Mở Đầu
1.
Lý do chọn đề tài
Cồng chiêng Tây Nguyên Cồng chiêng Tây Nguyên là nơi chứa đựng
những giá trị kiệt tác của nhân loại. Không chỉ có sức hấp dẫn đặc biệt ở sự đa
dạng độc đáo kỹ thuật diễn tấu mà cồng chiêng còn là biểu tượng cho cuộc sống
của con người nơi đây. Như bao loại nhạc cụ khác của dân tộc Việt Nam cồng
chiêng cũng dùng để chơi trong các lễ hội, các cuộc hát và trong các nghi lễ tế
thần nhằm thỏa mãn nhu cầu về đời sống tâm linh của con người. Nhưng cồng
chiêng không đơn thuần là nhạc cụ đơn giản dành cho các nhạc sĩ hay những
người có năng khiêu âm nhạc như các nhạc cụ khác. Mà cồng chiêng Tây
Nguyên dường như đã trở thành một khí cụ âm nhạc không thể thiếu và gắn bó
với mọi mặt trong đời sống tinh thần của người dân nơi đây. Để tìm hiểu rõ hơn
về nhạc cụ cổ truyền độc đáo này cũng như những giá trị to lớn mà nó đem lại
cho việc phát triển ngành du lịch của Việt Nam nên tôi quyết đinh chọn đề tài:
2.
“Những đặc điểm độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên”
Mục đích nghiên cứu
Nhằm hiểu rõ hơn về nguồn gốc ra đời, lịch sử phát triển cũng như
những nét độc đáo, đặc trưng đặc thù của cồng chiêng Tây Nguyên trong không
gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Từ đó có phương pháp bảo tồn và huy
3.
3.1.
3.2.
4.
giá trị của cồng chiêng Tây Nguyên góp phần phát triển du lịch.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Những đặc điểm độc đáo của cồng chiêng Tây Nguyên.
Khách thể nghiên cứu:
Cồng chiêng Tây Nguyên.
Giới hạn pham vi nghiên cứu
Cồng chiêng tại Tây Nguyên, không gian văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên.
1.1.
Nội dung
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC RA ĐỜI CỦA CỒNG CHIÊNG
TÂY NGUYÊN
Khái quát về cồng chiêng.
1
Cồng chiêng là một loai nhạc khí của người Tây Nguyên được người dân
sử dụng trong các dịp lễ hội, cúng thần linh, mừng lúa mới hay trong các cuộc
vui chơi hôi hè của các nam thanh nữ tú. Di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia và trở thanh di sản của nhân loại đã
1.2.
được UNESCO công nhận.
Nguồn gốc ra đời
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc ra đời từ lịch sử phát triển rất lâu
đời của dân tộc Việt Nam. Văn hoá cồng chiêng được bắt nguồn từ văn minh
Đông Sơn cổ đại, nền văn minh được biết đến với tư cách là một nền văn hoá
trống đồng nổi tiếng ở Đông Nam Á. Nghệ thuật cồng chiêng của Việt Nam đã
phát triển đến một trình độ cao so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị văn hóa của cồng chiêng ở Việt Nam có vị thế đặc biệt nổi bật trong hệ
nhạc khí cổ truyền bởi nó bắt nguồn từ sự tổng hoà các giá trị văn hóa đa dạng
như: Giá trị biểu thị đặc trưng và bản sắc văn hóa vùng; Giá trị biểu thị đặc
trưng văn hóa tộc người hoặc nhóm tộc người; Giá trị phản ánh đa chiều; Giá trị
nghệ thuật; Giá trị sử dụng đa dạng; Giá trị vật chất; Giá trị biểu thị sự giàu
sang và quyền uy; Giá thị tinh thần; Giá trị cố kết cộng đồng và Giá trị lịch sử.
Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên bao trùm 5 tỉnh Tây Nguyên, tập
hợp của 17 dân tộc thiểu số. Cồng chiêng được xem là ngôn ngữ giao tiếp hàng
đầu của con người, thần thánh và thế giới siêu nhiên, những chiếc cồng chiêng
của mỗi gia đình xưa kia còn biểu hiện cho sự giàu có của người dân Tây
Nguyên.
Trước những ý kiến băn khoăn về "căn nguyên", "cội rễ" của văn hóa cồng
chiêng Tây Nguyên, nhạc sĩ Tô Vũ - một trong những chuyên gia ở Việt Nam có
thâm niên cao nhất về lĩnh vực này - đã cho rằng, căn cứ vào nhiều yếu tố, có
thể khẳng định rằng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam
Á. Một “Vua chiêng” ở Kông chro, Gia Lai vẫn lưu giữ những bộ chiêng quý
giá do tổ tiên để lại. Nghiên cứu cồng chiêng từ năm 1978, nhạc sĩ Tô vũ đã
phát hiện ra nhiều điều thú vị. Về cội nguồn, cồng chiêng là "hậu duệ" của đàn
đá - trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá theo "quy
2
trình tiến hóa" cồng đá, chiêng đá, chiêng tre, rồi mới tới cồng đồng, chiêng
đồng. Cồng chiêng Tây Nguyên là cái nôi của cồng chiêng Đông-Nam Á, bởi
những yếu tố sau:
Về vết tích hiện vật, những nét chạm khắc biểu hiện người đánh cồng
chiêng (dáng đánh rất giống người Tây Nguyên) có trên trống đồng Đông Sơn
vốn có lịch sử hơn 4.000 năm. Về lối đánh, "rất nguyên thủy", người Tây
Nguyên vẫn "mỗi người một cái", chưa kết thành dàn do một nghệ sĩ biểu diễn
như các dân tộc ở Thái-lan, Malaysia, Lào, Campuchia (theo nguyên lý phát
triển từ đơn giản đến phức tạp; càng đơn giản càng gần ý nghĩa là "vật tổ");
hình dáng cồng chiêng cũng thế, chưa phát triển theo dạng trống (tức chiêng có
đế, vuông hoặc tròn).
Về mục đích, cồng chiêng Tây Nguyên vẫn mang ý nghĩa từ thuở sơ khai
của nó: Dùng để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là
phương tiện giao tiếp với siêu nhiên. qua các lễ thổi tai, bỏ mả v.v., nghĩa là vẫn
thuần chức năng phục vụ đời sống con người. Trong khi ở các vùng Đông -Nam
Á khác, cồng chiêng đã "tiến hóa" đến mức thành phương tiện biểu diễn cung
đình, mang chức năng giải trí. Xét về lịch sử tiến hóa, mỗi sự biến chuyển tính
năng nhạc khí (ở thời bấy giờ) diễn ra trong hàng mấy trăm năm. Và có thể
khẳng định, căn cứ trên vết tích trống đồng (mà những gì quý giá mới được
khắc lên đó), cồng chiêng Tây Nguyên đã có ít nhất 2.000 năm.
Qua nghiên cứu thực tế về tên các loại chiêng mà đồng bào vẫn dùng để
gọi cho các bộ chiêng và các bài bản chiêng, chúng tôi thấy đồng bào các dân
tộc thường gọi là chiêng Lào, chiêng Gioăn (của người Kinh đúc), chiêng
Kur… Qua một số tên gọi như vậy, chúng tôi cho rằng: cồng chiêng không phải
do đồng bào dân tộc ở Tây nguyên đúc nên. Một vấn đề quan trọng nữa là ở Tây
Nguyên, đồng bào các dân tộc còn đang ở nền văn minh nương rẫy, thì chưa có
kỹ nghệ cao để đúc được chiêng. Vậy cồng chiêng chỉ có thể được nhập từ nơi
khác đến:
- Chiêng Lào: đã được đưa từ Lào sang, có người còn cho rằng chiêng Lào
thực ra đã được đúc từ Myanma, qua con đường trao đổi, buôn bán đã đến Tây
3
Nguyên. Đây là loại chiêng rất quý được đúc bằng đồng có pha bạc, tiếng kêu to
và vang xa.
- Chiêng Gioăn: do người Kinh đúc. Đây cũng là vấn đề còn được bàn luận
khá sôi nổi. Tại sao người Kinh đúc chiêng mà lại không sử dụng? Có lẽ thời
bấy giờ người Kinh đã tìm thấy một thị trường lớn tiêu thụ cồng chiêng rồi sản
xuất và đưa lên Tây Nguyên trao đổi, buôn bán.
- Chiêng Kur: được đưa từ Campuchia sang.
Nếu theo nhận định trên thì nguồn gốc của cồng chiêng Tây Nguyên đã
tạm thời được xác định
Giáo sư, tiến sĩ âm nhạc Maxêđa ở Viện nghiên cứu âm nhạc Đông Nam
Á năm 1983 về thăm Gia Lai – Kon Tum, khi tếp xúc với cồng chiêng ở đây và
bước đầu so sánh với cồng chiêng trong khu vực Đông Nam Á đã đề xuất một
luận điểm: “Dãy Trường Sơn có thể xem như cái nôi sản sinh và truyền bá toàn
khu vực nền văn hoá âm nhạc độc đáo của cồng chiêng”. Tỉnh Gia Lai, Kon
Tum, Đắk Lắk cũng nằm trong khu vực này và theo thống kê bước đầu của các
nhà nghiên cứu trong nước thì các dân tộc Ê-đê, Gia-rai, Ba-na còn bảo lưu
được một lượng cồng chiêng lớn nhất so với các dân tộc khác: dân tộc M’nông
ở Đắk Lắk, dân tộc Mạ, Stiêng ở Lâm Đồng, dân tộc Mường ở Hoà Bình, dân
tộc Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm ở Kon Tum… cũng có những bộ cồng
chiêng và những phong tục sinh hoạt cồng chiêng lâu đời và phong phú.
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA CỒNG CHIÊNG
TÂY NGUYÊN
1.1.
Bước chuyển mình gian nan trong lịch sử phát triển
Cồng chiêng Tây Nguyên cũng đã trải qua những thử thách vô cùng khốc
liệt của lịch sử dân tộc trước các thế lực ngoại xâm. Năm 43 sau công nguyên,
khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại , tướng Mã Viện của Nam hán đã cho
tịch thu tất cả đồ đồng (bấy giờ chỉ có cồng chiêng được coi là vật thiêng của
4
ngươi việt) đem đúc trụ chôn ở biên giới, nhằm tiêu diệt ý chí của người Việt.
Đây là cơ sở giải thích sự thất tán mạnh mẽ loại nhạc khí này trong quá khứ đời
sống tinh thần của người Việt, song có thể hiểu rằng người Việt đem cất dấu ở
1.2.
vùng núi và bắt đầu sự giao thoa văn hóa cồng chiêng với các tộc người khác.
Văn hóa cồng chiêng trong đời sống người dân Tây Nguyên
Nói đến Tây Nguyên, chắc chắn không một nhà nghiên cứu nào lại
không nói đến cồng chiêng. Có thể nói ở Tây Nguyên đã có một kho tàng cồng
chiêng đồ sộ và được sử dụng trong suốt tiến trình lịch sử. Cồng chiêng Tây
Nguyên gắn bó khá chặt chẽ với cuộc sống con người, nó liên quan mật thiết
đến vòng đời người, vòng cây trồng…
Tiếng cồng chiêng trong lễ “Thổi tai” cho đứa trẻ lọt lòng có ý nghĩa công
nhận chính thức, kết nạp thêm một thành viên nữa vào cộng đồng, có nghĩa vụ
và quyền lợi như mọi người. Khi đến tuổi thành niên, lấy vợ, lấy chồng, tiếng
chiêng trong lễ “trao vòng” (lễ cưới) có ý nghĩa như lời nhắc nhở, dặn dò đôi
trai gái phải tuân thủ những truyền thống của cha ông. Tiếng chiêng ấy có ý
nghĩa sâu sắc ít khi được nhắc lại trong một đời người.
Tiếng chiêng thúc giục khi có chiến tranh giữa các sắc tộc, hay khi
có thú dữ về phá hoại nương rẫy. Đó là sự thôi thúc trai tráng phải quên mình vì
sự sống còn của cộng đồng. Khi thắng trận trở về, tiếng chiêng trong lễ đâm
trâu lại dồn dập, tưng bừng. Đó là lễ ăn mừng chiến thắng. Dân làng đổ về nơi
tụ hội, cùng góp rượu, thịt, góp tài năng để biểu hiện sự hân hoan.
Tiếng chiêng chậm chạp, u hoài, ảm đạm, nặng nề báo tin trong dòng họ có
người qua đời. Nỗi đau được chia sẻ theo chiều dài vang vọng của tiếng chiêng,
gửi tâm tình bay qua chín núi mười sông. Qua tiếng chiêng mọi người xích lại
gần nhau hơn, nhắc nhở nhau đoàn kết, thương yêu, vượt qua những khó khăn.
Nhiều khi quanh bếp lửa, giữa những ghè rượu no tròn, cần vút cong, lúa
đầy bồ, bắp treo chật bếp, thịt rừng thơm phức, rạng rỡ những khuôn mặt mọi
người. Đó là lúc tiếng chiêng ấm áp không gian trong đêm ning nơng (nghỉ
ngơi). Dưới trời trăng sáng trai gái quây quần múa hát, tỏ tình. Những đêm hội
5
tụ ở nhà rông, tiếng chim tràn ngập cả núi rừng, vang vọng chín núi mười sông,
gọi trai làng về nhà rông hội tụ. Đến khi từ giã cõi đời, tiếng chiêng vẫn vang
vọng tiễn đưa, mãi đến khi sau lễ “bỏ mả” (pơthi), người đời mới thực sự quên.
Cái cồng, con chiêng đã ăn ở với con người đời đời kiếp kiếp. Tiếng cồng
chiêng thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm mộc mạc, chất phác, vui mừng, buồn
đau, yêu thương, căm giận của mỗi con người. Cồng chiêng đã đi vào đời sống,
vào cuộc đấu tranh sinh tồn và phát triển của đồng bào Tây Nguyên. Tiếng cồng
chiêng đã xuyên suốt cuộc đời người, thực sự là linh hồn, là xương, là thịt của
mọi thành viên trong tất cả cộng đồng.
CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG CỦA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN
1.1.
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây nguyên
Văn hóa cồng chiêng là hình thức sinh hoạt cộng đồng có từ lâu đời, gắn
bó mật thiết với cuộc sống của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. Không gian
văn hóa cồng chiêng trải rộng suốt 5 tỉnh Tây Nguyên (Kon Tum, Gia Lai, Đắk
Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) và chủ nhân của nó là các dân tộc Bana, Xêđăng, M nông, Cơho, Ê đê, J’rai… Mỗi buôn làng có một đội cồng chiêng riêng
6
phục vụ đồng bào trong những dịp sinh hoạt cộng đồng, lễ hội. Công chiêng có
mặt trong hầu hết các sinh hoạt văn hóa, lễ hội của người Tây Nguyên. Trong
tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, Tây Nguyên như được bao trùm trong
một không gian văn hóa lãng mạn và huyền ảo; nghe cồng chiêng như thấy
được cả không gian săn bắn, không gian làm rẫy, không gian lễ hội... của Tây
Nguyên. Chính điều này đã tạo nên và khẳng định giá trị nét sinh hoạt văn hóa
dân gian nổi bật nhất, đặc trưng nhất nhưng cũng đầy sức quyến rũ của vùng đất
sử thi hùng tráng này.
1.2.
Nét đặc trưng âm nhạc của cồng chiêng
Nghệ thuật âm nhạc của cồng chiêng đã được các nhà nghiên cứu âm nhạc
như GS. Trần Văn Khê, Tô Ngọc Thanh, Tô Vũ, Bùi Trọng Hiển…đúc kết, xác
định giá trị nghệ thuật cao trên Phương diện âm nhạc học, dân tộc nhạc học.
Theo nhiều nhà nghiên cứu, các dàn cồng chiêng Tây Nguyên lấy thang âm bồi
tự nhiên làm cơ sở để thiết lập thang âm của riêng mình, trong đó mỗi biên chế
của từng tộc người đều cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm cơ bản. Tuy
nhiên, cồng chiêng vốn là nhạc cụ đa âm, bên cạnh âm cơ bản bao giờ cũng
vang kèm một vài âm phụ khác, do đó, trên thực tế, một dàn 6 chiêng sẽ cho tối
thiểu 12 âm hay nhiều hơn nữa. Điều này lý giải tại sao âm sắc cồng chiêng
nghe thật đầy đặn và có chiều sâu.
Thực chất, mỗi chiếc cồng chiêng chỉ tạo ra một âm cơ bản trong
hàng âm, tương đương với mỗi phím trên các cây đàn. Điều đó có nghĩa là mỗi
một người trong dàn công chiêng chỉ đảm trách một nhạc âm trong đường tuyến
giai điệu và chuỗi giai điệu chính là kết quả của sự phối hợp ăn ý của cả dàn
cồng chiêng, biểu hiện tính diễn xướng tập thể của nghệ thuật cồng chiêng. Bên
cạnh đó, dàn cồng chiêng khi đánh lại trải dài trong không gian nên giai điệu
luôn hiện hữu dưới dạng âm thanh 3 chiều, cùng với độ cao thấp, dài ngắn, còn
nghe thấy cả độ xa gần của từng bộ phận cấu trúc bài bản. Đó chính là hiệu ứng
âm thanh nổi - một hiện tượng hết sức độc đáo, dường như chỉ có ở âm nhạc
cồng chiêng. Âm nhạc của cồng chiêng Tây Nguyên thể hiện trình độ điêu
7
luyện của người chơi trong việc áp dụng những kỹ năng đánh chiêng và kỹ năng
chế tác. Từ việc chỉnh chiêng đến biên chế thành dàn nhạc, cách chơi, cách trình
diễn, những người dân dẫu không qua trường lớp đào tạo vẫn thể hiện được
những cách chơi điêu luyện tuyệt vời. Mỗi dân tộc lại sáng tạo ra những bản
nhạc cồng chiêng khác nhau, mang đặc trưng của dân tộc mình.
Kết luận
1. Xu hướng phát triển:
Đứng trước sự phát triển của xã hội hiện đại, những ngôi nhà Rông, nhà
Gươl đã bắt đầu hiếm hoi, các tập tục văn hóa cổ truyền chứa đựng trong nó,
được sản sinh ra trong nền kinh tế rẫy nương, săn bắt đã dần dần mai một đi
trong đời sống “ở đất bằng làm ruộng nước” với thiết chế “điện, đường, trường,
8
trạm”, kinh tế gia đình với khuôn viên VAC như hiện nay. Một số lễ hội truyền
thống may mắn được “phục chế”, tái hiện với mục đích bảo tồn + phục vụ du
lịch thì những trình thức của lễ hội đều do các người già điều khiển qua sự tái
tạo lại bằng trí nhớ; những bài bản và hình thức diễn tấu ở mỗi giai đoạn lễ,
cũng do nghệ nhân già nhớ và hướng dẫn; cồng chiêng cũng do người già chế
tác, chỉnh âm... Giới trẻ, hầu như vắng mặt trong đời sống tinh thần của quá
khứ, và như thế, những sinh hoạt mang tính phong tục, tập quán đặc trưng của
tộc người khó mà lưu giữ được vào ký ức văn hóa của họ, như ý kiến cảnh báo
của các nhà nghiên cứu: “truyền thống văn hóa của một dân tộc sẽ chấm hết khi
thế hệ cuối cùng lưu giữ nó chết đi”... Điều này, đang đúng với thực trạng văn
hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và cả khu vực Trường Sơn – Tây
Nguyên nói riêng.
Như vậy, trước sự biến đổi kinh tế - xã hội, sự phát triển của nhận thức
cũng như sự hội nhập và tính chất toàn cầu hóa về thông tin, giao lưu văn hóa
như hiện nay, các tập tục cổ truyền rạn nứt, các lễ hội truyền thống dần dà mai
một... thì cũng đồng nghĩa với việc Không gian văn hóa của cồng chiêng sẽ mất
đi. Cần phải có những biện pháp thiết thực để thay đổi nhận thức của giới trẻ
cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên.
2. Vai trò đối với ngành du lịch:
Việc khai thác cồng chiêng trong hoạt động du lịch đã góp phần tạo công
ăn việc làm, tăng thêm nguồn thu cho một bộ phận cư dân bản địa Tây Nguyên.
Trong đó, du lịch cộng đồng được xem là hướng phát triển phù hợp. Du lịch
cồng chiêng đã góp phần bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị truyền thống
của đồng bào bản địa Tây Nguyên đồng thời giới thiệu được những nét văn hóa
đặc trưng đến với khách du lịch trong và ngoài nước. Du lịch cồng chiêng là cầu
nối giúp các tộc người hiểu biết lẫn nhau và “xích lại” gần nhau hơn, giúp mở
rộng quan hệ quốc tế và có lợi cho hòa bình thế giới.
3. Biện pháp bảo tồn và phát triển:
9
-Cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những
sinh hoạt văn hóa, âm nhạc gắn bó với cồng chiêng. Ghi âm, ghi hình các tài
liệu, tư liệu về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ, bảo
quản và phát huy lâu dài.
-Tiếp tục nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở năm tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ
cận.
-Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội gắn với vòng đời
người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây
Nguyên để tạo môi trường diễn xướng của cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa
cồng chiêng.
-Từng bước xây dựng Phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa - Thông tin) và tại
Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên
-Xây dựng một chiến lược dài hạn cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy
di sản cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðẩy mạnh công tác
đào tạo trong các trường nghệ thuật về cồng chiêng và Không gian văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên.
-Tổ chức biểu diễn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, ở
các trường học để nâng cao trình độ thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về
cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Mở rộng công tác tuyên truyền đến khách du lịch trong nước và nước
ngoài để mọi người hiểu được một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá đang được
lưu giữ tại Tây Nguyên.
Kết luận
4. Xu hướng phát triển:
Đứng trước sự phát triển của xã hội hiện đại, những ngôi nhà Rông, nhà
Gươl đã bắt đầu hiếm hoi, các tập tục văn hóa cổ truyền chứa đựng trong nó,
được sản sinh ra trong nền kinh tế rẫy nương, săn bắt đã dần dần mai một đi
trong đời sống “ở đất bằng làm ruộng nước” với thiết chế “điện, đường, trường,
trạm”, kinh tế gia đình với khuôn viên VAC như hiện nay. Một số lễ hội truyền
10
thống may mắn được “phục chế”, tái hiện với mục đích bảo tồn + phục vụ du
lịch thì những trình thức của lễ hội đều do các người già điều khiển qua sự tái
tạo lại bằng trí nhớ; những bài bản và hình thức diễn tấu ở mỗi giai đoạn lễ,
cũng do nghệ nhân già nhớ và hướng dẫn; cồng chiêng cũng do người già chế
tác, chỉnh âm... Giới trẻ, hầu như vắng mặt trong đời sống tinh thần của quá
khứ, và như thế, những sinh hoạt mang tính phong tục, tập quán đặc trưng của
tộc người khó mà lưu giữ được vào ký ức văn hóa của họ, như ý kiến cảnh báo
của các nhà nghiên cứu: “truyền thống văn hóa của một dân tộc sẽ chấm hết khi
thế hệ cuối cùng lưu giữ nó chết đi”... Điều này, đang đúng với thực trạng văn
hóa của các dân tộc thiểu số nói chung và cả khu vực Trường Sơn – Tây
Nguyên nói riêng.
Như vậy, trước sự biến đổi kinh tế - xã hội, sự phát triển của nhận thức
cũng như sự hội nhập và tính chất toàn cầu hóa về thông tin, giao lưu văn hóa
như hiện nay, các tập tục cổ truyền rạn nứt, các lễ hội truyền thống dần dà mai
một... thì cũng đồng nghĩa với việc Không gian văn hóa của cồng chiêng sẽ mất
đi. Cần phải có những biện pháp thiết thực để thay đổi nhận thức của giới trẻ
cũng như việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của cồng chiêng Tây Nguyên.
5. Vai trò đối với ngành du lịch:
Việc khai thác cồng chiêng trong hoạt động du lịch đã góp phần tạo công
ăn việc làm, tăng thêm nguồn thu cho một bộ phận cư dân bản địa Tây Nguyên.
Trong đó, du lịch cộng đồng được xem là hướng phát triển phù hợp. Du lịch
cồng chiêng đã góp phần bảo tồn, khôi phục và phát huy các giá trị truyền thống
của đồng bào bản địa Tây Nguyên đồng thời giới thiệu được những nét văn hóa
đặc trưng đến với khách du lịch trong và ngoài nước. Du lịch cồng chiêng là cầu
nối giúp các tộc người hiểu biết lẫn nhau và “xích lại” gần nhau hơn, giúp mở
rộng quan hệ quốc tế và có lợi cho hòa bình thế giới.
6. Biện pháp bảo tồn và phát triển:
-Cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những
sinh hoạt văn hóa, âm nhạc gắn bó với cồng chiêng. Ghi âm, ghi hình các tài
11
liệu, tư liệu về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ, bảo
quản và phát huy lâu dài.
-Tiếp tục nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở năm tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ
cận.
-Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa, các lễ hội gắn với vòng đời
người và vòng đời cây trồng ở các cộng đồng dân tộc thiểu số tại năm tỉnh Tây
Nguyên để tạo môi trường diễn xướng của cồng chiêng và sinh hoạt văn hóa
cồng chiêng.
-Từng bước xây dựng Phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêng Tây
Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa - Thông tin) và tại
Bảo tàng các tỉnh Tây Nguyên
-Xây dựng một chiến lược dài hạn cho việc phục hồi, bảo tồn và phát huy
di sản cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Ðẩy mạnh công tác
đào tạo trong các trường nghệ thuật về cồng chiêng và Không gian văn hóa
cồng chiêng Tây Nguyên.
-Tổ chức biểu diễn, giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng, ở
các trường học để nâng cao trình độ thưởng thức của mọi tầng lớp nhân dân về
cồng chiêng và văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
- Mở rộng công tác tuyên truyền đến khách du lịch trong nước và nước
ngoài để mọi người hiểu được một tài sản văn hóa phi vật thể vô giá đang được
lưu giữ tại Tây Nguyên.
12