Tải bản đầy đủ (.docx) (46 trang)

Đề cương ôn thi Triết Cao học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (353.33 KB, 46 trang )

TRIẾT CAO HỌC
. Vấn đề cơ bản của triết học. Các trường phái triết học
Khái niệm TH:
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về TG, về vị trí, vai trò
của con người trong TG ấy .
Triết học xuất hiện từ khi con người có sự phân công lao động. Khi đó các ngành khoa
học còn nằm trong triết học gọi là triết học tự nhiên. Sau nhiều thế kỷ chúng mới phát triển
thành các ngành khoa học độc lập với triết học. Khái niệm triết học dù ở phương Đông hay
phương Tây, dù biến đổi trong lịch sử như thế nào đều bao gồm hai yếu tố:
- Yếu tố nhận thức: sự hiểu biết của con người về vũ trụ và con người giải thích hiện
thực bằng tư duy.
- Yếu tố nhận định: Đánh giá về mặt đạo lý để có thái độ và hành động.
Vấn đề cơ bản của triết học
- P Ăngghen +: Vấn đề cơ bản lớn của mọi tiết học đặc biệt là của triết học hiện đại là
vấn đề qh giữa tư duy – tồn tại ( ý thức – vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên)
Sở dĩ giữa tư duy và tồn tại trở thành vấn đề cơ bản của triết học vì:
- Đây là vấn đề xuyên suốt trong toàn bộ l/s của triết học mà bằng cách này hay cách #
cũng phải đề cập giải quyết nó.
- Việc giải quyết vấn đề cơ bản này quyết định, chi phối việc giải quyết vấn đề khác.
Vấn đề cơ bản của triết học có 2 mặt:
a. Mặt1:Bản thể luận:
+Tư duy có trước hay tồn tại có trước (vật chất có trước hay ý thức có trước), cái nào
quyết định cái nào?
b. Mặt 2: Nhận thức luận
+ Con ng có khả năng nhận thức được TG hay kho?
* Giải quyết mặt 1
1


- Căn cứ vào g/q mặt 1vấn đề cơ bản của triết học từ trong l/s triết học được phân chia
thành những trường phái sau đây:


Trường phái 1: CN Duy vật cho rằng:
-Vật chất có trước, ý thức có sau; vật chất quyết định ý thức.
- CN duy vật được thể hiện dưới 3 hình thức:
+ CNDV chất phác, ngây thơ thời cổ đại:
tiêubiểu:, Đêmôcrit, Epiquya. TaLet cho rằng: nước sinh ra TG ,Hêragrit cho rằng Lửa sinh
ra TG thuyết ngũ hành của TQ thì cho rằng: K-M-T-H-T sinh ra TG
+ CNDV máy móc, siêu hình(Siêu hình là máy móc, cứng nhắc):
Đỉnh cao vào thế kỷ XVII- XVIII với các đại biểu Becơn (Anh), niđrô, Hom Bách
(Pháp), PhơBách (Đức)Nhà bác học Tomac cho rằng TráI tim của con người như những lò
xo, dây tầh kinh như những sợi chỉ, còn các khopws xương là những bánh xe làm cho con
người chuyển động.
+ CNDV biện chứng
Do C. Mác, P. Ăngghen xây dựng những năm 40 của thế kỷ XIX và được Lê Nin phát
triển.Đây là lý luận chính xác nhất.
Trường phái 2: CN Duy tâm cho rằng:
- Tư duy có trước, tồn tại có sau ý thức có trước,vật chất có sau; ý thức quyết định vật
chất.
- CNDTâm:tồn tại dưới 2 dạng chủ yếu:
+ CN DT khách quan
Với các đại biểu nổi tiếngPlatôn, Hê ghen, Lêmit… ý thức tồn tại bên ngoài con
người, thế giới có được là sản phẩm của ý niệm tuyệt đối(ý niệm tuyệt đối là quan điểm siêu
nhiên) Tiêu biểu cho quan điểm này là nhà TH Platôn cho rằng: TG là cái bóng của ý niệm(tư
tưởng siêu nhiên) Hê ghen cho rằng : TG chẳng qua chỉ là cáI bóng là sự thể hiện khác ý
niệm
+ CNDT chủ quan:
Với các đại biểu Beccơri – Hi um
2


ý thức con người là cái có trước, tồn tại sẵn trong con người; quyết định sự tồn tại của

sự vật và hiện tượng bên ngoài. Beccơri cho rằng : vật là phức hợp cảm giác của con
ngườiVD: Quả cam - Màu sắc - mùi vị - có trước con người mới cảm nhận được.
Ngoài 2 trường phái trên còn có trường phái thứ 3 là trường phái nhị nguyên:
- Các nhà triết học cho rằng: Vật chất và ý thức là 2 nguyên thể song song tồn tại, không
có cái nào có trước là nguồn gốc tạo nên TG
=> Vậy tuy những qđiểm triết học biểu hiện đa dạng nhưng suy cho cùng triết học
chia thành 2 trường phái chính: CNDV – CNDT luôn diễn ra cuộc đấu tranh đối lập tạo động
lực bên trong cho sự phát triển của tư duy triết học.
* Giải quyết mặt 2
Căn cứ vào giải quyết mặt thứ 2 vấn đề cơ bản của triết học là con người có thể nhận
thức được thế giới hay ko? Thì trong l/s triết học cũng chia thành 2 trường phái đối lập:
- Trường phái khả tri (Thuyết khả tri, thuyết có thể biết)
Tuyệt đại đại đa số các nhà triết học (duy vật – duy tâm): thừa nhận khả năng nhận thức
thế giới của con người. Nhưng quan điểm nhận thức về TG của CN duy vật # duy tâm.
- Trường phái bất khả tri (Tiêu biểu là thuyết kho thể biết, thuyết bất khả tri của
Hium – Cantơ - Hoxli) Thừa nhận con người kho có khả năng nhận thức được thế giới
Kết luân: Như vậy giảI quyết hai mặt sẽ giúp chúng ta xác định được các trường phái
TH (DV&DT)và các học thuyết TH.
Thông qua việc nghiên cứu vấn đề cơ bản của Thgiups chúng ta x/đ được đó có phảI là
TH hay Ko?
II. Phạm trù vật chất
1. Quan điểm của các nhà triết học duy vật trước Mác.
- Thời kỳ cổ đại, các nhà triết học duy vật thường quy vật chất về một dạng cụ thể nào
đó, họ đồng nhất vật chất với vật thể cụ thể. Chẳng hạn:
+ Talét coi vật chất là nước; Anaximen:Không khí; Hêraclit coi vật chất là lửa;
Ampeđốclơ: đất, nước, lửa, không khí; Anaximanđrơ:Apâyrôn; Lơxíp và Đêmôcrít: nguyên
tử
3



+ Hạn chế: đồng nhất vật chất với một dạng cụ thể của nó. thể hiện cách nhìn trực quan
cảm tính và siêu hình trong việc giải thích về khởi nguyên của thế giới. Mặc dù có nhiều hạn
chế, nhưng thuyết nguyên tử thời cổ đại là một bước phát triển của chủ nghĩa duy vật trên con
đường xây dựng quan niệm về phạm trù vật chất và trở thành cơ sở khoa học cho sự nhận
thức khoa học sau này.
- Thời Trung cổ ở Châu Âu: quan điểm duy tâm tôn giáo thống trị.
- Thời Phục hưng, Khai sáng:
+ Quan điểm siêu hình - máy móc chi phối những hiểu biết triết học về vật chất. Người
ta giải thích mọi hiện tượng của tự nhiên bằng sự tác động qua lại của lực hấp dẫn và lực đẩy
giữa các phần tử của vật thể.
+ Niềm tin vào chân lý cơ học trong cơ học Niutơn đã khiến các nhà khoa học lúc đó
đồng nhất vật chất với khối lượng, coi vận động của vật chất chỉ là biểu hiện vận động cơ
học.
+ Nguồn gốc của vận động được coi là nằm ở bên ngoài vật chất, từ đó dẫn tới thừa
nhận “cái hích của Thượng đế”.
+ coi nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất, không phân chia được.
+ các nhà triết học duy vật có nhiều đóng góp quan trọng vào việc phát triển quan niệm
về vật chất và tính thống nhất vật chất của thế giới. Họ đồng nhất vật chất với một dạng hoặc
một thuộc tính của vật chất.
2. Định nghĩa của Lênin về vật chất
“Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho
con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”1
- Phân tích nội dung định nghĩa:
+ Vật chất là một phạm trù triết học:

1

4



phạm trù rộng lớn nhất, khái quát nhất. vật chất nói chung là vô hạn và vô tận, không tự
nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi. không thể đồng nhất với những dạng cụ thể của
vật chất.
+ Vật chất là thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được
cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại:
Vật chất tồn tại khách quan, thông qua những dạng cụ thể chúng tác động vào các giác
quan của con người và con người có thể nhận thức được các dạng vật chất cụ thể ấy. Vì vậy,
về nguyên tắc, không có đối tượng nào không thể nhận thức được, chỉ có những đối tượng
chưa nhận thức được mà thôi.
+ Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác:
Vật chất là thực tại khách quan. Vật chất tồn tại thông qua các dạng cụ thể của vật
chất.Trong mối quan hệ với ý thức thì vật chất là cái có trước (tính thứ nhất) và ý thức là cái
có sau (tính thứ hai), vật chất quyết định ý thức.
- Kết luận: Định nghĩa vật chất của Lênin đã giải đáp cả hai mặt của vấn đề cơ bản của
triết học theo lập trường duy vật biện chứng. Định nghĩa đó cũng có ý nghĩa thế giới quan và
phương pháp luận to lớn đối với nhận thức khoa học.
- Ý nghĩa của định nghĩa:
Chống lại quan điểm duy tâm và trường phái bất khả tri trong việc giải quyết vấn đề cơ
bản của triết học.
+ Khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc trong quan niệm về vật
chất của các nhà triết học duy vật trước Mác, đồng thời phát triển những quan điểm tư tưởng
duy vật biện chứng của Mác - Ăngghen về vật chất.
+ Khắc phục được cuộc khủng hoảng trong vật lý học cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
và mở đường cho các nhà khoa học tiến sâu vào nghiên cứu, tìm ra bản chất của thế giới.
+ Định nghĩa vật chất của Lênin cũng đã giúp cho việc xây dựng quan điểm duy vật biện
chứng trong lĩnh vực xã hội.

5



III. Vật chất và vận động
1.Khái niệm vận động
Vận động là thuộc tính cơ bản, là hình thức tồn tại của vật chất. Nhà hiền triết Hi Lạp cổ
đại Hê-ra-clít đã từng nói: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”.
- Trong tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, Ăngghen viết: “Vận động, hiểu theo nghĩa
chung nhất, tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu
của vật chất thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự
thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
2.Vận động là “thuộc tính cố hữu của vật chất”
- Vận động và vật chất không tách rời nhau, vật chất tồn tại thông qua vận động và vận
động là vận động của vật chất.
- vận động với tính cách là thuộc tính bên trong, vốn có của vật chất là sự tự thân vận
động. Sự vận động tự thân như vậy không thể bị mất đi hoặc được sáng tạo ra mà chỉ chuyển
hóa từ dạng này sang dạng khác.
- Vận động của vật chất biểu hiện rất đa dạng. Dựa trên những thành tựu của khoa học
tự nhiên và triết học Ăngghen đã phân loại thành 5 hình thức vận động cơ bản của vật chất
như sau:
+ Vận động cơ giới: Là sự di chuyển vị trí của các vật thể.
+ Vận động vật lý: là sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, các quá trình nhiệt,
điện, từ, v.v...
+ Vận động hoá học: là sự vận động của các nguyên tử, các quá trình phân giải và hoá
hợp của các chất.
+ Vận động sinh học: thể hiện ở hoạt động sống của cơ thể, ở sự trao đổi giữa cơ thể
sống và môi trường.
+ Vận động xã hội: là hình thức vận động cao nhất của vật chất, là quá trình biến đổi và
thay thế của các hình thái kinh tế xã hội.
Tuy có sự khác nhau về chất nhưng giữa các hình thức vận động cơ bản này có sự liên
hệ, tác động và chuyển hoá lẫn nhau. Sự phát triển của thế giới vật chất thể hiện ở sự liên hệ,
6



chuyển hoá từ những hình thức thấp đến hình thức vận động cao. Mỗi hình thức vận động cao
lại bao hàm những hình thức vận động thấp hơn.
3.Tính mâu thuẫn của vận động
- Đứng im là sự ổn định, sự bảo toàn tính quy định các sự vật – hiện tượng. Nhưng đứng
im chỉ là tương đối, còn vận động mới là tuyệt đối.
- Vật thể chỉ đứng im trong một mối quan hệ xác định: trong mối quan hệ này thì vật thể
đó đứng im, nhưng trong mối quan hệ khác thì nó lại vận động. Như vậy, đứng im là hình
thức vận động cá biệt, là đặc trưng tồn tại của sự vật.
+ Sự đứng im của vật thể chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian xác định và chính trong
khoảng thời gian đó đã nảy sinh những nhân tố dẫn đến phá vỡ sự đứng im tạm thời của nó.
Như vậy, đứng im là tương đối, tạm thời. Vận động của thế giới bao hàm trong nó cả
tính biến đổi và tính ổn định.
Từ đó ta nhận thấy rằng CNDVBC thừa nhận TG v/c và bản thân v/c luôn luôn vận động
không ngừng và liên tục phát triển. Sự vận động đó luôn chứa đựng những mâu thuẫn và
không ngừng giải quyết những mâu thuẫn đó,đó chính là động lực cho sự phất triển
4. Ý nghĩa của quan điểm triết học duy vật biện chứng về vận động
Một là, khi nghiên cứu sv,hiện tượng cần đặt nó trong trạng thái vận động biến đổi
không ngừng, để xác định bản chất vấn đề
Hai là, cần xác đinh đúng những hình thức vận động đặc trưng cho sự vật hiện tượng.
chống xu hướng áp đặt vận động sinh học vào trong đời sống xã hội và giải quyết các vấn đề
xã hội. vận dụng quy luật vận động xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội
Ba là, chống quan điểm siêu hình, bảo thủ, định kiến trong nhận thức và hành động thực
tiễn, cần xay dựng quan điểm vận động với tư duy năng động
IV. Ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
1. Quan niệm của triết học duy vật biện chứng về ý thức
a.Theo các yếu tố hợp thành
- Kết cấu của ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí, lý trí… trong đó tri
thứclà yếu tố cơ bản, cốt lõi

7


* Tri thức:
-Là kết quả của quá trình nhận thức của con người về TG hiện thực, làm tái hiện trong tư
tưởng những thuộc tính, những quy luật của thế giới ấy và diễn đạt chúng dưới hình thức
ngôn ngữ hoặc các hệ thống ký hiệu khác.
* Tình cảm:
- Sự T/Đ của TG bên ngoài đến con người kho chỉ đem lại cho con người sự hiểu biết về
TG mà còn đem lại những cảm xúc, tình cảm của họ về thế giới.
=> Tri thức kết hợp với tình cảm hình thành nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực biến
thành hành động thực tế, mới phát huy được sức mạnh của mình.
b. Theo chiều sâu của nội tâm
- ý thức bao gồm các yếu tố: Tự ý thức, tiềm thức và vô thức.
* Tự ý thức:
- Tự ý thức cũng là ý thức, là 1 thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về
bản thân mình trong mqh với ý thức về TG bên ngoài.
- Thông qua tự ý thức, con người đã tự đánh giá, nhìn nhận bản thân mình như 1 thực
thể hoạt động có cảm giác, tư duy, có các hành vi đạo đức và vị thế trong xh.
* Tiềm thức;
- Là những tri thức mà chủ thể đã tích luỹ được từ trước, nhưng đã gần như trở thành
bản năng, thành kỹ năng nằm trong tầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm
tàng.
* Vô thức
- Là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu,điều chỉnh sự suy nghĩ, hành vi, thái độ ứng xử
của con người mà chưa có sự tranh luận nội tâm, chưa có sự truyền tin bên trong, chưa có sự
kiểm tra, tính toán của lý trí.
- Tuy nhiên kho nên cường điệu, tuyệt đối hoá, thần bí vô thức. Kho nên coi vô thức là
hiện tượng tâm lý cô lập, tách khỏi hoàn cảnh xh.
Thực ra vô thức nằm trong con người có ý thức, giữ vai trò chủ đạo trong con người

là ý thức chứ kho phải là vô thức.
8


Nhờ ý thức mới điều khiển được các hiện tượng vô thức hướng tới chân- thiện – mỹ.
Vô thức chỉ là 1 mắt khâu trong c/s có ý thức của con người.
* ý nghĩa:
- Thường xuyên nâng cao tri thức (họctập, nghiên cứu…); xd niềm tin, t/c tốt đẹp,ý chí
phải dựa on cơ sở tri thức.
2.Nguồn gốc và bản chất của ý thức
Nguồn gốc tự nhiên: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có trình độ tổ chức cao
là bộ óc con người.
+ Bộ óc con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá lâu dài về mặt sinh học, xã hội. Bộ
óc con người có thuộc tính phản ánh – thuộc tính cơ bản của mọi dạng vật chất.
+Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ở một hệ thống
vật chất khác trong quá trình tác động qua lại của chúng
- Các dạng phản ánh:
+ pá vật lý: đặc trưng cho giới tự nhiên vô sinh VD: Bút gạch lên giấy thì giấy chịu sự
T/đ của bút phản ánh qua lại.
+ Pá sinh vật: đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh.
Chia làm 2 mức độ: cảm ứng đặc trưng cho giới thực vật và động vật bậc thấp và kích
thích đặc trưng cho sinh vật bậc cao (sinh vật có hệ thần kinh và bộ não: phản xạ kho điều
kiện và có điều kiện đòi hỏi luyện tập) VD: Cây xấu hổ, con người trạm tay vào lửa, con
nhím khi bị tấn công…
+ Pá tâm lý: Là sự pá lại cả những kích thích kho có giá trị trực tiếp đối với cơ thể
nhưng có ý nghĩa đời sống của chúng được gọi là hệ thống tín hiệu thứ I.
+ pá bằng ý thức con người:
Là hình thức cao I, hình thức đặc biệt chỉ có ở con ngươi on cơ sở pá tâm lý ngày càng
phát triển và hoàn thiện.
Các sự vật tác động lên cơ quan cảm giác của con người, t/đ đó được chuyển lên trung

tâm thần kinh đó là bộ não người và có được hả về sự t/đ đó
Những hả này của s/v được ghi = ngôn ngữ.
9


=> Tóm lại nguồn gốc tự nhiên của ý thức là hoạt động của bộ não người và sự tác động
của TGKQ lên bộ não đó. Thiếu 1 trong 2 yếu tố thì kho thể có ý thức
-b Nguồn gốc xã hội
- TheoĂngghen: Trước hết là lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ. Đó là 2
sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc vượn, làm cho bộ óc đó dần dần biến chuyển
thành bộ óc người.
Thông qua lđ và nhờ kết quả lao động chế độ ăn thuần tuý thay = chế độ ăn có thịt. Điều
này có ý nghĩa quan trọng biến đổi bộ não vượn thành bộ não người.
Trong quá trình LĐ dần dần biết chế tạo ra công cụ LĐ, VD: Đẽo đá cho sắc nhọn, vót
nhọn cây… Như vậy chứng tỏ họ đã hiểu biết các công dụng của các đồ vật dùng trong LĐ
chứng tỏ ý thức p/tr.
Trong quá trình LĐ ngôn ngữ ra đời: Trong quá trình LĐ thì phải trao đổi thống nhất ký
hiệu với nhaudo vậy ngôn ngữ ra đời.
- Lđ ngày càng phát triển sẽ đưa đến kết quả là thắt chặt thêm mối qh giữa người và
người.
Vai trò của ngôn ngữ : Nhờ ngôn ngữ mà ý thức mới được bộc lộ, nhờ ngôn ngữ mà con
người có thể trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, nhờ ngôn ngữ mà con người có thể truyền
đạt tri thức cho thế hệ sau.
=> tóm lại: ý thức là 1 hiện tượng XH mang tính XH
Nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội là điều kiện đủ và cần cho sự hình thành ý
thức.
ý thức có nguồn gốc tự nhiên nhưng thiếu nguồn gốc XH thì ko thành người VD: Đứa
trẻ bị lạc trong rừng được thú rừng nuôI thì con người đó ko còn ý thức của người…
- Bản chất của ý thức
- Y/T là sự phản ánh của TGKQ bởi bộ não con người VD: con người t/đ TG; TG t/đ tới con người để có

sự hiểu biết.
- ý thức là h/ả chủ quan của TGKQ vì ý thức là của con người, nó kho có tính v/c.

10


Nó là h/ả tinh thần tồn tại trong con người và thuộc con người khi con người pá thế giới
khách quan thì hả ấy trong mỗi con người là khác nhau.
VD: Khi ta đI xem trận bóng đá thì …..
- Sự khác nhau đó phụ thuộc vào 2 yếu tố:
+Phụ thuộc vào năng lực mọi hoạt động của bộ óc
+ Phụ thuộc vào mức độ nhạy cảm của các cơ quan cảm giác.
TGKQ này kho phải là hình ảnh vật lý mà đó là hả tinh thần, hả đã được cải biến.
- ý thức có 3 tính chất:
+ ý thức có tính trừu tượng:
ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng ra cái kho có trong thực tế.
+ ý thức có thể tiên đoán, dự đoán tương lai; có thể tạo ra những ảo tưởng, những huyện
thoại; những giả thuyết lý thuyết khoa học hết sức trừu tượng và khái quát cao.
+ ý thức là sự pá chủ động tích cực, có mục đích.
Điều đó có nghĩa là kho phải chỉ có sự t/đ của TGKQ vào cơ quan cảm giác của con
người thì sinh ra ý thức mà con người chủ động tác động vào TGKQ thông qua hoạt động
thực tiễn làm cho svht bộc lộ thuộc tính, tính chất để con người nhận thức. VD: Thám hiểm
mặt trang để đưa con người lên mặt trăng. nghiên cứu về biển xem biển có những tiềm năng
gì …
* Tóm lại: ý thức có được là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa bộ não người và
TGKQsong quyết định I vẫn là sự t/đ của con người vào TGKQ.
* ý nghĩa phương pháp luận:
- Muốn phát triển ý thức phải đưa con người vào hoạt động thực tiễn và các mối quan hệ
xã hội ; quan tâm phát triển thể chất là nền tảng của phát triển tư duy, ý thức con người.
- Phát huy tính năng động, sáng tạo của chủ thể trong nhận thức và hoạt động cải tạo

thực tiễn ; Chống thụ động, máy móc hoặc tuyệt đối hóa vai trò sáng tạo.
- Xây dựng môi trường văn hóa, tăng cường công tác giáo dục, nâng cao trình độ dân trí
và đời sống tinh thần của nhân dân.
- Là cơ sở khoa học phê phán các quan niệm sai trái về nguồn gốc của ý thức.
11


V. Các nguyên lý, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật
- Nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của chúng
1. Phép biện chứng duy vật với tính cách là khoa học về mối liên hệ phổ biến và phát
triển
Gồm có Nguyên lý về mối liên hệ phổ biển và nguyên lý về sự phát triển
1.1.NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN
a. Những quan điểm khác nhau về mối liên hệ phổ biến
* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
- Sự vật hiện tượng của thế giới tồn tại trong trạng thái tách rời nhau, giữa chúng không
có sự ràng buộc, tương tác lẫn nhau.
- Sự liên hệ, quy định lẫn nhau của các sự vật hiện tượng chỉ là những liên hệ quy định
bề ngoài, ngẫu nhiên, không có sự chuyển hoá lẫn nhau.
* Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm.
-Tất cả các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy đều có mối liên hệ cũng
như sự chuyển hoá với nhau.
- Nguyên nhân, nguồn gốc của những mối liên hệ, chuyển hoá của sự vật, hiện tượng là
do lực lượng siêu nhiên (siêu vật chất) hay do cảm giác của chúng ta quy định.
* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Mối liên hệ là một phạm
trù triết học dùng để chỉ sự phụ thuộc tác động lẫn nhau, làm điều kiện, tiền đề cho nhau và
chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các yếu tố, các mặt, các quá trình
của cùng một sự vật, hiện tượng trong thế giới.
b. Tính chất của mối liên hệ phổ biến
* Tính khách quan

- Mối liên hệ là vốn có của các sự vật, hiện tượng, không phải do một lực lượng bên
ngoài nào quy định.
- Để tồn tại các sự vật, hiện tượng tất yếu phải liên hệ tác động qua lại với nhau.
*. Tính phổ biến

12


- Giữa các sự vật, hiện tượng đều có mối liên hệ, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội và tư
duy.
- Giữa các yếu tố cấu thành nên sự vật cũng như giữa các quá trình, các giai đoạn của
một sự vật cũng đều không tách rời nhau.
Tính phổ biến thể hiện ở những vấn đề sau:
+ Xét về mặt kho gian: Mỗi SVHT là một chỉnh thể riêng biệt song chúng có sự t/đ,
ảnh hưởng lẫn nhau; chúng vừa tách biệt, vừa phụ thuộc, làm tiền đề cho nhau tồn tại và phát
triển. Đó là 2 mặt của qtrình tồn tại, v/đ và phát triển của bản thân mỗi SVHT
Trong đ/s xh ngày nay kho có 1 quốc gia, dt nào mà kho có mqh, liên hệ với quốc gia dt
# về mọi mặt của đ/s xh
+ Xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong SVHT.
Mỗi SVHT đều được cấu thành bởi nhiều nhân tố, nhiều bộ phận #. Chúng được tổ chức
xắp xếp theo 1 trật tự logic nhất định, trật tự nhất định, 1 kiểu nhất định để tạo thành 1 chỉnh
thể.
Các mặt, các yếu tố trong 1 chỉnh thể có sự ảh, ràng buộc lẫn nhau. Sự biến đổi 1 bộ
phận nào đó trong cấu trúc của SVHT sẽ ảh tới các bộ phận Khác và cả chỉnh thể.
+ Xét về mặt thời gian: Mỗi một SVHT nói riêng và cả TG nói chung trong sự tồn tại
và phát triển của mình đều phải trải qua các giai đoạn, các thời kỳ #.
=> tóm lại xét trên các phương diễn vĩ mô và vi mô, kho gian và thời gian ở đâu ta cũng
thấy mlhệ. Vì vậy triết học M – L k/định mlhệ các SVHT là phổ biến.
* Tính đa dạng, phong phú
- Thế giới đa dạng và phong phú nên mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng cũng muôn

hình muôn vẻ.
- Căn cứ vào vị trí, phạm vi, vai trò, tính chất mà phân chia ra thành những mối liên hệ
khác nhau:
+ Mối liên hệ bên trong và bên ngoài
+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp
+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất
13


+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu
- Trong tất cả các mối liên hệ ấy thì mối liên hệ bên trong, mối liên hệ trực tiếp, mối liên
hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu giữ vai trò quyết định, các mối liên hệ khác giữ vai trò quan
trọng.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
* Quan điểm toàn diện
- Tôn trọng tính khách quan của mối liên hệ để nhận thức và vận dụng.
- Xem xét các sự vật hiện tượng chúng ta phải đề cập tới tất cả những mối liên hệ của
chúng với môi trường xung quanh.
- Nắm được và đánh giá đúng vị trị, vai trò của từng mặt, từng mối liên hệ trong quá
trình cấu thành sự vật, hiện tượng.
- Khám phá ra nhiều mối liên hệ của sự vật.
- Tránh quan điểm phiến diện, hình thức.
* Quan điểm lịch sử cụ thể
- Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải xét đến điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
mà trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển cả về không gian và thời gian.
- Tránh quan điểm triết trung, nguỵ biện.
1.2. NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN
a. Những quan điểm khác nhau về sự phát triển
* Quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
- Sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về lượng chứ không có sự thay

đổi về chất của sự vật.
- Sự phát triển của thế giới như một quá trình tiến lên liên tục chứ không phải quá trình
diễn ra quanh co, thăng trầm, phức tạp.
*. Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
- Sự phát triển là quá trình tiến lên từ thấp đến cao, quá trình đó diễn ra vừa dần dần vừa
nhảy vọt đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ.

14


- Sự phát triển diễn ra theo đường xoáy ốc, dường như sự vật quay trở về điểm khởi đầu
nhưng trên cơ sở mới cao hơn.
- Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong chính bản thân của sự vật. Đó là quá trình
giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật.
- Sự phát triển là một khuynh hướng của sự vận động, nó không bao hàm sự vận động.
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng kết luận: Sự phát triển là một phạm trù triết học dùng để
chỉ quá trình vận động có quy luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn
thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật.
b. Tính chất của sự phát triển
* Tính khách quan
- Sự phát triển là quá trình khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng trong thế giới.
- Sự phát triển không phụ thuộc vào ý thức con người hoặc bất kỳ một lực lượng siêu
nhiên nào.
*. Tính phổ biến
Sự phát triển diễn ra trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội đến tư duy.
* Tính kế thừa
Sự phát triển là sự kế thừa có chọn lọc yếu tố tích cực của cái cũ, là tiền đề nảy sinh cái
mới, cái tiến bộ.
* Tính đa dạng phong phú
- Mỗi sự vật, hiện tượng có một quá trình phát triển không giống nhau, tuỳ thuộc vào các

mối liên hệ của nó.
- Sự vật, hiện tượng ở những không gian, thời gian khác nhau, sự phát triển cũng khác
nhau.
-Trong quá trình phát triển, sự vật chịu sự tác động của những điều kiện khác nhau. Sự
tác động có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, có thể làm thay đổi chiều
hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi.
c. Ý nghĩa phương pháp luận
* Quan điểm phát triển
15


- Tôn trọng tính khách quan của sự phát triển.
- Nhìn nhận sự vật trong trạng thái luôn luôn vận động, phát triển, vạch ra xu hướng
biến đổi của sự vật, tìm ra cái mới trong cái cũ, vạch ra sự phát triển cho tương lai trong cái
hiện tại
- Phân chia quá trình phát triển thành các giai đoạn cụ thể, để có cách tác động phù hợp.
- Chống tư tưởng bảo thủ, định kiến nhìn nhận sự vật trong trạng thái tĩnh.
* Quan điểm lịch sử cụ thể
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải xét đến điều kiện, hoàn cảnh cụ thể trong
đó sự vật sinh ra, tồn tại và phát triển cả về không gian, thời gian.
- Tránh khuynh hướng giáo điều, rập khuôn, máy móc.
2. Những quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
2.1. Nêu nội dung ý nghĩa quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về
chất và ngược lại.
Phép biện chứng duy vật: người khới xướng là C.Mác. Phép biện chứng là học thuyết về
sự phát triển, là đ/n đầy đủ nhất, chính xác nhất. Phép biện chứng là học thuyết về mối liên hệ
phổ biến và phép biện chứng là học thuyết về các quy luật chung nhất của tự nhiên của xã hội
và tư duy con người. Phép biện chứng là là học thuyết về sự phân đôi của cái thống nhất và
nhận thức các mặt đối lập. Mọi svht quy rình trong thế giới khách quan đều nằm ttrong sự
phát triển và sự phát triển đó nằm trong sự vận động không ngừng của quá trình phát triển.

Nhưng sự vận động đấy đều diễn ra theo quy luật:
- QL từ sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng và ngược lại.
- QL thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
- QL phủ định của phủ định
- Dưới đây ta cùng tìm hiểu cụ thể về QL lượng – chất
a. Quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất
và ngược lại.
*Lượng và chất của sự vật

16


- Quy luật những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại. là 1
trong 3 quy luật cơ bản của PBC.
- Bất cứ SVHT nào cũng bao gồm mặt chất và mặt lượng. 2 mặt đó thống I với nhau
trong SVHT.
- Đã có nhiều quan điểm # về k/n chất, lượng cũng như mqh của chúng.
- Những quan điểm đó phụ thuộc trước hết vào TGQ và p2 luận của các nhà triết học
hay của các trường phái triết học.
- Chỉ khi Phép BCDV ra đời mới đem lại quan điểm đúng đắn về kn chất, lượng, qh qua
lại giữa chúng.
-> Từ đó kq thành những quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự
thay đổi về lượng.
Lượng của sự vật
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt số
lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các thuộc tính của
sự vật.
-. Chất của sự vật
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự
thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác.

*. Mối quan hệ biện chứng giữa lượng và chất
-. Sự thống nhất giữa lượng và chất
+ Lượng và chất là hai mặt của cùng một sự vật, hiện tượng.
+ Lượng và chất thống nhất với nhau trong độ: Độ là một phạm trù triết học dùng để chỉ
khoảng giới hạn trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của
sự vật.
- Sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
+ Sự biến đổi của lượng vượt qua giới hạn độ làm chất của sự vật biến đổi. Sự vật cũ
mất đi, sự vật mới ra đời.

17


+Tại thời điểm chất cũ mất đi, chất mới ra đời gọi là điểm nút: Điểm nút là phạm trù
triết học dùng để chỉ thời điểm mà tại đó sự thay đổi về lượng đã làm thay đổi về chất của sự
vật.
+Tại điểm nút, sự vật thực hiện bước nhảy kết thúc một giai đoạn, một quá trình phát
triển: Bước nhảy là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của sự vật do sự
thay đổi về lượng của sự vật trước đó gây nên.
-. Sự thay đổi về chất dẫn đến những thay đổi về lượng
+ Khi chất mới ra đời lại quy định một lượng mới, chất mới và lượng mới lại thống nhất
với nhau trong độ mới… Quá trình đó được thực hiện không ngừng làm cho sự vật vận động,
biến đổi.
+Chất mới ra đời làm cho lượng của sự vật thay đổi về quy mô, trình độ, nhịp điệu.
*. Ý nghĩa phương pháp luận
- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết từng bước tích lũy về lượng để làm
biến đổi về chất theo đúng quy luật.
- Vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy để đạt chất lượng và hiệu quả trong
công việc.
- Trong hoạt động phải có cách tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố cấu

tạo nên sự vật.
- Chống khuynh hướng chủ quan, duy ý chí, bảo thủ, trì trệ.
2.2. Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Phép biện chứng duy vật: người khới xướng là C.Mác. Phép biện chứng là học thuyết về
sự phát triển, là đ/n đầy đủ nhất, chính xác nhất. Phép biện chứng là học thuyết về mối liên hệ
phổ biến và phép biện chứng là học thuyết về các quy luật chung nhất của tự nhiên của xã hội
và tư duy con người. Phép biện chứng là là học thuyết về sự phân đôi của cái thống nhất và
nhận thức các mặt đối lập. Mọi svht quy rình trong thế giới khách quan đều nằm ttrong sự
phát triển và sự phát triển đó nằm trong sự vận động không ngừng của quá trình phát triển.
Nhưng sự vận động đấy đều diễn ra theo quy luật:
- QL từ sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng và ngược lại.
18


- QL thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
- QL phủ định của phủ định
.- Dưới đây ta cùng tìm hiểu cụ thể về Quy luật thống nhất và đấu tranh của các
mặt đối lập
*. Khái niệm các mặt đối lập, mâu thuẫn, sự thống nhất, sự đấu tranh của các mặt
đối lập
- Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, thuộc tính, tính quy định có khuynh
hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Mâu thuẫn là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ của các mặt đối lập, chủ yếu là quan
hệ có khuynh hướng trái ngược nhau.
- Mâu thuẫn biện chứng là do các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại với nhau trong
một sự vật (một chỉnh thể) tạo thành. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan và phổ biến
trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
*. Mối liên hệ giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng
- Thống nhất của các mặt đối lập:
+là sự nương tựa nhau, mặt này làm tiền đề tồn tại cho mặt kia, là sự cùng tồn tại và

không thể tách rời nhau;
+ thống nhất của các mặt đối lập không có nghĩa hai mặt đối lập đồng nhất với nhau và
tác động ngang bằng nhau.
+Sự thống nhất giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn có xu hướng giữ cho sự vật tạm
thời ổn định, quy định sự đứng im tương đối của sự vật. Đồng thời sự thống nhất bao hàm sự
đấu tranh.
- Đấu tranh của các mặt đối lập :
+là sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập theo xu hướng bài trừ phủ định nhau.
+Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho hai mặt đối lập biến đổi trong khuôn khổ
của sự thống nhất, làm cho trạng thái mâu thuẫn biến đổi. Mâu thuẫn phát triển đến giai đoạn
gay gắt nhất thì các mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau. tương ứng với điều đó sự vật cũ chuyển

19


sang sự vật mới, ở đó lại xuất hiện mâu thuẫn mới và quá trình thống nhất, đấu tranh giữa hai
mặt đối lập lại diễn ra để tiếp tục thúc đẩy sự vật vận động phát triển.
 Vậy chính sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc của sự vận
động, phát triển của sự vật
- Phân loại mâu thuẫn:
+ Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét: Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn
bên ngoài.
+ Căn cứ vào ý nghĩa với sự tồn tại và phát triển của sự vật: Mâu thuẫn cơ bản và mâu
thuẫn không cơ bản.
+ Căn cứ vào vai trò đối với sự tồn tại và phát triển trong giai đoạn nhất định: Mâu
thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu.
+ Căn cứ vào tính chất của các quan hệ lợi ích trong xã hội: Mâu thuẫn đối kháng và
mâu thuẫn không đối kháng.

 Bản chất quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập: Mọi sự vật, hiện

tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng biến đổi ngược chiều nhau gọi là
những mặt đối lập. Mối liên hệ của hai mặt đối lập trong cùng một sự vật tạo nên mâu thuẫn
biện chứng. Các mặt đối lập trong mâu thuẫn biện chứng vừa thống nhất với nhau, vừa đấu
tranh với nhau và chuyển hóa lẫn nhau làm mâu thuẫn được giải quyết, sự vật biến đổi và
phát triển, cái mới ra đời thay thế cái cũ.
*. Ý nghĩa phương pháp luận
- Muốn phát hiện ra nguồn gốc, động lực của sự vận động phát triển của sự vật, cần phải
tìm trong chính sự vật, không được tìm nguồn gốc vận động của sự vật bên ngoài sự vật.
- phải xem xét quá trình phát sinh phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vị trí vai trò
của các mâu thuẫn, vị trí vai trò của các mặt đối lập, xác định điều kiện thích hợp cho việc
giải quyết từng mâu thuẫn.
- Phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn.
- phải chống thái độ chủ quan nóng vội, thúc đẩy các điều kiện khách quan để mâu thuẫn
phát triển đến độ chín muồi mới giải quyết được mâu thuẫn.
20


- phải linh hoạt tìm hình thức thích hợp để giải quyết mâu thuẫn vừa phù hợp với từng
mâu thuẫn, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể.
2.3. Quy luật phủ định của phủ định
Phép biện chứng duy vật: người khới xướng là C.Mác. Phép biện chứng là học thuyết về
sự phát triển, là đ/n đầy đủ nhất, chính xác nhất. Phép biện chứng là học thuyết về mối liên hệ
phổ biến và phép biện chứng là học thuyết về các quy luật chung nhất của tự nhiên của xã hội
và tư duy con người. Phép biện chứng là là học thuyết về sự phân đôi của cái thống nhất và
nhận thức các mặt đối lập. Mọi svht quy rình trong thế giới khách quan đều nằm ttrong sự
phát triển và sự phát triển đó nằm trong sự vận động không ngừng của quá trình phát triển.
Nhưng sự vận động đấy đều diễn ra theo quy luật:
- QL từ sự thay đổi về chất dẫn đến sự thay đổi về lượng và ngược lại.
- QL thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
- QL phủ định của phủ định

 Dưới đây ta cùng tìm hiểu cụ thể vềQuy luật phủ định của phủ định
*. Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng
- Phủ định là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động phát triển.
- Phủ định biện chứng là phạm trù triết học dùng để chỉ sự tự phủ định của sự vật, là sự
phủ định tạo tiền đề cho sự phát triển tiếp theo, cho cái mới ra đời thay thế cho cái cũ.
- Phủ định biện chứng có tính khách quan, nghĩa là sự tự phủ định của sự vật, không phụ
thuộc vào ý thức của con người.
- Phủ định biện chứng có tính kế thừa, không phải là sự xoá bỏ hoàn toàn cái cũ mà chỉ
lọc bỏ những yếu tố không còn phù hợp của cái cũ. Cái cũ được bảo tồn trong cái mới dưới
dạng cải biến. Giữa cái cũ và cái mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
b. Nội dung
* Mọi SVHT trong TG kq luôn 2 v/đ p/triển liên tục 1 chu kỳ, 1 vòng khâu của sự vđ
ptriển của sv bao gồm 2 lần phủ định và 3 giai đoạn: phủ định, khẳng định, phủ định của phủ
định.
* Qua 2 lần phủ định, sv hoàn thành được 1 chu kỳ p/triển của nó
21


- Sự phủ định lần 1: tạo ra cái đối lập với sv ban đầu. Đó là 1 bước trung gian của sự
p/triển.
- Sự phủ định lần 2
+Tái lập lại cái ban đầu nhưng on cơ sở mới cao hơn. Nó biểu hiện bước tiến của sv. Sự
phủ định lần hai này được gọi là phủ định của phủ định.
+Phủ định của (-) xác định với tư cách tổng hợp. All các yếu tố tích cực được phép (+)
từ trước trong cái (+) ban đầu và trong cái (-) lần 1
+ Cái tập hợp này là sự thống I biện chứng. All các yếu tố tích cực trong các g/đ trước
và những yếu tố mới xuất hiện trong quá trình tổng hợp. Cái tổng hợp có ND toàn diện và
phong phú hơn, o còn phiến diện as trong cái (+) ban đầu và cái (-) lần 1.
+ (-) của (-) kết thúc 1 chu kỳ p/triển. Đồng thời, là điểm xuất phát của 1 chu kỳ p/triển
tiếp theo.

+ Đặc điểm quan trọng của quy luật (-) của (-) là sự p/triển dường as lặp lại cái ban đầu
nhưng on cơ sở mới cao hơn.
* 2 lần phủ định: lần 1 được sv mới đối lập với sv ban đầu; phủ định lần 2 chính là (-)
của (-) lần 1 ta được sv tái lập lại sv ban đầu nhưng on cơ sở mới cao hơn.
Ngoài ra, tuỳ từng SVHT mà chu kỳ phát triển có thể diễn ra qua 3, 4 hoặc 5 lần phủ
định.
* Tóm lại: ND cơ bản của quy luật (-) của (-): Là nêu lên mlhệ, sự kế thừa giữa cái
khẳng định và cái phủ định, nhờ đó phủ định biện chứng là điều kiện cho sự p/triển; nó bảo
tồn ND tích cực của các g/đ trước và bổ sung thêm những thuộc tính mới làm cho sự p/triển
đi theo đường “xoáy ốc”
* ý nghĩa phương pháp luận:
* Phát triển là khuynh hướng chung tất yếu của SVHT, do đó phải tin tưởng vào cái mới
nhất định sẽ thay thế cái cũ.
- Biết phát hiện ra cái mới tích cực, ủng hộ đấu tranh cho cái mới, tạo mọi điều kiện cho
cái mới ra đời, chiến thắng cái cũ, cái lạc hậu. Điều này, đòi hỏi phải có tri thức và bản lĩnh.

22


Vì chỉ có tri thức mới giúp We phát hiện ra cái mới và chỉ có bản lĩnh mới giúp we bảo vệ cái
mới -> kho ngừng học hỏi để nâng cao bản lĩnh
- Khi mới ra đời, cái mới còn non yếu. Vì vậy, phải phân biệt cái mới thực sự và cái mới
giả tạo, cái mới đội lốt cái cũ.
* P/triển là khuynh hướng của p/triển SVHT nhưng kho có nghĩa là sự p/triển diễn ra
theo đường thẳng tắp mà nó diễn ra theo đường xoáy ốc. Đôi khi có bước lùi tạm thời.
Vì vậy, trong quá trình đấu tranh chống lại cái cũ để phù hợp với điều kiện mới, phải
biết khai thác, kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dt, của nhân loại; phải chống quan
điểm lạc quan quá mức or quan điểm bảo thủ, trì trệ, thoả mãn với những gì đã có không chịu
đổi mới trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn.
VI. Lý luận nhận thức của triết học Mác – Lê Nin

1.

Những nguyên tắc cơ bản của lý luận nhận thức
*Kn : Nhận thức
Lý luận nhận thức hay còn gọi là nhận thức luận được hình thành từ khi triết học ra đời.
- All các trào lưu triết học đều xuất phát từ TGQ của mình để đưa ra những hệ thống
quan điểm nhất định về v/đề nhận thức. Đó là việc con ng có khả năng nhận thức được TG
hay Ko?
- Lý luận nhận thức của CNDVBC khẳng định con người có khả năng nhận thức được
TG và tìm ra chân lý.
* . Mục đích của nhận thức:
là tìm ra tri thức, chân lý, quy luật mới nhằm biến đổi và cải tạo hiện thực tự nhiên, XH
phục vụ con người.
*.Lý luận nhận thức Mác xít đã được XD trên những nguyên tắc căn bản sau đây:
- Một là thừa nhận TG v/c tồn tại khách quan độc lập với ý thức con người ->Quan
điểm này nhằm chống lại CNDT vì CNDT kho thừa nhận quan điểm này.
- Hai là, Giữa hiện tượng và “vật tự nó” kho có sự # về nguyên tắc. -> Quan điểm này
k/đ khả năng nhận thức của con người chống lại thuyết bất khả tri.

23


Cantơ - người theo thuyết bất khả tri cho rằng: “vật tự nó” là cái kho thể nhận thức
được, là bản chất của sv.
+ Coi nhận thức là sự pá hiện thực kq vào trong bộ óc của con người, là hoạt động tìm
hiểu khách thể của chủ thể.
+ Kho có cái gì là kho thể nhận thức được mà chỉ có cái con người chưa nhận thức được
nhưng sẽ nhận thức được.
- Ba là, khẳng định sự pá đó là 1 quá trình biện chứng, tích cực, tự giác và sáng tạo.
Quá trình pá đó diễn ra theo trình tự từ chưa biết đến, ít biết đến đến biết nhiều, từ hiện

tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến b/c sâu sắc hơn.
-> Nhận thức theo qđ CNDVBC là 1 quá trình nhằm chống lại q/đ CN siêu hình về nhận
thức đối lập với biện chứng.
+ DVBC: xem xét mqh trong sự v/đ, p/triển
+ CNDV siêu hình xem xét sv trong trạng thái tĩnh, cô lập, kho v/đ.
- Bón là, coi thực tiễn là cơ sở chủ yếu, tực tiếp nhất của nhận thức, là động lực, mục
đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Dựa trên những nguyên tắc đó, CNDVBC khẳng định:
Về bản chất, nhận thức là quá trình pá tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan
vào bộ óc người trên cơ sở thực tiễn
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Phê phán các qua điểm duy tâm, siêu hình về bản chất của nhận thức.
- Tăng cường hoạt động thực tiễn; phát huy tính năng động, sáng tạo của con người
trong nhận thức.
2. Bản chất của nhận thức
a. Quan niệm về nhận thức của một số trào lưu triết học trước Mác.
Xuất phát từ chỗ phủ nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, chủ nghĩa duy
tâm chủ quan cho rằng nhận thức chỉ là sự phức hợp những cảm giác của con người; chủ
nghĩa duy tâm khách quan lại cho rằng, nhận thức là sự "hồi tưởng lại" của linh hồn bất tử về

24


"thế giới các ý niệm" mà nó đã từng chiêm ngưỡng được nhưng đã bị lãng quên, hoặc cho
rằng nhận thức là sự "tự ý thức về mình của ý niệm tuyệt đối"
Khác với chủ nghĩa duy tâm chủ quan và chủ nghĩa duy tâm khách quan, những người
theo thuyết hoài nghi coi nhận thức là trạng thái hoài nghi về sự vật và biến sự nghi ngờ về
tính xác thực của tri thức thành một nguyên tắc của nhận thức.
Đến thời kỳ cận đại, khuynh hướng này phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của
con người hoặc hạn chế ở cảm giác bề ngoài của sự vật.

Đối lập với quan điểm đó, chủ nghĩa duy vật thừa nhận khả năng nhận thức được thế
giới của con người và coi nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc
của con người. Tuy nhiên do sự hạn chế bởi tính trực quan, siêu hình, máy móc mà chủ nghĩa
duy vật trước Mác đã coi nhận thức là sự phản ánh trực quan đơn giản là bản sao chép
nguyên xi trạng thái bất động của sự vật. Họ chưa thấy được vai trò của thực tiễn đối với
nhận thức. Chính vì thế Mác đã nhận xét rằng "Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa
duy vật từ trước tới nay kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc là sự vật, hiện thực, cái cảm
giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không
được nhận thức là hoạt động của cảm giác của con người, là thực tiễn; không được nhận thức
về mặt chủ quan".
Như vậy có thể nói, tất cả các trào lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc
phiến diện về nhận thức, những vấn đề về lý luận nhận thức chưa được giải quyết một cách
khoa học, đặc biệt là chưa thấy được đầy đủ vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
b. Quan niệm về bản chất nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Sự ra đời của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lý luận
nhận thức. Bằng sự kế thừa những yếu tố hợp lý, phát triển một cách sáng tạo và được
minh chứng bởi những thành tựu của khoa học, kỹ thuật, của thực tiễn xã hội, C.Mác và
Ph.Ăngghen đã xây dựng nên học thuyết về nhận thức. Học thuyết này ra đời dựa trên những
nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan độc lập đối với ý thức của con
người.
25


×