1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Đất nước ta đang vận hành theo xu hướng hội nhập và phát triển cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thế giới. Trong những năm gần đây, phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho đất nước
ta những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội. Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập bình quân của người
lao động ngày càng tăng, an sinh xã hội được đảm bảo. Bên cạnh đó, do tác
động của nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề xã
hội mới nảy sinh và ngày càng phức tạp. Tình trạng phân hóa giàu nghèo, sự
bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng rõ rệt, tạo ra khoảng cách thu nhập
ngày càng lớn, là mầm mống cho những bất ổn định xã hội. Quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến nhiều lao động nông nghiệp mất tư liệu sản xuất,
di chuyển từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm và phải chấp nhận cuộc
sống bấp bênh đầy rủi ro. Nguy cơ thất nghiệp, bệnh tật, ốm đau đang đe dọa
một bộ phận NLĐ, nhất là lao động phổ thông, trong hoàn cảnh khủng hoảng
kinh tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu. Đói nghèo được thu hẹp nhưng tái
nghèo vẫn đang là nguy cơ đối với hàng chục triệu người. Hậu quả của tình
trạng xã hội trên đã và đang cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cản
trở mục tiêu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Để đảm bảo cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, đáp ứng
đầy đủ hơn các nhu cầu của con người thì rất cần thiết có một quỹ bảo hiểm
xã hội ổn định và ngày càng lớn mạnh. Một trong những yếu tố tạo nên sự ổn
định quỹ Bảo hiểm xã hội là công tác thu bảo hiểm xã hội và quản lý thu bảo
hiểm xã hội.
Để ngành BHXH phát triển và lớn mạnh thì công tác thu BHXH và
quản lý thu BHXH có vị trí hết sức quan trọng, bởi lẽ thu BHXH là yếu tố
2
hàng đầu, đóng vai trò then chốt trong việc tạo lập Quỹ BHXH. Quỹ BHXH
là một quỹ tiền tệ tập trung, nằm ngoài ngân sách nhà nước, dùng để chi trả
các chế độ BHXH cho NLĐ và duy trì hoạt động của bộ máy BHXH. Hiện
nay đối tượng tham gia, phạm vi BHXH ngày càng được mở rộng, nhiều đơn
vị tìm mọi cách để trốn tránh trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ của đơn
vị mình. Nợ đọng BHXH diễn ra theo chiều hướng xấu, cá biệt có nhiều đơn
vị lạm dụng quỹ BHXH, tiền đóng BHXH của NLĐ làm vốn sử dụng vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, gây ra nhiều khó khăn cho
việc quản lý thu BHXH và làm giảm hiệu quả hoạt động của cơ quan BHXH
trong công tác thu nộp nói riêng và trong công tác cân bằng thu, chi nói
chung, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của hệ thống BHXH,
đây là thực trạng của BHXH tại tỉnh Thái Bình.
Những vấn đề trên, nếu không được quan tâm khắc phục sẽ tác động
xấu đến toàn bộ hoạt động BHXH trên địa bàn tỉnh. Vì vậy thực hiện tốt việc
quản lý thu BHXH có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, nên tác giả chọn vấn đề: "Quản
lý thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình" làm đề tài luận văn
thạc sĩ để nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ năm 1995, sau 13 năm thành lập và đi vào hoạt động của hệ thống
BHXH Việt Nam, đã có trên một trăm công trình nghiên cứu của cán bộ lãnh
đạo, quản lý, các chuyên gia trong ngành và ngoài ngành, từ đề tài cấp bộ,
luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đi sâu cứu những vấn đề chung, cũng như từng
lĩnh vực cụ thể về BHXH, nhưng về quản lý thu BHXH còn rất hạn chế, mới có
một số đề tài trong lĩnh vực này được nghiên cứu một cách có hệ thống, đó là:
- "Thực trạng quản lý thu bảo hiểm xã hội hiện nay và các biện pháp
nâng cao hiệu quả công tác thu", đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, do Tiến
sĩ Nguyễn Văn Châu, nguyên Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam chủ nhiệm đề
tài, bảo vệ năm 1996.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thu BHXH của một số
nước trên thế giới và tổng kết hoạt động thực tiễn của quản lý thu BHXH ở
3
Việt Nam trước năm 1995 và đến năm 1996; tác giả làm rõ thực trạng hoạt
động BHXH đặc biệt là công tác thu BHXH trong thời gian qua, nhằm phân
tích khả năng thu BHXH để bù đắp các chế độ BHXH, thay thế dần các
nguồn chi lấy từ Ngân sách nhà nước, đồng thời đề xuất một số kiến nghị cụ
thể nhằm cải tiến công tác thu BHXH ở Việt Nam.
- " Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu bảo hiểm xã hội“,
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, do Tiến sĩ Dương Xuân Triệu, Giám đốc
Trung tâm thông tin khoa học BHXH Việt Nam, bảo vệ năm 1999.
Trên cơ sở nghiên cứu 5 mô hình quản lý thu BHXH của các nước
trong khu vực và thế giới, tác giả đã làm rõ một số khái niệm xung quanh vấn
đề thu BHXH, thực trạng quản lý thu BHXH, đồng thời đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH phù hợp với từng loại đối
tượng ở Việt Nam.
- " Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội khu vực doanh nghiệp ngoài
quốc doanh ở Việt Nam", đề tài luận văn Thạc sĩ của tác giả Trần Quốc Tuý,
Ban Tuyên truyền- BHXH Việt Nam, bảo vệ năm 2000. Đề tài nghiên cứu
quá trình tổ chức thực hiện thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc
doanh từ năm 1995 đến năm 2000; làm rõ thêm cơ sở lý luận và thực tiễn về
quản lý thu BHXH khu vực này; thực trạng và giải pháp hoàn thiện quản lý
thu BHXH khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam.
Đề tài "Hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Thái
Bình" được tác giả lựa chọn để nghiên cứu, hiện tại chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách có hệ thống trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu của luận văn là nhằm hoàn thiện công tác quản lý Thu BHXH
tại BHXH tỉnh Thái Bình.
Để đạt được mục tiêu trên, khi nghiên cứu đề tài này phải thực hiện các
nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý thu BHXH.
4
- Phân tích thực trạng quản lý Thu BHXH tại BHXH tỉnh Thái Bình,
đánh giá những kết quả và hạn chế và tìm ra nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã
hội tại BHXH tỉnh Thái Bình trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý thu bảo hiểm xã hội
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về Quản lý Thu BHXH trên
địa bàn tỉnh Thái Bình từ khi Luật BHXH có hiệu lực đến nay (2009 – 2014).
Nội dung nghiên cứu chỉ đi sâu về quản lý thu BHXH bắt buộc .
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng được đề ra trong các kỳ Đại hội.
- Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp, hệ thống và khái
quát hoá, có minh hoạ, đối chiếu, so sánh, kế thừa một số công trình đã công
bố có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề
cần quan tâm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Các kết quả nghiên cứu, giải pháp và một số kiến nghị của đề tài có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa
học, các cơ quan xây dựng pháp luật khi nghiên cứu nhằm sửa đổi, bổ sung,
hoàn thiện pháp luật bảo hiểm xã hội, đồng thời giúp cho bảo hiểm xã hội tỉnh
Thái Bình nghiên cứu, vận dụng nhằm thực hiện tốt hơn chính sách về Bảo
hiểm xã hội nói chung và quản lý thu bảo hiểm xã hội nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý thu bảo hiểm xã hội.
Chương 2: Thực trạng quản lý thu BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu BHXH tại
Bảo hiểm xã hội tỉnh Thái Bình
5
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1. Thu Bảo hiểm xã hội
1.1.1. Bảo hiểm xã hội
1.1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội ra đời từ thế kỷ 19 và phát triển mạnh ở các nước
Châu âu như Nước Phổ (Cộng hòa liên bang Đức ngày nay), nước Pháp, nước
Bỉ. Nửa đầu thế kỷ 20, Bảo hiểm xã hội phát triển mạnh cả sang Bắc Mỹ. Tại
Mỹ, năm 1935 đã ban hành đạo luật về An sinh xã hội với nội dung đều tương
tự như các chế độ BHXH ngày nay. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thuộc
Liên Hợp quốc đã ký công ước Giơ-Ne-Vơ (Công ước số 102) về “BHXH
cho NLĐ” và khuyến nghị các nước thực hiện BHXH cho NLĐ tùy theo khả
năng và điều kiện kinh tế - xã hội của mình. Từ đó BHXH đã được phổ biến ở
tất cả các nước trên thế giới, đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, mang
tính nhân đạo, nhân văn.
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản
xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học
và được dự báo trước, con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất
ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như: thiên tai, tai nạn giao thông,
tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, bệnh dịch ….Những bất trắc, rủi ro
đó đã gây ra và đem đến cho con người những tổn thất, hậu quả to lớn cả về
mặt kinh tế lẫn môi trường sinh thái và môi trường xã hội. Chính vì vậy mà
con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc
phục những biến cố rủi ro đó.
Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế rủi ro thường được
con người chủ động đưa ra các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý
hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt xã hội để buộc mọi
6
đơn vị, mọi tổ chức và mọi thành viên trong xã hội phải tuân thủ thực hiện.
Chẳng hạn, để phòng chống bão, lũ Nhà nước ban hành Luật về đê điều: để
phòng tại nạn giao thông Nhà nước ban hành Luật giao thông đường bộ,
đường thủy, hàng không…
Mặt khác, theo quy luật sinh học thì con người thường phải trải qua các
giai đoạn là: con người được sinh ra, được nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành,
lao động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình, tiếp đến là giai
đoạn hết tuổi lao động, già, yếu, bệnh tật được xã hội, gia đình và lớp người
kế tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi chết. Con người muốn tồn tại và
phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở, đi lại…Để thỏa mãn những nhu cầu đó,
con người phải lao động để đem lại thu nhập. Nhưng trong toàn bộ cuộc đời,
không phải lúc nào con người cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để có
thu nhập. Trái lại, trong thực tế có rất nhiều những rủi ro bất lợi ngẫu nhiên
đến với con người như ốm đau, tai nạn, suy giảm sức khỏe, mất việc
làm…Trong khi đó con người luôn cần có những nhu cầu về vật chất và tinh
thần. Thậm chí trong một số trường hợp, nhu cầu chi tiêu mới nảy sinh còn
tăng thêm như chi phí khám, chữa bệnh, chăm sóc nuôi dưỡng …Chính vì
vậy, để chủ động khắc phục những khó khăn, tổn thất đó, mỗi NLĐ và cộng
đồng xã hội cần thiết phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời đáp
ứng nhu cầu không những cho bản thân mình, mà còn cho cả những người
mình phải trực tiếp nuôi dưỡng và cho cả những người gặp phải những biến
cố rủi ro (kể cả ngẫu nhiên và tất yếu) trong đời sống xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những
NLĐ và người chủ sử dụng lao động. Lúc đầu người chủ sử dụng lao động chỉ
cam kết trả công lao động, nhưng về sau họ đã phải cam kết cả việc đảm bảo
cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu
cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản, tuổi già... Trong thực tế,
nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một
7
đồng tiền nào. Nhưng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc người chủ phải bỏ ra một
khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế chủ sử dụng lao động đã dần dần
không thực hiện những cam kết ban đầu, dẫn đến việc tranh chấp giữa chủ sử
dụng lao động và NLĐ.
Để giải quyết mâu thuẫn này, đã xuất hiện "bên thứ ba" đóng vai trò
trung gian nhằm điều hòa lợi ích giữa chủ sử dụng lao động và NLĐ. Điều
này có ý nghĩa là, thay vì phải chi trực tiếp những khoản tiền lớn đột xuất cho
NLĐ khi họ gặp bất trắc, chủ sử dụng lao động có thể trích ra thường xuyên
hàng tháng một khoản tiền nhỏ dựa trên cơ sở xác xuất những biến cố của tập
hợp những NLĐ làm thuê. Số tiền này được giao cho bên thứ ba quản lý
được tồn tích dần thành một quỹ. Khi NLĐ bị ốm đau, tai nạn... "bên thứ
ba" sẽ chi trả theo cam kết không phụ thuộc vào chủ sử dụng có muốn hay
không muốn. Như vậy, một mặt chủ sử dụng lao động đỡ bị thiệt hại về kinh tế,
mặt khác NLĐ làm thuê được đảm bảo chắc chắn bù đắp một phần thu nhập
khi bị ốm đau, tai nạn và khi về già. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng
phát triển, năng suất lao động đòi hỏi cần được tăng lên, dẫn đến "rủi ro" lao
động càng lớn. Lúc này NLĐ luôn mong muốn được bảo đảm nhiều hơn, còn
ngược lại chủ sử dụng lao động lại mong muốn phải chi ít hơn, tức là phải
đảm bảo cho NLĐ ít hơn, do đó việc tranh chấp về lợi ích lại xảy ra. Trước
tình hình đó Nhà nước đã phải can thiệp và điều chỉnh. Sự can thiệp này một
mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, chủ sử dụng lao động buộc phải đóng
thêm, đồng thời NLĐ cũng phải đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho
chính mình. Cả chủ sử dụng lao động và NLĐ đều cảm thấy mình được bảo
vệ. Các nguồn đóng góp của người chủ sử dụng lao động, NLĐ và sự hỗ
trợ của Nhà nước đã hình thành nên Quỹ bảo hiểm xã hội. Do tập trung nên
quỹ có khả năng giải quyết các phát sinh của rủi ro cho tập hợp NLĐ trong
toàn xã hội.
8
Như vậy sự ra đời của bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển
chung của xã hội, đòi hỏi bảo hiểm xã hội ngày càng phải được củng cố và
hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Vậy “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội” [5, tr.2]
1.1.1.2. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội
- BHXH mang tính chất xã hội, phi lợi nhuận, vì mục đích phục vụ
cộng đồng xã hội, nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và nhà
nước, đảm bảo cho NLĐ có khoản trợ cấp thiết yếu khi gặp rủi ro, khó khăn
trong cuộc sống.
- BHXH chỉ bảo đảm cho các rủi ro bản thân, không bảo đảm cho các
rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
- Mức hưởng bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian
đóng và có chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
- Sự tương hỗ trong BHXH được thực hiện trong một cộng đồng rộng
rãi, toàn xã hội, nhằm chia sẻ rủi ro.
- BHXH là một hoạt động thỏa thuận và không thỏa thuận. Điều này
thể hiện ở chỗ BHXH có cả BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện.
1.1.1.3. Chức năng chủ yếu của Bảo hiểm xã hội
+ Phòng ngừa rủi ro :
Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội
hoặc các đối tượng đã tham gia trong quá trình kinh tế xã hội trước đây hoặc
tất cả các công dân...hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn
mực sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ
rủi ro xảy ra.
9
+ An sinh xã hội :
Với chức năng này rất cần thiết cho NLĐ, NSDLĐ mà còn đảm bảo sự
ổn định chính trị, an toàn xã hội cho quốc gia, đảm bảo chắc chắn đối với
mọi thành viên trong xã hội gặp cảnh nghèo đói đều được cung cấp một
khoản thu nhập bằng tiền cũng như các dịch vụ chăm sóc về y tế và dịch vụ
xã hội đầy ý nghĩa.
Hai chức năng trên hỗ trợ cho nhau. Đảm bảo ổn định kinh tế tài chính
cho NLĐ, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực
chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn
cho quốc gia về kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng. Chính vì thế mà hiện
nay đã có 182 nước có luật về BHXH. Có thể nói BHXH là một trong những
hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể chế chính
trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Bảo hiểm xã hội đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh
xã hội, ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua các tác động chủ
yếu cụ thể sau:
- Bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ bị giảm thu nhập hoặc bị
mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động, bị mất
việc làm. Đây là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người sẽ mất khả
năng lao động khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của
BHXH. Đây là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm
vụ và cơ chế hoạt động của hệ thống BHXH.
- Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia đóng góp quỹ BHXH. Tham gia BHXH của NSDLĐ, NLĐ và nhà
nước hỗ trợ đóng góp hình thành xây dựng quỹ BHXH. Quỹ BHXH này được
sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham gia BHXH không
may gặp tai nạn, rủi ro. Thực tế chỉ ra rằng số tiền trợ cấp được hưởng thường
nhỏ hơn rất nhiều so với số tiền mình tham gia, do áp dụng theo quy luật số
10
đông bù ít, quỹ BHXH đã thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều
ngang lẫn chiều dọc. Sự phân phối này thể hiện phân phối thu nhập giữa
những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp, giữa những
người đang làm việc khoẻ mạnh với những người tuổi cao sức yếu, già cả, ốm
đau đang nghỉ việc. Chức năng này của BHXH đã góp phần tạo nên sự công
bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc.
- Góp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích NLĐ
hăng hái sản suất nâng cao chất lượng, năng suất lao động tạo ra nhiều của cải
cho xã hội. Quỹ BHXH thực hiện chức năng này là do họ không may gặp phải
các tai nạn rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn nhưng sự
suy giảm này đã được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH. Vì vậy
mà đời sống sinh hoạt hàng ngày của NLĐ và gia đình họ không còn bị xáo
trộn. Hay nói một cách khác là họ luôn luôn được bảo đảm ổn định cuộc sống
và có chỗ dựa về mặt vật chất, tinh thần. Chính vì vậy họ luôn yên tâm để sản
xuất nâng cao chất lượng, năng suất lao động.
- Gắn bó lợi ích giữa NSDLĐ và NLĐ giữa NSDLĐ với xã hội. Thông
qua BHXH những mâu thuẫn giữa những NLĐ và NSDLĐ. Như mâu thuẫn
về tiền lương, tiền thưởng, thời gian lao động… sẽ được hoà giải và giải quyết
kịp thời. Đặc biệt nhờ có BHXH mà cả hai bên đều thấy được quyền lợi của
mình được quan tâm bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó chặt
chẽ lợi ích với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội thì chi hỗ trợ cho BHXH là
khoản chi rất nhỏ nhưng lại đạt được hiệu quả rất cao, đảm bảo ổn định đời
sống của NLĐ và gia đình họ, góp phần ổn định sản xuất và phát triển kinh tế
xã hội.
1.1.1.4. Đối tượng của Bảo hiểm xã hội
Mặc dù ra đời đã rất lâu nhưng đối tượng của BHXH còn có nhiều quan
điểm chưa thống nhất dẫn đến sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH với đối
tượng tham gia BHXH.
11
Như đã phân tích ở trên, Bảo hiểm xã hội là việc lập ra một nguồn ngân
quỹ nhằm đảm bảo bù đắp cho khoản thu nhập bị giảm hoặc mất đi của NLĐ
do họ bị mất hoặc giảm khả năng lao động, bị mất việc làm, do ốm đau bệnh
tật, tai nạn, tuổi già... vì vậy đối tượng của BHXH chính là phần thu nhập bị
mất đi hay giảm đi do sự rủi ro mà NLĐ gặp phải trong cuộc sống, làm giảm
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm.
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà
bao gồm các khoản thu nhập khác ngoài lương như: phụ cấp chức vụ, phụ cấp
thâm niên nghề… do NLĐ đóng góp để được hưởng trợ cấp BHXH.
Đối tượng tham gia của BHXH là NLĐ và NSDLĐ. Họ là những người
trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản % nhất định so
với tiền lương của NLĐ theo quy định của luật BHXH. Tuỳ theo điều kiện
phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc
một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội.
Trong thời kì đầu khi triển khai BHXH ở hầu hết các nước chỉ áp dụng
đối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định,
đảm bảo an toàn quỹ BHXH.
Hiện nay khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng lao động trong và
ngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhiều thì đối tượng tham gia BHXH
và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng ra. Vì vậy đối tượng tham gia
của BHXH bao gồm:
- Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: là NLĐ và người sử dụng lao
động phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng
BHXH theo quy định của Luật BHXH.
- Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: áp dụng cả với người làm công
ăn lương và NLĐ không làm công ăn lương. Thường là do sự đóng góp của
NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước.
12
1.1.2. Thu Bảo hiểm xã hội
1.1.2.1. Khái niệm
“Thu BHXH là việc nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các
đối tượng phải đóng BHXH theo mức phí qui định hoặc cho phép một số đối
tượng tự nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp
với thu nhập của mình. Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung
nhằm mục đích đảm bảo cho các hoạt động BHXH”. [7, tr.5]
Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của
các đối tượng tham gia BHXH, phân phối và phân phối lại một phần của cải
xã hội dưới dạng giá trị, nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ về mặt lợi
ích kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội.
1.1.2.2. Nguyên tắc thu Bảo hiểm xã hội
* Thu dựa trên các văn bản pháp luật
Thu BHXH có tầm quan trọng đặc biệt, không những có vai trò to lớn
trong việc cân đối quỹ, thu còn đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát
triển của toàn ngành BHXH. Hoạt động thu BHXH có phạm vi và quy mô
rộng lớn, liên quan nhiều mặt đến các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước,
ảnh hưởng đến lợi ích của số đông NLĐ trong cộng đồng xã hội. Nếu Thu
BHXH đạt hiệu quả cao sẽ có nhiều đối tượng được tham gia vào hệ thống
BHXH, số thu huy động vào quỹ BHXH ngày càng cao, từ đó quỹ BHXH
được phát triển và đảm bảo an toàn. Ngược lại, khi thu BHXH đạt hiệu quả
thấp, số huy động vào quỹ BHXH thấp, đây là nguyên nhân trực tiếp gây mất
cân đối quỹ BHXH, quỹ BHXH dựa trên nguyên tắc cơ bản là có thu thì mới
có chi vì vậy khi số thu nhỏ hơn số chi sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển và tồn
tại của toàn ngành BHXH.
Do vậy để hoạt động thu BHXH đạt hiệu quả cao thì nguyên tắc đầu
tiên của thu BHXH là phải đảm bảo thực hiện đúng theo các văn bản pháp
luật quy định từ đối tượng thu, số tiền thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu,
13
tổ chức và kiểm tra giám sát thu …Trong quá trình thực hiện thu theo các văn
bản pháp luật quy định sẽ còn nhiều vấn đề phát sinh trong văn bản luật,
nhiều văn bản còn chưa thực sự chặt chẽ, tạo nhiều lỗ hổng để đối tượng tham
gia BHXH lợi dụng nhằm trốn đóng hoặc đóng không đúng quy định, đòi hỏi
các cán bộ làm công tác thu vừa phải nghiêm túc thực hiện theo chỉ đạo của
văn bản Luật quy định vừa phải có sự đóng góp với cấp trên nhằm hoàn thiện
hơn nữa các văn bản quy định về thu BHXH. Ngày 20/11/2014 Quốc hội ban
hành Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH 13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2016
thay thế Luật bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11.
Hiện nay thu BHXH ngoài việc thực hiện theo Luật BHXH (ngày 29 tháng
6 năm 2006) còn có các nghị định, thông tư, quyết định sửa đổi bổ sung như:
- Nghị định 152/2006/ NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng
dẫn một số điều của Luật BHXH
- Thông tư số 03/2007/TT- BLĐTBXH ngày 30/01/2007 của Bộ Lao
động thương binh xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số
152/2006/NĐ-CP ngày 22/12/2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của
Luật BHXH về BHXH bắt buộc
- Thông tư số 19/2008/TT-BLĐTBXH ngày 23/9/2008 của Bộ Lao
động thương binh xã hội về việc sửa đổi, bổ sung Thông tư số 03/2007/TTBLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 về hướng dẫn thực hiện một số điều của
Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng
dẫn một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc
- Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày 26/6/2007 về quản lý thu bảo
hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc.
- Quyết định số 1333/QĐ-BHXH ngày 21/12/2008 của BHXHVN Về
việc sửa đổi, bổ sung một số điểm tại Quyết định số 902/QĐ-BHXH ngày
26/6/2007 của Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành quy định
về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc.
14
- Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 về việc
ban hành quy định quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý sổ bảo
hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế.
* Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo đúng thời gian quy
định
Muốn thực hiện được nguyên tắc này cần phải nắm chắc được các nguồn
thu BHXH, nguồn thu của quỹ BHXH quy định tại Luật BHXH bao gồm:
+ Nguồn đóng BHXH của NLĐ tham gia BHXH
+ Nguồn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động
+ Tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ
+ Nguồn hỗ trợ của nhà nước
+ Các nguồn thu hợp pháp khác
Để nắm chắc được các nguồn thu trên phải tăng cường công tác quản
lý chặt chẽ các nguồn thu, đối với các nguồn thu khác nhau phải có phương
pháp quản lý thích hợp.
- Các cơ quan, các doanh nghiệp đóng BHXH thì phần đóng góp phải
dựa trên quỹ lương, quỹ lương này bao gồm toàn bộ là lương cứng và các
khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nghề, phụ cấp thâm niên vượt
khung, phụ cấp chênh lệch bảo lưu, đồng thời quỹ lương này phải chi trả cho
tất cả các đối tượng tham gia đóng BHXH.
- Thu BHXH phải mang tính trực tiếp, hạn chế tối đa hiện tượng khoán
thu để được hưởng hoa hồng.
- Về nguyên tắc cơ quan BHXH phải quyết toán từng tháng, phải đảm
bảo tất cả các số thu phải ăn khớp với nhau và phải thực sự cân đối : giữa
NLĐ, NSDLĐ, loại hình doanh nghiệp, loại hình thu.
- Lãi đầu tư quỹ nhàn rỗi BHXH, về nguyên tắc phải được bù đắp vào
quỹ để bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ, phần trích ra chi cho các mục đích
khác như chi cho khen thưởng, chi quản lý và những khoản chi khác phải tuân
15
thủ theo đúng những quy định của Pháp luật. Các khoản tài trợ của các tổ
chức, các quỹ từ thiện, đặc biệt là các khoản nợ của người tham gia phải được
hạch toán riêng, các khoản nợ khó đòi phải được tính lãi suất .
Thu đúng đối tượng, đủ số lượng và đúng thời gian quy định phụ thuộc
vào công tác quản lý thu BHXH, thực tế có rất nhiều đơn vị nộp không đủ số
lượng theo quy định hàng tháng, tình trạng trốn đóng và nợ đọng BHXH còn
xảy ra nhiều, để quản lý tốt cần có biện pháp quản lý thu BHXH khoa học kết
hợp với các biện pháp hành chính cứng rắn.
* Bảo đảm quyền lợi người tham gia Bảo hiểm xã hội
Bảo vệ quyền lợi của NLĐ trong các đơn vị được tham gia BHXH. Đây
là quyền lợi chính đáng và hợp pháp của NLĐ đã được quy định trong văn
bản Luật BHXH, nhưng trong thực tế do doanh nghiệp phải trích đóng BHXH
cho cơ quan BHXH là 18% tổng tiền lương hàng tháng trong hợp đồng lao
động còn NLĐ chỉ phải đóng 8% tổng tiền lương hàng tháng trong hợp đồng
[4, tr.25, 26] nên nhiều doanh nghiệp đã chủ động không đóng BHXH cho
NLĐ hoặc đóng không đủ, không đúng số lượng quy định điều này ảnh
hưởng đến quyền lợi của NLĐ, khi số tiền lương đóng thấp hoặc không đóng
thì mức trợ cấp cho NLĐ khi phát sinh: ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, tử
tuất…sẽ không được hưởng hoặc hưởng ít hơn so với quyền lợi của họ. Vì
vậy đảm bảo quyền lợi của người tham gia BHXH là nguyên tắc quan trọng
của ngành BHXH, nhằm thực hiện được mục tiêu an sinh xã hội.
* Bảo đảm hoạt động thu Bảo hiểm xã hội ổn định, bền vững, hiệu quả
Tính ổn định, bền vững, hiệu quả của hoạt động thu BHXH là những mục
tiêu mà bất kì một hệ thống BHXH nào, của một quốc gia nào cũng mong muốn
đạt được. Hoạt động thu BHXH đóng vai trò là xương sống của toàn ngành
BHXH, vì vậy đảm bảo hoạt động thu BHXH luôn được ổn định, bền vững, hiệu
quả cũng chính là giúp ngành BHXH phát triển ổn định, bền vững, hiệu quả.
Song, để đạt được những mục tiêu này phải đảm bảo các điều kiện:
16
- Hoạt động thu BHXH được định hướng đúng đắn, phù hợp với điều
kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kì. Định hướng công tác
thu đó là: thu đúng, thu đủ, thu đúng thời gian quy định, không để thất thu, từ
đó hướng mọi nỗ lực của cá nhân, tổ chức vào mục tiêu đó.
- Hoạt động thu BHXH được điều hòa, phối hợp nhịp nhàng, từ đó giúp
tăng cường ổn định trong hệ thống nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu quản lý
thu BHXH.
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức. Thông qua công tác
đánh giá, khen thưởng những cá nhân, tổ chức thu BHXH tốt, kịp thời uốn
nắn những sai lệch, thiếu sót của cá nhân trong tổ chức có biểu hiện làm thất
thoát số thu hoặc số thu đạt hiệu quả thấp .
1.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu bảo hiểm xã hội
* Các văn bản pháp luật của Nhà nước
- Về chính sách tiền lương :
Giữa chính sách tiền lương và chính sách bảo hiểm xã hội nói chung và
công tác thu bảo hiểm xã hội nói riêng có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau,
chính sách tiền lương là tiền đề và cơ sở cho việc thực hiện chính sách bảo
hiểm xã hội, bởi vì cơ sở để tính toán mức đóng và mức hưởng bảo hiểm xã
hội của chúng ta hiện nay là phụ thuộc vào mức lương cơ sở, mức lương tối
thiểu vùng, mức lương áp dụng với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
do nhà nước quy định. Như vậy khi nhà nước nâng mức lương lên đồng nghĩa
với việc mức đóng bảo hiểm xã hội cũng phải tăng lên.
- Về quy định xử phạt vi phạm Luật BHXH :
Hiện nay các quy định về xử phạt vi phạm Luật BHXH vẫn còn chưa
đủ mạnh và mang tính răn đe cần thiết để hạn chế và chấm dứt các hành vi vi
phạm. Các hành vi vi phạm đa phần là xử lí vi phạm hành chính, mà các mức
đóng vi phạm này chưa đủ lớn để khiến các đối tượng không dám vi phạm,
hiện nay mức nộp phạt chậm đóng đối với đơn vị nợ tiền BHXH chỉ là 12%
17
đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH tại thời điểm lập biên bản vi phạm
hành chính nhưng tối đa không quá 75 triệu đồng [10, tr.25] mức phạt quá
thấp khiến cho người chủ sử dụng lao động cố tình vi phạm, không đóng
BHXH cho NLĐ, chủ động lấy tiền đóng BHXH của NLĐ để đầu tư kinh
doanh sinh lời, ảnh hưởng quyền lợi của NLĐ cũng như gây thiệt hại nặng nề
cho Quỹ BHXH, để hạn chế những điều này, đòi hỏi có các quy định sửa đổi
kịp thời về mức phạt chậm đóng, cũng như các quy định về việc truy cứu
trách nhiệm hình sự các đối tượng cố tình vi phạm, những điều này sẽ góp
phần chấm dứt tình trạng vi phạm luật BHXH, giúp công tác thu được diễn ra
thuận lợi, đảm bảo quyền lợi NLĐ.
* Điều kiện phát triển kinh tế xã hội
Điều kiện phát triển kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn
Thu Bảo hiểm xã hội nói riêng và chính sách an sinh xã hội của toàn ngành
BHXH nói chung. Khi kinh tế - xã hội kém phát triển, thì các doanh nghiệp
đang hoạt động cũng gặp khó khăn, nguồn thu BHXH sẽ bị giảm sút, đồng
thời khi nền kinh tế đi xuống, sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp phá sản, ngừng
hoạt động dẫn tới NLĐ sẽ bị mất việc làm, tình trạng thất nghiệp tràn lan,
bùng phát. Nguồn thu bị giảm sút nhưng chế độ về chính sách cho NLĐ như:
thất nghiệp, ốm đau,thai sản, hưu trí …vẫn phải tiếp tục, nguồn thu BHXH
không đủ cho nguồn chi các chế độ BHXH sẽ làm cho nguồn quỹ BHXH bị
thâm hụt, dẫn tới sự đổ vỡ của cả hệ thống ngành BHXH.
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bắt đầu từ Hoa kỳ đã
gây ra sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng, sụt giá
chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều nước… dẫn tới suy thoái
kinh tế toàn cầu. Việt Nam cũng không nằm ngoài sự ảnh hưởng đó, tình hình
kinh tế diễn biến tiêu cực, sự đổ vỡ nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ, một số
doanh nghiệp khác phải thu hẹp quy mô hoạt động, NLĐ thiếu việc làm và
thu nhập giảm, doanh nghiệp thì không có vốn để kinh doanh, tình trạng nợ
18
đọng diễn ra theo chiều hướng xấu, dẫn tới việc đóng góp vào quỹ BHXH
cũng bị giảm sút nghiêm trọng ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển và
duy trì quỹ BHXH.
* Nhận thức của chủ sử dụng lao động và người lao động về Bảo hiểm
xã hội
Hiện nay còn nhiều doanh nghiệp và NLĐ chưa hiểu đầy đủ về quyền
lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH dẫn đến các doanh nghiệp và NLĐ chưa
có ý thức tự giác tham gia BHXH mà chỉ coi đó là một điều kiện bắt buộc để
có thể sản xuất kinh doanh theo các quy định của Nhà nước. Nếu người sử
dụng lao động và người lao động đều nhận thức được đầy đủ quyền lợi và
nghĩa vụ của mình khi thực hiện chính sách BHXH thì sẽ tích cực tham gia
góp phần thúc đẩy chính sách an sinh xã hội phát triển.
*Trình độ năng lực cán bộ quản lý thu của ngành Bảo hiểm xã hội
Hiện nay công tác thu và quản lý thu BHXH rất phức tạp, khối lượng
công việc nhiều, đa phần là quá tải đối với mỗi cán bộ, các văn bản luật, nghị
định, hướng dẫn từ các cấp ban ngành được cập nhật thường xuyên, liên tục
đòi hỏi người cán bộ phải chuyên tâm nghiên cứu, cần cù, có trách nhiệm với
công việc đồng thời phải có một trình độ nhất định, cũng như sự hiểu biết về
công nghệ thông tin, đảm bảo được công tác quyết toán thu hàng tháng với
đơn vị phải chính xác, đúng với hướng dẫn của luật BHXH, kịp thời xử lí các
phát sinh làm trái với luật BHXH ban hành. Nếu cán bộ có năng lực tốt thì
việc xử lý công việc đạt kết quả tốt hơn, nâng cao hiệu quả quản lý BHXH.
1.2. Quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.1 Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội
“Quản lý thu BHXH là quá trình tác động của cơ quan BHXH đối với
mọi tổ chức cá nhân có liên quan đến Thu BHXH theo một quy trình từ xác
định đối tượng thu, mức thu, phương thức thu, lập kế hoạch thu đến tổ chức
19
thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá việc thực hiện thu nhằm đạt được
mục tiêu thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thu BHXH vào Quỹ BHXH nhằm
đáp ứng nguồn kinh phí chi trả các chế độ BHXH trên nguyên tắc có đóng, có
hưởng” [45, tr.4]. Hoạt động quản lý thu đóng vai trò quan trọng đối với thu
BHXH. Trong quá trình tiến hành công tác thu với phương châm là thu đúng
đối tượng, phạm vi, đúng thời gian và quan trọng hơn nữa là thu được đủ số
tiền đóng BHXH từ các đối tượng tham gia BHXH thì việc tăng cường công
tác quản lý thu BHXH là vấn đề được các cơ quan quản lý rất quan tâm. Để
hình thành nên một kế hoạch thu, một chính sách thu BHXH thích ứng với cơ
chế quản lý kinh tế đang trong quá trình đổi mới, đòi hỏi phải nghiên cứu, giải
quyết hàng loạt vấn đề cả về lý luận và thực tiễn.
1.2.2. Mục tiêu quản lý thu bảo hiểm xã hội
1.2.2.1.Phát triển quỹ bảo hiểm xã hội
Theo quy định của Luật BHXH: “Quỹ bảo hiểm xã hội là một quỹ tài
chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước dùng để chi trả các
chế độ bảo hiểm xã hội cho NLĐ” [5, tr.3].
Có thể nói Quỹ BHXH là bộ phận quan trọng nhất của ngành BHXH,
nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của ngành BHXH, ở nước ta hiện nay
thì quỹ BHXH được hình thành từ 3 nguồn chủ yếu: Đóng góp của NLĐ, chủ
sử dụng lao động và phần hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước.
Ngoài sự tham gia đóng góp của NSDLĐ, NLĐ và Nhà nước. Quỹ
BHXH còn được hình thành từ các nguồn khác như: tiền xử phạt đối với các
đơn vị vi phạm theo Luật BHXH, các khoản hỗ trợ, viện trợ của các tổ chức
trong và ngoài nước, các khoản lãi từ hoạt động đầu tư tài chính từ phần quỹ
BHXH nhàn rỗi…
Trong cơ cấu chi từ quỹ BHXH thì chi trả cho các chế độ BHXH là rất
lớn, chiếm phần lớn nguồn quỹ BHXH vì đây là mục tiêu cơ bản nhất của
BHXH: bảo đảm ổn định cuộc sống cho NLĐ, cho các hoạt động của các đơn
20
vị, tổ chức. Trong thực tế việc chi trả cho các chế độ BHXH diễn ra thường
xuyên, liên tục với số lượng chi phí lớn trên phạm vi rộng lớn. Một trong
những khoản chi thường xuyên hàng tháng đó là chi lương hưu cho những
NLĐ đã nghỉ công tác và chi trả trợ cấp BHXH hàng tháng cho thân nhân của
NLĐ, người đang nghỉ hưu khi họ không may qua đời .
Nguồn chi thứ hai trong quỹ BHXH đó là chi phí dự trữ, thực chất đây
là quá trình tích luỹ lâu dài trong quá trình sử dụng quỹ BHXH. định kỳ hàng
tháng, quý, năm cơ quan BHXH giữ hay trích lại một phần quỹ BHXH của
mình để thành lập nên quỹ dự phòng, dự trữ quỹ BHXH. Quỹ này chỉ được
sử dụng trong những trường hợp khi nhu cầu chi trả quá lớn dẫn đến thâm
hụt quỹ BHXH như trong lúc đồng tiền mất giá và do hội đồng quản lý
quyết định.
Do sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của quỹ BHXH, nên mục tiêu đầu
tiên của quản lý thu BHXH là phải luôn phát triển quỹ BHXH, đảm bảo quỹ
BHXH luôn dương, đủ điều kiện để duy trì bộ máy ngành BHXH và chi trả
các chế độ, trợ cấp BHXH cho NLĐ .
1.2.2.2. Chống thất thoát quỹ Bảo hiểm xã hội
Bên cạnh mục tiêu phát triển quỹ BHXH, mục tiêu chống thất thoát quỹ
BHXH cũng là một mục tiêu quan trọng, luôn tồn tại song song trong công tác
quản lý thu BHXH. Khi quỹ BHXH được phát triển một cách ổn định nhưng
công tác quản lý thu BHXH không đạt hiệu quả cao, để xảy ra tình trạng thất
thoát quỹ BHXH thì hậu quả để lại hết sức nghiêm trọng, dẫn đến âm quỹ
BHXH, ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống .
Việc buông lỏng quản lý của các cơ quan chức năng dẫn đến tình trạng
có doanh nghiệp sử dụng lao động không có hợp đồng lao động, hoặc kê khai
số lao động thấp hơn thực tế, không đảm bảo các điều kiện qui định của Bộ
luật lao động nhằm trốn tránh trách nhiệm của mình đối với NLĐ. Do đó cơ
quan BHXH không có cơ sở xác định hình thức hợp đồng lao động để khai
21
thác đối tượng tham gia BHXH bắt buộc; bên cạnh đó mức tiền lương tiền
công để tham gia BHXH cũng chưa đúng với thực tế thu nhập của NLĐ;
thường thấp hơn nhiều so với mức lương thực tế họ phải đóng cho NLĐ.
Ngoài các hình thức trốn đóng BHXH của chủ sử dụng lao động với
NLĐ thì việc nợ đọng BHXH và nộp chậm BHXH của các chủ sử dụng lao
động cũng là vấn đề cần quan tâm, nhất là các chủ sử dụng lao động là các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ kinh doanh cá thể.
Hiện nay tuy đã có chế tài xử phạt vi phạm về BHXH nhưng còn chưa
hợp lý, qui định về mức nộp phạt còn quá thấp, nên chưa có tính cưỡng chế và
không mang lại hiệu quả cao, các quy định về xử phạt, cá nhân chủ sử dụng
lao động khi phát hiện có hành vi trốn đóng BHXH chưa đủ sức răn đe. Vì
vậy trong công tác quản lý thu BHXH phải tìm biện pháp để chống thất thoát
quỹ BHXH.
1.2.2.3. Đảm bảo an sinh xã hội
Đây là mục tiêu quan trọng nhất của quản lý thu BHXH, vì đảm bảo an
sinh xã hội cũng là mục tiêu và nhiệm vụ của toàn ngành BHXH, ngành
BHXH được ra đời và phát triển nhằm thực hiện mục tiêu này. Đảm bảo an
sinh xã hội là tiền đề cơ bản để ổn định chính trị và sự phát triển, tồn tại của
mỗi quốc gia. Mọi quốc gia phát triển luôn gắn liền với sự phát triển của các
chính sách an sinh xã hội .
1.2.3. Nội dung quản lý thu bảo hiểm xã hội
Quản lý thu BHXH sẽ gắn chặt với những nội dung như: lập kế hoạch
thu BHXH, tổ chức thực hiện kế hoạch thu, kiểm tra đánh giá hoạt động thu
BHXH.
1.2.3.1. Phân cấp quản lý thu BHXH
- BHXH Việt Nam: Chỉ đạo hướng dẫn và kiểm tra tình hình thực hiện
công tác quản lý thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT trong toàn ngành. Xác định
mức lãi suất bình quân trong năm của hoạt động đầu tư quỹ BHXH và thông
báo cho BHXH tỉnh.
22
- BHXH tỉnh: Căn cứ tình hình thực tế của địa phương để phân cấp
quản lý thu BHXH, BHYT cho phù hợp với chức năng nhiệm vụ. Xây dựng,
quản lý cơ sở dữ liệu liên quan đến NLĐ tham gia BHXH, BHYT trên địa bàn
tỉnh. Xây dựng kế hoạch và hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện công tác
thu, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo phân cấp quản lý và quyết toán số tiền thu
BHXH, BHYT theo định kì, 6 tháng, năm và lập “ biên bản thẩm định số liệu
thu BHXH, BHYT bắt buộc”.
- BHXH huyện: Tổ chức, hướng dẫn thu BHXH, BHYT, cấp sổ
BHXH, thẻ BHYT đối với NSDLĐ và người quản lý lao động theo phân cấp
quản lý.
1.2.3.2. Lập kế hoạch thu bảo hiểm xã hội
* Xác định đối tượng thu bảo hiểm xã hội
Việc xác định thành viên tham gia hệ thống BHXH bao gồm NLĐ và
NSDLĐ là một trong những nhiệm vụ lớn và quan trọng nhất của việc quản lý thu
BHXH.
Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc thế (ILO) thì “đối tượng tham
gia BHXH phải là những NLĐ nằm trong độ tuổi được quy định trong luật định,
đang làm việc, hoạt động trong một lĩnh vực nào đó để tạo ra sản phẩm xã hội và
tạo ra thu nhập cho bản thân” [7, tr.3]. Vì vậy, đối tượng tham gia BHXH bắt
buộc bao gồm những người nằm trong diện phải tham gia BHXH bắt buộc theo
luật định và có sự tham gia của NSDLĐ. Việc xác dịnh NSDLĐ không gặp nhiều
khó khăn như việc xác định NLĐ, do NSDLĐ phần lớn là các doanh nghiệp, tổ
chức có tư cách pháp nhân, vì vậy cơ quan BHXH phối hợp với các cơ quan cấp
phép cho các doanh nghiệp hoạt động sẽ nắm được những NSDLĐ.
Trong hoạt động quản lý thu BHXH, khi quản lý việc đăng ký tham gia vào
hệ thống BHXH của NSDLĐ, cơ quan BHXH cần đưa ra các tiêu thức yêu cầu
bắt buộc NSDLĐ có trách nhiệm cung cấp như tên NSDLĐ, loại hình hoạt động,
kinh doanh theo pháp luật, số lượng lao động thuộc đơn vị quản lý, quỹ
lương…Việc quy định như trên sẽ giúp cơ quan BHXH thống nhất trong công tác
quản lý thu BHXH bắt buộc.
23
Về phía NLĐ lần đầu tham gia hệ thống BHXH cần phải cung cấp cho cơ
quan BHXH những thông tin như: đầy đủ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh,
giới tính, địa chỉ, tên NSDLĐ…Ngoài ra, NLĐ cũng có thể cung cấp thêm những
thông tin như: tên của cha, mẹ số chứng minh thư, tên của chồng hoặc vợ…
Mục tiêu của việc cung cấp những thông tin này nhằm để tránh sự trùng
lặp. Số đăng ký của NLĐ và người tham gia BHXH cũng phải là duy nhất, không
thể xảy ra trường hợp 2 người tham gia có cùng một số đăng ký. Thông thường,
số đăng ký được mã hoá bằng một dãy ký tự. Trong quá trình quản lý, mã số được
sử dụng để kiểm tra, số đăng ký càng ngắn càng tốt.
* Xác định tiền lương bình quân làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội
Theo quy định, mức đóng BHXH bắt buộc thường căn cứ vào tiền
lương của NLĐ và quỹ lương toàn doanh nghiệp. Tuỳ theo điều kiện kinh
tế xã hội của mỗi quốc gia trong mỗi thời kỳ mà quy định tỷ lệ đóng cho
phù hợp.
Như vậy, để quản lý được mức đóng, trước hết cơ quan quản lý nhà
nước về BHXH phải xây dựng được mức đóng phù hợp với cả NSDLĐ và cả
NLĐ. Tương quan tỷ lệ đóng trong NSDLĐ và NLĐ không được quá chênh
lệch. Bên cạnh đó mức đóng BHXH phải được xây dựng trên cơ sở khiến
NSDLĐ không muốn trốn tránh, không thể trốn tránh trách nhiệm tham gia
BHXH bắt buộc cho NLĐ.
Hơn nữa, cơ quan BHXH cần phải quản lý, theo dõi chặc chẽ diễn biến
thu nhập của từng cá nhân NLĐ trong đơn vị SDLĐ. Thường xuyên thực hiện
kiểm soát đối chiếu tổng quỹ lương của đơn vị SDLĐ hàng tháng, trên cơ sở
đó tính số tiền đơn vị SDLĐ phải nộp quỹ BHXH.
* Xác đinh phương thức và mức đóng Bảo hiểm xã hội
Các hệ thống BHXH sử dụng nhiều phuơng thức thu, nộp khác nhau như:
- Thẻ dán tem: phương thức này hiện nay ít được áp dụng vì nó chỉ phù
hợp với điều kiện mà hệ thống BHXH thực hiện thu và chi BHXH theo một tỷ
lệ thống nhất. Hệ thống thu các khoản đóng góp theo số lượng, đây là phương
thức được áp dụng rộng rãi ở các nước hiện nay.
24
Phuơng thức thu từ số lượng được chủ sử dụng lao động nộp bằng tiền
mặt cho cơ quan BHXH trong khoảng thời gian đều nhau thông qua hệ thống
ngân hàng hoặc các thể chế tài chính tiền tệ nào đó, thường là hàng tháng, phụ
thuộc vào chu kỳ thanh toán tiền lương của đơn vị sử dụng lao động. Việc
thực hiện phương thức thu các khoản đóng góp BHXH như thế nào cho hợp
lý cần phải có sự thoả thuận trong cơ quan BHXH với các đơn vị sử dụng lao
động và phải được kiểm soát cẩn thận cả danh sách người lao động cũng như
số tiền lương thực nộp cho toàn bộ lao động trong đơn vị tham gia BHXH
cũng như từng người lao động. Vấn đề quan trọng của việc quản lý các khoản
thu nộp BHXH là có thủ tục nhận tiền an toàn, tránh sự thất thoát.
1.2.3.3. Tổ chức thực hiện kế hoạch thu bảo hiểm xã hội
- Cơ quan BHXH huyện:
Căn cứ tình hình thực hiện năm trước, 6 tháng đầu năm và khả năng mở
rộng đối tượng tham gia BHXH, BHYT, BHTN trên địa bàn, lập kế hoạch thu
BHXH, BHYT năm sau gửi đến BHXH tỉnh trước ngày 10/6 hằng năm. Lập
kế hoạch Ngân sách địa phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ quỹ
BHTN, gửi kịp thời cho cơ quan tài chính cùng cấp theo phân cấp Ngân sách
địa phương để tổng hợp trình UBND huyện quyết định, hoặc gửi BHXH tỉnh
để lập kế hoạch chung toàn tỉnh.
- BHXH tỉnh:
Lập kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN; phối hợp các phòng có liên
quan lập kế hoạch kinh phí hỗ trợ công tác thu đối với các đối tượng do
tỉnh trực tiếp thu; tổng hợp toàn tỉnh, lập kế hoạch thu BHXH, BHYT gửi
BHXH Việt Nam trước ngày 15/6 hàng năm; lập kế hoạch ngân sách địa
phương đóng, hỗ trợ mức đóng BHYT, hỗ trợ quỹ BHTN, gửi Sở Tài chính để
tổng hợp trình UBND tỉnh quyết định.
BHXH tỉnh căn cứ kế hoạch thu do BHXH Việt Nam giao, tiến
hành phân bổ kế hoạch thu BHXH, BHYT, BHTN; kế hoạch kinh phí hỗ
trợ công tác thu cho BHXH tỉnh và BHXH huyện, trình Giám đốc BHXH
tỉnh phê duyệt.
25
Trc ngy 15/8 hng nm, BHXH tnh cn c k hoch thu BHXH,
BHYT, BHTN c BHXH Vit Nam giao, tỡnh hỡnh thc hin 6 thỏng u
nm v cỏc yu t nh hng n k hoch thu trong nm, tin hnh r soỏt,
tớnh toỏn kh nng thc hin k hoch thu BHXH, BHYT, BHTN, phõn tớch,
tng hp bỏo cỏo BHXH Vit Nam.
- BHXH Vit Nam
Cn c ch tiờu k hoch thu BHXH, BHYT, BHTN c Nh nc giao
(nu cú), tỡnh hỡnh thc hin k hoch 6 thỏng u nm, vn bn ngh iu
chnh k hoch thu BHXH, BHYT, BHTN ca BHXH tnh gi n, tin hnh r
soỏt, tớnh toỏn, lp phng ỏn iu chnh k hoch thu vo thỏng 10 hng nm.
S 1.1. Mụ hỡnh t chc thu BHXH bt buc hin nay
Chính phủ
Hội đồng quản lý BHXH
Việt Nam
Các ban chức năng
- ban thu BHXH
BHXH các tỉnh,
thành phố
Các phòng chức năng
Phòng thu
Ng-ời lao động
Tổ chức thanh toán
ngân hàng, kho bạc
Nhà n-ớc
Đơn vị sử dụng
lao động
BHXH các quận,
huyên, thị xã
Các bộ phận chức năng
Bộ phận thu