Tải bản đầy đủ (.doc) (47 trang)

Thất nghiệp tại việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (725.2 KB, 47 trang )

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

Môn: KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: Thất nghiệp ở Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp.

Lớp 43-QTL38.2
Nhóm học tập: 07


2

Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
Lớp 43-QTL38.2
Nhóm học tập: 07.

Môn: Kinh tế vĩ mô

Đề tài: Thất nghiệp ở Việt Nam. Thực trạng, nguyên nhân và giải
pháp.
Danh sách thành viên:
Họ và tên

MSSV

1/. Nguyễn Văn Toại

1351101030112 (Nhóm trưởng)



2/. Trần Thị Bích Trâm

1351101030114

3/. Trần Lê Hạnh Trang

1351101030124

4/. Lê Ngọc Tuấn

1351101030130

5/. K Luys

1351101030141


3

MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU...................................................................................................05
1. Tính cấp thiết của đề tài..............................................................................................05
2. Tình hình nghiên cứu..................................................................................................05
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu..................................................................................05
3.1. Đối tượng nghiên cứu..............................................................................................05
3.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................05
4. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu......................................................................05
B. NỘI DUNG............................................................................................................06
I. Tổng quan về thất nghiệp............................................................................................06

1. Khái niệm, ý nghĩa......................................................................................................06
2. Phân loại thất nghiệp..................................................................................................06
3. Tỷ lệ thất nghiệp.........................................................................................................07
II. Thực trạng..................................................................................................................08
1. Số liệu.........................................................................................................................08
1.1. Một số nước phát triển giai đoạn khủng hoảng kinh tế..........................................08
1.2. Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam từ năm 1991 – 2015...................................................10
2. Đánh giá chung Việt Nam so với thế giới..................................................................15
III. Nguyên nhân.............................................................................................................17
1. Định hướng phát triển kinh tế:...................................................................................17
2. Sự tác động của chính phủ, pháp luật.........................................................................18
3. Sự tác động của quan hệ chính trị Việt Nam với các nước.......................................27
4. Sự tác động của nền kinh tế chung toàn cầu đến Việt Nam......................................30
5. Sự tác động của nền giáo dục, chất lượng người lao động........................................32
5.1. Sự tác động của nền giáo dục..................................................................................32
5.2. Chất lượng người lao động......................................................................................33
6. Các nguyên nhân khác................................................................................................34
IV. Giải pháp...................................................................................................................34
1. Hạ thấp tỉ lệ thất nghiệp theo lý thuyết......................................................................34
2. Kích cầu......................................................................................................................35
3. Tạo mọi điều kiện cho lao động mất việc..................................................................36


4

4. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm thất nghiệp................................................................37
5. Hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh thương mại hàng hóa và dịch vụ, bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ........................................................................................................38
6. Sự can thiệp của chính phủ, thể chế chính trị............................................................38
7. Hướng nghiệp.............................................................................................................38

8. Những biện pháp khác................................................................................................39
9. Dự báo tương lai - Đề xuất của nhóm tác giả............................................................40
9.1 Dự báo tương lai.......................................................................................................40
9.2 Những công cụ và giải pháp lựa chọn......................................................................45


5

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là một vấn đề trung tâm của mọi xã hội, mọi nền kinh tế; nhất là
trong thời đại hiện nay khi tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ngày càng nhanh chóng.
Thất nghiệp luôn tồn tại trong các nước, kể cả các nước phát triển cũng như các nước
đang phát triển trong hầu hết các giai đoạn phát triển của mình.
Thất nghiệp tác động rất lớn đến nền kinh tế và xã hội. Khi mức thất nghiệp cao
xảy ra thì tài nguyên bị lãng phí, thu nhập của nhân dân bị giảm sút và càng nan giải
đối với những quốc gia có nền kinh tế thị trường. Về mặt kinh tế, mức thất nghiệp cao
trong thời kì GNP thực tế thấp hơn mức tiềm năng của nền kinh tế có thể đạt được;
điều đó đi liền số lượng lớn sản lượng bị bỏ đi hoặc không sản xuất. Về mặt xã hội,
thất nghiệp gây ra các hiện tượng tiêu cực như: trộm cắp, cờ bạc, sa sút đạo đức..., gây
ra tổn thất về con người, xã hội, tâm lí và sự ổn định về tư tưởng chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu
Có thể nói thất nghiệp và việc giải quyết việc làm hiện đang là vấn đề bức xúc
của toàn xã hội, là những vấn đề mang tính cấp thiết cần phải được giải quyết. Do tầm
quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề này, và đó cũng là lý do nhóm chúng em chọn
đề tài “Thất nghiệp ở Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, nhóm đã tiến hành tìm kiến thông tin trên
các trang thông tin của Bộ kế hoạch và đầu tư và những bài viết nghiên cứu của nhiều
tác giả.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tình hình thất nghiệp bỏ qua bất bình đẳng xã hội, tội phạm hay bạo lực. Giờ
đây, nỗi sợ hãi kinh hoàng đang hoành hành trên toàn thế giới lại là thất nghiệp – vấn
đề không thể kiếm được việc làm và hiện tượng thất nghiệp ngày càng tăng. Thất
nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt xa mọi mối lo lắng thông
thường khác, kể cả đói nghèo, nhất là khủng hoảng kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng
hộ gia đình. Chính vì những vấn đề trên mà nhóm chúng em đã chọn đối tượng nghiên
cứu là “Tình trạng thất nghiệp ở Việt Nam”.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Như tên đề tài mà nhóm chúng em đã chọn “Thất nghiệp ở Việt Nam, thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp” thì phạm vi nghiên cứu là ở Việt Nam.
4. Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu
Nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, kinh tế vĩ mô đã vạch
rõ những vấn đề phát sinh trong đó thể hiện ở những vấn đề: Thất nghiệp, việc làm,


6

lạm phát.... Tuy nhiên, đề tài này chỉ đi vào nghiên cứu vấn đề “Thất nghiệp ở Việt
Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”.
Đề tài nghiên cứu này nhằm mục đích đưa ra nhận thức đúng đắn và sự vận
dụng có hiệu quả những giải pháp làm giảm thất nghiệp. Từ đó có thể nêu lên được cơ
sở lý luận để xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Việc nhận thức và vận
dụng đúng đắn vấn đề này giúp ta giải quyết được những thực trạng này được là sự
giảm sút to lớn về mặt sản lượng và đôi khi còn kéo theo nạn lạm phát cao. Đồng thời
nó còn giải quyết được nhiều vấn đề xã hội. Bởi vì thất nghiệp tăng số người không có
công ăn việc làm nhiều hơn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội như: cờ bạc,
trộm cắp... làm xói mòn nếp sống lành mạnh, có thể phá vỡ nhiều mối quan hệ truyền
thống, gây tốn thương về mặt tâm lý và niềm tin của nhiều người, tình hình việc làm
của người lao động Việt nam hiện nay, phương hướng giải quyết việc làm của Nhà

nước, phương hướng giải quyết việc làm của Nhà nước trong thời gian tới.
B. NỘI DUNG
I. Tổng quan về thất nghiệp
1. Khái niệm, ý nghĩa
Thất nghiệp có nghĩa là một bộ phận lao động không được thuê mướn (không
có việc làm) hoặc chưa kiếm được việc làm.
Người trong tuổi lao động: là những người ở độ tuổi có nghĩa vụ và quyền lợi
lao động được quy định trong hiến pháp, lao động có độ tuổi từ đủ 15 đến 60 (đối với
Nam) và từ đủ 15 đến 55 (đối với nữ).
Công thức tính người ngoài độ tuổi lao động:
Người ngoài tuổi lao động = dân số - tuổi lao động.
Người trong tuổi lao động có hai loại Lực lượng lao động:
+ Người có việc làm: làm trong hoạt động kinh tế xã hội.
+ Người thất nghiệp: người không có việc làm nhưng mong muốn tìm được
việc.
Ngoài những người đang có việc làm và thất nghiệp, những người còn lại trong
độ tuổi lao động được coi là những người không nằm trong lực lượng lao động bao
gồm: người đi học, nội trợ gia đình, những người không có khả năng lao động do đau
ốm, bệnh tật và một bộ phận không muốn tìm việc làm với nhiều lý do khác nhau.
2. Phân loại thất nghiệp
• Phân theo loại hình thất nghiệp:
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào bộ phận dân cư nào,
ngành nghề nào, giới tuổi nào. Cần biết những điều đó để hiểu rõ đặc điểm, đặc tính,
mức độ tác hại của nó đến nền kinh tế, các vấn đề liên quan:
+ Thất nghiệp chia theo giới tính (nam, nữ).


7

+ Thất nghiệp chia theo lứa tuổi (tuổi, nghề).

+ Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn).
+ Thất nghiệp chia theo ngành nghề (ngành kinh tế, nông nghiệp…).
+ Thất nghiệp chia theo dân tộc, chủng tộc.
• Phân loại theo lý do thất nghiệp:
+ Do bỏ việc: tự ý xin thôi việc vì những lý do khác nhau như cho rằng lương
thấp, không hợp nghề, hợp vùng.
+ Do mất việc: Các hãng cho thôi việc do những khó khăn trong kinh doanh.
+ Do mới vào: Lần đầu bổ sung vào lực lượng lao động nhưng chưa tìm được
việc làm (thanh niên đến tuổi lao động đang tìm kiếm việc, sinh viên tốt nghiệp đang
chờ công tác…).
+ Quay lại: những người đã rời khỏi lực lượng lao động nay muốn quay lại làm
việc nhưng chưa tìm được việc làm.
Như vậy thất nghiệp là con số mang tính thời điểm nó luôn biến đổi không
ngừng theo thời gian. Thất nghiệp kéo dài thường xảy ra trong nền kinh tế trì trệ kém
phát triển và khủng hoảng.
• Phân loại theo nguồn gốc thất nghiệp:
+ Thất nghiệp tạm thời: Thất nghiệp tạm thời xảy ra khi có một số người lao
động trong thời gian tìm kiếm công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý
muốn riêng (lương cao hơn, gần nhà hơn...).
+ Thất nghiệp cơ cấu: Thất nghiệp cơ cấu xảy ra khi có sự mất cân đối cung cầu
giữa các thị trường lao động (giữa các ngành nghề, khu vực...) loại này gắn liền với sự
biến động cơ cấu kinh tế và khả năng điều chỉnh cung của các thị trường lao động. Khi
sự lao động này diễn ra mạnh, kéo dài, nạn thất nghiệp trở nên trầm trọng và kéo dài
theo.
+ Thất nghiệp do thiếu cầu: Do sự suy giảm tổng cầu. Loại này còn được gọi là
thất nghiệp chu kỳ bởi ở các nền kinh tế thị trường nó gắn liền với thời kỳ suy thoái
của chu kỳ kinh doanh, xảy ra ở khắp mọi nơi mọi ngành mọi nghề.
+ Thất nghiệp do yếu tố ngoài thị trường: Nó xảy ra khi tiền lương được ấn
định không bởi các lực lượng thị trường và cao hơn mức cân bằng thực tế của thị
trường lao động.

3. Tỷ lệ thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm (lao động
thất nghiệp) tính trên tổng số lao động trong xã hội (lực lượng lao động).
Lực lượng lao động bao gồm những người làm việc và những người thất
nghiệp.


8

Công thức: LF = E + U
Trong đó:
+ E là tổng số lao động có việc làm.
+ U là số lao động thất nghiệp.
+ LF là lực lượng lao động.
Có một số thành phần thuộc lực lượng lao động nhưng thường di chuyển ra
khỏi lực lượng lao động như: người lao động tự ý nghỉ việc, mất khả năng lao động,
nghỉ hưu. Vì vậy, các số liệu thống kê về lực lượng lao động và thất nghiệp chỉ có tính
chất thời điểm.
Tỷ lệ thất nghiệp phản ánh phần trăm thất nghiệp so với lực lượng lao động,
hay là tỷ lệ lực lượng lao động không có việc nhưng vẫn đăng ký tìm việc.
Công thức: % U = U/LF x 100.
II. Thực trạng
1. Số liệu
Nhóm sẽ tiến hành điều tra thực trạng qua số liệu. Để có cái nhìn tổng quan và
đánh giá chính xác hơn về thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam, nhóm sẽ tiến hành
phân tích, so sánh số liệu tại Việt Nam so với một số nước trên thế giới.
1.1. Một số nước phát triển giai đoạn khủng hoảng kinh tế
Phục hồi kinh tế toàn cầu chưa cải thiện được tình trạng thất nghiệp. Số người
mất việc làm trên toàn thế giới năm 2010 đã tăng lên mức kỷ lục 205 triệu người. Theo
số liệu thống kê của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), mặc dù nhiều nước đã đạt tốc

độ phục hồi tăng trưởng mạnh mẽ, song số người thất nghiệp chính thức trên toàn thế
giới vẫn đứng ở con số 205 triệu người, không cải thiện so với số liệu công bố năm
2009, cao hơn 27,6 triệu người so với thời kỳ tiền khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2007.
• Nam Phi:
Tỷ lệ thất nghiệp: 24.7% cao nhất thế giới thống kê năm 2011.
Kể từ năm 1997, tỷ lệ thất nghiệp tại Nam Phi, nền kinh tế lớn nhất châu lục
đen, luôn ở mức trên 20%. Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp của quốc gia này lên tới
25,2%. Thất nghiệp trong các ngành xây dựng, khai khoáng và khai thác đá cao hơn
hẳn so với ngành sản xuất và bán lẻ. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Nam
Phi vẫn ở mức dưới 7%.
• Tây Ban Nha:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 21,6%.


9

Trong quý I/2012, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này lên tới 21,3%, cao hơn gấp 2
lần so với mức trung bình tại châu Âu. 4,9 triệu trên tổng số 45 triệu lao động không
có việc làm khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Tây Ban Nha lên cao nhất trong 14 năm.
• Hy Lạp:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 17,7%.
Suy thoái kinh tế khiến tỷ lệ thất nghiệp tại Hy Lạp tăng kỷ lục, lên mức 21,7%
vào tháng 2 vừa qua. 54% người dân Hy Lạp trong độ tuổi 15 đến 25 không có việc
làm. Tổng cộng, có tới 1,1 triệu người thất nghiệp tại quốc gia này, tăng 42% so với
hồi tháng 2 năm 2010.
• Ire land:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 14,4%.
Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại nước này là 14,5%, tăng vọt so với mức
4,5% của năm 2007. Nhiều công ty phải sa thải nhân viên ồ ạt. Điển hình phải kể đến

Ngân hàng Trung ương với hơn 1.000 nhân viên bị sa thải. Tính đến cuối năm 2011,
ngân hàng này chỉ còn 13.200 nhân viên, giảm từ 16.000 người hồi cao điểm bong
bóng bất động sản năm 2008.
• Bồ Đào Nha:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 12,7%
Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp của Bồ Đào Nha là 12,7%. Tuy nhiên, con số này
đã tăng lên mức kỷ lục 14,9% trong quý I/2012 khi nước này lâm vào suy thoái kinh tế
tồi tệ nhất kể từ những năm 1970. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ cũng tăng lên
36,2%.
• Iran:
Tỷ lệ thất nghiệp: 11.5%.
Theo chính quyền Iran, khoảng 15% lực lượng lao động nước này không có
việc làm. Tuy nhiên, trên thực tế con số này còn lớn hơn do nhiều việc làm chính
thống không trả đủ lương cho người lao động sinh sống.
• Columbia:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 10,8%.
Kể từ khi chính phủ Colombia kiểm soát được nội chiến và lực lượng nổi dậy,
kinh tế nước này tăng trưởng nhanh chóng. Tuy nhiên, Colombia vẫn có tỷ lệ thất
nghiệp cao nhất trong khu vực châu Mỹ Latinh.
Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của nước này đã giảm xuống còn 10,8% từ
mức 11,8% của năm 2010, con số này vẫn cao hơn 2 điểm phần trăm so Venezuela,
nước đứng thứ hai trong khu vực về tỷ lệ lao động không có việc làm. Trong tháng 3
vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp tại thủ đô Quibdo của Colombia lên tới 19,1%.


10

• Thổ Nhỉ Kỳ:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,8%.
Dù đạt được mức tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong suốt 10 năm qua, thị

trường lao động của Thổ Nhĩ Kỳ lại khá ảm đạm. Từ năm 2002 đến 2005, tăng trưởng
kinh tế nước này vượt mức 7% nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại luôn ở quanh ngưỡng 10%.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ lệ thất nghiệp trong lao động trẻ tại
nước này có xu hướng giảm, từ mức 17,1% vào tháng 12/2007 xuống còn 15,4% vào
tháng 3/2012.
• Hà Lan:
Tỷ lệ thất nghiệp 2011: 9,6%
Trong tháng 5, tỷ lệ thất nghiệp tại Hà Lan lên tới 12,6%, dù đã giảm 0,3% so
với tháng 4 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức 9,6% của năm 2011. Theo một
nghiên cứu mới đây của OECD, cứ 5 lao động trẻ Hà Lan thì có một người không có
việc làm. Trong tháng 3 vừa rồi, tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ lên tới
26,7%, tăng vọt so với mức 18,5% vào tháng 12/2007.
• Pháp:
Tỷ lệ thất nghiệp năm 2011 của Pháp là 9,3%, nhưng hiện nay con số này đã
tăng lên 10%, cao nhất trong 13 năm.
Trong khi đó các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới như Mỹ, Nhật bản,
… có tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn. Cụ thể:
Tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ năm 2010 là 7.8, năm 2013 ở mức 7,4% - thấp nhất
trong vòng 5 năm qua. Ở Nhật Bản tỷ lệ thất nghiệp rất thấp trong tháng 4 là 3,8%,
giảm 0.2 so với tháng 3 (4%) thấp nhất trong vòng 9 năm qua. Tỷ lệ thất nghiệp ở nam
giới trong độ tuổi 15- 24 giảm 1.7% so với 8% năm ngoái. ở nữ giới, con số này là
6.9%, giảm 1.3%.
1.2. Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam từ năm 1991 – 2015
Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp (%) của dân số trong độ tuổi lao động, hoạt động
kinh tế ở thành phố và các khu vực lãnh thổ ở Việt Nam. (nguồn: thời báo kinh tế Việt
Nam)
Năm

1995


1997

1998

Cả nước

6,08

5,88

6,01

Hà Nội

7,62

7,71

8,56

Hải Phòng

7,87

8,11

8,09


11


Đà Nẵng

5,81

5,53

5,42

TPHCM

6,39

5,68

6,13

Miền núi trung du
Bắc Bộ

6,85

6,42

6,34

Đồng Bằng Sông
Hồng

7,46


7,57

7,56

Bắc Trung Bộ

6,6

6,96

6,69

Duyên Hải Miền
Trung

4,97

5,57

5,42

Tây Nguyên

2,79

4,24

4,99


Đông Nam Bộ

6,35

5,43

5,81

Bảng 2: Thống kê tỷ lệ thất nghiệp trong những năm gần đây ở Việt Nam:
Năm
Tỷ
(%)

lệ

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015


2.38

2.9

2.88

2.22

1.96

2.2

2.08

2.31

Bảng 3: Điều tra lao động quý 3 năm 2012; quý 2,3 năm 2013; quý 3 năm
2014.
Năm

Quý 3, 2012

Quý 2, 2013

Quý 3, 2013

Quý 2 2014

Quý 3, 2014


Lực lượng
lao động.

53098

53442

53856

53715

54307

Lao động có
việc làm.

52114

52402

52738

52838

53258

Tỷ lệ thất
nghiệp.


2.06

2.17

2.32

1.84

2.17

Tỷ lệ thất
nghiệp thanh

5.7

5.58

6.94

5.08

7.02


12

niên.

Bảng 4: Thống kê tỷ lệ thất nghiệp theo khu vực ở Việt Nam trong năm 2012,
2013.

Khu vực

Thành thị

Nông thôn

2012

3.21%

3.58%

2013

1.39%

1.58%

Thất nghiệp luôn là vấn đề nan giải đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nền
kinh tế muốn phát triển được toàn diện và đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải giải quyết tốt
các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế trong đó có vấn đề thất nghiệp.
Đây là vấn đề nóng bỏng cấp bách và cần thiết phải giải quyết không chỉ đối với nền
kinh tế nước ta mà hầu như các nước trên thế giới phải đau đầu vì vấn đề này. Dân số
nước ta hiện nay hơn 86 triệu người trong đó có khoảng 45 triệu lao động mỗi năm lại
tăng thêm một triệu lao động trong khi nền kinh tế chưa có những chuyển biến đột phá
so với những năm trước đây. Vấn đề việc làm làm đòi hỏi phải giải quyết để đảm bảo
an sinh xã hội. Nếu không được giải quyết tốt thì sẻ kéo theo những vấn đề như: Tệ
nạn xã hội, lạm phát,… Để thấy rõ thực trạng thất nghiệp ảnh hưởng như thế nào đối
vơi nền kinh tế cũng như những vấn đề xã hội ta phải tìm hiểu và phân tích cụ thể qua
từng chặng đường phát triển như sau: Năm 2008: Dưới tác động của cuộc khủng

hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút,
tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng, kể cả các vật tư quan trọng, lương thực và
nhiều nông sản xuất khẩu có khối lượng lớn; số người mất việc làm năm 2008 khoảng
667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn.
Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65%, tức là
khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm. Trong thông báo gửi Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành Phố Hồ Chí Minh, Công ty trách nhiệm hữu hạn Sambu
Vina Sport cho biết sẽ giảm 224 lao động kể từ ngày 11-1-2009. Trước đó, nhiều
doanh nghiệp cũng đã thông báo về việc cắt giảm lao động như Công ty Sony Việt
Nam, Công ty liên doanh RSC, Công ty trách nhiệm hữu hạn Castrol BP Petco, Công
ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm nhân thọ Dai-Ichi Việt Nam, Công ty trách nhiệm
hữu hạn tư vấn thiết kế Liên hiệp Quốc tế... với tổng số lao động bị mất việc trên 1.000
người. Hàng ngàn lao động mất việc cuối năm 2008. Hàng vạn người bị nợ lương,
không có tiền thưởng. Thất nghiệp, bản thân người thất nghiệp không có thu nhập, ảnh
hưởng đến đời sống bản thân, gia đình họ. Một bộ phận rất lớn người lao động trong
các khu công nghiệp là người từ các tỉnh nông nghiệp. Họ đi lên thành thị làm công
nhân vì ở quê không có việc làm hoặc làm không đủ sống. Nhà máy ngừng sản xuất,


13

phải đóng cửa hoặc giảm bớt lao động nên họ phải trở về. Nợ cũ chưa trả hết lại chồng
thêm nợ mới. Họ đi kiện công ty đưa mình đi xuất khẩu lao động, nhưng xét cho cùng
cũng chẳng phải lỗi của ai. Người thất nghiệp kéo từ thành phố về nhà, cái nghèo ở
quê đã quá đủ, nay gánh nặng thêm vì số lao động thất nghiệp tăng lên.
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta những năm gần
đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong độ tuổi 15 - 60 với
nam và 15 - 55 với nữ. Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động, còn một chỉ tiêu
khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm. Đây là chỉ tiêu quan trọng được tính cho cả lao
động ở khu vực nông thôn và thành thị, nhưng từ trước đến nay chưa công bố. Ở Việt
Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp; trong đó tỷ lệ

thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị. Với cách hiểu như vậy, tỷ lệ thất
nghiệp của Việt Nam năm 2008 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007. Trong khi đó,
tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện là 5,1%, tăng 0,2% so với năm 2007. Đáng chú ý, tỷ
lệ thiếu việc làm nông thôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3%.
Trong 5 năm trở lại đây, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có xu hướng giảm 0,10,2%/năm. Nhưng do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới, từ năm 2007 đến nay,
tỷ lệ này đang tăng dần. Việt Nam đang tích cực triển khai các giải pháp để giảm tỷ lệ
thất nghiệp, thiếu việc làm về đúng quỹ đạo giảm như các năm trước.
Theo dự báo của tổng cục thống kê, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2009 sẽ tăng lên
5,4% (2008: 5,1%); trong đó, khu vực nông thôn khoảng 6,4%. Khảo sát cho thấy
người lao động nhập cư đang đối mặt với tình trạng giảm thu nhập, nhiều người lao
động nhập cư tại các làng nghề và khu công nghiệp được khảo sát đang quay lại quê
nhà. Họ và làng quê họ, nơi đã từng hưởng lợi từ tiền gửi về do làm thuê, đang gánh
chịu nhiều nhất những tác động trước mắt của khủng hoảng kinh tế. Xu thế và hướng
đi của lao động di cư trong nước và mối liên kết nông thôn - thành thị là những chỉ số
quan trọng cần được sử dụng để tiếp tục theo dõi tác động xã hội của khủng hoảng
kinh tế trong thời gian tới. Theo thống kê của bộ lao động thương binh xã hội, hết năm
2008, cả nước mới có gần 30.000 lao động tại khối doanh nghiệp bị mất việc vì
nguyên nhân kinh tế suy giảm. Bộ này đưa ra ước tính số lao động bị mất việc vì
nguyên nhân trên trong năm 2009 sẽ vào khoảng 150.000 người. Còn theo cách tính
của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), cứ 1% tăng trưởng GDP sẽ có thêm 0,33 0,34% lao động có việc làm. Như vậy, với Việt Nam, nếu GDP giảm khoảng 2% trong
năm 2008 tương ứng sẽ có 0,65% việc làm bị mất. 0,65% tương đương với số lượng
khoảng 300 nghìn người. Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, thuộc Viện khoa học lao
động và xã hội khẳng định, năm 2008 tổng việc làm mới được tạo ra chỉ là 800.000 so
với khoảng 1,3 triệu việc làm mới được tạo ra trong năm 2007. Nhiều ngành sử dụng
nhiều lao động có tốc độ tăng việc làm cao bị ảnh hưởng rõ rệt từ cuộc khủng hoảng
kinh tế. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi tạo ra khoảng 50% việc làm trong hệ
thống doanh nghiệp nói chung, mỗi năm tăng thêm khoảng 500.000 lao động. Theo
báo cáo tại Hội nghị việc làm và xuất khẩu lao động năm 2008, mục tiêu trong 2 năm
2009-2010 là giải quyết việc làm trong nước cho 3 đến 3,2 triệu lao động, duy trì tỷ lệ



14

thất nghiệp ở khu vực thành thị ở mức dưới 5%, giảm tỷ lệ lao động làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp xuống dưới 50% năm 2010. Đến năm 2010, bình quân mỗi năm
đưa được 100 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó 60% lao động qua
đào tạo nghề, có 5 đến 10% lao động ở các huyện có tỷ lệ nghèo cao. Ø Năm 2009:
Ngày 19/1/2010, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết tỷ lệ thất nghiêp tại
khu vực thành thị của Việt Nam năm 2009 là 4,66% và tỷ lệ thiếu việc làm của Việt
Nam ở mức 5,1%. Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2009,
cả nước đã tạo việc làm ở nông thôn là 6,1% còn khu vực thành thị là 2,3% cho 1,51
triệu lao động, đạt 88,8% kế hoạch năm, trong đó, tạo việc làm trong nước là 1,437
triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000 người. Viện Khoa học lao động và xã
hội vừa công bố kết quả từ công trình nghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường
lao động Việt Nam”. Ở đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, viện trưởng đã công bố:
nếu tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 đạt từ 5 – 6%, thì số lao động bị mất việc do
khủng hoảng kinh tế là 494.000 người. Thậm chí số người mất việc sẽ tăng lên khoảng
742.000 người vào năm 2010 nếu nền kinh tế vẫn chưa thể phục hồi. Điều cần lưu ý,
đây là số việc làm bị giảm đi so với khả năng tạo việc làm mới của nền kinh tế do tác
động của khủng hoảng tài chính, nghĩa là chừng đó người rơi vào thất nghiệp hoàn
toàn. Có một thực tế là từ cuối năm 2008 đến nay, nhiều doanh nghiệp trong các khu
công nghiệp đã cắt giảm lao động do suy giảm kinh tế. Tuy nhiên, không thể nói rằng
tất cả những lao động này bị thất nghiệp vì phần lớn những người này đã trở về quê và
tìm kiếm một công việc mới (có thể là công việc không phù hợp) nhưng vẫn cho thu
nhập, dù có thể là thu nhập thấp.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước tính đến thời điểm
01/01/2016 là 54.61 triệu người, tăng 185 ngàn người so với cùng thời điểm năm
2014, trong đó lao động nam chiếm 51.7%; lao động nữ chiếm 48.3%. Đến thời điểm
trên, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động ước tính 48.19 triệu người, tăng 506.1
ngàn người so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động nam chiếm 54%; lao

động nữ chiếm 46%.
Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2015
ước tính 52.9 triệu người, tăng 142 ngàn người so với năm 2014. Trong tổng số lao
động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2015, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản
chiếm 44.3% (năm 2014 là 46.3%); khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 22.9%
(năm 2014 là 21.5%); khu vực dịch vụ chiếm 32.8% (năm 2014 là 32.2%). Lao động
từ 15 tuổi trở lên đang làm việc năm 2015 khu vực thành thị chiếm 31.2%; khu vực
nông thôn chiếm 68.8%. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo năm 2015 ước
tính đạt 21.9%, cao hơn mức 19.6% của năm trước.
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2015 là 2.31%.
Ước tính trong năm 2015 cả nước có 56% lao động có việc làm phi chính thức
ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản có việc làm phi chính thức (năm 2013 là 59.3%;
năm 2014 là 56.6%), trong đó thành thị là 47.1% (năm 2013 là 49.8%; năm 2014 là
46.7%) và nông thôn là 64.3% (năm 2013 là 67.9%; năm 2014 là 66.0%).


15

2. Đánh giá chung Việt Nam so với thế giới
Bảng 1: Tỷ lệ thất nghiệp giữa Việt Nam so với một số nước trên thế giới
những năm từ 2005 – 2009.

Một số quốc gia trên thế giới.

Tỷ lệ thất nghiệp (%).

Pháp

10,4


Úc

5,5

Mỹ

5,4

Canada

5,2

Tây Ban Nha

26,5

Phần Lan

5,6

Thủy Điển

5,6

Việt Nam

2,34

Cambodia


0,9

Lào

1,8

Myanma

3

Peru

2,4

Ấn Độ

3,2

Bảng 2: so sánh tỷ lệ thất nghiệp giữa Việt Nam và một số nước trong khu vực
Đông Á và Đông Nam Á năm 2010. (nguồn Kinh tế Việt Nam - Wikipedia)

Một số nước trong khu vực Đông Á và Đông
Nam Á.

Tỷ lệ thất nghiệp (%).

Thái Lan

1,1



16

Singapore

2,1

Lào

2,5

Việt Nam

2,9

Hàn Quốc

3,2

Malaysia

3,3

Cambodia

3,31

Brunei

3,7


Trung Quốc

4,1

Myanma

5,6

Indonesia

7,1

Philippines

7,2

Thế giới

8,9

Nhìn chung tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam so với nhiều quốc gia trên thế giới thì
thấp hơn rất nhiều. Theo thông tin nhiều chiều trên trang thông tin kinh tế thế giới,
Việt Nam là nước có tỷ lệ thất nghiệp đứng ở top 20 quốc gia thấp nhất thế giới, trong
khi đó các nước có nền kinh tế rất phát triển nhu Singapore, Mỹ, Trung Quốc, Pháp thì
tỷ lệ thất nghiệp cao hơn Việt Nam khoảng 2 – 3 lần.
Từ 2008 và nhất là từ năm 2011 (năm 2011 tăng 6,24%, năm 2012 tăng có
5,25% và 2013 ước tăng 5,42%), thấp hơn 5 nước khác trong khu vực Đông Nam á và
thấp hơn mức bình quân khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương (theo World Bank
năm 2013 Việt Nam tăng 5,3% trong khi toàn khu vực là 7,2%.

Tuy nhiên, nếu so với nền kinh tế của thế giới thì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở
Việt nam còn rất chậm so với thế giới. Thu nhập người lao động tại Việt Nam thấp
hơn nhiều so với mặt bằng nền kinh tế thế giới.
Theo chuyên gia, Ông Phú Huỳnh - chuyên gia kinh tế lao động của ILO tại
Châu Á – Thái Bình Dương nhận định với cách định nghĩa thất nghiệp như vậy thì
càng những nước kém phát triển thì tỉ lệ thất nghiệp càng thấp. Điển hình như
Camphuchia và Lào có nền kinh tế kém phát triển hơn Việt Nam, đồng thời cũng có tỉ
lệ thất nghiệp thấp hơn hoặc ngang Việt Nam.


17

Điều này, theo ông Huỳnh, là do ở những quốc gia kém phát triển với những
hạn chế về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và các phúc lợi xã hội khác người
lao động không thể tồn tại nổi nếu bị “thất nghiệp” chẳng hạn như Việt Nam. Họ phải
tìm kế sinh nhai bằng mọi cách, và thông thường họ chấp nhận làm mọi công việc.
Ngược lại, ở những nước phát triển với hệ thống bảo trợ xã hội tiên tiến và mức
sống cao hơn, người lao động có thể tồn tại trong hoàn cảnh thất nghiệp và dành thời
gian đi tìm những công việc mà họ mong muốn.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đưa ra hôm 21/1, nhân dịp công bố Báo cáo
xu hướng việc làm toàn cầu 2014. Theo báo cáo chung của ILO, thất nghiệp toàn cầu
trong năm 2013 đã gần chạm mốc 202 triệu người, tăng trưởng việc làm còn yếu, thất
nghiệp vẫn tiếp tục gia tăng, đặc biệt nhóm lao động trẻ và một lượng lớn người có
khả năng lao động vẫn nằm ngoài thị trường lao động. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu
phục hồi chậm không thể cải thiện được thị trường lao động thế giới. Tại Việt Nam,
năm 2013 tình trạng thất nghiệp cũng tăng nhẹ, cùng với tỷ lệ việc làm dễ bị tổn
thương cao hơn.
Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội cho biết, tỉ lệ thất nghiệp của
cả nước trong quý 2/2014 chỉ khoảng 1,84%, thấp nhất trong vòng một năm qua và
Việt Nam vẫn nằm trong số quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới.

Theo đó, tính đến ngày 1/7/2014 cả nước có 871.800 người trong độ tuổi lao
động bị thất nghiệp, giảm gần 174.000 người so với quý 1/2014 và giảm 155.000
người so với quý 2/2013.
Tính đến năm 2015, tỷ lệ thất nghiệp ở mức 1,84% là con số đáng mơ ước của
nhiều nước trên thế giới, ngay cả những nước phát triển như Mỹ và các nước châu Âu
đều có tỉ lệ thất nghiệp cao gấp nhiều lần Việt Nam. Ví dụ như Tây Ban Nha có tỉ lệ
thất nghiệp lên tới 27%. Và so với khu vực các nước thành viên thuộc Eurozone có tỷ
lệ thất nghiệp thấp nhất gồm Đức (4,3%), Cộng hòa Séc (4,5%). Trong khi hai nước có
tỷ lệ thất nghiệp cao nhất là Hy Lạp (24%) và Tây Ban Nha (20,4%). thì Việt Nam
thấp hơn nhiều. Theo dự báo, dựa vào nền kinh tế Việt nam trong năm tới thì tỷ lệ thất
nghiệp ở Việt Nam vẫn ở mức thấp khoảng 2,2%.
III. Nguyên nhân
1. Định hướng phát triển kinh tế:
Thứ nhất, do đã duy trì quá lâu nền kinh tế chỉ có hai thành phần, không coi
trọng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế mở cửa dẫn đến sai lầm trong bố trí kinh
tế, chưa quan tâm đúng mức đến chiến lược xây dựng kinh tế xã hội, hướng vào phát
triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút được nhiều lao động dẫn
đến hạn chế khả năng khai thác các tiềm năng hiện có để phát triển việc làm và tạo
nhiều điều kiện để người lao động tự tạo việc làm cho mình và do người khác.
Thứ hai, chậm “mở cửa” trong phát triển kinh tế đối ngoại cũng như trong mở
rộng giao lưu, thông tin quốc tế nói chung, là một trong những nguyên nhân ảnh


18

hưởng rõ rệt đến việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và phát triển việc làm.
Nước ta là nước nông nghiệp, chậm phát triển, thuộc vào những nước nghèo nhất thế
giới khi đặt ra chương trình mở mang, phát triển việc làm là thiếu vốn, thiếu kỹ thuật
và máy móc trang thiết bị, thiếu kinh nghiệm kinh doanh, thiếu thị trường tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá. Trong khi đó một số nước phát triển lại thiếu sức lao động, thiếu thị

trường đầu tư. Vì vậy, “mở cửa” phát triển kinh tế đối ngoại là có lợi cho cả hai bên.
Thứ ba, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp cũng
là nguyên nhân lớn ảnh hưởng nặng nề, đến hiệu quả sử dụng nguồn lao động và kết
quả giải quyết công ăn việc làm. Trên tầm vĩ mô chúng ta còn thiếu một hệ thống
tương đối các luật lệ chính sách nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và mở
mang phát triển việc làm. Ở tầm vĩ mô cơ chế cũ có phần nặng nề hơn. Hàng loạt các
quy chế, chính sách, các hình thức tổ chức, các chức danh tiêu chuẩn, các biện pháp
khuyến khích vật chất và tinh thần, các chế độ, các nề nếp lao động, sản xuất, học tập
nghiên cứu khoa học nhằm đề cao tinh thần tận tụy, trách nhiệm với công việc, khuyến
khích mạnh mẽ tính chủ động tích cực, sáng tạo của con người đang còn thiếu. Tình
trạng tổ chức còn chồng chéo kém hiệu quả, tình trạng trả công, phân phối bình quân
bất hợp lý còn phổ biến làm cho hiệu suất làm việc kém.
Thứ tư, tình trạng mất cân đối cung – cầu lao động cục bộ vẫn thường xuyên
xảy ra. Thị trường lao động nước ta chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn, nơi có
nhiều Khu chế xuất - Khu công nghiệp, các vùng kinh tế trọng điểm. Nhưng một số
tỉnh lại có tình trạng dư cung, đang phải đối mặt với tỉ lệ thất nghiệp cao.
2. Sự tác động của chính phủ, pháp luật
Trong lịch sử loài người, thất nghiệp chỉ xuất hiện trong xã hội tư bản. Ở xã
hội cộng đồng xã hội nguyên thủy, việc phải duy trì trật tự trong bầy đàn buộc mọi
thành viên phải đóng góp lao động và được làm việc. Trong xã hội phong kiến châu
Âu, truyền đời đất đai đảm bảo rằng con người luôn có việc làm. Ngay cả trong xã
hội nô lệ, chủ nô cũng không bao giờ để tài sản của họ (nô lệ) rỗi rãi trong thời
gian dài. Các nền kinh tế theo học thuyết Mác-Lênin cố gắng tạo việc làm cho mọi cá
nhân, thậm chí là phình to bộ máy nếu cần thiết (thực tế này có thể gọi là thất nghiệp
một phần hay thất nghiệp ẩn nhưng đảm bảo cá nhân vẫn có thu nhập từ lao động).
Trong xã hội tư bản, giới chủ chạy theo mục đích tối thượng là lợi nhuận, mặt
khác họ không phải chịu trách nhiệm cho việc sa thải người lao động, do đó họ vui
lòng chấp nhận tình trạng thất nghiệp, thậm chí kiếm lợi từ tình trạng thất nghiệp.
Người lao động không có các nguồn lực sản xuất trong tay để tự lao động phải chấp
nhận đi làm thuê hoặc thất nghiệp.

Các học thuyết kinh tế học giải thích thất nghiệp theo các cách khác
nhau. Kinh tế học Keynes nhấn mạnh rằng nhu cầu yếu sẽ dẫn đến cắt giảm sản xuất
và sa thải công nhân (thất nghiệp chu kỳ). Một số khác chỉ rằng các vấn đề về cơ cấu
ảnh hưởng thị trường lao động (thất nghiệp cơ cấu). Kinh tế học cổ điển và tân cổ điển
có xu hướng lý giải áp lực thị trường đến từ bên ngoài, như mức lương tối thiểu, thuế,


19

các quy định hạn chế thuê mướn người lao động (thất nghiệp thông thường). Có ý kiến
lại cho rằng thất nghiệp chủ yếu là sự lựa chọn tự nguyện. Chủ nghĩa Mác giải thích
theo hướng thất nghiệp là thực tế giúp duy trì lợi nhuận doanh nghiệp và chủ nghĩa tư
bản. Các quan điểm khác nhau có thể đúng theo những cách khác nhau, góp phần đưa
ra cái nhìn toàn diện về tình trạng thất nghiệp.
Việc áp dụng nguyên lý cung - cầu vào thị trường lao động giúp lý giải tỷ lệ
thất nghiệp cũng như giá cả của lao động.
Thất nghiệp là hiện tượng phổ biến trên thế giới có mức độ ảnh hưởng khác
nhau đến nền kinh tế của từng nước theo thời gian. Nhưng đây luôn là vấn đề đòi hỏi
các cấp lãnh đạo, những người quản lý nền kinh tế phải có những chiến lược kinh tế
phù hợp để đẩy lùi thực trạng này. Riêng ở Việt Nam tình hình thất nghiệp là vấn đề
nóng bỏng luôn được quan tâm giải quyết hàng đầu nhằm đưa nền kinh tế phát triển
theo kịp các nước có nền kinh tế phát cao. Theo định nghĩa của kinh tế học thì thất
nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà không tìm được việc làm.
Lịch sử của tình trạng thất nghiệp chính là lịch sử của công cuộc công nghiệp hóa. Tỷ
lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng
lao động xã hội. Các loại thất nghiệp và thiếu việc làm đang là vấn đề mang tính toàn
cầu trong bối cảnh khủng hoảng và suy giảm kinh tế thế giới hiện nay. Chính vì vậy,
việc tìm hiểu về các loại hình thất nghiệp, các đặc trưng riêng ở Việt Nam để từ đó có
các chính sách thích hợp là rất cần thiết. Nhìn chung có rất nhiều loại thất nghiệp
nhưng các nhà nghiên cứu kinh tế đã chia thất nghiệp thành ba loại:

2.1. Thất nghiệp cơ học: Thất nghiệp cơ học đề cập đến việc người lao động có kĩ
năng lao động đáp ứng được nhu cầu của thị trường nhưng lại bị thất nghiệp trong một
thời gian ngắn nào đó do họ thay đổi việc làm một cách tự nguyện vì muốn tìm kiếm
công việc hoặc nơi làm việc tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng (lương cao hơn, gần
nhà hơn…) hoặc do sự thay đổi cung cầu trong hàng hoá dẫn đến việc phải thay đổi
công việc từ một doanh nghiệp, một ngành sản xuất hay một vùng lãnh thổ sang nơi
khác. Trong mối quan hệ với dạng thất nghiệp tạm thời còn có dạng thất nghiệp tìm
kiếm xảy ra cả trong trường hợp chuyển đổi chỗ làm việc mang tính tự nguyện hoặc
do bị đuổi việc. Khi đó người lao động luôn cần có thời gian chờ đợi để tìm kiếm chỗ
làm việc mới. Thời gian của quá trình tìm kiếm sẽ làm tăng chi phí (phải tìm nhiều
nguồn thông tin, người thất nghiệp sẽ mất đi thu nhập, mất dần kinh nghiệm, sự thành
thạo nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội…).
Như vậy thất nghiệp cơ học xuất hiện do sự di chuyển không ngường của con
người từ vùng này đến vùng khác, các công việc hay các giai đoạn khác nhau của cuộc
đời.
2.2. Thất nghiệp cơ cấu: Có nhiều người không tìm được việc làm do không đủ kỹ
năng để đáp ứng yêu cầu của công việc. Có người không có việc làm trong một thời
gian dài và được xem là thất nghiệp dài hạn, nghĩa là khả năng tìm được việc làm là rất
thấp. Loại thất nghiệp này được xem là thất nghiệp cơ cấu. Thất nghiệp cơ cấu bao


20

gồm: Những người chưa có đủ kỹ năng lao động, như những người trong độ tuổi 20 và
một số người trưởng thành nhưng chưa qua đào tạo. Những người có kỹ năng lao động
nhưng kỹ năng này không đáp ứng được sự thay đổi trong yêu cầu của công việc.
Những người mà kỹ năng của họ bị mất đi sau một thời gian dài không làm việc nên
không thể tìm được việc làm mới. Những người mà kỹ năng lao động của họ không
được công nhận do sự phân biệt đối xử, như người lao động thuộc nhóm dân tộc thiểu
số hay người nước ngoài không hiểu tiếng nói hay phong tục tập quán của địa phương.

Như vậy thất nghiệp cơ cấu xuất hiện khi có sự mất cân đối về cơ cấu giữa
cung và cầu.
2.3. Thất nghiệp chu kỳ: Thất nghiệp chu kì còn được gọi là thất nghiệp do nhu cầu
thấp. Loại thất nghiệp này xảy ra do sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản phẩm của
nền kinh tế so với sản lượng (hay năng lực sản xuất). Sự sút giảm trong nhu cầu dẫn
đến sự sa thải lao động có thể bắt đầu ở một vài thành phố lớn của nền kinh tế và sau
đó gây ra sự sút giảm trong nhu cầu đối với sản lượng của toàn bộ nền kinh tế. Khi
nhu cầu thấp hơn sản lượng thì tồn kho sẽ tăng lên nên các nhà sản xuất buộc phải cắt
giảm sản lượng và sa thải lao động. Thất nghiệp chu kì thường gắn liền với năng lực
cạnh tranh quốc gia, nhất là trong thời kì hội nhập. Thất nghiệp do nhu cầu thấp có
quan hệ mật thiết với tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp. Có thể dễ dàng thấy rằng nếu sản
lượng tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng của năng lực sản xuất của nền kinh tế,
kể cả số lượng lao động, thì thất nghiệp sẽ tăng. Suy thoái sẽ làm tăng thất nghiệp và
phục hồi hay tăng trưởng sẽ làm giảm thất nghiệp. Sự tăng giảm của thất nghiệp do
nhu cầu thấp sẽ làm tăng giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các chu kì kinh tế.
Như vậy thất nghiệp chu kì xuất hiện khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái.
Nguyên nhân gây ra thất nghiệp

Thất nghiệp
cơ học

Thất nghiệp
cơ cấu

1. Không có thông tin trên thị trường
lao động

3

2. Do sự di chuyển của người lao động


3

3. Tham gia thị trường lần đầu

3

2

4. Tham gia lại thị trường lao động
trước đây của những người tự nguyện
thất nghiệp

3

2

5. Lạm phát

2

6. Mất đất nông nghiệp do làm KCN,
KCX

2

2

Thất
nghiệp chu

kỳ


21

7. Tăng quy mô lực lượng lao động
8. Trình độ đào tạo không phù hợp với
yêu cầu làm việc

3

9. Cơ cấu nghề, nghiệp vụ theo vùng về
số lượng và chất lượng không phù hợp

3

10. Áp dụng công nghệ mới

3

11. Thay đổi trong hệ thống giá trị

1

12. Thay đổi trong cơ cấu dân số

3
3

13. Chính sách tiền lương tối thiểu của

Chính phủ

3
3

14. Đình đốn nhu cầu và suy thoái kinh
tế

3

3

15. Cơ chế sử dụng lao động trong khu
vực nhà nước

2

3

16. Chi phí lao động quá cao

2

3

17. Năng xuất lao động thấp

3

3


18. Do tính chất mùa vụ của sản xuất

3

Mức 1: ảnh hưởng ít
Mức 2: ảnh hưởng vừa
Mức 3: ảnh hưởng nhiều
- Và một số các ảnh hưởng khác bắt nguồn từ Chính phủ, Pháp luật:
+ Chính sách tài khóa và tiền tệ chính phủ: Chính phủ trong nền kinh tế thị
trường đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng các điều kiện kinh tế để thị
trường của các công ty tư nhân có thể hoạt động một cách hiệu quả nhất.
Một trong những vai trò này là tạo ra một đồng tiền ổn định được chấp nhận
rộng rãi để hạn chế nhu cầu sử dụng các hệ thống trao đổi nặng nề và không hiệu quả
khác, và duy trì giá trị của đồng tiền đó thông qua các chính sách hạn chế lạm phát
(tức là tình trạng tăng giá của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ).
Trong lịch sử, các nền kinh tế thị trường đều từng trải qua các thời kỳ mà mức
giá tăng nhanh, hay có lúc là mức thất nghiệp cao, hoặc có thời kỳ cả mức lạm phát và
tỉ lệ thất nghiệp đều cao.


22

May mắn là nhiều thời kỳ như vậy chỉ tương đối nhẹ và ngắn hạn, chỉ kéo dài
một năm hoặc ngắn hơn. Chỉ có số thời kỳ dai dẳng hơn và nặng nề hơn nhiều, ví dụ
như siêu lạm phát của Đức vào những năm 1920 và thất nghiệp toàn cầu những năm
1930 được đơn giản biết đến là thời kỳ Đại suy thoái.
Chỉ trong thập kỷ này các nhà kinh tế học và các nhà hoạch định chính sách của
chính phủ mới xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn về các chính sách ổn định hóa –
được gọi là các chính sách tài khóa và tiền tệ – là các chính sách mà các chính phủ có

thể sử dụng để cố gắng giảm bớt (hoặc lý tưởng là xóa bỏ) các giai đoạn như vậy.
Chính sách tài khóa sử dụng chi tiêu chính phủ và các chương trình thuế để kích
thích nền kinh tế quốc gia trong thời gian thất nghiệp cao và lạm phát thấp, hoặc để
xoa dịu nền kinh tế trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp. Để kích thích toàn
bộ mức tiêu thụ, sản xuất và việc làm, chính phủ phải tự chi tiêu nhiều hơn và giảm
bớt thuế, thậm chí cả khi nó phải chịu thâm hụt (Sau đó, vào một thời điểm nào đó
trong tương lai, chính phủ sẽ phải thực hiện một khoản thặng dư bù đắp).
Để xoa dịu một nền kinh tế quá sôi động - một nền kinh tế trong đó mọi người
đang làm việc đều muốn công việc khác, và giá cả và chi tiêu tăng lên nhanh chóng –
chính phủ có một số lựa chọn nhằm giữ giá không vọt lên quá cao. Chính phủ có thể
cắt giảm chi tiêu, tăng thuế, hoặc cả hai nhằm giảm tổng chi tiêu và mức sản lượng
quốc gia.
Chính sách tiền tệ liên quan đến các thay đổi trong nguồn cung tiền quốc gia và
tính sẵn có của tín dụng. Để tăng chi tiêu trong thời gian thất nghiệp cao và lạm phát
thấp, các nhà hoạch định chính sách tăng nguồn cung tiền để giảm tỉ lệ lãi suất (tức là
giảm giá tiền), khiến cho các ngân hàng có thể cho vay dễ dàng hơn. Điều này khuyến
khích người ta tiêu dùng nhiều hơn vì người dân có trong tay nhiều tiền hơn. Tỉ lệ lãi
suất thấp cũng kích thích các doanh nghiệp chi tiêu cho đầu tư để mở rộng kinh doanh
và thuê nhiều nhân công hơn.
Ngược lại, trong thời kỳ lạm phát cao và thất nghiệp thấp, các nhà hoạch định
chính sách có thể xoa dịu nền kinh tế bằng cách tăng lãi suất và từ đó giảm nguồn
cung tiền và tính sẵn có của tín dụng. Do đó, nền kinh tế sẽ có ít tiền chi tiêu hơn và
mức lãi suất cao hơn, cả chi tiêu và giá cả đều sẽ có xu hướng giảm xuống, hoặc tối
thiểu là không tăng nhanh. Kết quả là cả sản lượng đầu ra và việc làm đều có xu hướng
thu hẹp lại.
Trước những năm 1960, các chính sách tài khóa và tiền tệ đều không được sử
dụng rộng rãi để ổn định các chu kỳ kinh doanh lên và xuống của thương mại quốc
gia. Ngày nay, ngoại trừ một số trường hợp có các thảm họa thiên nhiên và nhân tạo –
như chiến tranh, lũ lụt, động đất và hạn hán – các chính sách ổn định này đều có thể
được sử dụng để tránh các thời kỳ thất nghiệp và lạm phát nặng nề. Tuy nhiên, hiệu

quả của các chính sách này không chắc chắn trong trường hợp biến động kinh tế ngắn
và trung hạn hoặc trong hoàn cảnh cả lạm phát và thất nghiệp đều tăng.


23

Có một số nguyên nhân giải thích cho sự bất ổn này, trong đó có thời gian cần
thiết để nhận biết thực sự vấn đề là gì, để xây dựng các kết hợp chính sách thích hợp
nhằm giải quyết vấn đề, và cuối cùng là thời gian chờ đợi các chính sách này mang lại
kết quả. Một nguy cơ rất thực là có thể trước khi các chính sách của chính phủ có hiệu
lực thì vấn đề ban đầu đã tự điều chỉnh hoặc chuyển hoàn toàn sang hướng khác.
Trong trường hợp đó các chính sách ổn định hóa có thể không cần thiết hoặc thậm chí
phản tác dụng.
Tuy nhiên, khi cả thất nghiệp và lạm phát đồng thời gia tăng, chính phủ phải
đối mặt với một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Nguyên nhân là các chính sách tài khóa
và tiền tệ được thiết kế chỉ để điều chỉnh mức tổng chi tiêu của quốc gia chứ không
phải để giải quyết với mức giảm tương đối đột ngột của cung khiến lạm phát và thất
nghiệp xuất hiện cùng lúc. Khi nào thì một tình thế như vậy có thể phát sinh? Một
trường hợp xuất hiện vào những năm 1970 khi cấm vận xuất khẩu dầu lửa của các
nước sản xuất dầu mỏ lớn khiến giá cả tăng vọt ở tất cả các nền kinh tế của các quốc
gia công nghiệp hóa. Mức giảm cung như vậy khiến mức giá tăng lên trong khi lại
giảm mức sản lượng và việc làm.
Để giải quyết các cú sốc cung như vậy đối với nền kinh tế quốc gia, chính phủ
có thể cố gắng tăng động cơ sản xuất, tích lũy và đầu tư của người dân, tăng mức cạnh
tranh hiệu quả trong nước bằng cách giảm độc quyền, hoặc xóa bỏ tình trạng tắc nghẽn
của các nguồn lực chủ yếu, có thể đó là các hàng hóa như dầu hoặc các loại hình lao
động có kỹ năng nhất định như kỹ sư. Ví dụ, trong trường hợp hạn chế xuất khẩu dầu
mỏ, một quốc gia có thể kích thích sản xuất dầu lửa trong nước, đưa ra những khuyến
khích nhằm giữ gìn và sử dụng hiệu quả năng lượng lớn hơn nữa, và đầu tư vào các
nguồn năng lượng thay thế khác. Tuy nhiên, hầu hết các chính sách gọi là trọng cung

này có xu hướng là có tác động rất chậm, phải mất nhiều năm chứ không chỉ là nhiều
tháng.
Trong khi chưa tìm ra phương thuốc thần để loại trừ vĩnh viễn nạn lạm phát và
thất nghiệp trong các nền kinh tế thị trường, chính phủ có thể có hiệu quả trong việc
giảm nhẹ các tác động của những vấn đề này.
Hầu hết các nhà kinh tế học đều nhận thức được vai trò quan trọng của chính
phủ trong việc đấu tranh chống thất nghiệp và lạm phát bằng các chính sách ổn định
hóa dài hạn, bao gồm mức tăng trưởng ổn định chung trong lượng tiền tệ, các chương
trình chi tiêu của chính phủ có thể tự động tăng lên khi nền kinh tế tăng trưởng chậm
và giảm xuống khi nền kinh tế phát triển (ví dụ như các trợ cấp dành cho người thất
nghiệp), và lịch trình thuế có thể củng cố cho các chương trình chi tiêu tự động bằng
cách đánh thuế ít hơn vào người tiêu dùng và công nhân khi thu nhập của họ giảm
xuống và nhiều hơn khi thu nhập của họ tăng lên.
Các chính sách tài khóa và tiền tệ ngắn hạn do các nhà hoạch định chính sách
áp dụng nhằm giải quyết các trường hợp gia tăng tạm thời nhưng trầm trọng số người
thất nghiệp hay mức lạm phát được sử dụng trong nhiều nền kinh tế thị trường, mặc dù


24

các nhà kinh tế không đồng nhất ý kiến về thời gian và tính hiệu quả của các chính
sách.
Cuối cùng, cần phải nhận thấy rằng trong bất cứ hệ thống kinh tế nào, trong đó
có cả nền kinh tế thị trường, một vài vấn đề tồn tại có thể không bao giờ được giải
quyết hoàn toàn hoặc vĩnh viễn. Các vấn đề này cần phải được nghiên cứu một cách
thực tế dựa trên từng trường hợp cụ thể, đồng thời xem xét cẩn thận đến các lực lượng
kinh tế và chính trị ảnh hưởng đến chúng. Tại điểm này, hệ thống chính trị dân chủ –
một hệ thống khuyến khích các cuộc thảo luận mở và chấp nhận những ý kiến trái
ngược về các vấn đề xã hội – có thể đóng góp một cách hiệu quả nhất cho hoạt động
của một nền kinh tế thị trường tự do. Như các nhà phân tích năng lượng Daniel Yergin

và Joseph Stanislaw nói, “Rốt cuộc là không có thị trường nào mà không có sự can
thiệp của chính phủ để đặt ra những luật lệ và xây dựng các bối cảnh”.
+ Thu nhập và phúc lợi xã hội: Trong một nền kinh tế thị trường, một số
người không có các khả năng hoặc các nguồn lực khác để kiếm sống. Trái lại, một số
khác lại được hưởng nhiều lợi lộc vì thừa hưởng tài sản hay có tài năng, hoặc do họ
biết kết hợp với gia đình và bạn bè về mặt kinh doanh, chính trị hay xã hội.
Chính phủ trong các nền kinh tế thị trường chắc chắn sẽ can thiệp bằng các
chương trình tái phân phối thu nhập, và thường hành động với ý định khá rõ ràng là
dùng các chính sách thuế để vấn đề phân phối thu nhập sau thuế trở nên công bằng
hơn.
Những người đề xướng việc tái phân phối mở rộng cho rằng vai trò này của
chính phủ khi làm như vậy là nhằm hạn chế việc tập trung tài sản và duy trì sự phân
chia quyền lực kinh tế rộng rãi giữa các hộ gia đình, cũng như luật chống độc quyền
được thiết kế để duy trì cạnh tranh và phân chia quyền lực và các nguồn lực rộng rãi
hơn giữa các nhà sản xuất. Còn những người chống lại các chương trình tái phân phối
lớn lại phản đối rằng thuế gia tăng đối với các gia đình có thu nhập cao sẽ làm giảm
động cơ làm việc, tích lũy và đầu tư của các nhóm này, và như vậy là làm tổn hại đến
toàn bộ nền kinh tế.
Những tranh luận về tái phân phối thu nhập đều dựa trên quan điểm cơ bản của
con người về thế nào là công bằng và hợp lý. Và trong lĩnh vực này, cả các nhà kinh tế
học lẫn các chuyên gia khác nghiên cứu về vấn đề này đều chưa có lập trường nào đặc
biệt.
Tất cả những gì mà họ có thể làm là tập hợp tài liệu về những gì đã xảy ra đối
với việc phân phối thu nhập và tài sản qua thời gian trong các hệ thống kinh tế khác
nhau, và sử dụng các thông tin đó để cố gắng xác định các chính sách khác nhau ảnh
hưởng như thế nào đến các biến số như mức sản lượng, mức tích lũy và đầu tư quốc
gia.
Trong thế kỷ này, mọi người đã dần dần cùng nhất trí rằng chính phủ trong hầu
hết các nền kinh tế thị trường, vì lòng trắc ẩn và tính công bằng, nên có trách nhiệm hỗ



25

trợ cho các gia đình nghèo túng nhất trong nước và giúp họ cố gắng thoát khỏi cuộc
sống đói nghèo. Chính phủ trong tất cả các nền kinh tế thị trường thực sự đều hỗ trợ
cho những người thất nghiệp, chăm sóc y tế cho người nghèo và trợ cấp hưu trí cho
người nghỉ hưu. Toàn bộ các chương trình này tạo thành cái gọi là “mạng lưới an sinh
xã hội”.
Trong 40 năm qua, các chương trình xã hội này đã chiếm một phần ngày càng
tăng trong chi tiêu của chính phủ và các chương trình thuế tại hầu hết các nước công
nghiệp hóa. Do vậy ngày nay người ta không còn tranh luận xem các chương trình này
có nên tồn tại hay không, mà là về mức độ mở rộng của chúng và cần phải quản lý
chương trình tái phân phối thu nhập như thế nào để vẫn giữ được những động cơ cá
nhân kích thích con người làm việc và tích lũy.
+ Khuôn khổ pháp lý và xã hội: Các nền kinh tế thị trường không phải giấy
phép cho sự bóc lột hay trộm cắp, mặc dù có những ví dụ rõ ràng về sự lạm dụng. Trên
thực tế, có rất ít các trao đổi trên thị trường được thực hiện trong xã hội nơi không
thừa nhận và bảo vệ rõ ràng quyền hợp pháp của người tiêu dùng và người sản xuất
được sở hữu và kinh doanh các nguồn lực kinh tế. Điều này giải thích vì sao chính phủ
trong các nền kinh tế thị trường lưu hồ sơ về các cuộc trao đổi đất đai và nhà cửa và
buộc thực hiện các hợp đồng giữa người mua và người bán của tất cả các loại hàng
hóa. Người mua muốn biết rõ ràng hàng hóa họ mua thực sự thuộc sở hữu của người
bán, và cả người mua lẫn người bán đều muốn biết rõ rằng khi họ đồng ý trao đổi một
số sản phẩm thì chắc chắn hợp đồng sẽ được thực hiện. Điều này cũng đúng đối với
công nhân, dù người đó là công nhân độc lập hay trong một công đoàn, đồng ý với
mức lương và điều kiện làm việc với chủ lao động. Nếu các đảm bảo này không được
thực hiện thường xuyên và hiệu quả, và nếu không có một hệ thống xét xử tội phạm
công bằng và hợp lý thì việc hoàn thành các giao dịch thị trường trở nên tốn kém và
khó khăn hơn.
Chính phủ trong các nền kinh tế thị trường phải thiết lập và bảo vệ quyền sở

hữu cá nhân và các khoản thu kinh tế từ việc sử dụng các tài sản đó. Nếu không có các
đảm bảo như vậy, sẽ không có ai mạo hiểm thời gian và tiền bạc của mình vào các
doanh nghiệp mà thành quả của nó có thể bị nhà nước hoặc một số nhóm khác chiếm
hữu. Ví dụ: Khi Robert và Maria dự định bắt đầu Công ty Phần mềm Giáo dục R&M,
họ biết rằng họ đang phải chịu các rủi ro thua lỗ về kinh tế; nhưng họ cũng biết rằng
nếu họ thành công, luật bảo vệ tài sản cá nhân sẽ cho phép họ được hưởng các thành
quả kinh tế từ thành công đó.
Sự bảo hộ của chính phủ đối với tài sản cá nhân rõ ràng đã mở rộng sang cho cả
đất đai, nhà máy, cửa hàng và các của cải vật chất khác, nhưng nó cũng mở rộng sang
các tài sản gọi là sở hữu trí tuệ: các sản phẩm từ trí óc con người được thể hiện qua
sách và các văn bản khác, nghệ thuật tạo hình, điện ảnh, các phát minh khoa học, các
thiết kế kỹ thuật, các dược phẩm và các chương trình phần mềm máy tính. Sẽ không
có doanh nhân hoặc công ty nào đầu tư vào các nghiên cứu thường là tốn kém và đòi
hỏi nhiều thời gian để tìm ra các loại thuốc mới chữa bệnh, các chương trình máy tính


×