoạn
nào đó. Như vậy cũng tạo điều kiện cho việc phát minh và sử dụng cơ khí. Nhưng công
trường thủ công cũng mang tính giới hạn rất lớn, đó là thiểu số CTTC lớn tồn tại rất nhiều với
CTTC nhỏ, không xóa bỏ được sự sản xuất nhỏ, không làm cho nông nghiệp và ngành thủ
công gia đình tách rời ra, nền tảng vẫn dựa vào kĩ thuật thủ công. hạn chế mở rộng quy mô
sản xuất, không đáp ứng được nhu cầu xã hội. Tình hình đó, dự báo một cuộc cải cách sâu
sắc về mặt kĩ thuật.
2 Tiến trình và hậu quả của cách mạng công nghiệp.
a. Tiến trình cách mạng công nghiệp.
Cách mạng công nghiệp ở Anh bắt đầu bằng nghề dệt sợi bông. Trong cuộc cách mạng công
nghiệp ở Anh thì ngành dệt sợi là ngành đầu tiên được thực hiện cơ giới hóa. Ngành dệt sợi là
ngành có tác dụng dẫn đầu trong cách mạng công nghiệp. Nó thúc đẩy các ngành mỏ than đá,
nấu luyện sắt thép được phát triển theo, đồng thời cũng thúc đẩy cho việc nghiên cứu và phát
minh ra máy hơi nước. Công nghiệp khai thác than và luyện sắt thép đã trở thành trụ chống
cho nền công nghiệp cận đại của Anh
Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh là một cuộc cách mạng kĩ thuật và hết sức quan trọng.
Nó bắt đầu từ thập niên 60 của thế kỉ 18 và hoàn thành vào thập niên 30 và 40 của thế kỉ 19,
trước, sau thời gian bảy tám chục năm. Nối tiếp theo nước Anh là các nước Pháp, Mỹ,
Đức..cũng lần lượt làm cách mạng công nghiệp.
Bài 3: SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN PHONG TRÀO CÔNG NHÂN
CHÂU ÂU TRONG THỜI KÌ CẬN ĐẠI
I. Sự hình thành của giai cấp vô sản hiện đại:
Quá trình lịch sử lâu dài đi từ tầng lớp vô sản đầu tiên vô sản của công trường thủ công
và đến giai cấp vô sản hiện đại. Thề kỉ XIV – XV chế độ phong kiến suy yếu, quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu hình thành, xuất hiện ở một số nước Châu Âu, lao động làm
thuê tư bản chủ nghĩa xuất hiện. Tích lũy TBCN tạo ra hai lớp người hoàn toàn khác biệt
nhau. Một bên những người giàu có sở hữu tư liệu sản xuất, sở hữu tư liệu sinh hoạt. Những
người nghèo khổ chỉ sở hữu tài sản duy nhất là sức lao động. Lớp người này bị tước hết tư
liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và trở thành những người bán sức lao động để kiếm sống.
Cuối thế kỉ XVI – XVIII ở một số nước Châu Âu hình thành và phát triển sản xuất của chủ
nghĩa tư bản là công trường thủ công tư bản chủ nghĩa giai cấp vô sản công trường thủ
công, bị phân tán ngăn cách trong sản xuất, chưa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mang
nặng tư tưởng, tâm lí của người sản xuất nhỏ. Vẫn còn một chút ít tư liệu sản xuất, giai cấp
vô sản chưa trở thành lực lượng ổn định và độc lập trong xã hội. Địa vị làm thuê vẫn còn
mang tính toàn bộ, nhất thời, chưa phải là giai cấp vô sản hiện đại.Cuộc cách mạng chủ nghĩa
thế kỉ XVIII, sự thay thế lao động chân tay sang lao động máy móc.
1760, năm khởi đầu của cách mạng công nghiệp, tạo ra bước nhảy vọt về đời sống kinh tế
chính trị xã hội đưa CNTB từ giai đoạn công trường thủ công sang giai đoạn công xưởng và
giai cấp vô sản hiện đại là con đẻ của nền đại công nghiệp TBCN làm phá sản hàng loạt
những sản xuất nhỏ, tiểu thương, tiểu chủ, thợ thù công, nông dân bị đẩy vào hàng ngũ giai
cấp vô sản và giai cấp vô sản nhanh chóng trở thành lực lượng xã hội
•
Đặc điểm của giai cấp vô sản hiện đại:
-
Có sự thay đổi căn bản về vai trò, địa vị chính trị, xã hội. Bị tước đoạt hết tư liệu sản
xuất và chỉ có thể sống bằng cách bán sức lao động làm thuê.
-
Chủ yếu làm ra của cải vật chất xã hội, phải sống trong cảnh nghèo khổ.
-
Dưới tác động của đại công nghiệp. Công nhân làm thuê không còn khả năng quay về
địa vị giai cấp cũ, trở thành người làm thuê suốt đời, giai cấp vô sản trở thành một lực
lượng ổn định, độc lập trong xã hội. Có khả năng tiến hành những cuộc đấu tranh độc
lập của riêng mình.
-
Gồm 3 bộ phận: Vô sản công nghiệp, vô sản nông nghiệp, vô sản hầm mỏ.
II.Phong trào đấu tranh đầu tiên của giai cấp công nhân trong giai đoạn nửa đầu TK19:
1. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong nửa sau thế kỉ 18
Giai cấp vô sản đấu tranh chống giai cấp tư sản ngay từ khi mới ra đời, cuộc đấu tranh này
phát triển từ thấp đến cao, từ đấu tranh kinh tế đến chính trị, từ đấu tranh tự phát đến tự giác.
Ngay từ nửa sau thế kỉ 18, những cuộc đấu tranh KT của giai cấp vô sản đã diễn ra sôi nổi
và mang tính tất yếu, khách quan ( đầu tiên ở Anh) đòi tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện
đời sống và điều kiện làm việc, phản đối tình trạng lương thực thực phẩm đắt đỏ, chống chế
độ cúp phạt và những hành vi lừa gạt của CNTB. Do giai cấp CN thời kì này chưa nhận ra
bản chất bóc lột của giai cấp tư sản nên giai cấp vô sản đã tiến hành những cuộc đấu tranh
hướng vào việc phản đối áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, hình thức phổ biến: đập phá
máy móc, đốt nhà xưởng CNTB thời kì giai cấp công nhân đấu tranh tấn công vào tư liệu
sản xuất vật chất CNTB.
Kết quả: công nhân bị đàn áp, máy móc áp dụng ngày càng nhiều vào sản xuất. Phải mất
một thời gian dài công nhân mới phân biệt được máy móc và áp dụng máy móc theo kiểu
TBCN, chuyển từ tấn công tư liệu sản xuất vào tấn công hình thái xã hội khai thác máy móc.
Bước sang đầu thế kỉ 19 hình thức đấu tranh bãi công, đình công của công nhân xuất hiện,
đánh dấu 1 giai đoạn phát triển mới của phong trào công nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho
giai cấp vô sản nâng cao trình độ giác ngộ giai cấp, nhận thức được sự cần thiết đoàn kết đấu
tranh, nhận thức rõ kẻ thù là giai cấp tư sản.
Hệ quả: sự xuất hiện những tổ chức của giai cấp công nhân là những hội, hội Ái Hữu, các
tổ chức nghiệp đoàn, đưa phong trào công nhân từ hoạt động phân tán, rời rạc đến hoạt động
có tổ chức. 1771, thành lập liên đoàn những người làm mũ, 1775 giành thắng lợi rất lớn trong
cuộc đấu tranh đòi chủ tăng lương và chấp nhận ngân sách CN thuê người làm việc là hội
viên của những liên đoàn.
Với những bước phát triển như đã nói trên, phong trào công nhân dần dần trở thành những
phong trào độc lập và có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Châu Âu đến đầu thế kỉ
XIX, từ những phong trào độc lập này, những phong trào đấu tranh giành độc lập đầu tiên
giai cấp CN châu Âu.
2. Phong trào đấu tranh tiêu biểu của công nhân Châu Âu:
3 phong trào đấu tranh tiêu biểu:
Phong trào công nhân Pháp – Kn Lyon 1831 – 1834.
Phong trào công nhân – phong trào hiến chương 1836 – 1848
Phong trào công nhân Đức – Đông Phổ Silésie 1844
•
Lion: TTCN dệt ở ĐN Pháp.
•
Lần 1: 1831.
Mục tiêu chống áp bức bóc lột chủ trương hạ lực lượng giới chủ. Công nhân thợ thủ công
trong nhiều ngành sản xuất khác thời gian. Là cuộc đấu tranh độc lập và có quy mô lớn đầu
tiên trong lịch sử giai cấp và công nhân sử dụng vũ khí để chiến đấu 3 ngày giao chiến chiếm
được Lyon lập ủy ban công nhân để theo dõi, giám sát hoạt động thị trưởng TP Lyon
dập tắt.
Lần 2: 1834
Đưa ra khẩu hiệu thành lập chế độ cộng hòa. Diễn ra từ 6 ngày dập tắt.
Nguyên nhân thất bại: Công nhân chưa có tổ chức thống nhất, lãnh đạo. Không có mối
liên hệ giữa công nhân và nông nhân ở các địa phương, gây ấn tượng sâu sắc trong CN P’ và
giai cấp TG. Đặt ra trong xã hội những cuộc đấu tranh, cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và
vô sản dẫn đến chiếm địa vị trong lịch sử châu Âu.
•
Phong trào hiến chương:
Cải cách đời sống người dân, cải cách chế độ tuyển cử ở nước Anh, thu hút đông đảo công
nhân tham gia trở thành phong trào vô sản đầu tiên, có tính quần chúng rộng rãi. Ba lần đại
hội 2/1839 thông qua kiến nghị cải cách bầu cử.
Đầu những thập niên 50, phong trào tan rã. Nguyên nhân thất bại: khong có tính chất giai
cấp công nhân lãnh đạo. Lenin “ Đây là một phong trào cách mạng vô sản to lớn đầu tiên
thực sự có tính quần chúng và có hình thức thực hiện hay toàn bộ giai cấp công nhân đứng
dậy chống giai cấp tư sản và tiến công, giai cấp tư sản trở thành lực lượng chính trị độc lập.
Giữa thế kỉ 19, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đức sống dưới hai tầng áp bức:
Phong kiến và tư bản, đời sống công nhân đức rất khó khăn nổ ra phong trào đấu tranh CN
tiêu biểu, công nhân dệt ở Silesile 1844 trung tâm công nghệ dệt lớn của Đức tiến hành đập
phá nhà xưởng, đốt phá kho tàng chủ nghĩa tư bản đàn áp thất bại. Mở đầu cho phong
trào công nhân có tính chất quần chúng rộng rãi ở Đức.
II.Sự ra đời của chủ nghĩa Mác:
1)Bối cảnh lịch sử:
Trước khi chủ nghĩa Mác ra đời ở Châu Âu đã xuất hiện nhiều trào lưu tư tưởng tiến bộ:
Triết học cổ điển Đức Heghen. KHCT học ở Anh A. Smith, Ricardo, CNXH của Saint
Simon, Iourier, Oren...Đó là những tiển đề tư tưởng và lí luận để Mac – Angle kế thừa, cải
tạo và phát triển sáng lập để hình thành học thuyết của mình 3 nguồn gốc, 3 bộ phận cấu
thành chủ nghĩa Mác.
Vào những năm 40 thế kỉ 19, CMCN đã hoàn thành ở Anh và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều
nước khác ở Châu Âu làm lực lượng sản xuất có những bước phát triển nhảy vọt. Giai cấp vô
sản trở thành một lực lượng xã hội ổn định. Phong trào công nhân chống giai cấp vô sản diễn
ra hết sức gay gắt, đưa ra trước xã hội những cuộc đấu tranh nhu cầu phong trào công
nhân cần có một lí luận khoa học cách mạng dẫn đường.
Dầu thế kỉ 19, trong sự phát triển về khoa học và kĩ thuật ở châu Âu trong lĩnh vực KHTNn
đã đạt được những thành tựu rất rực rỡ, biểu hiện các lí thuyết: lí thuyết tế bào, định luật về
bảo toàn, chuyển hóa năng lượng, học thuyết tiến hóa Dacuyn 1859. Nguồn gốc các loài: Đây
là những cơ sở khoa học để Mac – Angel xây dựng phương pháp thế giới quan duy vật và
phương pháp luận biển chứng.
Bằng trí tuệ và những lập trường cách mạng kiên định, Mác và Angel đã kế thừa và vận
dụng những điều kiện khách quan nói trên, thực hiện một cuộc cách mạng hết sức vĩ đại
trong lĩnh vực kinh tế xã hội. Cn Mác là học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp vô
sản. Lần đầu tiên trong lịch sử Mac Angel đã nhận ra chính giai cấp vô sản là lực lượng giải
phóng cho toàn nhân loại.
Bằng thực tiễn phong trào đấu tranh, chủ nghĩa Mác Angel đã có những bước cơ bản từ lập
trường duy tâm sang lập trường tính chất cách mạng sang lập trường duy vật.
Mac Angel đã là những người cộng sản chân chính đầu tiên từ phong trào cộng sản và công
nhân quốc tế.
2) Tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản:
2/1848, Mac Angel đã cùng viết tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản. Tổ chức đồng
minh những người cộng sản. Là tác phẩm hoàn chỉnh bao gồm 3 bộ phận hợp thành chủ
nghĩa Mác: triết học, KTCT học. CNXH khoa học đánh dấu sự chính mùi, dẫn đến sự ra đời
CN Mác. Đây là bản CLCT đầu tiên của giai cấp công nhân, từ đó chủ nghĩa Mác trở thành
hệ tư tưởng chính trị của giai cấp vô sản mở ra khả năng thực tế để giải phóng giai cấp vô sản
về tư tưởng và thúc đẩy phong trào công nhân phá triển. Lenin nói “ Hai ông đã dạy cho công
nhân tự nhận thức được mình và có ý thức về mình và đem khoa học thay thế cho mường
tượng.”
III.Quốc tế một và công xã Paris ( tự nghiên cứu).
IV.Phong trào công nhân quốc tế trong 30 năm cuối thế kỉ XIX:
1) Đặc điểm phong trào công nhân quốc tế sau công xã Paris:
Sau khi công xã Paris thất bại 1852 trước CM Nga 1905. Đây là thời kì CNTB phát triển
trong điều kiện tương đối hòa bình.
+ Ở phương Tây, CNTB lớn mạnh và phát triển nhanh chóng. Chuyển từ giai đoạn tự do
cạnh tranh sang giai đoạn đầu của CNĐQ.
+ Ở phương Đông, các quốc gia châu Á, công nghiệp đã bắt đầu phát triển, đặc biệt ở một số
nước như Nga, Nhật, công nghiệp đã phát triển mạnh, các điều kiện cần thiết để thực hiện
cuộc cách mạng dân tộc chưa hình thành. Thế giới chưa trải qua các cuộc chiến tranh quy mô
lớn, chưa có chuyển biến chính trị, xã hội lớn, chưa có phong trào dân tộc thật mạnh mẽ. Mà
chỉ có những cuộc cách mạng mang tính chất cục bộ, địa phương. ( Ví dụ: chiến tranh Mỹ Tây Ban Nha, Chiến tranh Anh – Bô ê).
Cùng với sự phát triển công nghiệp ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Giai cấp vô sản không ngừng
tăng nhanh chóng về số lượng, nhưng đời sống của giai cấp công nhân trong thời kì này
nghèo đói, bần cùng, do bị bóc lột hết sức nặng nề, do bị quy luật kinh tế của CNTB lũng
đoạn chi phối.
Đối với hàng trăm triệu nhân dân các nước thuộc địa lệ thuộc, đây là thời kì áp bức, khổ
nhục. Do vậy, nhiều nơi có những cuộc bãi công lớn, có tổ chức, có kỉ luật và thời gian kéo
dài hơn.( bãi công của công nhân xe lửa, bãi công của thợ mỏ). Phong trào công đoàn của
công nhân hình thành. ( 1989, công đoàn Anh: 6 triệu đoàn viên, Mỹ 600 vạn đoàn viên.)
+ Sau khi quốc tế 1 giải tán, thì mối quan hệ phong trào công nhân của giai cấp vô sản vẫn
không bị cắt đứt, đang trên đường tập hợp và chuẩn bị cho những phong trào đấu tranh trong
tương lai. Những phong trào này được tiến hành dần dần nhưng chắc chắn. Đảng Xã hội dân
chủ Đức, tổ chức lớn nhất của giai cấp công nhân Châu Âu, giữ vị trí trung tâm của phong
trào CM vô sản trên thế giới. Mác Ăng ghen chú trọng thành lập các đảng công nhân Pháp.
Đấu tranh cho sự nghiên cứu phong trào công sản quốc tế,. Sự ra đời của quốc tế I ( 1889)
đấu tranh chống lại chủ nghĩa bè phái, dò đường. Thành lập nên các nhóm và các đảng Xã hội
để hoàn thành nghị quyết cuối cùng của quốc tế I. ( Đức: Đảng xã hội dân chủ, Pháp: Đảng
công nhân, Nha: nhóm giải phóng lao động). Đây là những sự kiện lớn lao trong phong trào
công nhân quốc tế. Đại đa số những Đảng xã hội đầu tiên là những nhóm tổ chức cũ của quốc
tế 1 hình thành. Đã mở rộng phạm vi hoạt động ra hơn rất nhiều so với quốc tế 1.
2) Quốc tế II:
Đến thập niên 80 thế kỉ XIX, sự phát triển của phong trào công nhân quốc tế đòi hỏi phải có
một giai cấp quốc tế lãnh đạo nhưng gặp rất nhiều khó khăn trong việc, nhờ những kiên quyết
của Mac Angel trong việc giáo dục các Đảng viên của Đảng dân chủ Pháp – Đức và rành
mạch các lực lượng cơ hội trong phong trào công nhân ở Anh và Pháp để triệu tập đại hội
những người Mác Xít để thực hiện thảo luận 4 vấn đề:
1. Hoạt động hợp pháp của giai cấp công nhân
2. Thủ tiêu quân đội thường trực.
3. Lấy 1/5 biểu dương lực lượng giai cấp công nhân.
4. Giải quyết mới quan hệ giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị.
Ý nghĩa: Là một tổ chức quốc tế mới của giai cấp công nhân đã được hình thành đáp ứng yêu
cầu đấu tranh chống giai cấp tư sản thế giới đang trên đà phát triển.
Qua các kì đại hội, cuộc đấu tranh những người Macxit quốc tế 2. Chủ nghĩa Mác xít kêu
gọi công nhân chống chủ nghĩa quân phiệt, chống chiến tranh. Những người Mác xít lên án
chính sách thuộc địa. Những người vô chính phủ ủng hộ chiến tranh xâm lược thuộc địa của
giai cấp tư sản. Angel đã có vai trò to lơn, đặc biệt torng 4 kì đầu tiên, góp phần quan trọng
trong sự phát triển của phong trào công nhân, hạn chế trào lưu cơ hội chủ nghĩa, các trào lưu
vô chính phủ đoàn kết nhân nhân các nước. Sau khi Angel mất, phái cơ hội dần dân chiếm ưu
thế trong quốc tế 2. Từ chủ nghĩa cơ hội phát triển thành chủ nghĩa xét lại và liên tục tấn công
vào chủ nghĩa Mác. Làm cho quốc tế 2 suy yếu cho đến trước khi chiến tranh thế giới lần 1
bùng nổ. Đa số các lãnh tựu công nhân trong quốc tế hai đã ủng hộ chính phủ tư sản của
mình, từ đó đưa công nhân và nhân dân lao động đến chỗ tàn sát lẫn nhau, quốc tế hai thực sự
tan rã. Lê nin: “ Quốc tế hai đã chết vì bị chủ nghĩa cơ hội đánh bại.”
•
Mầm móng chủ nghĩa cơ hội:
Trong những kì đại hội đầu tiên xuất hiện mầm móng của chủ nghĩa cơ hội. Nhưng do sự
kiên quyết của Angel và các phần tử Macxit đã kìm hãm được sự phát triển của chủ nghĩa cơ
hội. Qua các kì đại hội, về cơ bản đã có nhưng quy định đúng đắn. Tuy nhiên, trong kì đại hội
đầu tiên, quốc tế hai còn phạm sai lầm trên nhiều phương diện, đặc biệt là các vấn đề nhượng
bộ. Và đây là mầm móng để chủ nghĩa cơ hội phát triển trong phong trào công nhân.
•
Sai lầm:
Không tán thành nội dung và hoạt động chính trị của phong trào công nhân.
1. Thủ tiêu sự phân biệt giai cấp bằng con đường cải tạo xã hội.
2. Thể hiện trong vấn đề ruộng đất, nghị quyết thông qua lại mang màu sắc cơ hội. Quốc
tế 2 đã đánh giá không đúng và thể hiện sự nhượng bộ của quốc tế hai với CNĐH.
3. Đại hội để cho nhóm những người XH độc lập của Pháp đến tham dự đại hội, bởi
không đại diện cho Đảng XH Pháp mà chỉ đại diện cho các kị sĩ vào tham dự đại hội
nên đã mở cửa cho những phần tử tiểu tư sản có cơ hội tham dự.
Sau khi Angel mất, chủ nghĩa cơ hội phát triển và tăng cường, trở thành CN thứ hai. CN cơ
hội là một trào lưu tư tưởng trong phong trào công nhân quốc tế, hướng chủ nghĩa vào những
quan điểm phi mác xít về phạm trù trào lưu tư tưởng tư sản.
•
Cơ sở xã hội của chủ nghĩa cơ hội:
1. Xuất phát từ tầng lớp công nhân quý tộc trong giai cấp công nhân, mua chuộc đội ngũ
công nhân lành nghề và tạo thành công nhân quý tộc, nắm quyền lãnh đạo tổ chức
Đảng. Quyền lợi liên quan mật thiết với tư bản, trở thành cơ sở trong phong trào công
nhân.
2. Chủ nghĩa cơ hội có chỗ dựa là tầng lớp tiểu tư sản tri thức. Trong thời kì đầu, chủ
nghĩa Mác phát triển trong quần chúng công nhân, nhưng quần chúng công nhân chưa
giác ngộ đầy đủ về chủ nghĩa Mác nên công nhân chưa thoát ly được những ảnh
hưởng của tư tưởng tiểu tư sản. Khi đội ngũ công nhân phát triển, đã thu hút ngày
càng nhiều hàng ngũ tiểu tư sản bị phá sản tham gia vào hàng ngũ của giai cấp công
nhân, là mảnh đất phát triển thuận lợi của CNTS.
3. Là giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển tương đối hòa bình, giai cấp công nhân đã thu
được một số thắng lợi nhất định trong các cuộc bầu cử và nghị viện quốc hội ở Châu
Âu. Số lượng đại biểu giai cấp công nhân ngày càng gia tăng. Từ đây họ tạo ra ảo
tưởng là khả năng giành chính quyền bằng con đường nghị viện. Coi nhẹ và bỏ qua
các cuộc đấu tranh bằng nghị viện, phát triển về mặt tư tưởng và tổ chức. Từ đấy giai
cấp công nhân trở thành lực lượng đáng kể. Dẫn đến hai hệ quả.
+ Giai cấp Cn tồn tại như một khả năng, nhưng họ có ảo tưởng giành chính quyền
bằng phương pháp hòa bình.
+ Những lãnh tựu trong giai cấp công nhân thấy dễ dàng giành chính quyền nên ngày
càng chìm đắm trong vũng lầy ủa chủ nghĩa cơ hội. Điều đó không những làm cho
trình độ cách mạng của họ thấp xuống mà làm cho Cn cơn hội tam thời mạnh lên.
•
Chủ nghĩa xét lại:
Cơ sở xã hội giống chủ nghĩa cơ hội vì nó sinh ra từ chủ nghĩa cơ hội. Nhưng chủ nghĩa cơ
hội không đồng nhất với chủ nghĩa xét lại. Chủ nghĩa xét lại trên những nét lớn bao hàm thì
chủ nghĩa xét lại đồng nhất chủ nghĩa cơ hội.
Do Angel kiên quyết đấu tranh, chống trào lưu cơn hội chủ nghĩa nên chủ nghĩa cơ hội tạm
thời co lại 1895, Angel mất, cùng những thăng tiến của tiền đề xã hội đã giúp cho chủ nghĩa
cơ hội nổi dậy và tấn công chủ nghĩa Mác một cách trắng trợn. Các khuynh hướng cơ hội
phát triển lên một cách toàn diện, đòi sửa chủ nghĩa Mác một cách công khai về mọi mặt. Từ
đây, chủ nghĩa xét lại bắt đầu xuất hiện
Một trong những đại biểu của chủ nghĩa xét lại là E.BESTEIN 1897 đã viết một loạt bài báo
phê phán những luận điểm chủ yếu của chủ nghĩa Mác. Nhưng những tư tương cơ bản của
Bestein về sau này được trình bày trong một tác phẩm “ những tiền đề của chủ nghĩa xã hội
và những nhiệm vụ của Đảng xã hội dân chủ” XB 1899 – ông xuyên tạc những luận điểm của
chủ nghĩa Mác, phủ nhận những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác, lấy cớ xem xét lại.
1. Đòi xem xét lại lí thuyết của Mác về đấu tranh giai cấp và chống lại học thuyết chủ
nghĩa tư bản không tránh khỏi bị tiêu diệt. Chống lại học thuyết cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản thay thế bằng lí thuyết tiến hóa hòa bình từ chủ nghĩa tư bản lên
chủ nghĩa xã hội.
2. Trên góc độ triết học chống phép biện chứng duy vật Mác xít lẫn lộn với phép biện
chứng duy tâm của Hê gen, là sự chống đồi chủ nghĩa Mác xít, chủ nghĩa Hê gen và
chủ nghĩa Kant.
Chủ nghĩa xét lại trong quốc tế 2 không bị công kích quyết liệt. Vào những năm 1898 –
1899 thì một số lãnh tựu phái tả trong các Đảng XH dân chủ châu Âu có lên tiếng chống chủ
nghãi xét lại của Bestein nhưng không liên tục, không triệt để nên kết quả cũng bị hạn chế
trong phạm vi nhất định. Đây cũng là những nguyên nhân chủ yếu làm cho chủ nghĩa cơ hội
có cơ sở xuất hiện torng tầng lớp cpn dân quý tộc ngày càng mạnh lên và phát triển trong các
đảng dân chủ quốc tế hai.
Ở nước Nga vào những năm 90 của thế kỉ XIX, Lê ni đã giương cao ngọn cờ đấu tranh
không khoan nhượng để bảo vệ chủ nghĩa Mác, 1895( Liên minh đấu tranh giải phóng giai
cấp công nhân Bê téc bua TBN do Lê nin thành lập) là mầm móng một Đảng Mác xít của giai
cấp vô sản. 9/1899 tác phẩm của Lenin “ Lời phản kháng của những người xã hội dân chủ
Nga” đã vạch trần chủ nghĩa Bestein. Chủ nghĩa Bestein muốn bó hẹp chủ nghĩa Mác lại đến
mức biến trào lưu CN đó thành CN cải lương tầm thường.
3) Đặc điểm phong trào công nhân quốc tế đầu thế kỉ XX:
Đầu thế kỉ XX phong trào công nhân quốc tế có những biểu hiện mới. Chủ nghĩa TB CN
Đế quốc. Đối với phong trào cách mạng đây là thời kì hình thành, phát triển, trưởng thành
của các Đảng XH vô sản. Là thời kì chuẩn bị lực lượng của các giai cấp CM lật đổ ách áp bức
của chủ nghĩa tư bản. Đồng thời là thời kì những tiền đề CMXHCN đã hình thành và biểu
hiện là sự lớn mạnh của phong trào đình công và các hình thức đấu tranh khác của giai cấp
công nhân ( Ví dụ: Pháp 1900 có 900 cuộc đình công, Bỉ năm 1893 nổ ra đình công lớn 25
vạn công nhân tham gia.)
Đầu thế kỉ XX trung tâm phong trào công nhân từ nước Đức đã chuyển dần sang Nga. Nước
Nga trở thành trung tâm mới của phong trào cách mạng. Những người Mác xít Nga dẫn đầu
trong cuộc đấu tranh chống khuynh hướng XHCN.
Vào thời điểm này, những người XH lại phát sinh khuynh hướng muốn kéo CN sang CN cải
lương. Trong các nước, nội bộ phong trào công nhân châu Âu hình thành hai khuynh hướng
khác nhau:
1. Khuynh hướng CM quần chúng
2. Khuynh hướng cơ hội trong CM dân chủ và các công đoàn – phản ánh tư tưởng tầng
lớp công nhân quý tộc và các tiểu tư sản phong trào công nhân.
Muốn để phong trào cách mạng đi lên, nhất thiết phải tấn công chống chủ
nghĩa xét lại. Lenin là người gánh trọng trách này sau khi Angel qua đời. Ông
đã lên tiếng chống Bestein quyết liệt. Những người Macxit Nga trong thời
điểm này là những người dẫn đầu trong đấu tranh chống khuynh hướng
XHCN. Lenin” Chủ nghĩa Bestein là khuynh hướng cơ hội mang tính chất
quốc tế cho thời đại lịch sử nó sinh ra”
Sau đại hội Pari 1900, xung quan những vấn đề rất cấp thiết vào thời điểm đó, giành chính
quyền, liên minh với các Đảng tư sản, chủ nghĩa quân Phiệt, chính sách thuộc địa, chủ nghĩa
cơ hội và khuynh hướng cải lương. Quốc tế 2 có chiều hướng chuyển sang thỏa hiệp. Gần hai
thập kỉ đầu thế kỉ XX đã xác nhận những lãnh tựu phái hữu của quốc tế 2 đã dần dần phản
bội quyền lợi của giai cấp vô sản.
Tờ báo “ Tia lửa” tờ báo chính trị đầu tiên của Nga. Đại hội lần hai của Đảng CN dân chủ
Nga tại Luân Đôn, thông qua cương lĩnh được xem là đại hội thành lập Đảng CN dân chủ
Nga. Hình thành nên hai chính đảng. Phái Bonsevich và phái Mensevich. Bước ngoặt trong
phong trào CSCN quốc tế. Đưa ra những tiêu chí thành lập nên Đảng vô sản CM kiểu mới
khác với Đảng phái của các Đảng XH dân chủ khác vào thời điểm này. Đây được gọi là chính
Đảng Mác xít kiểu mới. Lê nin tiếp tục phê phán quan điểm của Menxevich. Đảng Macxit là
Đảng tiên phong của giai cấp vô sản.