Tải bản đầy đủ (.doc) (187 trang)

Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc phòng ở vương quốc campuchia

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (907.78 KB, 187 trang )

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu ra trong luận án là trung thực có
nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN

YIN SARANN


MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG Ở VƯƠNG
QUỐC CAMPUCHIA

1.1.
1.2.

Một số vấn đề chung về toàn cầu hóa kinh tế, chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế và củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia
Quan niệm, nội dung tác động của hội nhập kinh tế quốc tế
đến củng cố quốc phòng ở vương quốc Campuchia


Trang

5
10
26
26
52

Chương 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG Ở VƯƠNG
QUỐC CAMPUCHIA

2.1.
2.2.
2.3.

64

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và những điều chỉnh
pháp luật, chiến lược, chính sách của Vương quốc
Campuchia
64
Tác động tích cực, tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế
đến củng cố quốc phòng ở vương quốc Campuchia
77
Nguyên nhân của những tác động tiêu cực và những vấn đề
đặt ra cần giải quyết
116

Chương 3 QUAN ĐIỂM CƠ BẢN, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM


PHÁT HUY TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TÁC
ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG Ở VƯƠNG QUỐC
129
CAMPUCHIA THỜI GIAN TỚI

3.1. Quan điểm cơ bản nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế
tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố
quốc phòng ở Vương quốc Campuchia
3.2. Giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế
mặt tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc
phòng ở Vương quốc Campuchia
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

129
143
174
176
18
5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt


Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Hội nhập kinh tế quốc tế

HNKTQT

Khoa học và công nghệ

KH&CN

Khoa học xã hội

KHXH

Kinh tế chính trị

KTCT

Kinh tế-xã hội

KT-XH

Ngân hàng thế giới

WB

Ngân hàng châu Á


ADB

Quốc phòng-An ninh

QP-AN

Quốc phòng toàn dân

QPTD

Quốc phòng toàn dân-An ninh nhân dân

QPTD-ANNN

Quỹ tiền tệ quốc tế

IMF

Thế trận quốc phòng

TTQP

Tiềm lực kinh tế

TLKT

Tiềm lực chính trị tinh thần

TL CTTT


Tiềm lực khoa học- công nghệ

TL KH-CN

Tiềm lực quân sự

TLQS

Tiềm lực quốc phòng

TLQP

Toàn cầu hóa

TCH

Tổ chức thương mai thế giới

WTO

Xã hội chủ nghĩa

XHCN


5

MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Đề tài


“Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc

Campuchia” là công trình nghiên cứu độc lập, thể hiện tình cảm, tâm huyết và đã được nghiên cứu
sinh ấp ủ từ khi Vương quốc Campuchia chính thức gia nhập ASEAN năm 1999.

Với kết cấu 3 chương 7 tiết, luận án tập trung luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về tác
động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia; qua đó, đề xuất một số
quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực
của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Campuchia thời gian tới.

Để triển khai đề tài, tác giả dựa vào học thuyết chiến tranh và quân đội, lý luận kinh
tế quân sự, đường lối đối ngoại, xây dựng quốc phòng của Vương quốc Campuchia; kế thừa có chọn
lọc các quan điểm của các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu đã được công bố. Đồng thời,
đây là sự nỗ lực nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn của tập thể các nhà khoa học của Học viện
chính trị - Bộ Quốc phòng nước cộng hòa XHCN Việt Nam và ý kiến của các chuyên gia.

2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Vào cuối thế kỷ XX, TCHKT phát triển mạnh mẽ đã lôi cuốn ngày càng
nhiều các quốc gia tham gia. . Bất kỳ quốc gia nào không muốn bị gạt ra ngoài
của dòng chảy phát triển đều phải nỗ lực hội nhập vào xu thế chung đó.
Vương quốc Campuchia đã chủ trương mở cửa, đa dạng hóa các hoạt
động kinh tế đối ngoại và HNKTQT. Sự hội nhập kinh tế đó đã và đang tác
động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quốc
phòng. HNKTQT, một mặt tạo thời cơ, song cũng đem lại những thác thức và
khó khăn nhất định cho sự nghiệp củng cố quốc phòng của Vương quốc
Campuchia. Làm thế nào để phát huy được những tác động tích cực, hạn chế
được những tác động tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc
phòng của Campuchia là một câu hỏi lớn cần phải được trả lới để làm cơ sở
cho việc hoạch định đường lối xây dựng, củng cố quốc phòng của đất nước

hiện nay. Trong khi đó chưa có một công trình nào ở Campuchia và nước
ngoài nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề này.


6

Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trên đây, tác giả chọn đề tài
“Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia”

làm

đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành kinh tế chính trị.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng
ở Vương quốc Campuchia, qua đó

đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy tác

động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc phòng
ở Vương quốc Campuchia thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về sự tác động của HNKTQT đến củng cố quốc
phòng ở Vương quốc Campuchia; trong đó làm rõ khái niệm, nội dung tác
động của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tác động tích cực, tiêu cực, nguyên nhân
của những tác động tiêu cực và những vấn đề đặt từ thực trạng tác động của
HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia thời gian qua.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực, hạn

chế tác động tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu là: tác động của HNKTQT đến củng cố
quốc phòng dưới góc độ kinh tế chính trị.
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: luận án tập trung nghiên cứu sự tác động của hội nhập
kinh tế đến các yếu tố: lực lượng quốc phòng; thế trận quốc phòng và tiềm lực


7

quốc phòng của Vương quốc Campuchia.
- Về không gian: nghiên cứu ở Camphuchia
- Về thời gian: Các số liệu của luận án được thu thập, khảo sát từ năm
1999 (từ khi Vương quốc Campuchia chính thức gia nhập ASEAN) đến nay;
các giải pháp đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin về chiến tranh và quân đội, lý luận kinh tế quân sự; đường lối đối
ngoại, xây dựng quốc phòng của Vương quốc Campuchia và các công trình
nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến luận án.
* Cơ sở thực tiễn
Luận án tiến hành khảo sát, điều tra thực tiễn quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế, củng cố quốc phòng của Campuchia và sử dụng các số liệu báo cáo,
thống kê của Chính phủ Hoàng gia Campuchia.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp chung: Tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nhận diện đúng những tác

động tích cực, tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia. Đây là phương pháp được sử dụng trong toàn bộ nội dung của
luận án.
- Phương pháp chuyên ngành: Luận án coi trọng sử dụng phương pháp
trừu tượng hoá khoa học, gạt bỏ khỏi đối tượng nghiên cứu những sự kiện,
hiện tượng không ổn định, bền vững, nắm lấy cái ổn định, bền vững trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế, củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia. Phương pháp này được áp dụng chủ yếu ở chương 1.
- Phương pháp thống kê - so sánh: Được sử dụng chủ yếu ở chương 2 để


8

làm rõ thực trạng tác động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở
Campuchia.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng trong cả 3 chương
của luận án, nhưng chủ yếu là chương 2, chương 3 nhằm đưa ra những nhận
xét, đánh giá tác động tích cực, tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc
phòng ở Vương quốc Campuchia
- Phương pháp lôgic - lịch sử: Được sử dụng chủ yếu để tìm ra nguyên
nhân của sự tác động tích cực, tiêu cực của hội nhập kinh tế quốc tế đến củng
cố quốc phòng, đặc biệt chỉ ra những mâu thuẫn cần giải quyết.
- Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Được sử dụng trong tất cả các
chương của luận án, nhằm kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình đã
công bố và phát triển những nội dung đó một cách hiệu quả nhất.
6. Những đóng góp mới của luận án
- Là luận án đầu tiên chỉ ra nội dung tác động của hội nhập KTQT đến
củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia
- Khái quát những mâu thuẫn nảy sinh từ thực trạng tác động của
HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia cần phải tập

trung giải quyết.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm phát huy những tác động tích
cực, hạn chế những tác động tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc
phòng ở Vương quốc Campuchia.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
* Về mặt lý luận
- Bổ sung hoàn thiện lý luận về mối quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng.
- Góp phần luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự tác động
của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia.
* Về mặt thực tiễn


9

- Đề tài nghiên cứu thành công là cơ sở khoa học để Chính phủ và
quân đội Hoàng gia Campuchia tham khảo hoạch định đường lối chính sách
xây dựng, củng cố quốc phòng trong điều kiện hội nhập sâu vào nền kinh tế
thế giới.
- Kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng
dạy và nghiên cứu khoa học kinh tế ở các học viện, nhà trường của Vương
quốc Campuchia.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, tổng quan, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận án gồm 3 chương, 7 tiết.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Các công trình nước ngoài
1.1. Các công trình khoa học nghiên cứu về toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế quốc tế đã được công bố
“Toàn cầu hóa”, Diễn đàn kinh tế -Tài chính Việt - Pháp, Nxb CTQG, H,

2000. Đây là báo cáo của Nghị sĩ Roland Blum. Nội dung của cuốn sách phân tích
quá trình toàn cầu hóa, những cơ hội và thách thức, những tác động tích cực và


10

những mặt trái về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội mà nó đưa lại đối với thế
giới.
“Toàn cầu hóa kinh tế”, GS-TS Dương Phú Hiệp và TS Vũ Văn Hà,
Nxb KHXH, H, 2001. Công trình này đã phân tích cơ sở của TCHKT; các đặc
trưng cơ bản của TCHKT và sự chủ động HNKTQT của Việt Nam, những
thuận lợi và những khó khăn thách thức đối với nền kinh tế. Đồng thời, tác
giả đề xuất các quan điểm cần quán triệt khi đẩy mạnh HNKTQT.
“Những vấn đề toàn cầu hóa kinh tế”, do Nguyễn Văn Dân (chủ biên),
Nxb KHXH, H, 2001. Đây là một sưu tập chuyên đề về TCHKT. Các chuyên
đề đã đề cập đến các khía cạnh của TCHKT, từ những vấn đề chung đến
những vấn đề cụ thể, trong đó đã đề cập một số quan điểm về TCHKT và hội
nhập kinh tế ở Việt Nam.
“Hội nhập kinh tế khu vực của một số nước ASEAN”, luận án tiến sĩ của
Nguyễn Thị Hiền, (2001). Tác giả luận án đã hệ thống hóa những vấn đề cơ
bản về hội nhập kinh tế quốc tế; khái quát quá trình hội nhập kinh tế khu vực
của 3 nước Singapo, Thái Lan và Philippin, đồng thời đánh giá triển vọng
trong hội nhập kinh tế khu vực và rút ra những kinh nghiệm có tính phổ quát
từ quá trình hội nhập kinh tế của 3 nước.
“Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: vấn đề và giải
pháp” của Vụ hợp tác quốc tế đa phương, Bộ ngoại giao, Nxb CTQG, H,
2002. Đây là một công trình khoa học được nghiên cứu công phu. Cuốn sách
đã phân tích lý luận và thực tiễn quá trình phát triển của toàn cầu hóa và
HNKTQT, đặc biệt cuốn sách tập trung trình bày quá trình HNKTQT của
Việt Nam; nêu lên những thành công trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quốc

phòng, an ninh; những hạn chế, trở ngại, thách thức và bài học kinh nghiệm
trong quá trình hội nhập của Việt Nam.
“Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, do
Ngô Văn Điểm (chủ biên), Nxb CTQG, H, 2004. Các tác giả của cuốn sách đã
đi sâu phân tích quá trình mà Việt Nam tham gia vào toàn cầu hóa kinh tế và


11

hội nhập kinh tế, đặc biệt đi sâu phân tích ba lĩnh vực mà Việt Nam đã đạt
được những thành tựu đáng kể, đó là thu hút FDI; thương mại và việc sắp
xếp, đổi mới và phát triển hiệu quả doanh nghiệp nhà nước.
“Toàn cầu hóa. Chuyển đổi và phát triển, tiếp cận đa chiều” của Viện
kinh tế và chính trị thế giới, Nxb thế giới, H, 2005. Cuốn sách là tuyển chọn
các bài nghiên cứu của các học giả nổi tiếng về chủ đề trên, trong đó bài
12 đã giới thiệu về đổi mới của chính phủ về luật pháp, thể chế, môi trường
đầu tư, phương pháp, phong cách quản lý… làm cơ sở để hội nhập sâu vào
nền kinh tế thế giới.
“Nhà nước với sự phát triển kinh tế tri thức”, do Nguyễn Thị Luyến (chủ
biên), Nxb KHXH, H, 2005.Cuốn sách là một sưu tập các bài viết của các nhà
nghiên cứu trong và ngoài nước. Phần một của cuốn sách này bao gồm những
bài viết về vai trò của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa như sự tiến triển của
vai trò nhà nước; toàn cầu hóa và chức năng của nhà nước; toàn cầu hóa và nhà
nước; cái mới trong việc điều chỉnh kinh tế ở các nước phát triển.
“Trung Quốc sau khi gia nhập WTO: thành công và thách thức”, do
TSKH Võ Đại Lược (chủ biên), Nxb Thế giới, H, 2006. Cuốn sách trình bày
việc Trung Quốc thực hiện các cam kết với WTO và tác động của nó đến
nền kinh tế Trung Quốc; trình bày những điều chỉnh, cải cách trong nước
sau khi Trung Quốc gia nhập WTO: sửa đổi hệ thống pháp luật, cải cách
chính phủ, cải cách khu vực doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp

tư nhân... Cuốn sách cũng đã nêu lên các nhận xét và khuyến nghị.
“Việt Nam 20 năm đổi mới” do Lương Văn Tự, Thứ trưởng Bộ Thương
mại, Nxb CTQG, 2006. Trong công trình này, tác giả đã phân tích, đánh giá
một cách khái quát những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong quá trình
hội nhập kinh tế về các mặt mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với các quốc
gia, nhờ đó góp phần phát triển thị trường xuất nhập khẩu; thu hút được nhiều
vốn đầu tư, công nghệ và kỹ năng quản lý, mở cửa thị trường đã buộc các
doanh nghiệp Việt Nam phải chuyển sang cách làm ăn mới. Tác giả cũng đã
nêu lên quan niệm độc lập tự chủ trong bối cảnh hiện nay.
“Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong đầu tư trực tiếp nước


12

ngoài. Kinh nghiệm của Trung Quốc và thực tiễn Việt nam”, do PGS TS Đỗ
Đức Bình - PGS TS Nguyễn Thường Lạng (đồng chủ biên), Nxb Lý luận
chính trị, H, 2006. Công trình đã phân tích những vấn đề kinh tế - xã hội nảy
sinh trong đầu tư trực tiếp nước ngoài; kinh nghiệm xử lý các vấn đề nảy sinh
trong thu hút đầu tư nước ngoài; những vấn đề tồn đọng cần được giải quyết.
Các tác giả nêu lên các quan điểm, định hướng và dự báo những vấn đề kinh
tế - xã hội nảy sinh và các giải pháp xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình
thu hút FDI vào Việt Nam trong thời gian tới.
“Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế đối với tiến trình CNH,
HĐH ở Việt Nam”, Nxb KHXH, 2007 do Nguyễn Xuân Thắng chủ biên đã tập
trung phân tích bản chất, đặc trưng và sự tác động của toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế đến sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Từ đó làm rõ điều kiện,
thực chất và bước đi của CNH, HĐH trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập
kinh tế quốc tế nói chung và ở Việt Nam nói riêng.
“Kinh tế Việt Nam sau một năm gia nhập WTO”; PGS TS Ngô Quang
Minh - TS Bùi Văn Huyền (đồng chủ biên), Nxb CTQG, H, 2008. Cuốn sách

đã trình bày khái quát kinh tế Việt Nam khi gia nhập WTO, tác động của nó
đối với nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, xuất - nhập khẩu, thu hút đầu tư
nước ngoài. Từ đó các tác giả cuốn sách đề xuất những giải pháp để thực hiện
có hiệu quả các cam kết của Việt Nam với WTO.
“Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Nội dung và lộ trình”, do Nguyễn
Hồng Sơn (chủ biên), Nxb KHXH, H, 2009. Cuốn sách đã trình bày sự hình
thành Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC); những đặc trưng cơ bản của AEC
như mục tiêu, nội dung, lộ trình thực hiện AEC. Cuốn sách đã trình bày
sự tham gia của Việt Nam vào quá trình liên kết kinh tế ASEAN nói
chung, AEC nói riêng và một số khuyến nghị về tham gia của Việt
Nam vào AEC.
“Khủng hoảng kinh tế toàn cầu và các vấn đề đặt ra cho Việt Nam”, của
PGS TS Trần Đình Thiên, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 375 tháng 8/2009,
tr 3-9. Tác giả công trình đã phân tích sâu các nguyên nhân của cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu, nguyên nhân


13

cơ bản. Tác giả cũng đã phân tích những vấn đề đặt ra của thời kỳ hậu khủng
hoảng, đó là tái cấu trúc và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong khung
cảnh hậu khủng hoảng của thế giới.
1.2. Các công trình khoa học nghiên cứu về quốc phòng, an ninh đã
được công bố
“Tư duy quân sự nước ngoài”, Nxb QĐND, H, 1990. Đây là một công
trình nghiên cứu tập hợp các bài viết của các nhà nghiên cứu quân sự và các
tướng lĩnh của quân đội nước ngoài như Trung Quốc, Mỹ, Liên Xô, Anh,
Pháp... Trong công trình này, các tác giả tập trung phân tích, làm rõ quá trình
đổi mới tư duy quân sự của các quốc gia, dân tộc hiện nay theo hướng “điều
chỉnh những quan điểm về chiến tranh, về học thuyết quân sự, định ra những

kế hoạch chiến lược phục vụ cho những mục tiêu trước mắt và lâu dài”. Các
tác giả khẳng định: “Quốc gia nào muốn giành phần thắng trong thế kỷ XXI
thì phải xây dựng Chiến lược phát triển quốc phòng”. Trong đó, phải xây
dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ; phát triển công nghiệp, khoa học kỹ thuật
quốc phòng; kiện toàn và hoàn thiện lực lượng động viên chiến tranh.
“Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân
để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, Hoàng Khánh Nghĩa làm chủ nhiệm, đề
tài KX09 - 07, H,1994. Công trình đã luận giải tính tất yếu khách quan và
trình bày khá hệ thống nội dung xây dựng thế trận QPTD ở Việt Nam. Công
trình khẳng định, thế trận QPTD được triển khai không phải để chờ chiến
tranh xâm lược, mà là thực hành cuộc đấu tranh thời bình với các thế lực thù
địch đang tiến công vào độc lập và CNXH ở Việt Nam. Đồng thời, công trình
đưa ra kiến nghị: cần có quan niệm thống nhất về xây dựng thế trận QPTD
trong giai đoạn mới; việc xây dựng thế trận QPTD không phải là việc riêng
của Quân đội, mà là việc lớn của toàn Đảng, toàn dân; cần phân biệt sự khác
nhau giữa xây dựng thế trận QPTD hiện nay với xây dựng nền QPTD từ trước
đến nay; việc xây dựng thế trận QPTD là công việc tốn kém, nhưng là việc
phải làm, là vấn đề cấp bách hiện nay.
“Chiến lược phòng thủ tích cực của Trung Quốc”, tác giả Chu Phương
Cầm, Trung tâm Thông tin khoa học, công nghệ và môi trường - Bộ Quốc


14

phòng, H, 2000; “Chính sách quốc phòng của Trung Quốc”, tác giả Lý Quang
Kế, Trung tâm Thông tin khoa học, công nghệ và môi trường - Bộ Quốc
phòng, H, 2004. Trong các công trình này, các tác giả đã phân tích, làm rõ quá
trình đổi mới chiến lược quân sự bảo vệ Tổ quốc XHCN ở Trung Quốc; xác
định mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung và phương thức tiến hành bảo vệ Tổ quốc
XHCN. Các tác giả cho rằng, để thực hiện mục tiêu bảo vệ vững chắc chủ

quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và đối phó có hiệu quả
với những cuộc chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao thì các nước XHCN cần
tập trung xây dựng “Chiến lược phòng thủ”, “Chiến lược phát triển quốc phòng”,
hoặc “Chiến lược an ninh quốc gia”. Muốn vậy, phải ra sức “hiện đại hóa nền
quốc phòng”; hiện đại hóa vũ khí, trang bị và xây dựng các lực lượng vũ trang,
nhất là xây dựng quân đội tinh nhuệ; phát triển khoa học kỹ thuật quân sự và
nghệ thuật quân sự; phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại; kiện toàn và
hoàn thiện lực lượng dự bị động viên, chuẩn bị cơ sở vật chất và tinh thần cho
chiến tranh...
“Bản phác thảo về chiến lược quân sự mới của Mỹ” của B. James và D.
Goure (2001). Các tác giả tập trung phân tích, luận giải quá trình đổi mới về
chiến lược quân sự của Mỹ trong những năm đầu thế kỷ XXI. Các tác giả cho
rằng, sau khi chiến tranh lạnh kết thúc, “Chiến lược quân sự quốc gia” của Mỹ
đề ra trước đây không còn phù hợp. Do vậy, nước Mỹ cần phải xây dựng một
“Chiến lược quân sự quốc gia mới”, trong đó, trọng tâm là chiến lược “kế
hoạch hoá quân đội” và “đẩy mạnh cuộc cách mạng các vấn đề quân sự trong
quân đội”.
“Mấy vấn đề cơ bản về tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ
quốc trong thời kỳ mới”, do tác giả Trần Duy Hương chủ biên, Nxb QĐND, H,
2006. Công trình đã phân tích, làm rõ quan niệm về sức mạnh quốc phòng bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; chỉ ra những nhân tố hợp thành sức mạnh quốc
phòng, bao gồm: tiềm lực chính trị tinh thần; tiềm lực, thực lực quân sự; nguồn
lực khối đại đoàn kết dân tộc; nguồn lực kinh tế-xã hôi, khoa học-công nghệ, văn
hoá, an ninh và đối ngoại. Công trình nghiên cứu còn tập trung đánh giá thực
trạng sức mạnh quốc phòng và những vấn đề đang đặt ra hiện nay; làm rõ thành


15

tựu và chỉ ra những tồn tại, yếu kém của quá trình tăng cường sức mạnh quốc

phòng trong công cuộc đổi mới đất nước.
“Quốc phòng Việt Nam trong quá trình đổi mới (1986-2005)”, do tác
giả Phùng Khắc Đăng chủ biên, Nxb QĐND, H, 2006. Công trình đã tiến
hành tổng kết quốc phòng Việt Nam qua 20 năm đổi mới đất nước. Trong
công trình nghiên cứu này, các tác giả khái quát về tình hình thế giới, khu vực
và trong nước tác động đến quốc phòng Việt Nam; đánh giá về thành tựu lý
luận - thực tiễn trong lĩnh vực quốc phòng và những vấn đề đang đặt ra qua
20 năm đổi mới. Thành tựu đó được thể hiện trên các phương diện: tư duy
mới về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong thời kỳ mới; đổi mới về xây
dựng nền QPTD; đổi mới về xây dựng lực lượng quốc phòng; phát triển lý
luận về xây dựng thế trận QPTD; đổi mới cơ chế lãnh đạo, quản lý, điều hành
nhiệm vụ quốc phòng. Trên cơ sở đó, các tác giả đề xuất phương hướng tiếp tục
đổi mới, phát triển lý luận về quốc phòng trong những năm tới. Sự đổi mới ấy
trên nhiều phương diện: đổi mới tư duy về quốc phòng theo yêu cầu nhiệm vụ
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đổi mới về tổ chức xây dựng
lực lượng vũ trang nhân dân; đổi mới về tổ chức xây dựng thế trận QPTD và đổi
mới về hệ thống tổ chức đảng lãnh đạo sự nghiệp quốc phòng và lực lượng vũ
trang nhân dân.
“Cẩm nang công tác QP - AN dành cho cán bộ lãnh đạo các cấp”, của
Nguyễn Tế Nhị, Nguyễn Thế Vỵ, Tùng Như, Nxb Văn hoá - Thông tin, H, 2007.
Cuốn sách tổng hợp, chọn lọc những bài viết, bài nói của lãnh đạo Đảng, Nhà
nước, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và lãnh đạo về công tác QP - AN ở các
ngành, cơ quan, đơn vị của Việt Nam. Nội dung cuốn sách gồm 3 phần: Tư duy
mới về QP - AN trong tiến trình đổi mới đất nước; QP - AN từ lý luận đến thực
tiễn; một số văn bản của Nhà nước về QP - AN.
“Tăng cường sức mạnh quốc phòng dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội
lần thứ IX của Đảng”, tác giả Phạm Văn Trà, Nxb QĐND, H.2001; “Về
nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, tác giả Hồ
Kiếm Việt, Nxb CTQG, H.2001; “Nền quốc phòng toàn dân trong điều kiện
toàn cầu hóa kinh tế hiện nay”, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự,



16

Nxb QĐND, H.2002; “Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới - một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn quân sự, Nxb QĐND,
H.2003; “Góp phần tìm hiểu đường lối quân sự của Đảng” của tác giả
Nguyễn Đình Ước, Nxb CTQG, H.2003; “Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới” của tác giả
Dương Văn Lượng, Nxb CTQG, H.2007; “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh
đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới” Nxb QĐND, H.2006, “Quốc
phòng - an ninh trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Nxb
CTQG, H.2010 và “Sự phát triển quan điểm lý luận bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa”, Nxb CTQG, H.2010 của tác giả Nguyễn Vĩnh Thắng (chủ
biên). Các công trình này tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề
quân sự, quốc phòng và an ninh trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Trong đó,
các tác giả tập trung làm rõ quá trình phát triển tư duy của Đảng cộng sản
Việt Nam về vấn đề quân sự, quốc phòng và an ninh, về bảo vệ Tổ quốc và
xây dựng nền QPTD; khái quát và làm sáng tỏ các quan niệm, quan điểm của
Đảng về vấn đề quân sự, quốc phòng và an ninh, về bảo vệ Tổ quốc và xây
dựng nền QPTD trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Các công trình
nghiên cứu còn làm rõ sự tác động của tình hình thế giới, khu vực sau khi
Việt Nam gia nhập ASEAN và WTO; sự tác động của tình hình trong nước;
sự thay đổi trong phương châm, chiến lược, âm mưu, thủ đoạn chống phá
cách mạng Việt Nam của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch; những
vấn đề mới về lý luận và thực tiễn đặt ra cần phải giải quyết trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
“Những vấn đề cơ bản, cấp thiết về chiến tranh, quân đội và sức mạnh
quân sự quốc gia trong thời đại hiện nay”, do Vũ Quang Tạo và Nguyễn
Hùng Oanh đồng chủ biên, Học viện Chính trị, Nxb QĐND, H.2012. Cuốn

sách gồm ba phần cơ bản: Quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia;
Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác
- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh, quân đội và sức mạnh quân sự
quốc gia; những vấn đề cấp thiết về chiến tranh, quân đội và sức mạnh quân


17

sự quốc gia trong thời đại hiện nay.
Những nội dung cơ bản của các công trình nghiên cứu nêu trên được tác giả
luận án kế thừa và làm sâu sắc hơn quan niệm về củng cố quốc phòng và những nội
dung củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia trong giai đoạn hiện nay.
1.3. Các công trình khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh
tế nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng với tăng cường, củng cố
quốc phòng đã được công bố
“Kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ
kinh tế, chuyên ngành kinh tế chính trị của Trần Trung Tín, bảo vệ tại Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 1998. Luận án đề cập tương đối có hệ thống
và toàn diện về mối quan hệ giữa lĩnh vực kinh tế và quốc phòng ở Việt Nam; chỉ
rõ sự cần thiết, mục đích, nội dung của sự kết hợp. Trên cơ sở phân tích thực trạng
kết hợp kinh tế với quốc phòng trong thời kỳ thực hiện cơ chế quản lý kế hoạch
hóa tập trung, bao cấp, đề tài đã chỉ ra nội dung đổi mới sự kết hợp trên cả góc độ
hoạch định, thực thi chính sách và phương thức hoạt động KT-XH, quân sự - quốc
phòng; đưa ra một số yêu cầu, giải pháp nhằm nâng cao tính hiệu quả trong quá
trình thực hiện cả hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
“Kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế trong tiến trình CNH - HĐH
đất nước”, của Nguyễn Văn Rinh. Nxb QĐND, H.2003. Tác giả xác định quân
đội là một trong những lực lượng nòng cốt tham gia xây dựng và phát triển KT
- XH, củng cố QP - AN trên các địa bàn chiến lược. Những nhiệm vụ đó là sự

cụ thể hoá các Nghị quyết của Đảng về việc kết hợp kinh tế với QP - AN và QP
- AN với kinh tế trong chiến lược phát triển KT - XH ở Việt Nam. Cuốn sách là
những luận điểm mang tính định hướng cho mỗi cán bộ, chiến sỹ tiếp tục quán triệt
và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được Đảng, quân đội và nhân dân giao phó.
“Tác động của hội nhập kinh tế Việt Nam - ASEAN đối với sự
nghiệp quốc phòng ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ kinh tế, chuyên
ngành kinh tế chính trị của Bùi Ngọc Quỵnh, bảo vệ tại Học viện Chính trị
quân sự, năm 2004. Luận án đã khái quát toàn bộ tiến trình hội nhập kinh tế Việt
Nam - ASEAN, chỉ rõ những tác động hai chiều của quá trình này đến sự nghiệp


18

quốc phòng; đánh giá thực trạng và đề xuất yêu cầu, giải pháp nhằm phát huy
mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của sự tác động đó đến sự nghiệp quốc phòng
hiện nay.
“Tác động của kinh tế thị trường đối với quốc phòng, an ninh ở Việt
Nam”, của Nguyễn Văn Ngừng, Nxb CTQG, H, 2005. Tác giả nêu ra những
nhận thức chung về kinh tế thị trường, sự hình thành và phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam; tác động của kinh tế thị trường đối với
QP - AN, từ đó nêu ra phương hướng và giải pháp đẩy mạnh phát triển kinh tế
thị trường kết hợp với tăng cường tiềm lực QP - AN ở Việt Nam hiện nay.
“Vai trò của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong quá trình chủ động
HNKTQT hiện nay”, Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Văn Lý, bảo vệ tại Học
viện Chính trị quân sự năm 2006. Tác giả đi sâu phân tích những nội dung, yêu
cầu HNKTQT của Việt Nam hiện nay; chỉ ra vai trò của Quân đội đối với quá
trình HNKTQT xuất phát từ bản chất, truyền thống, chức năng của một đội
quân cách mạng kiểu mới; đặt ra vấn đề cần đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới, nâng
cao hiệu quả của các doanh nghiệp quân đội cho phù hợp với điều kiện mới.
“Kết hợp phát triển KT - XH gắn với tăng cường QP - AN trong quá

trình CNH, HĐH đất nước”, Giáo trình giáo dục quốc phòng dùng cho bồi
dưỡng kiến thức QP - AN đối tượng 1, tập 1, cuốn 1, Nxb QĐND, H, 2007.
Trong giáo trình đã chỉ rõ, sự kết hợp giữa phát triển KT - XH với QP - AN đã
trải qua một quá trình nhận thức lâu dài. Nhưng do điều kiện và hoàn cảnh lịch
sử, chúng ta chỉ hiểu nó trong mối quan hệ kết hợp giữa hai lĩnh vực kinh tế và
quốc phòng. Hiện nay, mối quan hệ kết hợp không chỉ dừng lại ở hai lĩnh vực
trên mà còn được đan xen, mở rộng giữa kinh tế với xã hội và quốc phòng với an
ninh. Bản chất của sự kết hợp phát triển KT - XH gắn với QP - AN ở Việt Nam
trong thời kỳ mới được hiểu là: sự gắn kết chặt chẽ hoạt động của các lĩnh vực
KT - XH với QP - AN thành một thể thống nhất trên phạm vi cả nước và từng
địa phương, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.
“Xu hướng phát triển kinh tế thế giới hiện nay và tác động đối với an
ninh trật tự ở Việt Nam”, của Nguyễn Văn Ngừng, Nxb CTQG, H, 2010. Cuốn
sách tập trung nghiên cứu, tìm hiểu đặc điểm chủ yếu của nền kinh tế thế giới và


19

xu hướng vận động trong thời gian tới, từ đó đánh giá những tác động của nó đối
với nền kinh tế Việt Nam và những ảnh hưởng đối với vấn đề an ninh trật tự ở
Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát
triển kinh tế, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội dưới tác
động của toàn cầu hóa.
“Một số vấn đề kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam trong tình
hình mới”, do TS. Nguyễn Đức Độ chủ biên, Nxb QĐND, H, 2010. Các tác giả
đã luận giải một số vấn đề chung về kết hợp kinh tế với quốc phòng, lược sử
nhận thức kết hợp kinh tế với quốc phòng ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến
và từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; phân tích các nhân tố tác
động, mục tiêu, nội dung và định hướng kết hợp kinh tế với quốc phòng trên một
số lĩnh vực và ngành kinh tế chủ yếu ở Việt Nam trong tình hình mới.

Đề tài nghiên cứu: Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại
trong quản lý bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, do Trần Hữu Sâm
làm chủ nhiệm, Học viện Biên phòng, H, 2011. Các tác giả đã luận giải làm rõ
cơ sở lý luận và thực tiễn về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại
trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia; chỉ rõ thực trạng kết
hợp; phân tích sâu sắc yêu cầu, nội dung, phương thức kết hợp. Các nội dung
này là sự bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận được rút ra qua nghiên cứu cơ
sở lý luận và thực tiễn của sự kết hợp ở chương 1; đưa ra hệ thống các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại
trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia thời kỳ mới.
“Tác động của kinh tế thị trường đối với nền quốc phòng ở cộng hòa
dân chủ nhân dân Lào”, luận án tiến sĩ của Suvanthoong ThepVongSa, bảo vệ
tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2015. Tác giả luận án đã
làm rõ cơ sở lý luận về sự tác động của kinh tế thị trường đối với nền quốc
phòng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phân tích thực trạng của sự tác
động, đồng thời đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm phát huy những tác động
tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đối với nền quốc
phòng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Dưới góc độ các bài báo khoa học, có các bài tiêu biểu như:


20

Nguyễn Ngọc Hồi, “Gia nhập WTO - cơ hội và thách thức đối với nền
QPTD ở Việt Nam”,Tạp chí QPTD, số 2/2007 ; Diệp Kỉnh Tần, “Mấy vấn
đề về phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với QP - AN”, Tạp chí
QPTD, số 2/2008; Nguyễn Văn Lân, “Kết hợp phát triển kinh tế - xã hội
với củng cố QP - AN trên vùng biển đảo Đông Bắc của Tổ quốc”, Tạp chí
QPTD, số 2/2008; Hoàng Châu Sơn, “Tiếp tục xây dựng lực lượng dân
quân, tự vệ vững mạnh, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”, Tạp chí

QPTD, số 2/2008; Mai Văn Phúc,“Tổng công ty hàng hải Việt Nam gắn
phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực QP - AN trên biển”, Tạp chí
QPTD, số 2/2008;Nguyễn Văn Tự, “Khánh Hoà gắn kết phát triển kinh tế xã hội với tăng cường QP - AN trong giai đoạn mới”, Tạp chí QPTD, số
10/2008; Quốc Toản, Mạnh Hùng, Mạnh Dũng, “Kết hợp phát triển kinh tế
biển với tăng cường QP - AN, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình
mới”, Tạp chí QPTD, số 9, 10, 11/2008; Nguyễn Duy Hưng, “Quảng Ninh
thực hiện kết hợp hai nhiệm vụ chiến lược trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Tạp chí QPTD, số 10/2008; Hoàng Đức Nguyên,
“Huyện Trùng Khánh gắn phát triển kinh tế - xã hội với nâng cao khả năng
bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới”, Tạp chí QPTD, số 7/2009; Hoàng Chí
Thức, “Sơn La kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường QP - AN
và đối ngoại”, Tạp chí QPTD, số 7/2009; Nguyễn Ngọc Hồi, “Một số vấn
đề đặt ra đối với Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay” , Tạp
chí Cộng sản, số 1/2010 ... Nhìn chung, các bài báo nêu trên mới bàn về sự
kết hợp kinh tế với tăng cường, xây dựng củng cố quốc phòng, an ninh trên
những khía cạnh, lát cắt khác nhau. Chưa có bài báo nào đề cập đến sự tác
động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng nói chung và ở Vương quốc
Campuchia nói riêng.
2. Các công trình nghiên cứu trong nước
“Chiến lược của Campuchia khi tham gia vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA) và thực hiện CEPT”, của tác giả On Phnomonirith, Nhà xuất
bản CICP, Phnôm pênh, năm 1998. Trong công trình của mình, tác giả đã
luận giải những khó khăn và thách thức của Campuchia khi tham gia các hiệp


21

hội này.
“Xây dựng lòng tin ở Campuchia - Trao đổi kinh nghiệm và rút ra bài
học cho tương lai”, của Kao Kim Huorn, Nhà xuất bản CICP, Phnôm pênh,

1999. Tác giả của công trình này đã khái quát những nội dung từ thực tiễn có
tính chất của tổng kết và rút ra những bài học quý báu giúp cho người đọc
hiểu được tiềm năng cũng như củng cố cho tương lai phát triển về đoàn kết
với các nước trên thế giới và khu vực.
“Vai trò Campuchia trong cộng đồng quốc tế” của tác giả Cheav
Vanndeth, Nhà xuất bản CICP, Phnôm pênh, 2000. Công trình này đã xác
định vị trí, vai trò Campuchia trong cộng đồng quốc tế với những tiềm năng,
và thực tiễn phát triển.
“Phát triển kinh tế và chính sách cải cách ở Campuchia - thách thức
và triển vọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” của Soc Hoch, Viện
nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực, Phnôm pênh, 2001. Với công trình
của mình, tác giả đã luận giải những tiềm năng về nguồn nhân lực trong phát
triển kinh tế và cải cách ở Campuchia hiện nay. Ở đó, tác giả cũng đặt vấn đề
với các nước, trong đó có Việt Nam giúp Campuchia về giáo dục và đào tạo
trong quan hệ hợp tác quốc tế.
“Chiến lược của Chính phủ Campuchia trong thiên niên kỷ mới”, của
Tác giả Samdec Hunsen, Nhà xuất bản CICP, Phnôm pênh, 2003. Với tư cách
là người đứng đầu Chính phủ Campuchia - Thủ tướng Chính phủ, tác giả
Samdec Hunsen đã khẳng định lập trường quan điểm của Nhà nước
Campuchia trong thiên niên kỷ mới. Nội dung của công trình này không chỉ là
những tư tưởng, quan điểm chính trị có tính pháp quy cao của Campuchia, mà
còn là thông điệp quan trọng đối với các nước và thái độ Campuchia trong
quan hệ với các nước trên thế giới, trong khu vực nói chung và các nước trên
bán đảo Đông Dương nói riêng.
“Campuchia trong thiên niên kỷ mới, học hỏi kinh nghiệm quá khứ và
xây dựng tương lai”, của Kao Kim Huorn, Nhà xuất bản CICP, Phnôm pênh,
2004. Tác giả của công trình này đã tiếp nối công trình “Xây dựng lòng tin ở


22


Campuchia - Trao đổi kinh nghiệm và rút ra bài học cho tương lai”, Nhà xuất
bản CICP, Phnôm pênh, 1999 lên một trình độ mới. Nội dung của công trình
thể hiện sự nghiên cứu tầm khái quát cao hơn và cũng đặt ra những vấn đề,
biện pháp cụ thể cho quan hệ hợp tác và đoàn kết với các nước có tính chiến
lược lâu dài.
“Chính sách đối ngoại của Campuchia với ASEAN từ 1967 đến nay”.
Tác giả Kong Sokea, Luận văn bảo vệ ở Học viện Quan hệ quốc tế ở Việt Nam,
Hà Nội 2005. Trong công trình của mình, tác giả Kong Sokea đã có nhiều công
phu hệ thống hóa chính sách đối ngoại của Campuchia với các nước ASEAN từ
1967 đến 2005. Trong công trình của mình, tác giả cũng xác định những vấn đề
đặt ra cho tương lai phát triển quan hệ giữa Campuchia với các nước trong cộng
đồng ASEAN và với Việt Nam và Lào.
“Thông tin cơ bản về Vương quốc Campuchia”, Bộ ngoại giao và hợp
tác Campuchia, năm 2008. Công trình đã khái quát những thông tin cơ bản về
Campuchia suốt thời gian từ 2000 đến 2008 với những tiền đề và thành tựu
cũng hạn chế ở từng mặt cụ thể. Các thông tin này như một bản thông điệp
cho các nước thể hiện lập trường quan điểm của Campuchia trong công tác
đối ngoại và hợp tác đầu tư.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, một trong những di sản
vô giá hiện nay”, của GS. Deap So Phan, Tạp chí thế giới trong thế kỷ XX,
Nhà xuất bản Đông Nam Á, Quốc gia Campuchia, năm 2012. Trong công
trình này tác giả tập trung phân tích sâu sắc tiến trình phát triển, hoàn thiện và
đặc biệt hơn là đánh giá những giá trị bền vững tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn
kết quốc tế. Trong các nội dung đánh giá, tác giả cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh
về đoàn kết quốc tế đã thức tỉnh nhiều dân tộc trên thế giới có cơ sở lý luận cho
xác định mục tiêu, con đường, biện pháp thực hiện đoàn kết với các lực lượng,
các quốc gia một cách khoa học. Điểm đặc biệt là, công trình đã dành nhiều nội
dung bàn về đoàn kết Campuchia với Việt Nam và Lào.
Từ những hiểu biết tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, tác giả đã

đánh giá tầm vóc quốc tế nói chung, các dân tộc chậm phát triển nói riêng và đặc
biệt là giữa Campuchia với Việt Nam và Lào một cách có sức thuyết phục.


23

“Hội nhập kinh tế quốc tế với chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Campuchia”,
luận án tiến sĩ của Vuth Phanna, Bảo vệ tại đại học Kinh tế quốc dân năm 2008.
Tác giả luận án, đã làm rõ những vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
hội nhập kinh tế quốc tế và mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế quốc tế với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trên cơ sở đó chỉ ra những bất cập và đánh giá thực
trạng kinh tế cũng như cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Campuchia. Phân tích quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Campuchia và đánh
giá tác động của nó tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Từ đó rút ra những bài học
kinh nghiệm và đề xuất những phương hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu
kinh tế phù hợp nhằm đưa nền kinh tế Campuchia đạt tới trình độ phát triển cao
và bền vững phù hợp với mục tiêu và chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã
hội của Chính phủ Hoàng gia Campuchia.
“Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp
Campuchia”, luận án tiến sĩ của Lors Pinit. Tác giả luận án đã làm rõ những
vấn đề lý luận và thực tiễn về vốn, thu hút vốn vào ngành công nghiệp. Làm
rõ thực trạng trong thu hút vốn trực tiếp nước ngoài và tác động của nó đến
ngành công nghiệp Campuchia. Đề xuất quan điểm, mục tiêu, giải pháp nhằm
thu hút có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhằm phát triển ngành công
nghiệp trong nước.
3. Khái quát kết quả các công trình khoa học liên quan đến đề tài
luận án và những vấn đề đặt ra để luận án tiếp tục giải quyết
3.1.Khái quát kết quả các công trình khoa học liên quan đến đề tài
luận án
Thông qua tổng quan các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận

án, bước đầu tác giả luận án khái quát kết quả các các công trình đó đã đề cập
trên một số nội dung sau:
Một là, các công trình của các tác giả nước ngoài và trong nước, tuỳ
theo dung lượng và phạm vi nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề lý luận và
thực tiễn cơ bản về TCHKT. Các tác giả đã chỉ rõ những thuận lợi khó
khăn, thách thức, sự tác động sâu sắc đến mọi mặt của xã hội khi các
nước tham gia vào toàn cầu hóa. Do đó, mỗi nước cần phải có những


24

chính sách hợp lý, nhằm phát huy những tác động tích cực và hạn chế
những tác động tiêu cực, những thách thức đến phát triển đất nước.
Tuy nhiên đến nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về HNKTQT ở
Vương quốc Campuchia dưới góc độ kinh tế chính trị.

Hai là, các tác giả đã phân tích sâu sắc quá trình đổi mới tư duy quân sự
của các quốc gia, dân tộc hiện nay theo hướng điều chỉnh những quan điểm
về chiến tranh, về học thuyết quân sự. Các tác giả khẳng định, quốc gia nào
muốn giành phần thắng trong thế kỷ XXI thì phải xây dựng chiến lược quốc
phòng phù hợp, trong đó, phải xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, phát
triển công nghiệp quốc phòng, kiện toàn và hoàn thiện lực lượng dự bị động
viên... Đồng thời, các tác giả cũng đã làm rõ một số nội dung cơ bản về tăng
cường QP - AN; đánh giá thành tựu và hạn chế, chỉ rõ những vấn đề đặt ra
cần bổ sung, phát triển; đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cường QPAN ở Campuchia trong tình hình mới.
Các tác giả cũng đã phân tích, luận giải sâu sắc sự tác động của tình hình
thế giới, khu vực; tình hình trong nước; sự thay đổi trong phương châm, chiến
lược, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; những vấn đề mới về
lý luận và thực tiễn nảy sinh cần phải giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo
vệ Vương quốc Campuchia.

Ba là, các tác giả đã luận giải một số vấn đề chung về kết hợp kinh tế với
quốc phòng; phân tích các nhân tố tác động, mục tiêu và định hướng kết hợp
kinh tế với quốc phòng trên một số lĩnh vực và ngành kinh tế chủ yếu ở
Campuchia; chỉ rõ sự cần thiết, mục đích, nội dung của sự kết hợp; làm rõ sự tác
động của toàn cầu hóa, sự hội nhập kinh tế quốc tế tới QP - AN; đưa ra phương
hướng và giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế nói chung, xây dựng củng
cố quốc phòng trong giai đoạn hiện nay.
Như vậy, các công trình, bài viết của các tác giả ở Campuchia và ở nước
ngoài nêu trên đã đề cập về vấn đề TCHKT, HNKTQT và tác động của
TCHKT đến xây dựng, củng cố quốc phòng, dưới nhiều khía cạnh khác nhau,
trong đó mỗi góc nhìn đều được phân tích, đánh giá sâu sắc. Đó là nguồn tài
liệu quý giá để luận án kế thừa.


25

Tuy nhiên, các công trình mới đề cập, phân tích những mặt, những khía
cạnh, những lát cắt đơn lẻ của đối tượng nghiên cứu, mà chưa đặt đối tượng
nghiên cứu trong một chỉnh thể để nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn
diện để đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sự tác động của
HNKTQT đến củng cố quốc phòng, đặc biệt là ở Vương quốc Campuchia. Do
đó, đòi hỏi phải nghiên cứu sự tác động trong một chỉnh thể thống nhất.
3.2. Những vấn đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục giải quyết
Một là, luận án phải làm rõ quan niệm và nội dung tác động của TCHKT
đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia.
Vấn đề toàn cầu hóa và HNKTQT luôn được sự quan tâm của Chính phủ
các cấp, các ngành của mỗi nước, cũng như nghiên cứu của các nhà khoa học.
Tác giả luận án cũng đã kế thừa một số nội dung, khái niệm, đặc trưng và cách
tiếp cận về HNKTQT của các nhà nghiên cứu để có cái nhìn tổng quát. Tuy
nhiên, chưa có công trình đi sâu nghiên cứu đưa ra quan niệm và nội dung tác

động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia.
Hai là, luận án phải tập trung đánh giá toàn diện, sâu sắc sự tác động tích
cực, tiêu cực của HNKT quốc tế đến củng cố quốc phòng ở Campuchia, phân
tích nguyên nhân và khái quát những mâu thuẫn nảy sinh cần phải giải quyết
từ sự tác động của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia thời gian qua
Ba ba, luận án phải đề xuất một cách có hệ thống, toàn diện những quan
điểm và giải pháp khả thi, nhằm phát huy những tác động tích cực và hạn chế
tác động tiêu cực của HNKTQT đến củng cố quốc phòng ở Vương quốc
Campuchia.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC
TẾ ĐẾN CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG Ở VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA
1.1. Một số vấn đề chung về toàn cầu hóa kinh tế, chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế và củng cố quốc phòng ở Vương quốc Campuchia


26

1.1.1. Quan niệm về toàn cầu hóa và toàn cầu hóa kinh tế
1.1.1.1. Quan niệm về toàn cầu hóa
Thuật ngữ “toàn cầu hóa” được sử dụng phổ biến từ khoảng cuối những
năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây để diễn đạt một nhận thức mới của loài người
về một hiện tượng, một quá trình quan trọng trong quan hệ quốc tế hiện đại.
Tùy vào góc độ tiếp cận mà bản chất, tính chất và nguồn gốc của toàn
cầu hóa được các lý thuyết khác nhau quan niệm khác nhau.
Toàn cầu hóa có thể xem xét như một quá trình lịch sử tự nhiên mà
Roland Robertson là người đi đầu trong quan niệm này. “Ông gọi nó là quá trình
hội tụ thế giới trên phạm vi rộng, phân biệt với quá trình trên phạm vi nhỏ hơn
diễn ra trong quốc gia hay địa phương” [78, tr.12]. Hàm ý của ông là lịch sử toàn

thế giới đi theo một tiến trình hợp nhất, thông qua việc hình thành nên những
thực thể xã hội lớn dần - mà lớn nhất là thực thể toàn cầu - và ngay trong quá
trình hình thành các thực thể trung gian đã hàm chứa quá trình toàn cầu hóa dưới
dạng manh nha. Ông cho rằng tiến trình toàn cầu hóa bắt đầu ở Châu Âu vào đầu
thế kỷ XV và được mở rộng ra ngoài phạm vi Châu Âu vào thế kỷ XVIII.
Robertson phân quá trình này thành hai giai đoạn: từ năm 1750 đến 1870 là giai
đoạn “toàn cầu hóa phôi thai”, còn từ 1870 đến những năm 1920 như là giai
đoạn thiết yếu của sự “cất cánh” đưa đến thiết lập một xã hội toàn cầu với một
hỗn hợp của những sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa và công nghệ.
Toàn cầu hóa cũng được Wilkinson và Marshall Hodgson xem xét như
một quá trình mang tính lịch sử tự nhiên khi các ông nghiên cứu về các nền văn
minh. Các ông coi sự phát triển của văn minh nhân loại như là “sự phát triển phụ
thuộc lẫn nhau và ít nhiều song song giữa 4 hỗn hợp truyền thống văn minh:
Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu và văn minh sông Nile đến Oxus” [78, tr.13].
Thường thì toàn cầu hóa được tiếp cận chủ yếu trên lĩnh vực kinh tế.
Ankie Hoogvelt xác định tính chất, mức độ của toàn cầu hóa dựa trên sự phụ


×