ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------------
BÙI THỊ HỒNG THU
HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY LUYỆN CÁN THÉP GIA SÀNG
TỈNH THÁI NGUYÊN (1986 – 2010)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
---------------------------------------
BÙI THỊ HỒNG THU
HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY LUYỆN CÁN THÉP GIA SÀNG
TỈNH THÁI NGUYÊN (1986 – 2010)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Xuân Minh
THÁI NGUYÊN - 2016
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liê ̣u, kế t quả
nghiên cứu trong luâ ̣n văn là trung thực.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hồng Thu
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình
và sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện thuận lợi
để tôi hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới TS. Nguyễn Xuân Minh đã trực
tiếp, hướng dẫn, nhiệt tình giúp đỡ trong toàn bộ quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Lịch sử, Phòng
Sau đại học của Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã nhiệt tình
giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học.
Đồng thời, tôi xin cảm ơn Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên,
Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập.
Xin chân thành cảm ơn Công ti Cổ phần Luyện Cán thép Gia Sàng,
Trung tâm Lưu trữ tỉnh Thái Nguyên…đã ủng hộ, giúp đỡ tôi trong quá trình
hoàn thành Luận văn.
Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khuyến khích động viên trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận văn
Bùi Thị Hồng Thu
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan ........................................................................................................ i
Lời cảm ơn ........................................................................................................... ii
Mục lục ............................................................................................................... iii
Danh mục chữ viết tắt ......................................................................................... iv
Danh mục các bảng.............................................................................................. v
Danh mục các sơ đồ ............................................................................................ vi
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................. 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................... 3
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài .................................. 5
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu .................................................... 5
5. Đóng góp của Luận văn ................................................................................... 6
6. Bố cục của Luận văn ....................................................................................... 6
Chương 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NHÀ MÁY LUYỆN - CÁN
THÉP GIA SÀNG TRƯỚC NĂM 1986 .......................................................... 7
1.1. Quá trình xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng (1971 - 1975) ... 7
1.2. Tình hình hoạt động của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng trong 10
năm đầu (1975 - 1985)....................................................................................... 12
1.2.1. Tổ chức - quản lí, đội ngũ........................................................................ 13
1.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh ............................................................... 16
Tiểu kết chương 1 .............................................................................................. 20
Chương 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NHÀ MÁY LUYỆN CÁN THÉP GIA SÀNG (1986 – 2010) .......................................................... 21
2.1. Chủ trương đổi mới trong công nghiệp của Đảng ...................................... 21
2.2. Hoạt động của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng từ năm 1986 đến
năm 2006 ........................................................................................................... 25
iii
2.2.1. Tổ chức quản lí và nguồn nhân lực ......................................................... 25
2.2.2. Hoạt động sản xuất, kinh doanh .............................................................. 33
2.3. Công ti Cổ phần Luyện - Cán thép Gia Sàng (2007 - 2010) ...................... 48
2.3.1. Chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước ............................. 48
2.3.2. Quá trình cổ phần hoá Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng ................. 50
2.3.3. Hoạt động của Công ti Cổ phần Luyện - Cán thép Gia Sàng (2007 – 2010)..... 52
Tiểu kết chương 2 .............................................................................................. 62
Chương 3: VỊ TRÍ - VAI TRÒ CỦA NHÀ MÁY LUYỆN CÁN THÉP
GIA SÀNG ........................................................................................................ 63
3.1. Đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ........................ 63
3.1.1. Về kinh tế................................................................................................. 63
3.1.2. Về xã hội .................................................................................................. 70
3.2. Đối với việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của địa phương ........ 72
3.2.1. Về kinh tế................................................................................................. 72
3.2.2. Về xã hội .................................................................................................. 73
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 76
KẾT LUẬN....................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................... 84
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1. CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
2. XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
3. TISCO : Thainguyen Iron and Steel Joint Stock Corporation (Công ti Cổ
phần Gang thép Thái Nguyên)
4. GISCO : Gia Sang Steel Joint Stock Company
(Công ti Cổ phần Luyện Cán thép Gia Sàng)
5. TCVN
: Tiêu chuẩn Việt Nam
6. KHKD : Kế hoạch kinh doanh
7. TCHC
: Tổ chức hành chính
8. KTTC
: Kế toán tài chính
9. KTCN
: Kĩ thuật công nghệ
10. KCS
: Kiểm tra chất lượng sản phẩm
11. PTGĐ
: Phó Tổng Giám đốc
12. BCN
: Bộ Công nghiệp
13. QĐ
: Quyết định
14. UBND : Uỷ ban Nhân dân
15. QMR
: Tổ chức quản lí chất lượng quốc tế
16. Nxb
: Nhà xuất bản.
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Kết quả sản xuất của Nhà máy trong giai đoạn 1975 - 1985 ............ 18
Bảng 2.1. So sánh chất lượng nguồn nhân lực của Nhà máy năm 1986 và
năm 2006 ........................................................................................... 32
Bảng 2.2. Kết quả sản xuất kinh doanh của Nhà máy từ năm 1986 đến
năm 2006 ........................................................................................... 36
Bảng 2.3. Kết quả tổng sản lượng và thu nhập bình quân của công nhân qua
các năm 1990, 2000, 2005 ................................................................. 47
Bảng 2.4. Kết quả sản xuất cụ thể của Công ti Cổ phần Luyện - Cán thép
Gia Sàng trong những năm 2007 – 2010........................................... 61
v
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1. Cơ cấu tổ chức Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng ..................... 14
Sơ đồ 2.1. Sơ đồ tổ chức Công ti Cổ phần Luyện - Cán thép Gia Sàng ........... 53
Sơ đồ 2. 2. Quy trình công nghệ sản xuất thép .................................................. 57
vi
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
với mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản sẽ trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại. Trong bối cảnh đó, ngành Công nghiệp luyện kim là một trong
những ngành quan trọng bậc nhất của công nghiệp nặng. Sản phẩm chính của
nó là gang và thép, nguyên liệu cơ bản cho các ngành công nghiệp cơ khí, xây
dựng, gia công kim loại để tạo ra tư liệu sản xuất, công cụ lao động. Hầu hết tất
cả các ngành kinh tế đều sử dụng sản phẩm của ngành Công nghiệp luyện kim.
Chính sự thông dụng của nó trong sản xuất và đời sống đã làm tăng thêm tầm
quan trọng của ngành Công nghiệp này.
Sản xuất thép không phải là ngành sinh lời cao, lại đòi hỏi đầu tư lớn, lâu
thu hồi vốn nên kém hấp dẫn với các nhà đầu tư. Tuy nhiên, sản phẩm của nó
liên quan đến hầu hết tất cả các ngành kinh tế. Vì thế, muốn trở thành nước
công nghiệp không thể không đầu tư phát triển ngành Thép.
Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, cùng với sự phát triển của
kinh tế, xã hội đất nước, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm của ngành Cán thép càng
lớn. Tuy nhiên, hiện nay ngành sản xuất thép đang đứng trước những khó khăn,
thách thức mới do tác động của cuộc khủng hoảng suy thoái toàn cầu diễn ra từ
năm 2008 và xu thế quốc tế hoá.
Để làm giảm tình trạng nhập siêu các mặt hàng trong lĩnh vực luyện kim
và phát triển bền vững kinh tế đất nước, tất yếu phải khôi phục sản xuất các nhà
máy luyện cán thép trên cả nước, đẩy mạnh hoạt động sản xuất của ngành Thép
Việt Nam.
Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Bộ, không chỉ là địa
phương giàu truyền thống cách mạng từng được biết đến là Thủ đô kháng chiến
trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, mà còn là nơi có nguồn tài
nguyên khoáng sản phong phú như than, quặng sắt, đá vôi, vàng, v.v... Những
1
nguồn tài nguyên đó là cơ sở cho sự ra đời của cơ sở luyện kim đầu tiên và lớn
nhất cả nước. Vì vậy, từ năm 1959, Thái Nguyên được Đảng, Chính phủ chọn
làm nơi xây dựng Khu Công nghiệp Gang thép - đứa con đầu lòng của ngành
Công nghiệp nặng Việt Nam.
Đóng góp vào những thành tích của Khu Công nghiệp Gang thép Thái
Nguyên, từ năm 1975 có hoạt động của Nhà máy (từ 8/2006 là Công ti Cổ
phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng. Nằm trên địa bàn phường Gia Sàng, thành
phố Thái Nguyên, trải qua 40 năm hoạt động, Nhà máy đã sản xuất gần 4 triệu
tấn thép các loại. Là đơn vị chuyên sản xuất thép xây dựng và thép chất lượng
cao trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, sản phẩm chính của Nhà máy là thép
cán xây dựng (thép tròn trơn CT3 từ F10 đến F25; thép vằn CT5 từ D10 đến
D25). Đã có những thời điểm, nhiều sản phẩm của Nhà máy được đánh giá cao,
được các chủ đầu tư chọn đưa vào sản xuất các công trình trọng điểm, lâu dài
và bền vững của Quốc gia. Ngoài ra, sản phẩm thép vuông của Nhà máy được
xuất khẩu sang Nhật Bản, Trung Quốc và Thái Lan.
Lịch sử 40 năm, có những lúc thăng, lúc trầm, song cán bộ, công
nhân Nhà máy (Công ti cổ phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng vẫn luôn đoàn
kết, thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động để
khẳng định vị thế của mình, một thời là “con chim đầu đàn” của ngành
Thép Việt Nam.
Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của Nhà máy
(Công ti Cổ phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng góp phần vào quá trình nghiên
cứu lịch sử phát triển của ngành Thép Việt Nam trong thời kì quá độ đi lên xây
dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay là cần thiết. Đề tài vừa có ý nghĩa khoa học,
vừa có giá trị thực tiễn.
Là người con sinh ra và lớn lên trên địa bàn Nhà máy hoạt động phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, hiện tại là giáo viên giảng dạy bộ
môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông, tôi mong muốn được tìm hiểu về
2
những hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện Cán Thép Gia Sàng.
Hơn nữa, việc nghiên cứu hoạt động của Nhà máy, rút ra những bài học kinh
nghiệm thành công và chưa thành công còn góp phần giúp Ban Lãnh đạo Công
ti có những định hướng phát triển trong tương lai.
Với những lí do trên, tôi chọn vấn đề Hoạt động của Nhà máy Luyện
Cán thép Gia Sàng tỉnh Thái Nguyên (1986 - 2010) làm đề tài Luận văn Thạc sĩ
Sử học.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng được bắt đầu xây dựng vào năm
1971. Sau 5 năm, đến năm 1975, Nhà máy mới chính thức đi vào hoạt động với
tư cách là một nhà máy thành viên trực thuộc Công ti Gang thép Thái Nguyên.
Vì thế, đề tài Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng đã được
một số cá nhân, tập thể, tổ chức đề cập đến.
Năm 1978, Phòng Thông tin - Văn hoá Công ti Gang thép Thái Nguyên
xuất bản cuốn Khu Gang thép Thái Nguyên - vài nét về lịch sử truyền thống.
Cuốn sách đã giới thiệu một cách toàn diện quá trình xây dựng và những hoạt
động của khu Gang thép Thái Nguyên từ năm 1959 đến 1978. Trong đó, cuốn
sách đề cập đến quá trình xây dựng và những hoạt động những năm đầu sản
xuất của Nhà máy Luyện Cán Thép Gia Sàng kể từ năm 1971 [20].
Trong cuốn Công nghiệp nặng Việt Nam 50 năm xây dựng và phát triển
của Bộ cơ khí luyện kim do Nhà xuất bản Khoa học kĩ thuật Hà Nội xuất bản
năm 1995, đã nêu lên những chặng đường xây dựng và phát triển của ngành
Công nghiệp nặng cũng như định hướng phát triển của ngành trong thời kì mới.
Trong cuốn sách, các tác giả đề cập đến Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng với
tư cách là nhà máy thành viên của Công ti Gang thép Thái Nguyên [8].
Năm 1995, nhân kỉ niệm 20 năm thành lập Nhà máy, tác giả Hà Đức
Thanh có bài viết Niềm tự hào và thách thức đều lớn đăng trên tạp chí Khoa
3
học công nghệ (số tháng 5/1995) đã khái quát quá trình xây dựng và trưởng
thành của nhà máy; đồng thời nêu ra những thách thức mà Nhà máy phải đương
đầu trước thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [57].
Năm 2003, Đảng uỷ Công ti Gang thép xuất bản cuốn Công ti Gang thép
Thái Nguyên 1959 - 2003: Biên niên sử tóm tắt. Cuốn sách khái quát quá trình hơn
40 năm xây dựng, trưởng thành của Công ti; nêu rõ những đóng góp của Nhà máy
Luyện Cán thép Gia Sàng trực thuộc Công ti Gang thép Thái Nguyên [49].
Năm 2005, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ thuật đã công bố cuốn sách:
Công nghệ Cán kim loại của tác giả Đỗ Hữu Nhơn. Trong công trình này, tác
giả phân tích vai trò của ngành Thép Việt Nam. Nói đến hoạt động của Nhà
máy Luyện - Cán thép Gia Sàng, tác giả coi đó như là một cánh chim đầu đàn
của ngành Thép Việt Nam trong những năm đầu đất nước thống nhất [52].
Ngoài ra, đã có Luận văn Thạc sĩ viết về những công ti hoạt động trong
lĩnh vực luyện kim như: Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam của
Nguyễn Thị Thảo, viết về Công ti Cổ phần Gang thép Thái Nguyên trong thời
kì đổi mới 1986 – 2000, bảo vệ năm 2012 tại Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư
Phạm - Đại học Thái Nguyên. Trong Luận văn này, tác giả có viết về một số
nội dung của Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng thời kì là thành viên của Khu
Gang thép Thái Nguyên (1975 – 2006) [56].
Hoạt động của Nhà máy còn được nêu khái quát trong các báo cáo, diễn
văn, kỉ yếu nhân kỉ niệm 20, 30, 35 năm ngày truyền thống của Nhà máy.
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào trình bày
một cách hệ thống về hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện - Cán
thép Gia Sàng trong thời kì đổi mới 1986 đến 2010. Mặc dù vậy, tất cả những
công trình nêu trên đều là nguồn tài liệu tham khảo quý giá giúp cho tác giả
hoàn thành Luận văn này.
4
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần)
Luyện - Cán thép Gia Sàng giai đoạn 1986 - 2010.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện Cán thép
Gia Sàng nằm trên địa bàn phường Gia Sàng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh
Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 đến năm 2010. Tuy nhiên, để làm rõ
yêu cầu của đề tài, Luận văn đề cập đến tình hình Nhà máy trước năm 1986.
3.3. Nhiệm vụ của đề tài
- Khái quát quá trình xây dựng, phát triển của Nhà máy trước năm 1986.
- Nghiên cứu hệ thống, toàn diện những hoạt động của Nhà máy (Công
ti Cổ phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng trong giai đoạn 1986 - 2010. Qua đó,
rút ra những mặt mạnh, hạn chế của Nhà máy trong thời gian này.
- Đánh giá hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện - Cán thép
Gia Sàng trong thời gian 1986 - 2010.
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài này, tác giả Luận văn dựa vào các nguồn tài liệu sau:
- Văn kiện Đảng (các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng; các
chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước; nghị quyết Đảng bộ tỉnh Thái
Nguyên, nghị quyết Đảng bộ Công ti Gang thép Thái Nguyên…).
- Các tác phẩm bàn về công nghiệp hoá XHCN.
- Các bài nói, bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước về
ngành Luyện kim nói chung, Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng nói riêng.
- Các báo cáo tổng kết hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy
Luyện - Cán thép Gia sàng được lưu trữ tại Phòng Lưu trữ của Công ti.
- Các công trình nghiên cứu về ngành Luyện kim đã được công bố.
- Các cán bộ lãnh đạo Nhà máy (Công ti Cổ phần) qua các thời kì.
5
Tất cả những nguồn tài liệu trên là cơ sở quan trọng để tác giả Luận văn
hoàn thành đề tài này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết
hợp với phương pháp lôgic là chủ yếu. Bằng phương pháp lịch sử, tác giả trình
bày một cách hệ thống quá trình ra đời, hoạt động của Nhà máy trong 35 năm
(1975 - 2010). Dựa vào các nguồn tư liệu lịch sử có chọn lọc, trên cơ sở phân
tích các sự kiện, tác giả rút ra bản chất, tính quy luật trong quá trình hoạt động
của nhà máy; nhận định, đánh giá vị trí - vai trò của nhà máy đối với sự nghiệp
xây dựng đất nước.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so
sánh, phỏng vấn, điền dã.
5. Đóng góp của Luận văn
- Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên có tính hệ thống về quá trình xây
dựng, hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện - Cán thép Gia Sàng, thành
phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trong những năm 1986 đến năm 2010.
- Làm rõ vị trí - vai trò của Nhà máy trong sự nghiệp phát triển kinh tế,
xã hội của đất nước.
- Là nguồn tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy lịch sử địa phương tại
các trường phổ thông trên địa bàn.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn
được cấu tạo thành 3 chương nội dung:
Chương 1: Khái quát tình hình Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng
trước năm 1986
Chương 2: Tình hình hoạt động của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện Cán thép Gia Sàng (1986 - 2010)
Chương 3: Vị trí - vai trò của Nhà máy (Công ti Cổ phần) Luyện - Cán
thép Gia Sàng
6
Chương 1
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NHÀ MÁY LUYỆN - CÁN THÉP GIA SÀNG
TRƯỚC NĂM 1986
1.1. Quá trình xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng (1971 - 1975)
Thái Nguyên là một tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, có tiềm năng lớn
về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực. Trong lịch sử, Thái Nguyên được
biết đến là mảnh đất anh hùng, giàu truyền thống cách mạng. Sau khi cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc năm 1954, miền Bắc hoàn toàn
được giải phóng, bước vào thời kì khôi phục kinh tế, khắc phục hậu quả
chiến tranh và cải tạo quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kĩ thuật
của chủ nghĩa xã hội.
Tỉnh Thái Nguyên có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, trong đó
chủ yếu là quặng sắt và các nguyên liệu phụ trợ cho việc sản xuất gang thép,
như: than, đá vôi, Fero - mangan, Fero silic, nhôm…Các mỏ sắt ở Trại Cau,
Tiến Bộ, Quang Trung… đều là những mỏ lộ thiên có tổng trữ lượng khoảng
50 triệu tấn với 2 loại quặng chủ yếu là Manhêtít (có hàm lượng Fe trên 60%),
Limônít (có hàm lượng Fe khoảng 50 - 55%), Ngoài ra, các tỉnh tiếp giáp với
Thái Nguyên như Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Phú Thọ… cũng có
nguồn quặng sắt dồi dào thuận lợi cho sản xuất gang thép.
Từ những lợi thế trên, năm 1959, tỉnh Thái Nguyên được Đảng và Chính
phủ chọn làm nơi xây dựng khu công nghiệp luyện kim đầu tiên ở miền Bắc
nước ta. Đó là Khu Công nghiệp gang thép Thái Nguyên. Cùng với sự phát
triển của Khu Công nghiệp Gang thép Thái Nguyên (từ năm 1962, gọi là Công
ti Gang thép Thái Nguyên), vào đầu thập niên 70 thế kỉ XX, đáp ứng yêu cầu
phát triển nền kinh tế, xã hội của nước nhà cũng như nhu cầu về sắt thép ngày
càng lớn, bằng nguồn vốn không hoàn lại ban đầu là 120 triệu đồng của Cộng
hoà Dân chủ Đức, Ban Giám đốc Công ti Gang thép Thái Nguyên đã xây dựng
7
thêm nhà máy luyện cán thép theo công nghệ của Đức trên địa bàn phường Gia
Sàng, thành phố Thái Nguyên.
Phường Gia Sàng nằm liền kề với khu Lưu Xá là địa bàn chính của Công
ti Gang thép Thái Nguyên, có vị trí thuận lợi, bám dọc trục Đường Cách Mạng
Tháng Tám - tuyến đường chính của tỉnh Thái Nguyên, cách Quốc lộ 3 Thái
Nguyên đi Hà Nội không xa, thuận tiện cho việc vận chuyển nguyên liệu cũng
như sản phẩm ra thị trường cả nước.
Theo Quyết định số 18/TTCP (8/2/1970) về việc sử dụng đất xây dựng
Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng do Phó Thủ tướng Đỗ Mười kí, mặt bằng
diện tích xây dựng nhà máy trên 30 hécta, với hơn 20 công trình lớn nhỏ và 3
phân xưởng chính là: Luyện thép, cán thép và kéo dây mạ kẽm. Công suất ban
đầu của nhà máy là 5 vạn tấn thép thành phẩm mỗi năm. Để chuẩn bị cho xây
dựng nhà máy, công tác giải phóng mặt bằng được triển khai khẩn trương. Lúc
bấy giờ, dân cư thưa thớt, đường sá đi lại khó khăn. Khu đất xây dựng Nhà máy
phần lớn là những quả đồi, ít người ở. Tổng số hộ phải di dời đến nơi khác để
xây dựng Nhà máy là 10 hộ dân, còn lại là vùng đất trống, không người ở. Vì
thế, công tác chuẩn bị mặt bằng để xây dựng Nhà máy diễn ra khá thuận lợi.
Đến đầu năm 1971, mọi việc chuẩn bị cho việc động thổ xây dựng Nhà máy đã
sẵn sàng.
Cùng với quá trình chuẩn bị mặt bằng xây dựng nhà máy, nhận thấy đây
là một công trình quan trọng, Ban Giám đốc Công ti Gang thép Thái Nguyên
đã thành lập Ban Kiến thiết Nhà máy Luyện Cán thép Gia Sàng gồm có 1
Truởng ban là ông Phạm Bố Doanh phụ trách chung và 3 Phó ban là các ông:
Nguyễn Danh Toàn phụ trách thiết bị, Nguyễn Thượng Chí phụ trách sản
xuất, Nguyễn Hoài Khiêm làm việc trực tiếp với chuyên gia Đức.
Ban Kiến thiết cùng hàng ngàn công nhân kĩ thuật, lắp máy Việt Nam
làm việc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của 124 chuyên gia đến từ Đức với đủ các
ngành nghề. Với tinh thần trách nhiệm cao, cán bộ, công nhân Việt Nam cùng
8
với các chuyên gia Cộng hòa Dân chủ Đức đều làm việc hăng say, chuẩn bị cho
ngày khởi công xây dựng Nhà máy. Hàng chục quả đồi đã được san bạt, hàng
ngàn mét khối đất, đá được san lấp. Khu vực xây dựng Nhà máy trở nên huyên
náo với số lượng công nhân làm việc tại công trường lên tới vài trăm người,
cùng hàng chục xe máy xúc, máy kéo, tiếng cuốc, xẻng…
Ngày 23/3/1971, Nhà máy chính thức được khởi công xây dựng: Đổ
móng bê tông của một số hạng mục chính gồm: Nhà xưởng, kho chứa nguyên
liệu, xưởng luyện thép, cán thép, kéo dây cùng các trạm phụ trợ gồm: Trạm ôxi
khí nén, trạm điện 110 KV, trạm cấp nước, trạm nồi hơi, trạm hoá nghiệm...
Công trường xây dựng Nhà máy gồm hai bộ phận: Công trường xây
dựng do Đội Công trình II thuộc Bộ Xây dựng là đơn vị thi công và Công
trường lắp máy do Xí nghiệp Liên hợp Gang thép Thái Nguyên là đơn vị tiến
hành. Cả hai công trường này đều dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các chuyên gia
Cộng hoà Dân chủ Đức. Sau hơn 1 năm thi công, phần đổ móng bê tông một số
hạng mục chính đã hoàn thành.
Trong lúc Nhà máy đang được khẩn trương xây dựng, tháng 4/1972, đế
quốc Mĩ chính thức gây ra chiến tranh phá hoại lần thứ hai bằng không quân và
hải quân trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc nước ta. Sự kiện này đã tác động
không nhỏ đến quá trình xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng. Mọi
hoạt động thời bình nhanh chóng được chuyển vào thời chiến để ứng phó với
tình hình có chiến tranh.
Tại công trường xây dựng Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng, các vật
liệu xây dựng cùng với 4.500 tấn thiết bị máy móc quan trọng, v.v... được
nhanh chóng di chuyển đến những nơi an toàn. Trong hoàn cảnh chiến tranh
phá hoại diễn ra ngày càng ác liệt, cán bộ, công nhân vẫn kiên trì bám chắc vị
trí công việc với tinh thần giặc đến là đánh, giặc đi lại tiếp tục lao động. Các
phương án đối phó với tình hình có chiến tranh phá hoại bằng không quân của
giặc Mĩ được chuẩn bị chu đáo. Nhờ vậy, dù máy bay B52 của giặc Mĩ ném
9
bom vào khu vực đang thi công đêm 24/12/1972, công trường xây dựng Nhà
máy cũng không bị tổn thất lớn.
Do không đạt được mục tiêu cuộc chiến tranh, lại bị thiệt hại nặng nề
trước tinh thần chiến đấu của quân, dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc, trực tiếp
là trận Điện Biên Phủ trên không, đế quốc Mĩ buộc phải kí kết chính thức Hiệp
định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27/1/1973).
Sau ngày Hiệp định Pari được kí kết, miền Bắc có điều kiện hoà bình để
tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 22 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng (khoá III) diễn ra vào tháng 12 năm 1973 thông
qua nghị quyết việc khôi phục và phát triển kinh tế, xã hội miền Bắc trong 2
năm 1974 - 1975. Nghị quyết nêu rõ: “…. Cần tập trung sức khôi phục và hoàn
thành sớm việc xây dựng khu gang thép Thái Nguyên, để huy động nhanh vào
sản xuất…”. Từ đó, trên công trường thi công Nhà máy Luyện - Cán thép Gia
Sàng lại tiếp tục bước vào giai đoạn sôi nổi khẩn trương hơn. Những hạng mục
còn dang dở như đổ cột, xây lò, hoàn thiện xưởng nguyên liệu và các xưởng
sản xuất được gấp rút hoàn thành. Càng về cuối giai đoạn xây dựng Nhà máy,
không khí làm việc tại công trường càng nhộn nhịp, tất bật hơn.
Ngày 20/5/1974, Bộ Cơ khí và Luyện kim Việt Nam (nay là Bộ Công
Thương nghiệp) quyết định thành lập Nhà máy với tên gọi Nhà máy Luyện Cán
thép Gia Sàng. Từ sau quyết định này, Công ti Gang thép Thái Nguyên thành
lập Ban Chuẩn bị sản xuất của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng, lên
phương án chuẩn bị cho mẻ thép đầu tiên ra lò. Việc làm cấp thiết đầu tiên của
Ban là vấn đề về nguồn nhân lực.
Để đảm bảo cho Nhà máy có thể hoạt động ngay sau khi khánh thành,
Ban Chuẩn bị sản xuất cử người đi khắp nơi, chủ yếu là các tỉnh Hà Tây (cũ),
Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Hải Phòng để tuyển nhân công. Một bộ
phận công nhân ở các phân xưởng chính được chuyển từ Nhà máy Cán thép
Lưu Xá thuộc Công ti Gang thép Thái Nguyên sang. Cùng với đó, Nhà máy đã
10
tiếp nhận hàng trăm cán bộ, kĩ sư được Nhà nước cho du học ở Đức về lĩnh vực
công nghiệp nặng.
Trên cơ sở nguồn nhân lực đã được tuyển chọn, Ban Giám đốc Nhà máy
quyết định cử gần 200 công nhân, lập thành 4 đoàn sang Cộng hoà Dân chủ
Đức thực tập công nghệ sản xuất và làm việc trực tiếp trong vòng 6 tháng. Bộ
phận này sau khi trở về nước là lực lượng nòng cốt của Nhà máy, được đưa vào
các phân xưởng chủ chốt để thực hiện công nghệ sản xuất; đồng thời tổ chức
đào tạo lại cho đội ngũ công nhân không được trực tiếp sang Đức học tập.
Cùng với việc chuẩn bị nguồn nhân lực, Ban Chuẩn bị sản xuất tiếp tục
đẩy mạnh việc xây dựng lắp đặt máy móc thiết bị, biên soạn quy trình kĩ thuật
sản xuất, quy trình an toàn lao động, đào tạo công nhân kĩ thuật, chuẩn bị tiếp
nhận dây chuyền công nghệ đưa vào sản xuất. Được sự giúp đỡ của các chuyên
gia Cộng hoà Dân chủ Đức, việc thi công lắp máy trên công trường được tiến
hành liên tục. Đội ngũ công nhân với sức trẻ, sự sáng tạo, đã nhanh chóng học
hỏi, sớm tiếp thu kĩ thuật của các chuyên gia bạn và cán bộ kĩ thuật trong nước.
Tính đến tháng 12/1974, Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng có 755 cán bộ,
công nhân viên chức (trong đó, 617 công nhân kĩ thuật có trình độ bậc thợ bình
quân là 1,17/7 bậc gồm đủ các ngành nghề đào tạo).
Đầu năm 1975, các công trình lần lượt được đưa vào hoạt động: Trạm
cấp nước (26/3/1975), trạm khí than nồi hơi (23/4/1975), trạm ôxi khí nén
(25/4/1975), trạm gia công cơ khí, trạm điện biến áp 110 KV (15/5/1975). Tiếp
đến là các phân xưởng công nghệ, gồm các thiết bị quan trọng như: Phân
xưởng luyện thép có lò luyện, cầu trục, xe nâng, bộ phận lọc bụi; phân xưởng
cán thép là máy cán, lò nung, cầu trục. Các công trình phụ trợ, như kho chứa
nguyên liệu, toà nhà 2 tầng làm việc, trạm y tế, khu vực chuyên gia ở, nhà ở
công nhân, khu bếp ăn… cũng được đưa vào sử dụng.
Sau 4 năm xây dựng, trên 6.000 tấn thiết bị máy móc các loại đã được
lắp đặt, chuẩn bị đưa dây chuyền luyện thép vào chạy thử sản xuất. Công việc
11
chuẩn bị cho mẻ thép đầu tiên tại lò LD đã được cán bộ, công nhân viên cùng
các chuyên gia thử nghiệm thành công. Như vậy, mọi việc chuẩn bị cho mẻ
thép đâu tiên ra lò đã hoàn tất.
Sáng ngày 1/5/1975, đúng vào lúc miền Nam được hoàn toàn giải phóng,
Nhà máy long trọng làm lễ cắt băng khánh thành, có sự tham dự của Phó Thủ
tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh. Đúng 12 giờ 35 phút
cùng ngày, mẻ thép đầu tiên của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng được
luyện tại lò LD bằng phương pháp ôxi thổi đỉnh đã ra lò. Từ đó, ngày 1/5 trùng với ngày Quốc tế lao động, đã trở thành Ngày Truyền thống của Nhà máy
Luyện - Cán thép Gia Sàng.
Với sự phấn đấu không ngừng của cả đội ngũ công nhân kĩ thuật, thợ lắp
máy Việt Nam cùng các chuyên gia của Cộng hoà Dân chủ Đức, ngày
28/8/1975, phân xưởng cán thép chính được đưa vào sản xuất. Đến thời điểm
này, 2 phân xưởng chính của Nhà máy là Phân xưởng Luyện thép và Phân
xưởng Cán thép đã cho ra lò sản phẩm đầu tiên đóng góp chung vào dòng chẩy
gang thép nước nhà.
Như vậy, sau 4 năm xây dựng, Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng
chính thức đi vào hoạt động. Nhà máy ra đời là minh chứng cho tình đoàn kết
hữu nghị của hai nước Cộng hoà Dân chủ Đức và Việt Nam. Thời điểm nhà
máy đi vào sản xuất cũng là lúc cả nước bước vào thời kì xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với ngành Thép Việt Nam nói chung,
Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng nói riêng, được đặt ra ngày càng lớn.
1.2. Tình hình hoạt động của Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng trong
10 năm đầu (1975 - 1985)
Sau thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, lịch sử dân tộc Việt
Nam bước vào kỉ nguyên mới - kỉ nguyên độc lập, thống nhất, cả nước cùng đi
lên chủ nghĩa xã hội. Trước yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của cả nước,
12
ngành Công nghiệp luyện kim có vai trò đặc biệt quan trọng. Vì vậy, Nghị
quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IV (12/1976) đã nêu rõ: “Phát
triển luyện kim từng bước, cân đối với cơ khí và quy mô xây dựng cơ bản.
Hoàn thành và mở rộng các cơ sở luyện thép hiện có, xây dựng nhiều lò thép
điện trong các nhà máy cơ khí, chuẩn bị khởi công xây dựng cơ sở thép cỡ lớn”
[42, tr. 67]. Đại hội cũng đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 1980, cả nước sản
xuất được từ 25 đến 30 vạn tấn thép.
Nhận rõ tầm quan trọng của ngành Công nghiệp luyện kim đối với sự
nghiệp kiến thiết đất nước sau khi thống nhất, quán triệt tinh thần Nghị quyết
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, cán bộ, công nhân Nhà máy Luyện - Cán
thép Gia Sàng ra sức đẩy mạnh sản xuất, gấp rút hoàn thành phân xưởng kéo
dây mạ kẽm để đi vào hoạt động trên cả ba phân xưởng chính.
Trong những năm đầu hoạt động, Nhà máy có nhiều thuận lợi. Đó là sự
quan tâm của Tổng Công ti gang thép Thái Nguyên, sự giám sát của các chuyên
gia Cộng hoà Dân chủ Đức; hệ thống máy móc, công nghệ mới được đưa vào
sử dụng còn tốt, chưa có thời gian khấu hao; đội ngũ công nhân được đào tạo
thường xuyên, một số có điều kiện học tập ở nước Đức nâng cao trình độ
chuyên môn... Tuy nhiên, Nhà máy vẫn phải đối mặt với những khó khăn do
trình độ quản lí còn kém; bộ máy tổ chức, quản lí chưa được hoàn chỉnh; nguồn
nguyên liệu than cốc còn phụ thuộc nhiều vào nước ngoài (chủ yếu là của
Trung Quốc)...
Trước tình hình trên, Nhà máy nhanh chóng ổn định và kiện toàn bộ máy
tổ chức, các đoàn thể chính trị để lãnh đạo, chỉ đạo các hoạt động sản xuất.
1.2.1. Tổ chức - quản lí, đội ngũ
Là một thành viên của Công ti Gang thép Thái Nguyên, được sự chỉ đạo
trực tiếp của Công ti, sau 1 năm đi vào hoạt động, đến năm 1976, cơ cấu tổ
chức nhà máy đã dần hoàn thiện.
13
Sơ đồ 1.1. Cơ cấu tổ chức Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
TCHC
PHÂN
XƯỞNG
Cơ điện
PHÒNG
KHKD
PHÓ GIÁM ĐỐC
PHÒNG
KCS
PHÒNG
KTTC
PHÂN
XƯỞNG
Luyện thép
PHÂN
XƯỞNG
Cán thép
PHÒNG
CƠ
ĐIỆN
PHÒNG
KTCN
PHÂN
XƯỞNG
Kéo dây
mạ kẽm
Ban Giám đốc Nhà máy gồm có 1 Giám đốc và 2 Phó Giám đốc. Giám
đốc phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc Công ti Gang
thép Thái Nguyên về việc thực hiện và đảm bảo kế hoạch sản xuất của Nhà
máy. Phó Giám đốc phụ trách các hoạt động chính: Sản xuất kinh doanh,
hành chính - đời sống. Giúp việc cho Ban Giám đốc là bộ máy quản lí ở các
phòng gồm 1 Trưởng phòng và 1 Phó Trưởng phòng phụ trách các công
14
việc chuyên biệt của từng phòng. Bộ phận sản xuất là các Quản đốc và Phó
Quản đốc ở các phân xưởng.
Các phòng chức năng của Nhà máy thời kì này, gồm có: Tổ chức - Hành
chính, Kế hoạch kinh doanh, Kế toán - Tài chính, Kiểm tra chất lượng, Kĩ thuật
công nghệ, Cơ điện. Nguồn nhân lực ở các phòng ban này thường là những cán
bộ được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành phù hợp với các phòng
chức năng. Chế độ làm việc của các phòng ban được thực hiện theo giờ hành
chính, không phải thực hiện theo ca sản xuất.
Bộ phận sản xuất gồm có 3 phân xưởng công nghệ chính: Luyện thép,
Cán thép, Kéo dây mạ kẽm và 1 phân xưởng sửa chữa, gia công các phụ tùng
thay thế và phục vụ công tác sửa chữa các thiết bị liên quan đến 3 phân xưởng
công nghệ, sản xuất ôxi, khí nén. Ngoài ra còn có Trạm vận chuyển - cầu trục,
Trạm điện 110 KV, Trạm gia công cơ khí, Trạm ôxi khí nén. Công nhân mỗi
phân xưởng được chia thành 6 tổ thực hiện theo 3 ca: Sáng - chiều - đêm. (Mỗi
ca gồm 2 tổ để đảm bảo cho hoạt động sản xuất khi có những sự cố bất ngờ).
Việc tổ chức như vậy đảm bảo cho dây chuyền sản xuất được thực hiện liên tục.
Về đội ngũ, nguồn nhân lực: Khi mới thành lập năm 1975, Nhà máy mới
có 2 phân xưởng chính là Luyện thép và Cán thép thực hiện nhiệm vụ sản xuất,
với tổng số 690 cán bộ, công nhân. Ngày 12/6/1976, phân xưởng kéo dây mạ
kẽm được lắp đặt hoàn thiện dây chuyền và đi vào sản xuất. Sự kiện này đã gây
biến động lớn trong nguồn nhân lực, số lượng công nhân tăng thêm gần 300
người, nâng tổng số cán bộ, công nhân lên gần 1.000 người. Về chất lượng
nguồn nhân lực: Giữ các chức vụ chủ chốt của Nhà máy như Ban Giám đốc,
đội ngũ các Trưởng phòng, Quản đốc các phân xưởng đều có trình độ đại học,
là những thế hệ cán bộ công nhân của Nhà máy trong những ngày đầu được cử
sang Đức đào tạo. Đại bộ phận công nhân chủ yếu là lao động phổ thông, trình
độ văn hóa cấp 2, cấp 3 bậc phổ thông. Vì không có trình độ chuyên môn nên
hầu hết công nhân đều do các chuyên gia và đội ngũ kĩ sư của Nhà máy đào tạo
15
lại. Mặt khác, thông qua thực tiễn sản xuất, công nhân từng bước tích lũy kinh
nghiệm, trình độ tay nghề được nâng lên.
Nhận thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với hoạt động của Nhà
máy, từ năm 1980, Ban Giám đốc thường xuyên mở các lớp thi thợ giỏi, nâng
bậc cho công nhân các phân xưởng sản xuất. Qua các bài kiểm tra lí thuyết và
thực hành, được cọ xát với thực tiễn sản xuất, số lượng công nhân đạt lao động
giỏi qua các hội thi ngày càng tăng. Đây là nhân tố quan trọng có tính quyết định
giúp cho Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng hoạt động có hiệu quả.
1.2.2. Hoạt động sản xuất kinh doanh
Nhà máy Luyện - Cán thép Gia Sàng có chức năng chính là sản xuất
thép, gồm các loại: Thép Cacbon chịu lực dùng trong xây dựng, thép thanh
đường kính từ 10 mm đến 20 mm, thép góc từ 25mm đến 75mm, thép cuộn
đường kính từ 6,5 mm đến 8 mm.
Trong 10 năm đầu hoạt động, Nhà máy sử dụng công nghệ sản xuất thép
bằng phương pháp dùng lò thổi ôxi (hay còn gọi là phương pháp luyện thép
bằng lò LD) do các chuyên gia của nước Cộng hoà Dân chủ Đức lắp đặt. Đây là
một phương pháp sản xuất thép có nhiều ưu điểm mà người Đức có thế mạnh
trên thế giới. Quy trình luyện thép trong lò LD gồm các giai đoạn: Nạp liệu, oxi
hóa, khử oxi và hợp kim hóa, ra thép. Phương pháp luyện thép bằng lò LD có
nhiều ưu điểm vượt trội của so với các phương pháp khác.
+ Thứ nhất: Hiệu quả kinh tế cao, do tiêu hao nguyên liệu ít, hiệu suất
nhiệt cao, giá thành hạ. Tiêu hao kim loại của lò thổi ôxi thường khoảng 1.100
đến 1.140 kg/tấn, tiêu hao vật liệu chịu lửa khoảng 2 đến 5 kg/tấn. Do không
dùng nhiệt lượng bên ngoài, mà hoàn toàn sử dụng nhiệt hoá học và nhiệt vật lí
của bản thân nguyên liệu thổi luyện, nên tiêu hao nguyên liệu và năng lượng
đều rất thấp so với lò Mactanh và lò hồ quang điện. Hiệu quả sản xuất cao và
tiêu hao nguyên liệu thấp làm cho giá thành sản xuất thép bằng lò thổi ôxi cũng
thấp hơn so với sản phẩm sản xuất từ các phương pháp khác. Vì thế, tính cạnh
tranh của sản phẩm Nhà máy trên thị trường rất cao, những năm đầu luôn trong
tình trạng cung ít hơn cầu.
16