BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐINH MINH KỲ
NGỰ SỬ ĐÀI THỜI HẬU LÊ
(THẾ KỈ XV – XVIII)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
HÀ NỘI, 10/2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
ĐINH MINH KỲ
NGỰ SỬ ĐÀI THỜI HẬU LÊ
(THẾ KỈ XV – XVIII)
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ VIỆT NAM
MÃ SỐ: 60.22.0313
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. PHAN NGỌC HUYỀN
HÀ NỘI, 10/2015
LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội,
phòng Sau Đại học, quý thầy cô khoa Lịch sử đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin đặc biệt tỏ lòng kính trọng, biết ơn T.S Phan Ngọc Huyền - người
thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học An Giang, Thư viện
trường Đại học An Giang, Thư viện Khoa học tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã
tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình tìm tư liệu viết luận văn.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và
động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
An Giang, ngày 15 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Đinh Minh Kỳ
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Năm 1428, sau khi Lê Lợi lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà
Hậu Lê được thành lâp mà giai đoạn đầu tiên là vương triều Lê Sơ. Trong
khoảng mấy chục năm đầu của vương triều Lê Sơ từ năm 1428 đến năm 1460,
các vị vua nhà Hậu Lê đều cố gắng hướng đến xây dựng một bộ máy nhà nước
quân chủ tập quyền vững mạnh, nhưng kết quả còn hạn chế. Từ sau cuộc cải
cách hành chính của Lê Thánh Tông, bộ máy nhà nước thời Hậu Lê đã được tổ
chức khá hoàn chỉnh và đạt được những hiệu quả nhất định trong vận hành, hoạt
động. Một trong những nguyên nhân làm nên điều đó là nhờ có hệ thống cơ quan
thanh tra, giám sát từ trung ương đến địa phương được thiết lập khá quy củ và
chặt chẽ, trong đó Ngự sử đài là cơ quan giám sát tối cao của nhà nước, đã phát
huy rất tốt vai trò của mình trong việc tái thiết, làm cho có khuông khổ, có phép
tắc dưới sự trị vì của Lê Thánh Tông.
Trong quá trình tồn tại và hoạt động từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII, Ngự sử
đài thời Hậu Lê đã có những đóng góp quan trọng, góp phần làm trong sạch bộ
máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, giữ gìn phong hóa pháp độ và ổn
định xã hội. Tuy nhiên, do sự biến đổi của thời cuộc, Ngự sử đài thời Hậu Lê
cũng chưa thực sự phát huy được vai trò của mình trong suốt quá trình tồn tại.
Hiện nay, đã có không ít công trình nghiên cứu về quan chế và bộ máy nhà nước
thời Hậu Lê, nhưng đề tài khảo cứu về cơ quan giám sát Ngự sử đài vẫn chưa có
nhiều thành quả chuyên sâu. Trên thực tế, một số công trình nghiên cứu về tổ
chức bộ máy nhà nước ở trung ương thời Hậu Lê mới chỉ đề cập đến cơ quan này
ở mức độ giản lược, chưa có sự nghiên cứu cụ thể và hệ thống hóa, chưa đánh
giá đúng mức những đóng góp và hạn chế về tổ chức và hoạt động thực tiễn của
Ngự sử đài từ thế kỉ từ XV đến XVIII.
Việc nghiên cứu về Ngự sử đài thời Hậu Lê góp phần đánh giá khách quan,
toàn diện hơn về thiết chế chính trị dưới thời Hậu Lê nói chung và bộ máy thanh tra,
giám sát nói riêng. Đây cũng sẽ là tài liệu có ý nghĩa và giá trị tham khảo nhất định
đối với việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam
giai đoạn thế kỉ XV – XVIII.
Hiện nay, đất nước đang thực hiện cải cách hành chính. Công tác tuyển chọn,
thanh tra, giám sát cán bộ cũng đang được đổi mới, nhằm phục vụ cho công cuộc
xây dựng đất nước trong thời kì đổi mới, hội nhập. Việc nghiên cứu, tìm hiểu những
1
kinh nghiệm của ông cha ta trong công tác thanh tra, giám sát quan lại là điều cấp
thiết. Trong đó, nghiên cứu về Ngự sử đài thời Hậu Lê giúp chúng ta đúc rút được
những bài học kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công cuộc cải cách tư pháp, hành
chính, thực thi hệ thống thanh tra, giám sát minh bạch trong giai đoạn hiện nay.
Vì những lí do trên, tác giả quyết định chọn vấn đề “Ngự sử đài thời Hậu Lê
(thế kỉ XV - XVIII)” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước 1975, do một số yếu tố khách quan và chủ quan nên việc nghiên cứu
về quan chế thời Hậu Lê không nhiều. Đối với hướng chuyên sâu về một cơ quan cụ
thể như Ngự sử đài thì mới chỉ được đề cập sơ lược ở một số khía cạnh như tổ chức
và nhiệm vụ của cơ quan này.
Năm 1963, tác giả Lê Kim Ngân công bố công trình “Tổ chức chính quyền
dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497)” (Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn xuất bản).
Cuốn sách đã nói lên những nét đại cương nhất về cách thức tổ chức chính quyền
trung ương dưới thời Lê Thánh Tông. Trong đó, cơ quan Ngự sử đài mới chỉ được
tác giả trình bày khái lược về cơ cấu tổ chức, phẩm trật, nhiệm vụ, cách thức tuyển
dụng quan lại...
Năm 1968, John K. Whitmore trong cuốn“Sự phát triển của chính phủ Lê
vào thế kỉ XV ở Việt Nam” (bản dịch chép tay lưu tại phòng Tư liệu khoa Lịch sử,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã ít
nhiều đề cập đến tên gọi và chức nhiệm của cơ quan Ngự sử đài. Tuy nhiên, đây
cũng mới chỉ là những phác thảo rất sơ giản về cơ quan này.
Năm 1974, tác giả Lê Kim Ngân lại cho ra mắt chuyên khảo “Văn hóa chính
trị Việt Nam – Chế độ chính trị Việt Nam thế kỉ XVII – XVIII” (Viện Đại học Vạn
Hạnh ấn hành). Đây là công trình nghiên cứu đề cập khá rõ về một số chức năng của
Ngự sử đài như: Tuyển bổ - xét hạch quan lại; xét xử chung thẩm các bản án; tham
gia khảo khóa quan lại. Tuy nhiên, do tác phẩm chủ yếu tập trung vào thiết chế
lưỡng đầu thời Lê – Trịnh nên chỉ mới liệt kê một số chức năng của Ngự sử đài mà
chưa khảo cứu kĩ lưỡng về cơ cấu tổ chức và hoạt động thực tiễn của cơ quan này..
Từ sau năm 1975, đã có một số công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián
tiếp liên quan đến cơ quan Ngự sử đài.
Năm 1997, Đặng Kim Ngọc trong Luận án Phó Tiến sĩ khoa học Lịch sử với
đề tài “Chế độ đào tạo và tuyển dụng quan chức thời Lê Sơ”(Viện sử học) đã đề cập
sơ lược về phương thức tuyển chọn vào các chức vụ trong Ngự sử đài.
2
Năm 1998, các tác giả Phan Đại Doãn, Nguyễn Minh Tường, Hoàng
Phương, Lê Thành Lân, Nguyễn Ngọc Quỳnh trong công trình nghiên cứu về quan
chức triều Nguyễn với tên gọi “Một số vấn đề quan chế triều Nguyễn”(NXB. Thuận
Hóa, Huế) đã đề cập khái lược đến Ngự sử đài để làm cơ sở đối sánh với quan chế
triều Nguyễn (Đô sát viện).
Năm 1999, Nguyễn Huệ Chi đã chủ biên cuốn sách “Hoàng đế Lê Thánh
Tông nhà chính trị tài năng, nhà văn hóa lỗi lạc, nhà thơ lớn” (NXB. Khoa học Xã
hội, Hà Nội). Đây là công trình nghiên cứu đứng trên góc nhìn của Văn học, nên
việc đề cập đến cơ quan Ngự sử đài ở mức độ hạn chế, chưa ảnh hưởng sâu đậm.
Năm 2002, Đỗ Văn Ninh cho ra đời tác phẩm “Từ điển quan chức Việt
Nam” (NXB. Thanh niên, Hà Nội) đã giúp cho người đọc có cái nhìn bao quát hơn
về các chức vụ của cơ quan Ngự sử qua từng thời kì khác nhau, chức năng, nhiệm
vụ của các viên quan trong cơ quan Ngự sử đài, Nhưng chỉ ở mức độ giản lược,
khái quát.
Năm 2005, Bùi Xuân Đính trong tác phẩm “Nhà nước và pháp luật thời
phong kiến Việt Nam những suy ngẫm” (NXB. Tư pháp, Hà Nội) đã đề cập về tổ
chức của Ngự sử đài như sau: “Từ thời Trần đã đặt Ngự sử đài là cơ quan có nhiệm
vụ giám sát các hoạt động của quan lại triều đình, có chức ngự sử trung tán (hay
Ngự sử trung thừa), Ngự sử đại phu trông giữ, song nhiều khi do Hành khiển kiêm
nhiệm. Thời Lê Thánh Tông, Ngự sử đài được đặt ở vị trí quan trọng, có đủ các
chức Đô Ngự sử (phẩm trật tòng nhị phẩm, Phó Đô ngự sử (tòng tam phẩm), Thiêm
đô ngự sử (chánh ngũ phẩm), thường do những người có học vị Tiến sĩ nắm giữ”.
Mặc dù tổ chức của Ngự sử đài chỉ được đề cập giản lược, nhưng những phác thảo
của tác giả Bùi Xuân Đính đã giúp người đọc bước đầu hình dung về tiêu chuẩn
tuyển chọn của chức quan Ngự sử thời Lê.
Từ năm 2005 đến nay, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về lịch sử và quan
chế triều đại Hậu Lê như Đinh Công Vỹ (2005) với tác phẩm “Thảm án các công
thần khai quốc” (NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội); Phạm Đức Anh (2007) với luận
văn Thạc sĩ “Thiết chế chính trị Việt Nam thế kỉ XV – XVIII” (Đại học
KHXH&NV - Đại học Quốc gia Hà Nội).... Thông qua các tác phẩm này, chức
năng và thành phần quan viên trong cơ quan Ngự sử đài được đề cập ngày càng rõ.
Chỉ có điều, do chưa tập trung khảo cứu chuyên sâu nên nội dung đề cập về cơ
quan này vẫn chưa có hệ thống và chiều sâu.
Trần Thị Vinh (2012) với chuyên khảo “Thiết chế và phương thức tuyển
3
dụng quan lại của chính quyền nhà nước trong lịch sử Việt Nam thế kỉ XVII –
XVIII” (NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội) đã dựng lại bức tranh toàn cảnh về bộ
máy nhà nước từ thời Lê Sơ đến Lê Trung Hưng. Trong đó, tác giả khẳng định vai
trò của cơ quan Ngự sử đài là không thể thay thế, để giữ vững giềng mối của đất
nước. Đây là tác phẩm mà luận văn đã tham khảo để phát triển thêm cho đề tài.
Bên cạnh các sách chuyên khảo, tham khảo, trên các tạp chí nghiên cứu
chuyên ngành cũng đã có một số bài khảo cứu về bộ máy nhà nước thời Hậu Lê nói
chung và chế độ thanh tra, giám sát quan lại nói riêng. Có thể kể đến bài viết của
một số tác giả như: Trương Hữu Quýnh (1992) với “Công cuộc cải tổ và xây dựng
nhà nước pháp quyền thời kỳ Lê Thánh Tông” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6).
Trong bài chuyên khảo này, tác giả đã cho chúng ta một cái nhìn tổng quát về hoàn
cảnh lịch sử sau khi lập nước của triều đại Hậu Lê, nhưng về Đài quan tác giả chỉ dẫn
một cách khái quát.
Thái Hoàng, Bùi Qúy Lộ (1995) với “Thanh tra, giám sát và khảo xét quan lại
ở nước ta thời phong kiến” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6 ). Đây là tập chuyên
khảo đề cập đến cơ quan Ngự sử đài có bao quát trên nhiều phương diện từ quá trình
xây dựng, chức năng – nhiệm vụ và chế độ tuyển dụng của viên quan trong Ngự sử đài.
Đây là một tập chuyên khảo đề cập rất nhiều đến cơ quan Ngự sử đài. Ngô Đức Lập
(2012) với bài viết “Tổ chức giám sát của các triều đại quân chủ Việt Nam” (Tạp
chí Khoa học, Đại học Huế, số 72ª) đã nêu một cách khái quát về quá trình phát
triển của cơ quan Ngự sử đài qua các thời kì khác nhau.
Trong số các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước, phải kể đến bài
viết khảo cứu của Đào Tố Uyên, Phan Ngọc Huyền (2010) với “Đài quan thời Lê
Sơ” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10). Trong công trình nghiên cứu này các tác
giả đã nghiên cứu về cơ quan giám sát triều đại Hậu Lê một cách tỉ mỉ, công phu về
cơ cấu tổ chức, quyền hạn, chức trách nghĩa vụ, hoạt động của cơ quan Ngự sử đài.
Bên cạnh đó, các tác giả còn phân tích và đánh giá về đóng góp, hạn chế và số phận
của các viên quan thuộc Ngự sử đài. Đây là vấn đề chưa được các nhà nghiên cứu
trước đó đề cập cụ thể và là công trình nghiên cứu đặt nền móng quan trọng cho nội
dung nghiên cứu của tác giả trong luận văn này. Năm 2014, tác giả Phan Ngọc
Huyền đã công bố bài viết “Tư hiến phủ (vương triều Triều Tiên) trong sự đối sánh
với Ngự sử đài (Vương triều Hậu Lê)” (Tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 7).
Dựa trên nền tảng về cơ cấu tổ chức, chức năng – nhiệm vụ tác giả đã có nghiên
cứu đối sánh giữa Ngự sử đài thời Hậu Lê với Tư hiến phủ của Vương triều Triều
4
Tiên. Trên cơ sở những tư liệu được phản ánh trong bộ chính sử và thư tịch cổ Việt
Nam cùng với sử liệu trong Triều Tiên thực lục, tác giả đã phân tích và chỉ ta
những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai cơ quan giám sát của hai triều đại. Bài
viết này đặt cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về so sánh bộ máy thanh tra, giám
sát giữa các nước trong khu vực Đông Á.
Điểm qua một số công trình trên đây co thể thấy, đề tài về Ngự sử đài triều
Lê Sơ đã được đề cập, khảo cứu trực tiếp hoặc gián tiếp trong một số công trình
nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên
sâu đề cập đến một cách hệ thống và đầy đủ về cơ quan Ngự sử đài từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XVIII. Đây là cơ sở để tác giả mạnh dạn kế thừa thành quả nghiên cứu
của những người đi trước, tiếp tục khảo cứu sâu hơn về cơ quan này đặt trong thời
kì tồn tại khá dài của nhà Hậu Lê.
3. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành, phát triển, chức
năng, nhiệm vụ, thực tiễn hoạt động, hạn chế và đóng góp của Ngự sử đài thời
Hậu Lê.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về Ngự sử đài dưới triều Hậu Lê từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XVIII, trải qua 2 giai đoạn là thời Lê Sơ (1428-1527) và Lê Trung Hưng
(1533-1789). Thời Mạc, do vương triểu chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn và quan
chế về cơ bản vẫn theo như thời Hồng Đức nên cơ cấu tổ chức và quyền hạn của
Ngự sử đài về cơ bản không có thay đổi so với thời Lê Sơ và không có nhiều tư liệu
để khảo cứu. Trong khuôn khổ của luận văn Thạc sĩ này, Ngự sử đài thời Mạc
không nằm trong phạm vi nghiên cứu.
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Một là, nghiên cứu hệ thống về quá trình tái thành lập, cơ cấu tổ chức, nhiệm
vụ và cơ chế tuyển chọn quan lại làm việc trong Ngự sử đài thời Lê Sơ.
Hai là, phân tích những thay đổi về nhân sự, quyền hạn và chức nhiệm của
cơ quan Ngự sử đài dưới thời Lê Trung Hưng, đặt trong sự chi phối bởi những biến
cố trong các thế kỉ XVII – XVIII.
Ba là, phân tích và đánh giá về những đóng góp và hạn chế của Ngự sử đài.
Bên cạnh đó, bước đầu phân tích và đặt Ngự sử đài trong mối quan hệ tương tác
5
quyền lực với vua và Lục khoa thời Hậu Lê.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu quan trọng nhất được tác giả sử dụng chủ yếu là các văn bản
điển chế và các bộ chính sử như: Đại Việt sử kí toàn thư, Lê triều quan chế, Thiên
Nam dư hạ tập, Đại Việt sử kí tục biên, Đại việt thông sử, Lịch triều hiến chương
loại chí, Khâm định Việt sử thông giám cương mục...
Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên
quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài như các chuyên khảo, sách tham khảo và các
bài viết được công bố trên tạp chí nghiên cứu chuyên ngành như Nghiên cứu Lịch
sử, Nghiên cứu Đông Bắc Á...
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả sử dụng hai phương pháp chính là phương
pháp lịch sử và phương pháp lôgic.Trong đó, phương pháp lịch sử giúp chúng ta
dựng lại bức tranh toàn cảnh về quá trình ra đời, hoạt động của cơ quan Ngự sử đài.
Tác giả sử dụng phương pháp lôgic để đưa ra những nhận định và đánh giá về
những đóng góp và hạn chế trong suốt quá trình hoạt động của cơ quan Ngự sử đài
thời Hậu Lê.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như phân
tích, so sánh, tổng hợp, thống kê...
5. Đóng góp của luận văn
Luận văn mong muốn hướng đến một số đóng góp sau đây:
Thứ nhất, luận văn góp phần nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về
quá trình ra đời, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của Ngự
sử đài dưới thời Hậu Lê.
Thứ hai, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên đưa ra nhận xét về đóng
góp, hạn chế của Ngự sử đài dưới thời Hậu Lê cũng như bước đầu có sự so sánh với
Đô sát viện nhà Minh. Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung tài liệu
trong việc nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử tổ chức bộ máy hành chính ở Đại Việt
thế kỉ XV – XVIII nói chung và chế độ thanh tra, giám sát quan lại nói riêng.
Thứ ba, thông qua việc nghiên cứu về Ngự sử đài thời Hậu Lê, luận văn
bước đầu rút ra một số bài học kinh nghiệm trong công tác thanh tra, giám sát quan
lại thời phong kiến. Đây là những kinh nghiệm rất đáng được học tập, nghiên cứu
trong quá trình cải cách tư pháp và chế độ thanh tra hiện nay.
6
6. Bố cục của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính
của luận văn dự kiến gồm có 4 chương như sau:
Chương 1: Khái quát về bộ máy nhà nước trung ương thời Lê Sơ và những
biến động chính trị dưới thời Lê Trung Hưng.
Chương này khái quát về bộ máy nhà nước ở hai thời kì trước và sau cải cách
Lê Thánh Tông để thấy được quá trình hoàn thiện bộ máy nhà nước của triều đại
Hậu Lê và đưa ra những nhận định đầu tiên về cơ quan Ngự sử đài. Bên cạnh đó,
tác giả còn trình bày những tác động chính trị dưới thời Lê Trung Hưng ảnh hưởng
đến cơ quan Ngự sử đài.
Chương 2: Cơ cấu tổ chức, cơ chế tuyển chọn và chính sách đãi ngộ của
Ngự sử đài thời Hậu Lê.
Chương này tác giả trình bày cơ cấu tổ chức và những biến đổi trong cơ chế
tuyển chọn, chính sách đãi ngộ của Ngự sử đài qua hai thời kì Lê sơ và Lê Trung
Hưng.
Chương 3: Chức nhiệm và hoạt động của Ngự sử đài thời Hậu Lê.
Chương này tác giả trình bày về chức năng và nghĩa vụ của Ngự sử đài và
đưa ra những đánh giá sự khác nhau về chức năng của Đài quan ở thời kì Lê sơ và
Lê Trung Hưng.
Chương 4: Một số nhận xét về Ngự sử đài thời Hậu Lê.
Chương này tác giả trình bày mối quan hệ giữa vua và Lục khoa. Bên cạnh
đó, luận văn cũng đưa ra đánh giá về những đóng góp, hạn chế của cơ quan Ngự sử
đài trong suốt quá trình hoạt động.
7
NỘI DUNG
Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG THỜI LÊ SƠ
VÀ NHỮNG BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ DƯỚI THỜI LÊ TRUNG HƯNG
1.1 Khái quát bộ máy nhà nước trung ương thời Lê Sơ
1.1.1 Giai đoạn trước cải cách Lê Thánh Tông
Năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng.Đất nước không còn bóng
quân xâm lược, Lê Lợi - vị lãnh tụ tối cao của khởi nghĩa Lam Sơn lên ngôi vua lập
ra nhà Lê. Bên cạnh hàng loạt chính sách ổn định và phát triển đất nước, Lê Lợi
cũng tiến hành thiết lập lại bộ máy nhà nước theo hướng quân chủ phỏng theo mô
hình thời Trần. Nhưng tình hình đất nước đã thay đổi khi 221 vị công thần khai
quốc phò tá Lê Lợi trong công cuộc Bình Ngô phục quốc xuất thân từ các tầng lớp
khác nhau như: Trần Nguyên Hãn là quý tộc cũ nhà Trần; Lê Sát, Lê Ê là nông
dân; Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh là thành phần tri thức. Trong hoàn cảnh đất nước
hòa bình, thịnh trị thì văn ban là những người tri thức, mới giữ vai trò quan trọng,
vực dậy, phát triển đất nước sau 20 năm đô hộ giặc Minh. Vì vậy, nhà nước đã phải
“cầu hiền”, sử dụng lại những tri thức cũ như Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn, Đào
Công Soạn v.v…
Bên cạnh đó, trải qua 20 năm đô hộ, quân Minh đã ra sức vơ vét, bòn rút của
nhân dân, đốt sách, tàn phá nền văn minh của Đại Việt. Mục đích của quân Minh là
không cho dân Việt biết đến nguồn gốc, cội rễ của mình, đồng hóa một cách triệt
để, song song đó là kinh tế kém phát triển, đồng ruộng xơ xác, thủ công nghiệp,
thương nghiệp đình trệ, mất mùa, đói kém xảy ra thường xuyên. Chính vì thế sau
khi lập lại hòa bình, Lê Lợi thực hiện một nhiệm vụ trọng yếu là phải gấp rút khôi
phục lại nền kinh tế vừa bị phá hoại nghiêm trọng mà trước hết là nông nghiệp
[27,106]. Cơ sở kinh tế bị tàn phá, chính quyền mới đứng trước những khó khăn rất
lớn, bên ngoài kẻ thù phương Bắc luôn luôn rình rập để xâm chiếm nước ta một lần
nữa, bên trong vua tôi, quần thần nghi kị lẫn nhau, một bộ phận quan lại thừa hành
bắt đầu có lối sống xa hoa, tham ô.
Với nhiều nguyên nhân như trên, Lê Lợi không thể tổ chức lại bộ máy nhà
nước một cách rập khuôn theo mô hình “quân chủ quý tộc” nhà Trần. Vì thế, yêu
cầu đặt ra là phải “mở toang” cánh cửa bộ máy nhà nước cho các tầng lớp khác
nhau tạo thành một mô hình mới “quý tộc quan liêu”. Ở thời kì đấy, khi Lê Lợi đã
cho đặt các chức “Thái úy, thiếu úy, thiếu bảo, tư đồ, tư không, tư mã, bình chương
sự, thượng tướng quân, tả hữu bộc xạ, lục bộ thượng thư, Hàn lâm thừa chỉ, nhập
8
nội hành khiển, xu mật đại sứ và thái giám, chia các lộ trấn làm 4 đạo, đặt liêu
thuộc hàng văn, hàng võ ở trong ở ngoài, đặt các chức tướng quân, các thị vệ và
chức tuần kiểm ở cửa biển, còn vệ quân ở các lộ, các phủ, thì bổ quan lại đại thần
làm kiệm tri, tổng tri và đồng tri để thống lãnh và thi hành mệnh lệnh, nơi trấn thủ
thì có chức quan sát và phòng ngữ, động sách thì có chức thủ ngữ và đoàn luyện,
có lộ có chức yên phủ” [11,151-152].
Với mô hình nhà nước phôi thai như thế, rõ ràng dễ nhận thấy bộ máy nhà
nước vẫn chưa chặt chẽ. Tuy nhiên, đây có thể xem là bước đệm cho việc chuẩn bị
thành lập một nhà nước sau này.
Vả lại, cơ cấu nhà nước theo mô hình Lý –Trần được áp dụng với bộ máy
nhà nước thời kì đầu không còn thích hợp nữa. Mô hình nhà Minh (Trung Quốc)
hấp dẫn hơn, đáp ứng được mong muốn của Lê Thánh Tông là tập trung quyền lực,
đơn giản hóa các cơ quan hành chính và phục dịch, dùng luật pháp để trị quân, dân.
Xây dựng nhà nước pháp quyền.
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, đặt niên
hiệu là Thuận Thiên (1428 – 1433) và đã tiến hành thiết lập lại bộ máy nhà nước
trên cơ sở kế thừa từ bộ máy nhà nước thời Trần.
Theo mô hình này đứng đầu triều đình là vua, vua là người có quyền hành
tối cao, dưới vua là hàng ngũ quan lại, giử các trọng trách khác nhau trong triều.
Sau vua là chức Tả, hữu Tướng quốc, rồi đến các chức Tam thái, Tam thiếu, Tam
tư: “Trần Hãn làm Tư đồ, Lê Sát làm Tư mã, Đinh Lễ làm Tư không, về sau đều
thêm chữ “nhập nội”[4,533]. Chức Thiếu úy được Lê Lợi đặt từ lúc còn khởi nghĩa,
sau khi đánh thắng giặc Minh mới đặt chức Thái úy, cùng với các chức thái, ba
chức thiếu đều là trọng trách của đại thần [4,534]. Các trọng chức văn, võ đều được
giao cho bầy tôi có công. Dưới Đại thần là hai ngạch ban văn và ban võ. Ban văn
đứng đầu là “Đại hành khiển”. Lịch triều hiến chương loại chí có ghi “Triều Lê lúc
mới lên, theo quan chế triều Trần, chia đặt chức Đại hành khiển và Hành khiển 5
đạo, cho chia giữ các việc sổ sách, kiện tụng về quân dân, những chức ấy đều ở đầu
ban văn, ngang với tể tướng”[4,468].
Sau Đại hành khiển là Thượng Thư đứng đầu các Bộ, bấy giờ mới chỉ có hai
bộ: Bộ Lại và Bộ Lễ, bên cạnh đó có một số cơ quan chuyên trách như: Nội mật
viện, Ngũ hình viện, Bí thư giám, Ngự sử đài, Hàn lâm viện, Quốc tử giám v.v…
Ban võ có các chức Đại tổng quản, Đại đô đốc, Đô tổng quản. Những chức
này chỉ huy quân thường trực ở kinh thành và các vệ quân ở các đạo, dưới là các
9
chức võ tướng cao cấp khác như: Điện tiền, Kiểm hiệu, Đô chỉ huy sứ, Phó sứ và
Tứ sương chỉ huy sứ, chức Tổng binh quản lĩnh. Ở địa phương, đứng đầu các đạo là
chức Hành khiển phụ trách mọi việc quân dân, sau đó là các An phủ sứ, Tri phủ,
Tuyên phủ sứ, Chuyển vận sứ đứng đầu các trấn, lộ, huyện. Xã có xã quan.
Nhìn chung, tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Lợi trải qua thời kì đầu đã có
sự hoàn thiện từng bước nhưng nhìn chung bộ máy nhà nước chủ yếu vẫn dựa vào
quy chế tổ chức của các triều đại trước. So với thời Lý – Trần, bộ máy nhà nước
những năm đầu thời Lê Sơ đã có một số bước tiến về mức độ tập trung chính quyền
song còn nhiều hạn chế:
Một là, các cơ quan trung gian như Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn
hạ sảnh; các chức quan như Tể tướng, Đại hành khiển còn giữ vai trò và quyền lực
rất lớn ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối trị nước của vua.
Hai là, các vị công thần khai quốc (ngoại thích) chiếm giữ vai trò quan trọng
trong bộ máy nhà nước. Việc tranh giành quyền lực, chia bè, kéo cánh làm phương
hại quốc gia, hạn chế tập trung quyền lựccủa vua.
Ba là, cơ quan giám sát ở địa phương chưa được thành lập. Vì thế, nhà nước
quản lí địa phương còn ở mức độ hạn chế.
Trải qua các đời vua Thái Tông (1434 – 1442), Nhân Tông (1442 – 1459), bộ
máy chính quyền ngày càng được bổ sung và hoàn thiện thêm và đến thời Lê Thánh
Tông thì đạt đến mức độ kiện toàn.
Mặc dù, bộ máy nhà nước thời Lê Sơ tiến bộ hơn vào thời kì Lý – Trần. Tuy
nhiên, bộ máy nhà nước thời kì đầu Hậu Lê (1428 – 1460) vẫn chưa chặt chẽ.Với
mong muốn xây dựng nhà nước quân chủ chuyên chế vững mạnh, triều đại Hậu Lê
phải dựa trên cơ sở kế thừa của các triều đại trước và tham khảo mô hình tiên tiến
của nhà Minh đương thời, để làm được điều đó thì phải xây dựng một đội ngũ quan
lại với hai yêu cầu tiên quyết đó là: “Sự trung thành với dòng họ cầm quyền mà tiêu
biểu là vua và thái độ đối với nhân dân trong thực thi những chủ trương chính sách
của nhà nước”[15,1].
Nhưng với nhà Hậu Lê, số lượng các công thần khai quốc lên đến 221 người
xuất thân từ các tầng lớp khác nhau, không thể tránh khỏi việc tham ô, “công thần,
kiêu tướng gây lưng, chụm cẳng, chia bè kết cánh, đấu đá, giết hại lẫn
nhau”[59,143]. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là do các
trọng thần đều thuộc về thành phần ngoại thích, với lại bộ máy nhà nước có quá
nhiều chức quan và cơ quan trung gian hạn chế rất lớn đến quyền lực của vua như
10
chức quan Tể tướng, Đại hành khiển, Tả bộc xạ, Hữu bộc xạ; cơ quan như Thượng
thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh sự lãnh đạo của các cơ quan, hay những
chức quan đứng dưới một người trên vạn người như Tể tướng không tránh khỏi sự
chuyên quyền, tham nhũng .
Kỷ cương phép nước lỏng lẻo, một bộ phận quan lại bắt đầu có lối sống
hưởng thụ, không chăm lo đến đời sống nhân dân. Làm vua như Lê Lợi thì đa nghi,
hiếu sát. dưới sự trị vì của Lê Lợi, 2 vị khai quốc công thần bậc nhất là Trần
Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo đều bị bức hại, mặc dù chính Lê Lợi là người biết
rất rõ những hàm oan này, nhưng vì sợ “các công thần đã giúp cuộc sáng nghiệp sẽ
cậy công mà không phục con mình, …Để đề phòng phản bạn, Lê Lợi quyết ý tiêu
diệt những người công thần có uy tín tài năng mà hình tích có chỗ khả
nghi”[1,327]. Không những giết hại công thần, việc quan lại quí tộc chia bè kéo
cánh, tranh chấp quyền lực cũng làm cho bộ máy nhà nước dầu thời Lê bất ổn. Vụ
án Lệ chi viên, tru di ba đời Nguyễn Trãi dưới triều đại Thái Tông (1434 -1442) và
việc Lê Nghi Dân giết vua và thái hậu năm 1459 là minh chứng hùng hồn nhất cho
sự rối loạn chính trị của triều đình thời Hậu Lê mà bản chất của nó chính là sự tranh
giành quyền lực trong nội bộ triều đình.
Bên cạnh đó, những thói xấu cuối thời Trần bắt đầu phát triển ở đầu thời Hậu
Lê. Trong lời răn của vua năm 1448 có đoạn: “Nay bọn các ngươi không giữ phép
nước, làm việc công thì mượn tiếng công để làm việc tư, xét kiện tụng thì lấy của
đút mà sai pháp luật, những người đi đường ai cũng oán than” [30,141-148]. Số
quan lại thanh liêm giống như Nguyễn Trãi rất ít. Điều này có thể thấy rất rõ quan
bản “Trung hưng ký”, được viết sau khi Lê Thánh Tông lên ngôi: “Nhân Tông mới
2 tuổi, sớm lên ngôi vua…kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công hành…phường dốt
đặc nổi dậy như ong…Tể thần như Lê Sát, Lê Sảng thì dốt đặc…Văn giai như Đào
Công Soạn tuổi gần 80, tể thần như Lê Ê không biết một chữ. Người trẻ không biết
nghĩ, tự ý làm càn, người già không chết đi, thành ra tai hại. Bán quan, mua ngục,
ưa giàu, ghét nghèo…kẻ xiêm nịnh được nghe theo, bọn đạo sát thì được bổ dụng”
[31,152-153].
Nhìn chung, có thể thấy vương triều Lê Sơ trong giai đoạn đầu từ năm 1428
đến năm 1460 là giai đoạn có nhiều biến động trong bộ máy cầm quyền. Lê Lợi là
vị vua có nhiều chính sách tiến bộ trong trị nước nhưng lại là người “đa nghi, hiếu
sát” đã giết hại nhiều công thần nổi tiếng. Lê Thái Tông vì ham mê tửu sắc mất ở
tuổi 20. Lê Nhân Tông lên ngôi khi mới 2 tuổi, Thái hậu Nguyễn Thị Anh buông
11
rèm nhiếp chính, quyền hành triều chính rơi vào tay ngoại thích. Năm 1459, Lê
Nghi Dân đảo chính, giết vua và Thái hậu rồi tự lập mình làm vua.
Bên cạnh những biến động về chính trị trong bộ máy cầm quyền, phép nước
cũng bị xem nhẹ. Các công thần khai quốc lấn át quyền hành của vua điển hình là
Lê Sát bị Ngự sử đài hặc tội “Lê Sát quen thói chuyên quyền, tội ấy khó lòng dung
thứ” [30,341], Ở phía dưới quan lại thi nhau ăn của đút đến nổi người thợ trong cục
bách tác phải thốt lên rằng: “Thiên tử không có đức, để đến nỗi hạn hán. Đại thần
ăn của đút, cử dùng kẻ vô công, có gì là thiện đâu mà phải làm chùa to thế”[30,
316]. Với tình cảnh trên, thì phải có một cơ quan giám sát, giám sát tất cả quan lại ở
trung ương cũng như ở địa phương, để hạch tội trăm quan, nêu rõ uẩn tình của nhân
dân. Lập lại kỉ cương phép nước với mục tiêu chính là làm cho quan, lại trong sạch,
và trung thành tuyệt đối với giai cấp cầm quyền. Cơ quan đó chính là Ngự sử đài.
Từ hoàn cảnh lịch sử như vậy, Lê Thánh Tông từ khi còn là Bình Nguyên
Vương(1), đã suy nghĩ về vị trí của mình, theo dõi thời thế và cố gắng học tập, được
sử gia Vũ Quỳnh đương thời khen “vua tự trời cao siêu, anh minh quyết đoán, có
hùng tài, đại lược, võ giỏi, văn hay mà cái học của thánh hiền lại đặc biệt siêng
năng, tay không lúc nào rời quyển sách. Các tập kinh sử, các sách lịch toán, những
việc thánh thần không có gì không bao quát tinh thông”[30, 519]. Sự bất ổn chính
trị với sự trị vì của vua Lê Thái Tông đã giúp Lê Thánh Tông có cái nhìn sâu sắc
hơn về tình hình của đất nước lúc bây giờ. Bên cạnh đó, một đều kiện tiên quyết
cho Lê Thánh Tông tiến hành cải cách thành công đó là cơ sở kinh tế được “phục
hồi và bước đầu phát triển, kéo theo công cuộc khẩn hoang vùng biển phát triển.
Thủ công nghiệp, thương nghiệp ngày càng mở rộng và phát triển tác động đến đời
sống tinh thần của nhân dân” [54, 3].
1.1.2 Giai đoạn từ sau cải cách của Lê Thánh Tông
Với nhận thức về thời cuộc và những yêu cầu đặt ra trong quản lí đất nước,
vua Lê Thánh Tông đã tiến hành công cuộc cải tổ từ năm 1465 với việc “bắt đầu
1()
Bình Nguyên Vương Lê Tư Thành, Năm 1445, khi được khoảng 4 tuổi, Tư Thành được phong
làm Bình Nguyên vương. Ông rất được Nguyễn Thái hậu, hiện đang nhiếp chính thay Nhân Tông
còn nhỏ, yêu quý. Năm 1459, người anh cả cùng cha khác mẹ của Lê Nhân Tông là Lạng Sơn
vương Lê Nghi Dân tiến hành đảo chính và sát hại Nhân Tông, hôm sau Nguyễn Thái hậu cũng bị
giết. Nghi Dân lên ngôi, tự xưng làm Thiên Hưng. Bình Nguyên vương Tư Thành không bị anh sát
hại trong vụ này mà được cải phong làm Gia vương
12
đặt năm phủ, sáu bộ…đều đặt chức thượng thư ở các Bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình,
Công [30,197] và hoàn chỉnh năm 1471 với việc ban hành bản “Sửa định Hoàng
triều quan chế” trong đó có đoạn nêu rõ: “Đồ bản đất đai ngày nay rộng rãi so với
thời trước đã khác xa. Ta cần phải tự mình giữ quyền chế tác, hết đạo biến thông.
Ở trong kinh quân vệ nhiều thì đặt năm phủ chia giữ, chính sự bộn thì đặt sáu bộ
cùng làm.Ba ty cấm binh thủ ngự là để nanh vuốt ruột gan, sáu khoa để xét hạch
trăm quan, sáu tự để thừa hành việc vặt.Thông chính sứ để tuyên đức trên, thấu
tình dưới. Ngự sử Hiến sát để bẻ thói xấu của các quan và xét ẩn tình của dân
chúng… chức lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng giữ gìn nhau, lẽ phải
của nước không bị chuyện riêng, việc lớn của nước không đến lung lay, có thói tốt
làm hợp đạo đúng phép, không có lầm lỗi làm trái nghĩa phạm hình, để theo trọn
cái chí của thánh tổ thần tông ta, mà được trị an âu dài ” [30, 33-34]. Để đạt được
những tiêu chí đó, Lê Thánh Tông đã tiến hành cải cách bộ máy hành chính ở
trung ương và địa phương.
Ở trung ương: Lê Thánh Tông bãi bỏ những quan chức và cơ quan trung gian
giữa vua và bộ phận thừa hành đó là Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ
sảnh, Khu mật viện, Tông nhân phủ cùng với các viên quan cao cấp như Tể tướng,
Tam tư, Đại hành khiển, tả hữu Bộc xạ. Vua nắm mọi quyền hành kể cả quyền tổng
chỉ huy quân đội, trực tiếp làm việc với 6 bộ, 6 tự, 6 khoa thực hiện các công việc
trọng yếu. Giúp vua bàn bạc và chỉ đạo công việc khi cần thiết có các đại thần như
Thái sư, Thái bảo, Thái úy, Thiếu sư, Thiếu bảo…,Và giống như các triều đại trước,
triều đại Hậu Lê đều có xếp phẩm cấp cho các quan, theo chín bậc từ nhất phẩm đến
cửu phẩm. Một phẩm lại chia ra làm hai bậc: chánh và tòng, có tổng cộng 18 trật.
Cơ quan quản lí nhà nước (cơ quan chức năng) trung ương là 6 bộ (Lại, Hộ,
Lễ, Binh, Hình, Công). Và phân rõ nhiệm vụ chức năng của từng bộ:
Bộ lại có nhiệm vụ tuyển bổ, thăng giáng, lựa chọn, khảo xét, phong tước
các quan lại. Biên chế bộ lại là 80 người
Bộ Lễ phụ trách các việc lễ nghi, tế tự, thết tiệc các quan và tân khách, thi
cử, học hành, đúc các ấn tín, trông coi các Sở: Tư thiên giám phụ trách việc thiên
văn, địa lí, làm lịch, Thái y viện phụ trách việc y tế trong cung vua và toàn vương
quốc, Tăng đạo phụ trách việc tu hành của các tăng ni, xây dựng chùa chiền. Biên
chế bộ Lễ là 71 người
Bộ binh có nhiệm vụ trông coi việc võ bị, đặt quan trấn thủ ở các vùng biên
giới, tổ chức việc phòng thủ ở các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp. Biên
13
chế bộ binh là 128 người
Bộ hình trông coi luật lệ, hình pháp, xét lại các việc tù đày, kiện cáo cùng
các việc nghiêm cấm
Bộ công trông coi việc sữa chữa, xây dựng, quản đốc thợ thuyền. Biên chế
bộ Công là 40 người.
Bộ Hộ trông coi việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế, kho tang, thóc
tiền và lương quan quân.Biên chế bộ Hộ là 110 người[61, 45].Đây là các cơ quan
quản lí hành chính trọng yếu bộ máy nhà nước thời kì Lê Thánh Tông.
Giúp việc cho 6 bộ là 6 tự bao gồm:
Đại lí tự là cơ quan có nhiêm vụ xét lại những án nặng đã xử như án phạt tử
hình hay bị đày. Xét xong thì chuyển kết quả sang Bộ Hình để tâu lên vua xin quyết
định
Thái thường tự là cơ quan phụ trách việc thi hành những thể thức lễ nghi,
trông coi các việc tế tự
Quang lộc tự là cơ quan phụ trách việc kiểm tra rượu lễ, đồ lễ, đồ ăn trong
các buổi yến tiệc
Thái Bộc tự là cơ quan giữ gìn xe Vua và Hoàng tử, coi sóc chuồng ngựa nhà
nước
Hồng lô tự là cơ quan chịu trách nhiệm xướng danh những người đỗ trong
các kì thi Đình. Hồng lô tự còn có hai thự là Điển khách thự để lo đón tiếp sứ gia
ngoại quốc và Ty nghi để lo việc an táng các vị quan to trong triều.
Đứng đầu bộ là chức Thượng thư chịu trách nhiệm trước vua về Bộ mình
phụ trách. Để tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của các quan lại,
Ngoài Ngự sử đài, Lê Thánh Tông còn đặt thêm 6 khoa, công việc của 6 khoa được
nhà vua định rõ như sau “Lại bộ bổ cất không đúng tài, Lại khoa được phép bắt bẻ,
Lễ bộ nghi chế sai bậc, Lễ khoa được phép đàn tấu; Hình khoa luận công việc phải
trái của Hình bộ; Công khoa kiểm thời hạn của Công bộ mau hay chậm, siêng hay
trễ”[30,33-34]. Mỗi Khoa giám sát một bộ. Với cách thức tổ chức và phân định
nhiệm vụ như trên của các Bộ, các Tự, các Khoa và Ngự sử đài, Lê Thánh Tông đã
giám sát, kiểm soát chặt chẽ bộ máy thừa hành. Không một bộ nào, không có một
viên quan nào có thể lộng hành thao túng pháp luật, kỷ cương hoặc đứng ra ngoài
sự giám sát của nhà Vua.
Ngoài các cơ quan chức năng nêu trên, còn có một số cơ quan giúp việc khác
như:
14
Hàn lâm viện: Là cơ quan để chuyên làm nhiệm vụ soạn thảo các dụ, chiếu,
chỉ cùng các văn bản mệnh lệnh khác của nhà vua
Đông các: Là cơ quan làm nhiệm vụ chuyên rà soát, sửa lại các văn bản do
Hàn lâm viện soạn thảo.Bằng cách như vậy, Lê Thánh Tông đã làm cho mọi văn
bản được cân nhắc, xem xét kỉ lưỡng hết mọi khía cạnh rồi mới đem công bố thi
hành; tính nghiêm minh trong mệnh lệnh và văn bản pháp luật của Lê Thánh Tông
đã được đảm bảo một cách vững chắc trước hết bởi tính đúng đắn, chính xác về nội
dung của nó. Việc tổ chức cơ quan Đông các, nhà vua đã lường trước được mọi hậu
quả to lớn, nếu sai lầm trong ban hành văn bản. Đặc biệt nếu đó là văn bản của
người có quyền lực cao nhất, của cơ quan cao nhất nhà nước.
Trung thư giám: là cơ quan để chuyên ghi chép, lưu giữ các sắc lệnh, chỉ dụ,
tước hiệu do nhà vua sắc phong cho những người trong hoàng tộc, các quan và nơi
thờ cúng sau khi họ chết
Bí thư giám: Là cơ quan lưu giữ và trông coi thư viện của nhà vua
Hoàng môn tỉnh: Là nơi giữ ấn tính của nhà vua
Qua cách tổ chức cơ quan văn phòng của Lê Thánh Tông, nhà vua đã tổ chức
cách làm việc của mình một cách có hệ thống, rõ ràng, rành mạch, Như thế, Lê
Thánh Tông không bị bấn búi vào các sự việc hàng ngày, để chuyên tâm lo các
công việc đại sự của đất nước.
Vua Lê Thánh Tông còn tổ chức ra một số cơ quan chuyên môn không lệ
thuộc vào sáu bộ, bao gồm:
Thông chính ty là cơ quan trông coi việc chuyển đạt công văn, chỉ dụ của
triều đình tới các nơi và chuyển đệ công văncủa cấp dưới, đơn từ của nhân dân lên
nhà vua
Quốc tử giám là cơ quan giáo dục cao nhất trong cả nước. Quốc tử giám giữ
nhiêm vụ trông coi văn miếu – nơi thờ Khổng Tử và lưu giữ văn bia các vị đỗ trong
các kì thi Đình. Quốc tử giám là nơi dạy dỗ, đào tạo nhân tài cho đất nước.
Quốc sử Viện là cơ quan giữ việc ghi chép, biên soạn những việc làm nhà
vua hằng ngày, chính sự, lỗi lầm, nhân tài, tiểu nhân, phong tục tốt xấu trong nước
đều do Quốc sử viện ghi chép trung thực để lưu lại làm gương cho đời sau.
Để khuyến khích nông nghiệp, Lê Thánh Tông đã cho lập 4 sở chuyên
môn:Sở đồn điền để trông coi ruộng đất tốt xấu thế nào, lập và thực hiện kế
hoạch tưới nước cho ruộng đồng; Sở tầm tang để trông coi việc trồng dâu, nuôi
tằm, dệt lụa; Sở thực thái để trông coi việc trồng rau; Sở điền mục để trông coi
15
việc nuôi gia súc
Ngoài ra còn có các cơ quan như: Cung sư phủ, Hà đê ty, Khuyến nông ty
và các chức quan chuyên môn như (Tuần kiểm, Giang quan, Thuế sứ, Phố chính…)
mỗi cơ quan, viên chức đều có công việc riêng của mình.
Có thể nói mô hình tổ chức nhà nước ở trung ương sau cải cách hành chính
của Lê Thánh Tông đã đạt đến độ khá hoàn thiện, với số lượng quan, lại văn võ
trong cả nước có 5.370 người, trong đó 2.755 người ở triều đình trung ương và
2.615 người ở các địa phương. Tất cả các tổ chức và các cấp, chính quyền trong cả
nước đều có chức năng nhiệm vụ rõ rệt, tất cả các quan lại trong toàn bộ bộ máy cai
trị nhà nước đều có chức danh, có phẩm hàm và bổng lộc rõ ràng, không có hiện
tượng chồng chéo lẫn nhau, không có hiện tượng có tổ chức mà chức năng, nhiệm
vụ không rõ ràng.
Những cải cách nêu trên đã đưa mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của
vương triều Lê Sơ dưới sự trị vì của vua Lê Thánh Tông trở thành khuôn mẫu cho
các triều đại sau này học tập và kế thừa, mặc dù có một số cải biến.
1.2. Những biến động chính trị dưới thời Lê Trung Hưng
Vương triều Lê Sơ dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông đã đạt những thành
tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực và được coi là giai đoạn thịnh trị nhất dưới thời
Lê Sơ. Người kế nghiệp Thánh Tông là vua Lê Hiến Tông (1497-1504) ở giai đoạn
sau vẫn giữ được vẻ thịnh trị nhờ “kế tục chính sách khôn khéo của vua cha, mới
lên ngôi đã nghĩ ngay đến việc kiểm sát quan lại, dặn dò ở các quan Ngự sử và
Khoa đạo nghiêm xét bách quan, bắt các quan từ hình bộ trở xuống phải thanh lí
các hình án để dân khỏi quan sai”[1,350]. Sang đến đời Lê Túc Tông, cục diện
chính trị của triều đình bắt đầu chao đảo. Lê Túc Tông chỉ làm vua được 7
tháng.Sau khi Lê Túc Tông mất, Lê Uy Mục(1500-1509) lên ngôi, triều chính rối
loạn. Từ đây, các vua kế tiếp nhau ăn chơi sa đọa, bạo ngược, không chăm lo đến
việc nước và đời sống nhân dân. Cường hào, ác bá nổi lên như ong hoành hành
ngang ngược, bóc lột nhân dân. Chính vì thế hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông
dân nổ ra làm sụp đổ cả triều đại.
Dưới thời trị vì của Lê Uy Mục, triều chính hoàn toàn lọt vào tay ngoại thích,
là phe đảng của thái hậu Nguyễn thị và Hoàng hậu Trần thị. Quyền thần, ngoại thích
chuyên quyền, cướp bóc, hạch sách nhân dân, những quan viên không theo phe
cánh của bọn chúng thì đều bị bức hại. Các công thần thì lần lượt bị bức hại có thể
kể đến như Nguyễn Văn Lang một trong những khai quốc công thần với triều vua
16
Tương Dực đế.
Trước tình hình triều chính bị hư hoại, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nông
dân diễn ra như khởi nghĩa Nguyễn Tuân năm 1511 ở Hưng Hóa, khởi nghĩa của Lê
Hy và Trịnh Hưng nổi lên ở Nghệ An, trong đó cuộc khởi nghĩa lớn nhất trong giai
đoạn này là khởi nghĩa Trần Cao ở chùa Quỳnh Lâm (xã Hà Lôi, huyện Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh) với thanh thế và quy mô rất lớn. Triều đình cất quân đi đánh,
người chỉ huy lúc này là Nguyễn Hoằng Dụ cũng nhiều phen lao đao. Khi cuộc
chiến đang ở thế giằng co, Trịnh Duy Sản đem 3000 quân Kim Ngô vệ vào cung
giết vua, lập Quang Trị lên ngôi khi Quang Trị vừa tròn 8 tuổi. Anh của Trịnh Duy
Sản là Duy Đại vì tranh giành quyền lực với Duy Sản đã giết chết Quang Trị, trước
tình hình nguy cấp, Duy Sản lập Lê Ỷ lên ngôi hoàng đế. Sự rối loạn về chính trị
trong giai đoạn này vô cùng phức tạp, bên cạnh đó một phần do các vị vua đương
thời đa phần bất tài, vô dụng, chỉ thích ăn chơi, hưởng thụ với lối sống xa hoa, trụy
lạc. Chính vì vậy, vua ở giai đoạn này không còn ở vị trí tối cao, không còn quyền
lực và cơ quan Ngự sử đài giữ nhiệm vụ “phong hiến” trong lúc này cũng đành bất
lực trước thời cuộc.
Tình thế như trên rất có lợi cho cuộc khởi nghĩa Trần Cao, đội quân của Trần
Cao đã chiếm được kinh thành nhưng do xuất thân từ tầng lớp nông dân và những
hạn chế của chính bản thân, sau vài trận đánh, cuối cùng khởi nghĩa cũng bị dập tắt
với sự hiệp lực của tôn thất, quí tộc, địa chủ và nhân dân Thanh Hóa.
Sau thắng lợi này, các công thần như Nguyễn Hoằng Dụ, Trịnh Tuy mặc sức
hưởng lạc, gây bè, kết cánh, tranh giành quyền lực. Lê Ỷ phải nhờ ngoại thích là Vũ
Xuyên bá Mạc Đăng Dung can thiệp, binh quyền dần lọt vào tayMạc Đăng Dung.
Mạc Đăng Dung sau khi đánh đuổi Hoằng Dụ vào Thanh Hóa, thì lại phải đối phó
với Trịnh Tuy cùng với Trần Châu và Hoàng Duy Nhạc chiếm lấy kinh thành.
“Đăng Dung xin vua dời đến Bảo Châu, Đô ngự sử Đỗ Nhạc và Thiêm đô ngự sử
Nguyễn Dự can ngăn, bị Đăng Dung giết chết” [51,79], đó là tình cảnh của các
quan viên trong Ngự sử đài trong thời thế bây giờ. Mạc Đăng Dung sau này còn giết
hại rất nhiều viên quan trong Ngự sử đài như “Đô ngự sử Nguyễn văn Vận”[51,90],
“Phó Đô ngự sử Nguyễn Hữu Nghiêm”[51,95].
Sau khi đánh đuổi được Trịnh Tuy, thế và lực của Mạc Đăng Dung ngày
càng lớn mạnh.Mạc Đăng Dung giết hại những người không phục để chuyên
chính.Lê Ỷ lo sợ chạy về với Trịnh Tuy ở Thanh Hóa. Năm 1525, Mạc Đăng Dung
17
đánh bại Trịnh Tuy giết Lê Ỷ lập Lê Cung Hoàng (1) lên ngôi. Lê Cung Hoàng làm
vua được mấy tháng.Mạc Đăng Dung bắt phải nhường ngôi rồi bị giết.
Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, một bộ phần triều thần đã tử tiết vì nhà Lê.Kẻ
bị giết, người tự tử. Những người còn sống một phần không chịu theo nhà Mạc, trốn
ði nhiều nõi, mai danh ẩn tích hoặc chiêu tập lực lýợng ðể mýu khởi nghĩa.
Tháng 3 năm 1528, Lê Công Uyên cháu của Lê Vãn Linh là công thần nhà
Lê nổi dậy khởi nghĩa, tiến quân chiếm hoàng thành nhýng thất bại. Mạc Ðãng
Dung tiến quân ðuổi theo, Lê Công Uyên bị ám sát, khởi nghĩa thất bại.
Năm 1530, chính sử chép: “Bấy giờ, Lê Ý, người Thanh Hoa, là cháu ngoại
họ Lê, căm giận họ Mạc cướp ngôi, mới nổi quân ở Da Châu, lại xưng niên hiệu
Quang Thiệu, nhiều người theo về, trong khoảng mươi hôm, một tháng, nhiều quận
huyện hưởng ứng, số quân có đến vài vạn người. Bèn cùng với bọn bộ tướng Lê
Như Bích, Lê Bá Tạo, Hà Công Liêu, Lê Tông Xá, Nguyễn Cảo dàn bày doanh trận,
chế đặt cơ đội, bộ ngũ, nổi súng lệnh, kéo cờ hiệu, đóng quân ở sông Mã. Từ đấy,
các hào kiệt xa gần đều cho là họ Lê sẽ phục hưng, cùng nhau phấn khởi theo về,
không đến vài năm mà quân thanh rất lừng lẫy”[30,593].
Cũng trong thời gian này, Nguyễn Kim trốn sang Ai lao, “Chúa nước ấy là
Sạ Đẩu cho rằng ta là nước có quan hệ môi răng với họ, mới đem nhân dân và đất
đai Sầm Châu cấp cho Kim. Từ đó, Nguyễn Kim nuôi dưỡng sĩ tốt, chiêu nạp những
kẻ chạy trốn, làm phản, ngầm tìm con cháu họ Lê lập nên để mưu khôi phục ”[30,
593], Nguyễn Kim lấy danh nghĩa “Phù Lê diệt Mạc” đã tìm lập Lê Duy Ninh, con
của vua Lê Chiêu Tông lên làm vua, khôi phục lại nhà Lê gọi là triều Lê Trung
Hưng (1533-1789).
Triều đại Lê Trung Hưng được khôi phục nhưng quyền lực thực tế nằm trong
tayhọ Nguyễn, mà ở đây là Nguyễn Kim ngôi vị vua Lê chỉ còn là hư vị. Sau khi
Nguyễn Kim bị ám hại(2), quyền hành lọt vào tay Trịnh Kiểm con rể Nguyễn Kim.
Họ Trịnh nắm quyền, họ Nguyễn lâm vào thế khốn cùng, con của Nguyễn Kim là
Nguyễn Uông bị bức hại, Nguyễn Hoàng xin với Trịnh Kiểm vào trấn thủ Thuận
Hóa dưới sự giúp đỡ của chị gái Ngọc Bảo(vợ Trịnh Kiểm) và Nguyễn Ư Dĩ (người
đã nuôi Nguyễn Hoàng từ năm 2 tuổi, khi Nguyễn Kim đang ở Ai Lao), cùng với đó
là câu nói của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung
thân” càng thôi thúc ý chí xin vào nam của Nguyễn Hoàng để từng bước cát cứ,
1
(1) Theo Đào Duy Anh trong tác phẩm Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX có ghi “Đầu năm
1527, Đăng Dung bắt Lê Thung nhường ngôi cho mình, rồi giết luôn cả Lê Thung và Thái Hậu. Còn trong
Đại Việt sử kí toàn thư ghi là Lê Cung Hoàng và tên Húy là Lê Xuân.
2
(1) 1545 Nguyễn Kim bị viên hàn tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất giết chết
18
giành lại quyền lực.
Từ đây hình thành các thế lực cát cứ, nhà Mạc chiếm giữ vùng đất từ Thanh
Hóa trở ra “tiến đánh vào Thanh Hóa nơi họ Trịnh nắm giữ đến 10 lần”, họ Trịnh
chiếm giữ vùng đất từ Thanh Hóa trở vào “tiến đánh vào Sơn Nam nơi nắm giữ của
họ Mạc đến sáu lần”, họ Nguyễn bắt đầu gây dựng thế lực từ vùng Thuận - Quảng
trở vào Nam. Tình trạng chia cắt đất nước, chiến tranh các tập đoàn phong kiến diễn
ra ngày càng ác liệt. Thời gian đầu, họ Nguyễn vì chưa đủ sức làm đối trọng với họ
Trịnh nên cùng với họ Trịnh tiêu diệt nhà Mạc. Nhưng họ Nguyễn đã có âm mưu từ
lâu và khi tích góp được đầy đủ về thế và lực, cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn đã
bùng nổ. Từ năm 1627 đến năm 1672, Trịnh - Nguyễn đánh nhau nhiều lần không
phân thắng bại, cuối cùng hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn phải lấy sông
Gianh làm giới tuyến, gây ra tình trạng chia cắt đất nước kéo dài mấy thế kỉ.
Tháng 4 năm 1592, họ Trịnh đánh bại nhà Mạc chiếm lại kinh thành Thăng
Long, tu tạo cung điện, đón vua Lê từ Thanh Hóa trở về. Kể từ đây thế lực họ Trịnh
ngày càng lớn mạnh, nắm trong tay kể cả quyền phế, lập vua. Trong Lịch triều hiến
chương loại chí có chép: “Lê từ Trung hưng về sau, bỏ vua nọ lập vua kia (1), quyền
ở chúa Trịnh cả. Vua mất đi, thường thường tùy theo ý chúa muốn lập ai thì lập,
con đích hay con thứ, ít tuổi hay nhiều tuổi, không cần gì cả. Như khi Thế Tông
mất, thì bỏ Thái tử mà lập con thứ ; khi Thần Tông mất, thì qua 2 tháng mới lập
vua ; nắm lấy buông ra, quyền ở trong tay, không ai dám nói gì cả. Đương lúc bấy
giờ, vua chỉ ngồi làm vì thôi. Gọi là định ngôi vua nối nghiệp, thì trong lúc ốm liên
miên chưa từng được tự do, cho nên việc lập vua nối ngôi đại để quy công cho
vương phủ cả. Đến cả các tờ chiếu thư bá cáo, lời lẽ rất là tôn kính, cũng là cái thế
buộc phải như vậy. Nay hãy chép cả tờ chiếu lúc mới lên ngôi ra đây, để biết sự
thực.Còn việc khác thì cứ suy ra” [4,806-807].Sự thể như trên nhưng tất cả các viên
quan làm việc trong hệ thống bộ máy nhà nước dưới thời Lê Trung Hưng kể cả viên
quan Ngự sử đài đều nín lặng, không dám hạch lầm lỗi của họ Trịnh, để giữ phong
hóa, pháp điển giống như các giai đoạn đầu của triều đại Hậu Lê. Đến nỗi, “vua
1
(1) 1619 Trịnh Tùng giết Lê Duy Tân (Kính Tông) lập Lê Duy Kỳ ( Thần Tông ) lên thay
- 1613 Trịnh Tráng ép Lê Duy Kỳ nhường ngôi cho con là Lê Duy Hựu (Chân Tông) mới 13 tuổi. Được 7
năm thì Duy Hựu chết, Trịnh Tráng lại cho Lê Duy Kỳ làm vua lại
- Trịnh Tạc nối nghiệp cha Trịnh Tráng lập Hoàng tử Lê Duy Vũ (Huyền Tông) mới 9 tuổi lên ngôi. Sau khi
Lê Duy Vũ mất, Trịnh Tạc lập hoàng đệ là Lê Duy Hội (Gia Tông) mới 12 tuổi. Được 4 năm Duy Hội mất,
Trịnh Tạc lập hoàng đệ là Lê Duy Hợp lên ngôi
- 1704 Trịnh Căn nối nghiệp Trịnh Tạc, bức Lê Duy Hợp nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Đường (Dụ Tông)
25 tuổi.
- 1729 Trịnh Cương nối nghiệp Trịnh Căn bức Lê Duy Đường nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Phương
(không tôn hiệu) và đã lớn tuổi. Ở ngôi được 3 năm
19