ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ TUẤN MINH
NGHIÊN CỨU QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
VỚI QUY HOẠCH XÂY DỰNG ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH
Ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60.85.01.03
LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Lƣơng Văn Hinh
Thái Nguyên - năm 2015
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Đề tài “Nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất với quy
hoạch xây dựngđô thị thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh” là công trình nghiên
cứu của cá nhân tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn này là hoàn toàn
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều có xuất
xứ, nguồn gốc cụ thể. Việc sử dụng các thông tin này trong quá trình nghiên cứu
là hoàn toàn hợp lệ.
Tác giả
Lê Tuấn Minh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo, Phó giáo sư tiến sỹ
Lương Văn Hinh đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn này.
Tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong Khoa Quản lý tài nguyên –
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy, cô thuộc Bộ môn
Quy hoạch đã hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn.
Tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo và cán bộ thuộc Phòng Quản lý đào tạo
sau đại học – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện
thuận lợi và giúp đỡ tôi thực hiện hoàn thành Luận năn.
Tôi xin cảm ơn các cơ quan chức năng và cá nhân có liên quan thuộc
thành phố Hà Tĩnh đã cung cấp tài liệu và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
nghiên cứu đề tài; xin cảm ơn các anh, chị đồng nghiệp và các bạn học viên cao
học ngành Quản lý đất đai Khóa 19 đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện
Luận văn; xin cảm ơn bạn bè tôi, những người thân trong gia đình tôi đã luôn
cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Tuấn Minh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
DANH MỤC CHỮ VI T TẮT
BXD
Bộ Xây dựng
BTNMT
Bộ Tài nguyên Môi trƣờng
GIS
Hệ thống thông tin địa lý
TW
Trung ƣơng
TT
Thông tƣ
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................. 4
1.1. Tình hình công tác lập quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng
đất và quy hoạch xây dựng của một số nƣớc trên thế giới .................................... 4
1.1.1. Công tác quy hoạch ở Cộng hòa Liên Bang Đức; ...................................... 4
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ: .................................................... 5
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc.................. 6
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nƣớc
trên thế giới............................................................................................................ 9
1.2. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Việt Nam ... 10
1.2.1. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nƣớc ta qua các thời kỳ ................................ 10
1.3. Luận chứng về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ....... 18
1.3.1. Tính tất yếu khách quan của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng: ........................................................................................... 18
1.3.2. Nội dung chủ yếu của mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng: .................................................................................................. 19
1.3.3. Vấn đề về chất lƣợng của quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch. ................................................................. 20
1.3.4. Các quy định chung về quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch .... 21
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG ........................................... 27
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................................ 27
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu................................................................................... 27
2.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 27
2.3. Nội dung nghiên cứu .................................................................................... 27
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu .............................................................................. 27
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................ 30
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Hà Tĩnh ..... 30
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ..................................................................................... 30
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................... 32
3.2. Nghiên cứu sự phù hợp và chƣa phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng ở thành phố Hà Tĩnh ................................................................. 40
3.2.1 Quy hoạch sử dụng đất của thành phố Hà Tĩnh ......................................... 40
3.2.2 Quy hoạch xây dựng của thành phố Hà Tĩnh............................................ 48
3.2.3. Phân tích, so sánh về nội dung lập quy hoạch giữa quy hoạch sử dụng đất
và quy hoạch xây dựng: ...................................................................................... 54
3.2.4. Quản lý, tổ chức thực hiện hai loại quy hoạch ở thành phố Hà Tĩnh ....... 70
3.2.5. Đánh giá chung về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng tại thành phố Hà Tĩnh:......................................................................... 72
3.3. Những bất cập giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở thành
phố Hà Tĩnh ......................................................................................................... 73
3.3.1. Những bất cập trong việc áp dụng các văn bản pháp quy ........................ 73
3.3.2. Những bất cập về nội dung giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng ở thành phố Hà Tĩnh .................................................................................. 74
3.3.3. Những bất cập về quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ............................................................................................ 76
3.4. Đề xuất phƣơng hƣớng khắc phục những bất cập để nâng cao chất lƣợng
quy hoạch sử dụng đất trong mối quan hệ với quy hoạch xây dựng .................. 77
3.4.1. Phƣơng hƣớng đối với thành phố Hà Tĩnh ............................................... 77
3.4.2. Phƣơng hƣớng chung để khắc phục tình trạng bất cập, mâu thuẫn giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ......................................................... 79
KẾT KUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................................ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 84
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1. Bảng cơ cấu sản xuất của các ngành Thành phố qua các năm. .......... 32
Bảng 3.2: Hiện trạng phân bố dân cƣ thành phố Hà Tĩnh .................................. 36
Bảng 3.3: Cơ cấu lao động làm việc trong ngành của toàn thành phố ............... 37
Bảng 3.4: Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp trƣớc và sau quy hoạch .................. 42
Bảng 3.5: Cơ cấu đất phi nông nghiệp trƣớc và sau quy hoạch.......................... 47
Bảng 3.6. So sánh một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Hà Tĩnh ........................................................................... 59
Bảng 3.7. So sánh một số chỉ tiêu sử dụng đất đai giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh ......................................... 61
Bảng 3.8. So sánh một số chỉ tiêu về diện tích của một số công trình giữa quy
hoạch sử dụng đất ................................................................................................ 64
và quy hoạch xây dựng trên địa bản thành phố Hà Tĩnh .................................... 64
Bảng 3.9. Mối quan hệ các nội dung trong quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch
xây dựng .............................................................................................................. 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Bản đồ hành chính của thành phố Hà tĩnh .......................................... 30
Hình 3.2 Bản đồ QHSDĐ đến năm 2020 thành phố Hà Tĩnh............................. 40
Hình 3.3. Bản đồ quy hoạch xây dựng chung TP Hà Tĩnh đến năm 2020 ......... 48
Hình 3.4. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng năm 2010 ở
thành phố Hà Tĩnh ............................................................................................... 62
Hình 3.5. So sánh quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đến năm 2020
ở thành phố Hà Tĩnh ............................................................................................ 62
Hình 3.6. Sơ đồ mối quan hệ về mục tiêu giữa QH tổng thể phát triển kinh tế xã hội,
quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng.......................................................... 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta hiện nay, công
tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai đã và đang góp phần quan trọng về
quản lý và sử dụng đất nhƣng cũng còn nhiều vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
Trên một địa bàn, lãnh thổ theo đơn vị hành chính thƣờng có nhiều loại quy
hoạch, mà các quy hoạch đó đều gắn với việc quản lý và sử dụng đất. Do đặc
điểm, chức năng và nhiệm vụ phát triển của các ngành, lĩnh vực khác nhau,
nên việc lập quy hoạch của các ngành cũng có nội dung khác nhau. Việc khai
thác, sử dụng đất trong các quy hoạch của mỗi ngành đều tính đến các yếu tố
bảo vệ môi trƣờng sinh thái và các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để đảm
bảo đƣợc các mục tiêu phát triển của ngành đề ra. Tuy nhiên quy hoạch của
các ngành thƣờng chƣa tính toán đầy đủ những ảnh hƣởng tiêu cực của việc
sử dụng đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của mỗi ngành đến các loại
đất thuộc chức năng quản lý, khai thác của ngành khác.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô thị là các quy
hoạch có sự phù hợp rất chặt chẽ, có ảnh hƣởng, tác động qua lại lẫn nhau. Cả
hai loại quy hoạch này đều có vai trò, vị trí và tầm quan trọng trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi vùng, mỗi địa phƣơng. Về nguyên tắc, quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô thị phải có sự thống nhất
cả về không gian và thời gian, hỗ trợ lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng
của mỗi loại quy hoạch.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau
mà giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị thƣờng không
đƣợc lập đồng bộ với nhau cả về thời gian và không gian, nhiều nội dung còn
trùng lặp, mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau, gây khó khăn cho công tác lập,
thực hiện, kiểm tra, đánh giá công tác quy hoạch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
2
Để khắc phục đƣợc tình trạng nêu trên, tạo sự đồng bộ và nâng cao hiệu
quả của công tác quy hoạch sử dụng đất cũng nhƣ quy hoạch xây dựng đô thị
đô thị trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cần phải nghiên cứu để làm
rõ vai trò và sự phù hợp giữa hai loại quy hoạch trên, làm cơ sở cho việc phối
hợp giữa các cơ quan Nhà nƣớc trong công tác quản lý quy hoạch nói chung,
lập và thực hiện quy hoạch sử dụng đất nói riêng.
Thành phố Hà Tĩnh là một thành phố trực tỉnh Hà Tĩnh, là trung tõm kinh tế,
chính trị - xó hội của tỉnh, trong tƣơng lai là thành phố vệ tinh cho Khu công
nghiệp khai thác mỏ Sắt Thạch Khê. Trong những năm gần đây, công tác quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị ở Thµnh phè Hµ TÜnh đều đạt
những kết quả nhất định, đóng góp cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố. Song giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị đô
thị trên địa bàn Thành phố cũng còn nhiều bất cập, mâu thuẫn, chồng chéo, chƣa
có sự thống nhất và đồng bộ, hạn chế đến vai trò của mỗi loại quy hoạch đối với
kinh tế - xã hội.
Xuất phát từ tình hình trên, việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu quy hoạch
sử dụng đất với quy hoạch xây dựngđô thị thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh”
là rất cần thiết.
2. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị trên địa bàn thành phố Thành phố Hà Tĩnh; Đề xuất giải pháp khắc
phục những bất cập, chƣa hợp lý giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
2.2. Yêu cầu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế -xã hội thành phố Hà Tĩnh
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng đô thị, nghiên cứu sự phù hợp giữa QHSDĐ và QHXD đô thị cụ thể của
thành phố Hà Tĩnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
3
- Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chƣa hợp lý giữa quy
hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của Tp Hà Tĩnh .
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Đánh giá tính phù hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây
dựng đô thị đô thị ở thành phố Hà Tĩnh.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề xuất giải pháp khắc phục những bất cập, chƣa hợp lý giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng đô thị của thành phố Hà Tĩnh .
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình công tác lập quy hoạch và mối quan hệ giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng của một số nƣớc trên thế giới
1.1.1. Công tác quy hoạch ở Cộng hòa Liên Bang Đức;
Quy hoạch không gian hay quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ ở Đức là loại
quy hoạch tổng hợp về sự phát triển giữa các vùng và các ngành của toàn bộ
lãnh thổ. Trong đó, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng là bộ phận của
quy hoạch không gian. Một trong những chức năng của quy hoạch không gian là
điều phối các loại hình quy hoạch, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh từ sự
tranh chấp sử dụng đất đai của vùng lãnh thổ. Quy hoạch sử dụng đất và quy
hoạch xây dựng là một bộ phận của quy hoạch không gian, do chính quyền địa
phƣơng thực hiện ở mức độ chi tiết tƣơng ứng với cấp quận.
Quy hoạch tổng thể phát triển lãnh thổ ở Cộng hòa Liên bang Đức bao gồm
quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Quy hoạch lãnh thổ thực hiện việc sắp
xếp (cấu tạo) không gian; cấu trúc định cƣ của khu vực; các biện pháp hạ tầng
không gian lớn; xác định những khu vực dự phòng, những vùng ƣu tiên. Để thực
hiện các nội dung quy hoạch lãnh thổ cần có các hoạt động của quy hoạch lãnh
thổ, chƣơng trình phát triển lãnh thổ. Nhiệm vụ chính của quy hoạch lãnh thổ là
xây dựng những chƣơng trình và kế hoạch phát triển lãnh thổ, [17] gồm:
- Xây dựng bản phúc trình về trật tự không gian lãnh thổ: Xác định ranh
giới giữa các vùng đô thị, vùng nông thôn, vùng tụt hậu; phân tích, đánh giá các
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa.
- Xây dựng bản đồ địa chính lãnh thổ: Thể hiện đƣợc tất cả hiện trạng, kế
hoạch và biện pháp cần thiết cho quy hoạch lãnh thổ. Đó là các sử dụng trực tiếp
hoặc gián tiếp ảnh hƣởng đến mặt bằng sử dụng đất. Tƣ liệu địa chính nhƣ vậy
là nguồn thông tin quý giá cho các báo cáo, các chƣơng trình và các kế hoạch.
Các dữ liệu đƣợc thu nạp trong máy vi tính và gắn liền với hệ thống thông tin
địa lý (GIS);
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
5
- Chƣơng trình phát triển lãnh thổ là quan trọng nhất, do Chính phủ trung
ƣơng xây dựng;
- Kế hoạch phát triển lãnh thổ là bƣớc cuối cùng của công việc quy hoạch
lãnh thổ.
Tại Cộng hòa Liên bang Đức, Chính phủ của mỗi bang chủ quản việc quy
hoạch lãnh thổ. Trên bình diện bang (cấp quốc gia), việc xây dựng chƣơng trình
phát triển lãnh thổ không mang tính cƣỡng bức và thƣờng đƣợc hội nhập vào
“kế hoạch phát triển lãnh thổ” nêu đầy đủ, chính xác và rất chi tiết các số liệu.
Một điển hình về thành công trong công tác quy hoạch ở Đức là quy hoạch
thủ đô Berlin. Đó là phƣơng án lớn về xây dựng mới và cải tạo trung tâm Berlin,
là một công trƣờng khổng lồ, cả ở trên mặt đất lẫn dƣới đất, vì nó đặt vấn đề
không những là phải xây dựng cùng một lúc ở nhiều khu khác nhau, mà còn
phải cải tạo lại các hệ thống thiết bị và giao thông trên và dƣới mặt đất cho cả
vùng Berlin: hệ thống cống rãnh, điện, nƣớc, điện thoại, tàu điện ngầm, xe lửa,
xe điện, xe hơi... Thành công của quy hoạch tái thiết thủ đô Berlin là đã tạo nên
bộ mặt mới của thành phố, trở thành một thủ đô hiện đại, xứng đáng với vị trí
của nƣớc Đức ở châu Âu và trên thế giới [17] .
Nhƣ vậy, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Cộng hòa Liên
bang Đức không phải là các quy hoạch riêng rẽ mà là các quy hoạch ngành, quy
hoạch bộ phận trong hệ thống quy hoạch lãnh thổ và quy hoạch vùng. Vì vậy,
mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch này có sự thống nhất về không gian và thời
gian quy hoạch; cơ bản phù hợp với nhau và hỗ trợ lẫn nhau về nội dung quy
hoạch. Những mâu thuẫn, đối kháng lẫn nhau về mục tiêu và nội dung giữa hai
loại quy hoạch đƣợc điều chỉnh, đƣợc hạn chế nhằm đạt mục tiêu chung là phát
triển mọi mặt kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trƣờng.
1.1.2. Một số đặc điểm Quy hoạch vùng ở Mỹ:
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ là bộ phận của quy
hoạch vùng. Về mặt lý thuyết, quy hoạch vùng ở Mỹ hiện nay có hai xu hƣớng
chính: Thứ nhất, đặt trọng tâm vào hiệu quả kinh tế thuần tuý, thƣờng dựa trên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
6
việc đƣa ra các mô hình toán và kinh tế định lƣợng rất phức tạp để phân tích
hoạt động kinh tế vùng và từ đó đề ra các hƣớng đầu tƣ hữu hiệu nhất; thứ hai,
nghiên cứu quy hoạch vùng mang tính chất phát triển kinh tế - xã hội hơn là
nhấn mạnh hiệu quả kinh tế thuần tuý; xu hƣớng quy hoạch này mang tính công
bằng xã hội nhiều hơn tính hiệu quả kinh tế, nên chú ý nhiều hơn đến yếu tố môi
trƣờng và phát triển bền vững nên hay đƣợc áp dụng trong thực tế hơn [12] .
Trên thực tế, quy hoạch vùng ở Mỹ gồm quy hoạch vùng nhiều bang, quy
hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận trong một bang. Trong đó, quy hoạch
cấp vùng nhiều bang thực chất là quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở quy mô
lớn, còn quy hoạch vùng bang hoặc vùng một vài quận thực chất là quy hoạch
phối hợp phát triển giữa đô thị trung tâm với các vùng nông thôn xung quanh.
Nhƣ vậy, mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Mỹ thực chất thể hiện chủ yếu ở mối quan hệ giữa quy hoạch xây dựng ngành
của các tập đoàn kinh tế với quy hoạch sử dụng đất của chính quyền các địa
phƣơng. Mặc dù là một nƣớc phát triển, các quy hoạch này đƣợc thống nhất
trong quy hoạch phát triển chung là quy hoạch vùng nhƣng giữa quy hoạch sử
dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Mỹ trong thực tế thƣờng vẫn có những mâu
thuẫn nảy sinh cần giải quyết mà nguyên nhân chính là do quyền lợi chính trị,
kinh tế của các chủ thể thực hiện quy hoạch rất khác nhau. Thực tế ở Mỹ, mỗi
địa phƣơng có một hệ thống rất phức tạp các cơ quan quy hoạch, đƣa ra nhiều
biện pháp quy hoạch chồng chéo trên địa bàn địa phƣơng. Chỉ có các dự án
ngành nhƣ giao thông, thủy lợi - thủy điện, truyền tải điện,... hoặc các dự án phát
triển tổng hợp (bao gồm cả hạ tầng xã hội nhƣ giáo dục, y tế...) trong đó Chính
phủ Liên bang giúp đỡ tài chính cho các chính quyền địa phƣơng nhằm mang lại lợi
ích cho tất cả các bên liên quan - mới có sức hấp dẫn và có thể hiện thực hoá tốt.
1.1.3. Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc
Bên cạnh Luật đất đai, Trung Quốc đã ban hành Luật Quy hoạch nông thôn
và đô thị (có hiệu lực từ ngày 01/01/2008). Công tác quy hoạch ở Trung Quốc
hiện nay chịu sự điều chỉnh chủ yếu của hai Luật này. Quy hoạch sử dụng đất và
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
7
quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc là các quy hoạch độc lập nhƣng có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau, tƣơng đối thống nhất với nhau.
Quy hoạch sử dụng đất đai cả nƣớc của Trung Quốc đƣợc lập lần đầu tiên
vào năm 1987, lần thứ hai vào năm 1998 và lần thứ ba vào năm 2003; nội dung quy
hoạch qua các lần dần dần đƣợc hoàn thiện, phù hợp với từng giai đoạn phát triển.
Quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc đƣợc triển khai với các nhiệm vụ:
đẩy mạnh việc sử dụng đất hợp lý, bảo đảm các lợi ích; bảo vệ tài nguyên thiên
nhiên và cải thiện chất lƣợng môi trƣờng; đẩy mạnh việc sử dụng đất bền vững;
đẩy mạnh phát triển kinh tế; đẩy mạnh việc quản lý nhà nƣớc. Mục tiêu cơ bản
trong quy hoạch sử dụng đất của Trung Quốc là:
- Định rõ việc sử dụng đất hợp lý để giảm thiểu mâu thuẫn sử dụng đất cũng
nhƣ chi phí kinh tế xã hội;
- Bảo vệ đất canh tác, nƣớc và tài nguyên thiên nhiên khác cũng nhƣ di sản
văn hoá và thiên nhiên;
- Đất sử dụng cho mục đích công đƣợc bảo đảm và phân bổ hợp lý;
- Kìm chế sự phát triển lộn xộn khu vực đô thị, cải thiện khu vực sinh sống
của con ngƣời theo hƣớng bền vững;
- Khai thác và củng cố đất có hiệu quả khi cần; đẩy mạnh việc sử dụng đất
có hiệu quả hơn;
- Cải tiến việc ra quyết định và quản lý nhà nƣớc.
Quy hoạch sử dụng đất ở Trung Quốc bao gồm các loại hình: Quy hoạch
tổng thể (bắt buộc theo luật mang tính chiến lƣợc, toàn diện, quy định chính
sách); quy hoạch chuyên ngành (mang tính chuyên đề, đặc thù); quy hoạch chi
tiết (quy hoạch bố trí trên thực địa).
Quy hoạch xây dựng ở Trung Quốc đƣợc điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Quy
hoạch nông thôn và đô thị. Chính phủ Trung Quốc đã đề ra chính sách phát triển
chăm lo nhà ở cho nhân dân lao động là chính sách trung tâm. Trong thời gian
qua, Trung Quốc đã đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quản lý ngành xây dựng
và nhà đất, quản lý thị trƣờng bất động sản [13].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
8
Luật Quy hoạch nông thôn và đô thị của Trung Quốc nhấn mạnh các điểm
chính sau:
- Trong khu vực quy hoạch không đƣợc chiếm dụng đất nông nghiệp để xây
dựng doanh nghiệp, cơ sở công cộng, công trình công cộng và khu nhà ở.
- Khi khảo sát thiết kế và thực hiện quy hoạch, phải bảo vệ nguồn tài
nguyên và di sản văn hóa lịch sử, bảo đảm duy trì bản sắc địa phƣơng, bản sắc
dân tộc và phong cách truyền thống. Trong quá trình khai thác và xây dựng khu
phố mới, phải bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trƣờng sinh thái, thể hiện đặc thù
địa phƣơng. Khi sửa chữa khu phố cũ, phải bảo vệ di sản văn hóa và phong cách
truyền thống.
- Nghiêm cấm bất kỳ đơn vị và cá nhân tùy tiện thay đổi quy hoạch. Trƣớc
khi sửa đổi quy hoạch, cơ quan tổ chức thiết kế quy hoạch phải tổng kết tình
hình thực hiện quy hoạch ban đầu đồng thời báo cáo lên cơ quan phê duyệt.
Về quản lý quy hoạch, thực hiện theo nguyên tắc:
- Phân cấp cụ thể trong việc xét duyệt quy hoạch.
- Khống chế một cách nghiêm ngặt về việc xây dựng các khu chức năng,
bảo đảm thống nhất với quy hoạch và quản lý toàn diện của thành phố.
- Quy hoạch chung và quy hoạch cụ thể phải quy định rõ ràng những nội
dung mang tính bắt buộc. Bất cứ đơn vị và cá nhân nào đều không đƣợc điều
chỉnh những nội dung có tính bắt buộc trong quy hoạch chung và quy hoạch cụ
thể mà đã đƣợc phê chuẩn.
- Quản lý một cách nghiêm ngặt về việc sửa đổi quy hoạch chung sử dụng
đất đai, quy hoạch chung thành phố và quy hoạch làng xã cũng nhƣ thị trấn.
- Quy hoạch xây dựng phải gắn liền với quy hoạch 5 năm phát triển kinh tế
xã hội và quy hoạch thời gian vừa và dài ngành bất động sản.
- Quy mô sử dụng đất đai trong quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng
xã và quy hoạch thị trấn không đƣợc vƣợt quá quy mô sử dụng đất đai đƣợc xác
định trong quy hoạch chung sử dụng đất đai.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
9
- Quy hoạch chung thành phố, quy hoạch làng xã và quy hoạch thị trấn phải
coi phạm vi bảo hộ đồng ruộng cơ bản trong khu quy hoạch là nội dung mang
tính bắt buộc.
Nhƣ vậy, giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng của Trung
Quốc có sự thống nhất cơ bản về mục tiêu, nội dung quy hoạch. Quy mô sử
dụng đất của quy hoạch xây dựng phải phù hợp với quy mô đƣợc xác định trong
quy hoạch sử dụng đất đai. Việc quản lý thực hiện quy hoạch ở Trung Quốc
đƣợc quy định tƣơng đối chặt chẽ, thể hiện ở các khía cạnh: các quy hoạch phải
xác định những nội dung có tính bắt buộc; quy định chặt chẽ những trƣờng hợp
đƣợc phép thay đổi, điều chỉnh quy hoạch; nguyên tắc bảo vệ đất nông nghiệp,
bảo vệ nguồn tài nguyên, di sản văn hóa, bảo vệ môi trƣờng…
Các quy định về quy hoạch và quản lý quy hoạch ở Trung Quốc là một
trong những nhân tố chính bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong mối quan hệ
giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.
1.1.4. Một vài nhận xét qua nghiên cứu kinh nghiệm quy hoạh ở một số nước
trên thế giới
Qua nghiên cứu tình hình về mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng của các nƣớc trên thế giới, đại diện là quy hoạch của các
nƣớc đƣợc trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra một số nội dung cần đƣợc xem
xét để áp dụng nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và
quy hoạch xây dựng ở Việt Nam.
Hầu hết các nƣớc trên thế giới, kể cả các nƣớc phát triển (nhƣ Đức, Mỹ) và
đang phát triển (nhƣ Trung Quốc), có quy trình quy hoạch sử dụng đất đai mang
tính đặc thù riêng. Trƣớc hết họ chú trọng về quy hoạch tổng thể không gian
(hay còn gọi là định hƣớng phát triển tổng thể - Master Plan), trên cơ sở quy
hoạch không gian ngƣời ta tiến hành phân vùng sử dụng đất, sau đó tiến hành
quy hoạch chi tiết cho từng khu vực.
Quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở các nƣớc, nhất là ở các
nƣớc phát triển thƣờng là quy hoạch bộ phận của quy hoạch tổng thể không gian
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
10
nên về cơ bản có sự thống nhất, đồng bộ với nhau về không gian, thời gian, nội
dung quy hoạch; cả hai loại quy hoạch đều hƣớng tới mục tiêu chung là phát
triển kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng.
Trong quy hoạch lãnh thổ cũng nhƣ quy hoạch vùng, quy hoạch sử dụng
đất, các nƣớc đều quan tâm giải quyết việc sắp xếp không gian, các biện pháp hạ
tầng không gian lớn, xác định những vùng ƣu tiên, từ đó thực hiện các hoạt động
của quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch vùng.
Việc lập các quy hoạch thƣờng do các cơ quan công quyền của Nhà nƣớc
thực hiện, có sự tham gia của các tập đoàn, tổ chức kinh tế ở mức độ khác nhau
và thƣờng có sự tham gia rộng rãi của ngƣời dân. Ở các nƣớc phát triển, về cơ
bản các cơ quan nhà nƣớc chỉ tham gia sâu vào quá trình duyệt quy hoạch tổng
thể không gian và phân vùng sử dụng đất. Quy hoạch chi tiết phát triển từng vùng
thông thƣờng đƣợc đấu thầu cho các cơ quan phát triển bất động sản tƣ nhân.
Tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội ở từng nƣớc mà mức độ chặt chẽ, thống
nhất, đồng bộ trong mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây
dựng có khác nhau nhƣng nhìn chung giữa hai loại quy hoạch này cơ bản có sự
thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau theo nguyên tắc quy hoạch xây dựng là sự cụ thể
hóa, chi tiết hóa của quy hoạch sử dụng đất.
1.2. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng ở
Việt Nam
1.2.1. Tình hình công tác quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và mối
quan hệ giữa hai loại quy hoạch ở nước ta qua các thời kỳ
1.2.1.1. Thời kỳ trước năm 1975
a. Giai đoạn từ 1930 đến trước năm 1960
Quy hoạch sử dụng đất đai đƣợc tiến hành lẻ tẻ ở một số đô thị, các khu mỏ
khai thác tài nguyên khoáng sản, một số vùng đồn điền nhƣ cao su, cà phê…
theo nội dung và phƣơng pháp của ngƣời Pháp.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, quy hoạch sử dụng đất của Nhà
nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa cũng chƣa có điều kiện hình thành và phát triển.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
11
Đối với quy hoạch xây dựng, có thể nói, quy hoạch xây dựng ở nƣớc ta bắt
đầu hình thành từ khi Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Ngành Quy
hoạch Đô thị - Nông thôn chính thức đƣợc thành lập cũng đã trên 50 năm. Quy
hoạch xây dựng ở nƣớc ta mới hình thành trong giai đoạn này nên còn khá
khiêm tốn, thực sự còn trong giai đoạn học hỏi, còn chắp vá, chƣa có hệ thống,
chƣa định hình đƣợc hƣớng phát triển rõ ràng [11].
Nhƣ vậy trong giai đoạn này, quy hoạch sử dụng đất ở nƣớc ta hầu nhƣ
chƣa xuất hiện, quy hoạch xây dựng mới hình thành nên chƣa xuất hiện mối
quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng.
b. Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975
Công tác phân vùng quy hoạch nông nghiệp, lâm nghiệp, đã đƣợc đặt ra
ngay từ những năm 1960. Các bộ ngành chủ quản, các tỉnh, huyện đã có những
điều chỉnh về sử dụng đất cho các mục đích giao thông, thuỷ lợi, xây dựng kho
tàng, trại chăn nuôi, bến bãi, nhà xƣởng… mang tính chất bố trí sắp xếp lại việc
sử dụng đất cũng chỉ mới đƣợc đề cập nhƣ một phần nội dung lồng ghép vào các
phƣơng án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp.
Mặc dù chƣa có điều kiện tiến hành theo một nội dung, phƣơng pháp, trình
tự thống nhất trong phạm vi một cấp vị lãnh thổ nào đó nhƣng với tƣ cách là một
phần nội dung của các phƣơng án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy
hoạch sử dụng đất đai đã tạo ra những cơ sở có tính khoa học cho việc tính toán
các phƣơng án sản xuất có lợi nhất.
Đối với quy hoạch xây dựng, với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ các nƣớc
XHCN trƣớc đây nhƣ Liên Xô, Hungary, Triều Tiên, Cộng hòa dân chủ Đức, Ba
Lan, Trung Quốc…, một số đồ án quy hoạch cho cho các địa phƣơng nhƣ thị xã
Hồng Gai (thành phố Hạ Long), Hà Tĩnh, Hà Nội, Bắc Giang, Vinh… đã đƣợc
lập. Các quy hoạch này ít có điều kiện trở thành hiện thực do hoàn cảnh còn
chiến tranh, nƣớc ta chƣa thống nhất, tiềm lực đất nƣớc còn phải dành cho công
cuộc chống Mỹ, thống nhất đất nƣớc. Tuy nhiên, kết quả quy hoạch xây dựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
12
cũng đóng góp đắc lực cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng nhƣ trên phạm
vi cả nƣớc sau khi đất nƣớc thống nhất.
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong giai
đoạn này chƣa có biểu hiện rõ rệt và giữa hai loại quy hoạch chƣa có tác động
qua lại một cách đáng kể do quy hoạch sử dụng đất vẫn chỉ là một phần nội
dung của các phƣơng án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp có đối tƣợng chủ
yếu là đất nông lâm nghiệp, trong khi đó quy hoạch xây dựng tập trung nghiên
cứu về phát triển các đô thị.
1.2.1.2. Thời kỳ từ năm 1975 đến trước khi có Luật Đất đai 1993
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
- Từ năm 1975 - 1981 là thời kỳ triển khai hàng loạt các nhiệm vụ điều tra
cơ bản trên phạm vi cả nƣớc. Vào cuối năm 1978, lần đầu tiên đã xây dựng đƣợc
các phƣơng án phân vùng nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến nông
lâm sản của cả nƣớc, của 7 vùng kinh tế và của tất cả 44 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ƣơng trình Chính phủ xem xét phê duyệt. Trong các tài liệu này đều
đã đề cập đến quy hoạch sử dụng đất đai, coi đó nhƣ những căn cứ khoa học
quan trọng để luận chứng các phƣơng án phát triển ngành.
Thực hiện Chỉ thị số 100/TW ngày 13 tháng 01 năm 1981 về cải tiến công
tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và ngƣời lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp, thời kỳ này xuất hiện cụm từ “Quy hoạch Hợp tác xã”
mà thực chất công tác này tập trung vào quy hoạch đồng ruộng với nội dung chủ
yếu của nó là bố trí sử dụng đất đai.
Bƣớc vào thời kỳ 1981 - 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (1982) đã
quyết định: “Xúc tiến công tác điều tra cơ bản, dự báo, lập Tổng sơ đồ phát triển
và phân bố lực lƣợng sản xuất…”. Chính phủ ra Nghị quyết số 50 về xây dựng
quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của 500 đơn vị hành chính cấp huyện đƣợc
ví nhƣ 500 “pháo đài”. Quy hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng
trong các quy hoạch hoạch tổng thể kinh tế - xã hội này tuy đã có bƣớc phát triển
nhƣng vẫn chƣa phải là một quy hoạch riêng biệt nên vẫn còn nhiều hạn chế.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
13
Đây là giai đoạn có tính bƣớc ngoặt về bố trí sắp xếp lại đất đai trong hoạch
tổng thể kinh tế - xã hội. Điều này đƣợc phản ánh ở chỗ nội dung chủ yếu của
Tổng sơ đồ tập trung vào quy hoạch vùng chuyên môn hoá và các vùng sản xuất
trọng điểm của lĩnh vực nông nghiệp, các vùng trọng điểm của lĩnh vực công
nghiệp, xây dựng, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạ tầng và đô thị.
Khi Luật đất đai năm 1987 ra đời (có hiệu lực thi hành từ tháng 01 năm
1988), đánh dấu một bƣớc mới về quy hoạch sử dụng đất đai. Luật Đất đai 1988
quy định quy hoạch sử dụng đất đai có tính pháp lý và là một trong những nội
dung cơ bản của công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai.
Trong thời gian từ 1988 đến 1990, Tổng cục Quản lý Ruộng đất đã chỉ đạo
một số địa phƣơng lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, cấp xã theo quy định
của Luật đất đai 1988. Số lƣợng các quy hoạch này trên phạm vi cả nƣớc chƣa
nhiều nhƣng qua đó Tổng cục Quản lý Ruộng đất và các địa phƣơng đã trao đổi,
hội thảo và rút ra những vấn đề cơ bản về nội dung và phƣơng pháp quy hoạch
sử dụng đất, làm cho quy hoạch sử dụng đất không chỉ đơn thuần đáp ứng việc
sử dụng đất đai mà trở thành một nội dung, đồng thời là công cụ đắc lực cho
công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai của các địa phƣơng.
Tổng cục Quản lý Ruộng đất lần đầu tiên ban hành văn bản hƣớng dẫn về
quy hoạch phân bổ đất đai chủ yếu đối với cấp xã (Thông tƣ số 106/TT-QHKH
ngày 15 tháng 4 năm 1991) với những nội dung chính nhƣ sau:
- Xác định ranh giới về quản lý, sử dụng đất;
- Điều chỉnh một số trƣờng hợp về quản lý và sử dụng đất;
- Phân định và xác định ranh giới những khu vực đặc biệt;
- Một số nội dung khác về chu chuyển 5 loại đất, mở rộng diện tích đất sản
xuất, chuẩn bị cho việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây
dựng các văn bản chính sách đất đai, kế hoạch sử dụng đất đai.
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Quy hoạch xây dựng nói chung, quy hoạch xây dựng đô thị nói riêng ở
nƣớc ta trong giai đoạn trƣớc đổi mới (1986) vẫn còn khiêm tốn, chƣa có hệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
14
thống, chƣa định hình đƣợc hƣớng phát triển rõ ràng. Mặc dù thành quả quy
hoạch xây dựng trong thời kỳ này còn hạn chế nhƣng nó cũng đóng góp đắc lực
cho công cuộc xây dựng ở miền Bắc cũng nhƣ trên phạm vi cả nƣớc sau khi đất
nƣớc thống nhất. Đồng thời, nó cũng đặt nền móng cho sự phát triển tiến bộ của
công tác quy hoạch xây dựng giai đoạn tiếp theo.
Từ khi Đảng ta đề ra đƣờng lối đổi mới đất nƣớc tại Đại hội toàn quốc lần
thứ VI năm 1986, đánh dấu quá trình chuyển mình tích cực nhất của quy hoạch
xây dựng đô thị. Mặc dù còn nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về quy
hoạch, quản lý đô thị, công tác quy hoạch phát triển đô thị bƣớc đầu đã có
những đóng góp đáng kể cho những thành công trong giai đoạn tiếp theo. Đây là
giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phƣơng pháp nghiên cứu của công tác
quy hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế kế
hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn đô thị
nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn toàn do Nhà
nƣớc cung cấp. Hầu nhƣ chƣa có hình ảnh các khu nhà do dân tự xây, các khách
sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu ấn của tƣ nhân.
Đây là giai đoạn tìm tòi, dần dần thay đổi các phƣơng pháp nghiên cứu của
công tác quy hoạch đô thị. Chuyển từ những nhận thức sản phẩm của nền kinh tế
kế hoạch sang một thời kỳ mới, một giai đoạn nhiều khó khăn của phần lớn
đô thị nơi mà mọi nguồn vốn dành cho phát triển và xây dựng đô thị hoàn
toàn do Nhà nƣớc cung cấp. Hầu nhƣ chƣa có hình ảnh các khu nhà do dân tự
xây, các khách sạn, văn phòng hay các công trình vui chơi giải trí mang dấu
ấn của tƣ nhân.
Giai đoạn này có rất ít văn bản chính thức hƣớng dẫn lập quy hoạch đô thị
của Việt Nam. Quyết định 322/BXD của Bộ Xây dựng hƣớng dẫn về quy trình
từ giai đoạn lập đến phê duyệt các đồ án Quy hoạch đô thị này đã phản ánh sự
chuyển mình của quy hoạch xây dựng để đáp ứng yêu cầu thực tế, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất đai, những thử nghiệm phƣơng thức khai thác chuyển đổi để tạo
nguồn lực tài chính xây dựng đô thị.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
15
Hàng loạt các đô thị trên toàn quốc đã dần đƣợc lập quy hoạch chung để có
những dự báo về quy mô dân số, xác định quy mô đất đai, bố trí trên tổng mặt
bằng, xác định những định hƣớng về phát triển không gian và hệ thống hạ tầng
kĩ thuật cho đô thị. Nhiều đồ án quy hoạch đô thị sau khi lập và phê duyệt đã
đƣợc các chính quyền đô thị coi trọng và vận hành tƣơng đối hiệu quả trong
quản lý đầu tƣ cải tạo và xây dựng đô thị.
Quy hoạch đô thị đã có mối quan hệ chặt chẽ hơn về mặt quản lý nhà nƣớc
với vấn đề quản lý quy hoạch và phát triển đô thị, quản lý đầu tƣ xây dựng, quản
lý đất đai, nhà ở và sử dụng các công trình đô thị. Đặc biệt là sự hình thành các
loại hình lập quy hoạch khu công nghiệp tập trung và khu đô thị mới, là tiền đề
cơ sở cho sự mở rộng mạng lƣới đô thị quốc gia trong giai đoạn tiếp theo.
* Thực trạng mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch:
Mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng trong thời
kỳ này dần hình thành rõ nét, nhất là trong giai đoạn sau đổi mới. Mặc dù nội
dung và phƣơng pháp của cả hai loại quy hoạch còn những nhƣợc điểm, chƣa
tính toán đầy đủ các điều kiện khách quan, quy hoạch ít chú trọng đến tổ chức
không gian, thiên về lập quy hoạch chia lô nhƣng giữa hai loại quy hoạch đã có
những tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau, đồng thời cũng xuất hiện những chồng
chéo, mâu thuẫn với nhau. Đối tƣợng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất
thời kỳ này không chỉ là đất nông lâm nghiệp mà bao gồm tất cả các loại đất (5
loại đất chính theo quy định của Luật Đất đai năm 1987). Quy hoạch xây dựng
đã có liên quan nhiều đến quản lý đất đai. Bên cạnh những mặt thống nhất, hỗ
trợ lẫn nhau thì trong mối quan hệ giữa hai loại quy hoạch xuất hiện những mâu
thuẫn, chồng chéo mà một trong những nguyên nhân, đồng thời là sự biểu hiện
của nó là sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các cơ quan quản lý nhà
nƣớc về đất đai và về xây dựng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
16
1.2.1.3. Thời kỳ từ khi có Luật Đất đai năm 1993 đến nay
* Đối với quy hoạch sử dụng đất:
Luật Đất đai năm 1993 ra đời, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ hơn cho công tác
quy hoạch sử dụng đất đai đai. Tổng cục Địa chính đã tổ chức các Hội nghị tập
huấn, triển khai công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai và chỉ đạo thực
hiện thí điểm ở 10 tỉnh, 20 huyện; ban hành quy trình, định mức và đơn giá điều
tra quy hoạch sử dụng đất đai áp dụng trong phạm vi cả nƣớc.
Công tác quy hoạch sử dụng đất đai đƣợc triển khai mạnh mẽ và có bài bản
hơn ở cả 4 cấp là: cả nƣớc, tỉnh, huyện, xã. Báo cáo “Quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất đai cả nƣớc đến năm 2000” đã đƣợc Chính phủ trình Quốc hội khoá IX
tại kỳ họp thứ 10 (15/10 - 12/11/1996) và kỳ họp thứ 11 (02/4 - 10/5/1997).
Quốc Hội đã ra Nghị quyết số 01/1997/QH9 ngày 10/5/1997 thông qua kế hoạch
sử dụng đất đai đến năm 2000 của cả nƣớc.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XI, Quốc Hội có Nghị quyết số
29/2004/QH11 thông qua quy hoạch sử dụng đất đai cả nƣớc đến năm 2010 và
kế hoạch sử dụng đất đai đến năm 2005.
Sau khi Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai đƣợc ban hành, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng đã ban hành Thông
tƣ số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 về việc hƣớng dẫn lập, điều chỉnh
và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, đồng thời Bộ đã ban hành
Quy trình, Định mức, đơn giá lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai các cấp;
Định mức sử dụng một số loại đất phi nông nghiệp.
Đến nay, kết quả triển khai công tác Quy hoạch sử dụng đất đai trên phạm
vi cả nƣớc nhƣ sau:
- Quy hoạch sử dụng đất đai đai cấp tỉnh:
Đến nay đã có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng (bao gồm cả tỉnh
Hà Tây cũ) xây dựng xong phƣơng án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến
năm 2010 và lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối (2006 - 2010) và đã đƣợc
Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng tổ chức thẩm định. Trong đó có 62 tỉnh đã đƣợc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN
17
Chính phủ xét duyệt; riêng thành phố Hà Nội đang trình Chính phủ xét duyệt; tỉnh
Hà Giang đang hoàn chỉnh tài liệu theo ý kiến thẩm định của các Bộ, ngành để trình
Hội đồng nhân dân thông qua trƣớc khi trình Chính phủ xét duyệt. Có một số tỉnh,
thành phố đang triển khai lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020.
- Quy hoạch sử dụng đất đai cấp huyện:
Cả nƣớc có 531/681 huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoàn thành
việc lập quy hoạch đến năm 2010 (chiếm 77,97%); 98 huyện đang triển khai
(chiếm 14,4%); còn lại 52 huyện chƣa triển khai (chiếm 7,64%), phần lớn là các
đô thị (quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh).
- Quy hoạch sử dụng đất đai xã, phường, thị trấn (cấp xã):
Cả nƣớc có 7.576/11.074 xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là cấp xã) đã lập
quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 (đạt 68,41%); 1.507 xã đang triển khai
(đạt 13,61%); còn lại 1.991 xã chƣa triển khai (chiếm 17,98%).
* Đối với quy hoạch xây dựng:
Thời kỳ này đƣợc xem nhƣ một thời kỳ đô thị hóa mạnh mẽ với nhiều chuyển đổi
lớn trong phát triển đô thị Việt Nam. Luật Xây dựng đƣợc ban hành đã tạo các cơ sở
cho công tác quy hoạch và quản lý đô thị có tính luật hóa ngày càng cao, hƣớng tới
việc tăng cƣờng công tác quản lý đô thị, đổi mới việc lập và xét duyệt quy hoạch, kỷ
cƣơng trong quản lý đất đai, tạo nguồn tài chính cho nguồn lực phát triển đô thị... và
“đổi mới sang hình thức quy hoạch tạo các dự án phát triển đô thị tập trung thay cho
xu hƣớng chia lô nhỏ lẻ của giai đoạn trƣớc”.
Năm 1998, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia đã đƣợc
Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt nhằm xác lập các định hƣớng lớn cho các vùng
đô thị trên toàn quốc, dự báo sự tăng trƣởng của hệ thống đô thị và định hƣớng
phân bố hệ thống đô thị.
Từ năm 2003, sau khi Luật Xây dựng và Nghị định về Quy hoạch xây
dựng ra đời đã khẳng định các loại hình quy hoạch gồm quy hoạch xây dựng
vùng, quy hoạch xây dựng đô thị (bao gồm quy hoạch chung xây dựng đô thị và
quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị), quy hoạch xây dựng điểm dân cƣ nông thôn
và đƣa nội dung “Thiết kế đô thị” vào công tác quy hoạch.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN