Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Tiểu luận Pháp luật về cơ quan quản lý đất đai ở Đồng Nai hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (301.51 KB, 35 trang )

PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, đất đai luôn là tư liệu sản xuất vô cùng quý giá cần được bảo vệ
và quản lý. Tại điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định : “Đất đai, tài nguyên nước,
tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên
khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn
dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Những quy định của
Hiến pháp đã được cụ thể hóa trong Luật đất đai 2013 và các văn bản quy phạm
pháp luật khác, trong đó có các quy định về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước
ta. Hệ thống cơ quan quản lý đất đai được thành lập theo 4 cấp đơn vị hành chính :
cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Chính phú và UBND các cấp chịu
trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước và từng địa phương.
Bên cạnh đó, hệ thống cơ quan quản lý đất đai chuyên ngành cũng được thành lập
theo 4 cấp đơn vị hành chính có nhiệm vụ tham mưu, giúp Chính phủ và UBND các
cấp thực hiện tốt chức năng quản lý đất đai. Cho đến nay hệ thống cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai không ngừng được củng cố và kiện toàn đã góp phần đắc lực
hoàn thành nhiệm vụ được giao, đưa công tác quản lý đất đai dần dần đi vào quy củ;
Với thế mạnh là tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía nam, Đồng Nai
đang phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội vượt bậc đòi hỏi chất lượng quản lý về
đất đai củng phải bắt kịp với sự phát triển đó. Nhưng dù có nhận được sự quan tâm
của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội công tác quản lý đất đai vẫn còn bộc lộ nhiều
hạn chế như tình trạng chồng chéo trong quản lý, nạn tham nhũng, quan liêu... mà
một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là cơ quan quản lý đất đai
được tố chức chưa hợp lý, thiếu sự linh hoạt, hoạt động chưa hiệu quả. Điều này
chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý đất đai trong điều kiện tiếp tục đấy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá của tỉnh nhà. Đây là lý do đế chúng ta tiếp tục
nghiên cứu, đánh giá thực trạng cơ quan quản lý đất đai; trên cơ sở đó, đề xuất các
giải pháp nhằm củng cố và hoàn thiện đế hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Đồng
Nai có đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, nhân dân tỉnh nhà đã giao phó.
Với ý nghĩa đó, tôi lựa chọn đề tài: "Pháp luật về hệ thống cơ quan quan lý đất đai
ở Đồng Nai hiện nay" để đề tài tiểu luận tốt nghiệp cử nhân luật học cho mình;


2 Đối tượng nghiên cứu
Khái quát hệ thống cơ quan quản lý đất đai gồm: (i) Hệ thống cơ quan quản lý
đất đai có thẩm quyền chung, đó là: Chính phủ, UBND cấp tỉnh, (ii) Hệ thống cơ
quan quản lý đất đai có thẩm quyền riêng (còn được gọi là hệ thống cơ quan quản lý
có thâm quyền chuyên ngành hoặc thấm quyền chuyên môn), gồm: Bộ Tài nguyên
1


và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường. (iii) Trong khuôn khổ của bản Tiểu
luận này, em sẽ lồng ghép đi sâu nghiên cứu các quy định về cơ cấu, tổ chức; chức
năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lý đất đai tại tỉnh Đồng
Nai cụ thể Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai.
3 Mục đích nghiên cứu
Tiểu luận này nhằm những mục đích nghiên cứu cơ bản sau đây:
(i) Nghiên cứu sự cần thiết của việc thành lập hệ thống cơ quan quản lý đất đai
ớ nước ta ; khái quát quá trình hình thành và phát triển Sở tài nguyên và môi trường
tỉnh Đồng Nai;
(ii) Nghiên cứu, đánh giá pháp luật hiện hành về cơ cấu, tố chức; chức năng,
nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống cơ quan quản lý đất đai ớ nước ta và tỉnh Đồng
Nai;
(iii) Đánh giá hiệu quả thực trạng hoạt động của hệ thống cơ quan quản lý đất
đai tỉnh Đồng Nai, chỉ ra những tồn tại, hạn chế; nguyên nhân của những tồn tại,
hạn chế này;
(iv) Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về hệ thống
cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh Đồng Nai;
4 Kết cấu của khóa luận
Bố cục của đề tài gồm 3 phần chính: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết
luận. Trong đó phần nội dung là phần quan trọng nhất chứa đựng các vấn đề cơ bản
cúa khoá luận được chia làm 3 chương:
Chương I: Tổng quan những vân để lý luận về hệ thống cơ quan quản lý đất đai

ở nước ta.
Chương II: Pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở nước ta
Chương III: Hệ thống và pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý đất đai ở Đồng
Nai. Một sổ giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật hệ thống cơ quan quản lý đất
đai ở tỉnh Đồng Nai.

2


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN
QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI Ở NƯỚC TA
1.1 Sự cần thiết của việc Nhà nuớc quản lý đất đai
1.1.1 Vị trí và vai trò của đất đai với con người
Đất đai là nguồn tư liệu sản xuất vô cùng quý giá, là thành quả đấu tranh dựng
nước và giữ nước của dân tộc ta. Trải qua ba ngàn năm xương máu mở rộng lãnh
thổ, bảo về từng tấc đất ông cha ta đã để lại một dãy đất hình chữ “S” như ngày
hôm nay.
Không những vậy trong nền kinh tế hiện đại, đất đai còn là một nguồn lực mang
tính hàng đầu của nhiều ngành sản xuất quan trọng của đất nước. Vì đất đai có
những đặc điểm đặc trưng mà chỉ riêng nó mới có. Thứ nhất đất đai do tự nhiên tạo
ra và bị giới hạn về diện tích không gian trong khi nhu cầu sử dụng đất của con
người mỗi ngày đều tăng lên nên đất đai ngày càng trở thành mặt hàng khan hiếm
đặc biệt trong những đô thị lớn như thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Thứ hai đất
đai không bao giờ mất hết độ khấu hao, độ khấu hao của đất được chuyến hoá thành
giá thành sản phấm qua mồi chu kỳ sử dụng. Thứ ba đất đai được sử dụng làm tài
sản bảo đảm trong các quan hệ thế chấp, báo lãnh vay vốn và được dùng làm vốn
thành lập doanh nghiệp và liên doanh gốp vốn của các doanh nghiệp. Thứ tư đất đai
còn được sử dụng cho các hoạt động giữ gìn an ninh quốc phòng (xây dựng doanh

trại, khu vực tập trận, khu vực nghiên cứu khoa học...) phục vụ nhu cầu an sinh xã
hội phát triển kinh tế (nhà ở, buôn bán, đường di chuyển...) nên việc SDĐ phải tuân
thú nghiêm ngặt các quy tắc chung do Nhà nước đặt ra, nhân dân phải có ý thức
tuân thủ các kế hoạch quy hoạch đất do chính quyền địa phương tổ chức. Thứ năm
đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý, quy định này xuất
phát từ nhu cầu của việc đoàn kết sức mạnh toàn dân tộc trong công cuộc đấu tranh
chống ngoại xâm giành và giữ nền độc lập, việc xác định và tuyên bố đất đai thuộc
quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý còn mang ý nghĩa khẳng
định chủ quyền, tính độc lập và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Mặt khác, hiện nay
nước ta còn khoảng gần một nửa diện tích đất chưa sử dụng, chủ yếu là đất trống,
đồi núi trọc. Việc xác lập đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý cũng là cơ sở đế Nhà nước xây dựng các chương trình và kế hoạch cụ thể
nhằm từng bước đưa diện tích đất này vào sử dụng góp phần phát huy tiềm năng,
thế mạnh của đất đai với vai trò là nguồn lực, nguồn vốn to lớn đế phát triển đất
nước;
3


Với vai trò và vị trí đặc biệt quan trọng như vậy, đất đai luôn đòi hỏi phải có sự
quản lý chặt chẽ, thống nhất và đồng bộ nhằm bảo đảm SDĐ đúng mục đích, tiết
kiệm và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc Nhà nước quản lý đất đai
Luật đất đai 2013 đã quy định: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất
đai và thống nhất quản lý về đất đai”. Vai trò đại diện chủ sở hữu đất đai được thực
hiện bằng việc: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện văn bản đó, xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ
địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá
tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất,
quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. quản

lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản
lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất, thống kê, kiểm kê đất đai, xây dựng hệ thống thông tin
đất đai, quản lý tài chính về đất đai và giá đất, quản lý, giám sát việc thực hiện
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi,
đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp
luật về đất đai, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, giải quyết tranh chấp về đất
đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai, quản lý hoạt động
dịch vụ về đất đai... Việc Nhà nước quản lý toàn bộ vốn đất đai dựa trên những cơ
sở lý luận và thực tiền chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, xét về bản chất chính trị, Nhà nước ta (Nhà nước CHXHCN Việt
Nam) là Nhà nước do giai cấp công nhân và nhân dân lao động thiết lập nên, đại
diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền và lợi ích của nhân dân. Về cơ bản, lợi ích của
Nhà nước là đồng nhất với lợi ích của nhân dân. Mặt khác ở nước ta đất đai thuộc
sở hữu toàn dân, để quản lý toàn bộ vốn đất đai thuộc quyền sở hữu của mình, nhân
dân với tư cách một cộng đông xã hội không thể tự mình đứng ra thực hiện hoạt
động quản lý này đất đai mà phải cử chủ thể thay mặt mình đứng ra làm nhiệm vụ
này. Chủ thể đó chính là Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Thứ hai, xét về nguồn gốc ra đời và chức năng của Nhà nước, Nhà nước là
một tố chức chính trị do xã hội thiết lập nên với một trong những chức năng cơ bản
là thay mặt xã hội quản lý, điều phối nhịp nhàng, đồng bộ mọi hoạt động của con
người theo một quỹ đạo chung đảm bảo sự vận động và phát triển của xã hội không
rơi vào tình trạng rối loạn, vô tổ chức. Đất đai có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với
toàn xã hội và cả với từng thành viên sống trong xã hội. Vì thế nên nó phải chịu sự
quản lý của Nhà nước nhằm dung hoà lợi ích giữa các thành viên trong xã hội và
4


dung hoà lợi ích giữa cá nhân với lợi ích của cộng đồng trong quá trình SDĐ vì sự
phát trien bền vững;

Thứ ba, Nhà nước là một tố chức trong hệ thống chính trị song khác với các
tổ chức chính trị khác; Nhà nước là một tổ chức chính trị, quyền lực được nhân dân
trao cho là quyền lực công để quản lý xã hội. Để thực hiện chức năng của mình,
Nhà nước có quyền thu thuế; có quyền ban hành pháp luật; có quyền thành lập bộ
máy nhà nước ... để bảo đảm cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh trên thực tế.
Do đó, trong các phương thức quản lý của con người thì phương thức quản lý nhà
nước là phương thức có hiệu quả nhất được sử dụng để quản lý đất đai là tài sản quý
giá nhất của xã hội;
Thứ tư, hiện nay nước ta còn một lượng lớn diện tích đất tự nhiên chưa sử
dụng (chủ yếu là đất trống, đồi núi trọc ...) chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi
phía Bắc ;các tỉnh miền Trung ; các tỉnh Tây Nguyên ... Đây cũng là những vùng
chậm phát triển so với các địa phương khác trong cả nước. Vì vậy muốn đưa diện
tích đất này vào sử dụng cho các mục đích khác nhau của xã hội nói riêng và thúc
đây sự phát triển các khu vực này nói chung nhằm thu hẹp khoảng cách so với
những địa phương khác đòi hỏi phải đầu tư nguồn vốn ban đầu rất lớn mà ngoài
Nhà nước ra không có bất kỳ một tố chức, cá nhân nào có đủ khả năng và điều kiện
để thực hiện được việc này;
Thứ năm, ở nước ta đất đai là thành quả đấu tranh chống ngoại xâm từ các
chế độ phong kiến phương Bắc, đế quốc sừng sỏ xâm lược; trải qua nhiều thế hệ,
nhân dân ta phải tốn rất nhiều mồ hôi, công sức mới khai phá và cái tạo được vốn
đất đai như ngày nay. Mặt khác, Việt Nam vẫn còn là nước nông nghiệp lạc hậu
chậm phát triển; diện tích đất canh tác bình quân một đầu người vào loại thấp trên
thế giới, trong khi đó tốc độ phát triển dân số ở mức cao. Vì vậy đế quản lý chặt
chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả đất nông nghiệp vì lợi ích của các thế
hệ người Việt Nam hiện tại và tương lai thì không thể thiếu được sự quản lý cúa
Nhà nước đối với đất đai nói chung và đối với đất nông nghiệp nói riêng ;
Thứ sáu, đổi với một nước nông nghiệp có 60,7 triệu dân sống trong khu
vực nông thôn chiếm hơn 2/3 dân số cả nước và đất nông nghiệp là 262.805 km2
chiếm tới 79,4% diện tích cả nước (Thống kê năm 2013). Để xây dựng và củng cố
quyền lực của nhà nước trung ương tập quyền thì Nhà nước phải nắm và quản lý

được toàn bộ đất đai. Đây là cơ sở kinh tế đảm bảo sự thống nhất, tập trung quyền
lực vào tay chính quyền trung ương.
1.2. Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta
1.2.1 Khái niệm hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai

5


Hệ thống cơ quan quàn lý nhà nước về đất đai là hệ thống cơ quan do Nhà nước
thành lập thống nhất từ trung ương xuống địa phương có cơ cấu, tố chức chặt chẽ và
có mối quan hệ mật thiết với nhau theo quan hệ "song trùng trực thuộc" thực hiện
chức năng, nhiệm vụ giúp Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ vốn đất đai trong
phạm vi cả nước và ở mỗi địa phương theo quy hoạch, kế hoạch chung;
Trong hoạt động, cơ quan quản lý đất đai cấp dưới chịu sự chỉ đạo về chuyên
môn, nghiệp vụ của cơ quan quản lý đất đai cấp trên; đồng thời, chịu sự lãnh đạo
trục tiếp, toàn diện của UBND cùng cấp. Đây chính là tính chất "song trùng trực
thuộc" trong hoạt động quản lý của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai.
1.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở nước ta
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước
về đất đai ở nước ta bao gồm: (i) Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có
thẩm quyền chung gồm Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp
xã; (ii) Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền riêng gồm Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và
Môi trường, cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn. Bên cạnh đó còn có sự tham gia
của hệ thống cơ quan quyền lực vào hoạt động quản lý nhà nước về đất đai với vai
trò đại diện cho nhân dân thực hiện chức năng giám sát;
1.2.2.1 Hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước
Xuất phát từ tính đặc thù của chế độ sở hữu đất đai ở nước ta: đất đai thuộc sở
hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; Luật đất đai 2013, xác định rõ thẩm
quyền của cơ quan đại diện cho nhân dân là Quốc Hội và HĐND các cấp (HĐND

cấp tỉnh, HĐND cấp huyện, HĐND cấp xã) trong việc thực hiện vai trò đại diện chủ
sở hữu toàn dân về đất đai. Các cơ quan này không làm thay chức năng quản lý nhà
nước về đất đai của cơ quan quản lý mà tham gia hoạt động quản lý nhà nước về đất
đai với tư cách giám sát. Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND các cấp trong
lĩnh vực quản lý đất đai được thực hiện thông qua các phương thức chủ yếu sau đây:
- Quốc hội ban hành luật, nghị quyết về đất đai; quyết định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và
sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước.
- Hội đồng nhân dân các cấp thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt;
thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã
hội vì lợi ích quốc gia, công cộng của địa phương theo thẩm quyền quy định tại
Luật này; giám sát việc thi hành pháp luật về đất đai tại địa phương.
Cơ sở pháp lý điều 21 Luật đất đai 2013
1.2.2.2 Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về đất đai có thẩm quyền
6


chung
Với chức năng hành chính Nhà nước về mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (trong
đó có lĩnh vực quản lý đất đai), Chính Phủ và UBND các cấp có vai trò rất quan
trọng trong việc thực hiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể theo quy
định tại điều 22 Luật đất đai 2013 có quy định:
- Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức
thực hiện văn bản đó.
- Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ hành chính.
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá
đất.

- Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
- Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Thống kê, kiểm kê đất đai.
- Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
- Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
- Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
- Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của
pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
- Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và
sử dụng đất đai.
- Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
1.2.2.3 Hệ thống cơ quan chuyên ngành hành chính nhà nước về đất đai
Hệ thống cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai được thành lập
thống nhất từ trung ương đến địa phương theo 4 cấp đơn vị hành chính: (i) Cấp
trung ương: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở trung ương là Bộ
Tài nguyên và Môi trường; (ii) cấp tinh: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước
về đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là Sở Tài nguyên và Môi trường,
là cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây
gọi chung là UBND cấp tinh). Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chỉ đạo, quản
lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo,
kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường; (iii) cấp
7


huyện: Cơ quan chuyên ngành quản lý nhà nước về đất đai ở huyện, quận, thị xã,
thành phổ thuộc tỉnh là Phòng Tài nguyên và Môi trường, là cơ quan chuyên môn

trực thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý
Nhà nước về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí
tượng thủy văn, đo đạc và bản đồ trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;
Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu sự chi đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và
công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo (iv) Cấp xã, phường, thị
trấn: Cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn (gọi chung là cán bộ địa chính xã) giúp
UBND xã, phường, thị trấn (gọi chung là UBND cấp xã) chịu sự chỉ đạo, hướng
dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường và cơ
quan chuyên môn giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về tài nguyên và môi
trường.
1.2.2.4 Các tô chức dịch vụ công trong quản lý về SDĐ
Tổ chức sự nghiệp công và tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai là những
khái niệm lần đầu tiên được đề cập trong Luật đất đai năm 2003 và tiếp tục được
hoàn thiện trong Luật đất đai năm 2013. Các tổ chức này ra đời nhằm phúc đáp yêu
cầu của công cuộc cải cách các thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất;
góp phần đẩy nhanh sự hình thành thị trường bất động sản (BĐS) và làm "lành
mạnh hóa" các giao dịch liên quan đến BĐS. Hơn nữa, sự ra đời của tố chức sự
nghiệp công và tố chức dịch vụ công trong lĩnh vực đất đai đánh dấu sự chuyến đối
nền hành chính công mang nặng tính chất quan liêu sang nền hành chính mang tính
chất gần dân, phục vụ nhân dân;
Khái niệm tổ chức sự nghiệp công được Luật đất đai năm 2013 định nghĩa như sau:
“Tổ chức sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ
chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập, có chức năng thực hiện các hoạt
động dịch vụ công theo quy định của pháp luật” (khoảng 26, Điều 3, Luật đất đai).
- Với quan niệm này thì văn phòng đăng ký đất đai được thành lập dựa trên sự
hợp nhất Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường và các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài nguyên
và Môi trường hiện có ở địa phương; là đơn vị sự nghiệp công trực thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thành lập hoặc tổ chức lại trên
cơ sở hợp nhất có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được mở tài khoản

để hoạt động theo quy định của pháp luật; Văn phòng đăng ký đất đai có chức năng
thực hiện đăng ký đất đai và tài sản khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập
nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê
đất đai; cung cấp thông tin đất đai theo quy định cho các tổ chức, cá nhân có nhu
cầu; Việc Văn phòng ĐKĐĐ ra đời với chức năng, nhiệm vụ được xác định cụ thê
8


trên đây chính là Nhà nước đã xác lập thực hiện tăng cường cải cách các thủ tục
hành chính về đất đai; giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về đất đai giảm áp lực từ
nhu cầu thực hiện các thủ tục về đất đai từ phía người dân và xã hội;
Bên cạnh đó, còn có một số tổ chức được thành lập dựa trên sự hợp nhất của các
đơn vị sự nghiệp trước.
- Tổ chức phát triển quỹ đất: Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp
công được thành lập theo quy định của pháp luật về thành lập, tổ chức lại, giải thể
đơn vị sự nghiệp công lập; có tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu riêng và được
mở tài khoản để hoạt động theo quy định của pháp luật; có chi nhánh tại các quận,
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. Tổ chức phát triển quỹ đất có chức năng tạo lập,
phát triển, quản lý, khai thác quỹ đất; tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân; tổ chức thực hiện việc đấu giá quyền sử dụng đất và thực hiện các dịch vụ
khác. Việc ra đời tổ chức phát triển quỹ đất đánh dấu việc chuyến đối công tác bồi
thường, giải phóng mặt bằng từ cơ chế hành chính (do cơ quan công quyền thực
hiện) sang cơ chế kinh tế (do doanh nghiệp thực hiện) đáp ứng đòi hỏi cúa việc
quản lý và sử dụng đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường;
- Các hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai, bao gồm: Điều tra, đánh giá đất
đai; cải tạo đất; Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Đo đạc, lập bản đồ địa chính,
hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Tư vấn xác
định giá đất; Đấu giá quyền sử dụng đất; Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

- Bên cạnh đó Quỹ phát triển đất cũng là đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại
Điều 111 của Luật Đất đai được thành lập theo quy định của pháp luật về thành lập,
tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập hoặc được ủy thác cho Quỹ đầu tư
phát triển, quỹ tài chính khác của địa phương trước ngày 01 tháng 01 năm 2015.
Quỹ phát triển đất là tổ chức tài chính nhà nước, trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh, có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoản
tại Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy định của pháp
luật.

9


CHƯƠNG II
PHÁP LUẬT VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Ở NƯỚC TA
2.1 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu, tổ chức của Bộ tài nguyên và môi
trường
Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về các lĩnh vực: Đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản, địa
chất; môi trường; khí tượng thủy văn; biến đổi khí hậu; đo đạc và bản đồ; quản lý
tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong
các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
Bộ Tài nguyên và Môi trường ra đời nhằm tăng cường công tác quản lý các
nguồn tài nguyên và môi trường theo xu hướng quản lý tổng hợp các nguồn tài
nguyên thiên nhiên vì sự phát triển bền vững. Bộ Tài nguyên và Môi trường được
thành lập căn cứ Nghị quyết số 02/2002/QH11 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khóa XI tại kỳ họp thử nhất quy định về danh sách các bộ và
cơ quan ngang bộ của Chính Phủ.
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ Tài nguyên và Môi trường
2.1.1.1 Nhiệm vụ và quyền hạn chung

Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại
Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04 tháng 03 năm 2013 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và
những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
- Trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh,
dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định
của Chính phủ và quyết định của Thủ tướng Chính phủ theo chương trình, kế
hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án
theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
- Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến
lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, năm năm, hàng năm và các chương
trình, dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc ngành tài nguyên và môi trường.
- Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển các ngành, lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, các dự ánđầu tư theo phân cấp và ủy quyền
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện sau khi
được phê duyệt.
- Ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư và các văn bản khác về quản lý nhà
nước đối với ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; chỉ đạo, hướng dẫn,
10


kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật thuộc phạm vi quản
lý của Bộ; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tài nguyên và
môi trường; xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia,
định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà
nước của Bộ.
2.1.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn trong quản lý đất
Bên cạnh nhiệm vụ, quyền hạn chung, Nghị định số 21/2013/NĐ-CP còn quy
định cho Bộ Tài nguyên và Môi trường những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể trong
từng lĩnh vực được giao quản lý; cụ thể trong đó có nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể

về đất đai.
- Hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, chương trình, đề án, dự án về quản lý, sử dụng đất đai sau khi được cấp có
thẩm quyền quyết định, phê duyệt;
- Lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cả nước và các vùng; thẩm định quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương; thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an
ninh; có ý kiến bằng văn bản về nội dung sử dụng đất trong quy hoạch ngành, lĩnh
vực có sử dụng đất;
- Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban
hành, điều chỉnh khung giá các loại đất, nguyên tắc, phương pháp xác định giá đất;
thẩm tra và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến đất đai, bồi thường
giải phóng mặt bằng của các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền chấp thuận của Quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ và dự án thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện; hướng
dẫn, kiểm tra việc xây dựng bảng giá đất và định giá đất cụ thể; lập bản đồ giá đất;
tổng hợp, cung cấp dữ liệu, thông tin về khung giá các loại đất, bảng giá đất và giá
đất cụ thể;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc điều tra khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; việc lập, điều chỉnh quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng đất; việc đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; việc lập và quản lý hồ sơ địa chính, xây dựng dữ liệu địa
chính; việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo
quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra và thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai, đánh giá đất
thuộc thẩm quyền;

11



- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các điều kiện, thủ tục về hoạt động dịch vụ
công trong quản lý, sử dụng đất đai, cấp chứng chỉ hành nghề trong lĩnh vực đất đai
theo quy định của pháp luật;
- Hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; hướng dẫn, kiểm tra việc
xác định người sử dụng đất thuộc đối tượng được bồi thường, được hỗ trợ hoặc
không được bồi thường, không được hỗ trợ;
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thu hồi đất, phát triển quỹ đất, đấu thầu dự án có sử
dụng đất;
- Phát hành và quản lý việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
- Tổ chức điều tra, đánh giá tiềm năng và hiệu quả sử dụng đất phục vụ công tác
quản lý nhà nước về đất đai và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
- Xây dựng hệ thống thông tin quốc gia, lưu trữ dữ liệu về đất đai;
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai theo
quy định của pháp luật.
2.1.2 Cơ cấu, tổ chức của Bộ Tài nguvên và Môi truờng
Nghị định số 21/2013/NĐ-CP quy định rõ về cơ cấu, tổ chức của Bộ Tài nguyên
và Môi trường; cụ thể:
- Thực hiện chức năng quản lý nhà nước: Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Kế hoạch, Vụ
Khoa học và Công nghệ, Vụ Pháp chế, Vụ Tài chính, Vụ Thi đua, Khen thưởng và
Tuyên truyền, Vụ Tổ chức cán bộ, Thanh tra Bộ, Văn phòng Bộ (có đại diện của
Văn phòng Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh), Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam,
Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Tổng cục Quản lý đất đai, Tổng cục
Môi trường, Cục Công nghệ thông tin, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Cục Khí
tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu, Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục Viễn thám
quốc gia.
- Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Bộ, các tổ chức này bao gồm: Viện Chiến
lược, Chính sách tài nguyên và môi trường, Báo Tài nguyên và Môi trường, Tạp chí

Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Khí tượng Thủy văn quốc gia, Trung tâm
Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước quốc gia.
Như vậy có thể thấy rằng, hệ thống cơ cấu, tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi
trường bao gồm nhiều cơ quan, đơn vị khác nhau được phân thành các nhóm: nhóm
các tố chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên từng lĩnh
vực cụ thế về tài nguyên và môi trường; nhóm các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ. Hệ
thống cơ cấu, tổ chức như vậy nhằm bảo đảm cho Bộ Tài nguyên và Môi trường
thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước.
12


2.2 Chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Sở tài nguyên và môi
trường
Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân
(UBND) tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp
tỉnh), giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quán lý nhà nước về tài nguyên đất,
tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn, đo đạc và
bản đồ trên địa bàn tinh theo quy định của pháp luật
Sở Tài nguyên và Môi trường chịu sự chi đạo, quản lý về tố chức, biên chế và công
tác của UBND cấp tỉnh, đồng thời chịu sự chi đạo, kiếm tra về chuyên môn nghiệp
vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường;
Thông tư Liên tịch số 01/2003/TTLT-BTNMT-BNV ngày 15/7/2003 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường và Bộ Nội vụ hướng dần chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND quản lý nhà nước về tài
nguyên và môi trường ở địa phương đã quy định rất cụ thế nhiệm vụ, quyền hạn của
Sở Tài nguyên và Môi trường, cụ thể như sau:
2.2.1 Nhiệm vụ và quyền hạn của sở Tài nguyên và Môi trường
Sở Tài nguyên và Môi trường được thành lập với những nhiệm vụ và quyền hạn
về đất đai như sau:
Thứ nhất, trình UBND cấp tỉnh ban hành các quyết định về quản lý tài nguyên

đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, đo
đạc và bản đồ (sau đây gọi chung là tài nguyên và môi trường) ở địa phương;
Thứ hai, trình UBND cấp tỉnh quy hoạch phát triển, chương trình, kế hoạch dài
hạn, 5 năm và hàng năm về tài nguyên và môi trường phù hợp với quy hoạch tống
thể phát triến kinh tế- xã hội của địa phương;
Thứ ba, trình UBND cấp tỉnh quyết định các biện pháp bảo vệ tài nguyên và
môi trường ở địa phương; hướng dần, kiếm tra việc thực hiện;
Thứ tư, tố chức, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chương
trình, quy hoạch, kế hoạch sau khi được xét duyệt; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật và thông tin về tài nguyên và môi trường;
Thứ năm, về tài nguyên đất:
- Giúp UBND cấp tỉnh lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (SDĐ) và điều
chỉnh quy hoạch, kế hoạch SDĐ cấp tỉnh; hướng dẫn, kiếm tra việc thực hiện;
- Tổ chức thẩm định, trình UBND cấp tỉnh xét quy hoạch, kể hoạch SDĐ của
huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và kiểm tra việc thực hiện;
- Trình UBND cấp tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển
QSDĐ, chuyến mục đích SDĐ, cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho các đối tượng
thuộc thẩm quyền của UBND cấp tỉnh;
13


- Tổ chức thực hiện việc điều tra khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất và
lập bản đồ địa chính; đăng ký đất đai, lập, quản lý, chỉnh lý hồ sơ địa chính; thống
kê, kiểm kê đất đai; ký hợp đồng thuê đất theo quy định của pháp luật; đăng ký giao
dịch báo đảm về QSDĐ, tài sản gắn liền với đất đối với các tổ chức;
- Tham gia định giá các loại đất ở địa phương theo khung giá, nguyên tắc,
phương pháp định giá các loại đất do Chính phủ quy định;
2.2.2 Tổ chức và biên chế của Sở Tài nguyên và Môi trường
UBND cấp tỉnh có thấm quyền ra quyết định thành lập Sở Tài Nguyên và Môi
trường; trong đó quy định cơ cấu tổ chức và biên chế của Sở. Như vậy, tuỳ từng địa

phương mà cơ cấu tố chức có sự khác nhau nhằm phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh
thực tế. Việc thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ dựa trên nguyên tắc bao
quát đầy đủ các lĩnh vực công tác của Sở; chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức này
phải rõ ràng và không chồng chéo với nhau; phù hợp với tính chất, đặc điểm và khối
lượng công việc thực tế ở địa phương;
2.2.2.1. Về lãnh đạo Sở
Theo Thông tư Liên tịch số 01/2003/TTCT-BTNMT-BNV, thì Sở Tài nguyên
và Môi trường có Giám đốc và không quá 3 Phó giám đốc đối với Sở thuộc Uỷ ban
nhân dân tỉnh, 4 Phó Giám đốc đối với UBND thành phố trực thuộc trung ương.
Giám đốc chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước UBND cấp tỉnh và Bộ Tài
nguyên và Môi trường. Phó Giám đốc chịu trách nhiệm trước Giám đốc về lĩnh vực
công tác được phân công;
Việc bổ nhiệm Giám đốc và Phó Giám đốc Sở do Chủ tịch UBND cấp tỉnh
quyết định theo tiêu chuân chuyên môn, nghiệp vụ do Bộ Tài nguyên và Môi trường
quy định và các quy định của Đảng, Nhà nước về quản lý cán bộ. Việc khen thưởng,
kỷ luật Giám đốc, Phó Giám đốc thực hiện theo quy định của pháp luật.
2.2.2.2 Các tô chức giúp việc Giám đốc Sở
- Văn phòng;
- Thanh tra;
- Các phòng chuyên môn, nghiệp vụ;
Việc thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ dựa trên nguyên tắc: bao quát
đầy đủ các lĩnh vục công tác của Sở; chức năng, nhiệm vụ của tố chức phải rõ ràng
và không chồng chéo với các tố chức khác thuộc Sở, phù hợp với tính chất, đặc
điếm và khối lượng công việc thực tế ở địa phương; bảo đảm đơn giản về thủ tục
hành chính và thuận tiện trong việc giải quyết công việc cho tổ chức và công dân;
Số lượng phòng chuyên môn, nghiệp vụ không quá 5 phòng đối với Sở thuộc
UBND tỉnh và 6 phòng đối với Sở thuộc UBND thành phố trực thuộc trung ương;

14



Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định cơ cấu (số lượng, tên gọi) các phòng
chuyên môn, nghiệp vụ của Sở theo đề nghị của Giám đốc Sở và Giám đốc Sở Nội
vụ.
2.2.2.3 Các tổ chức sự nghiệp
- Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường;
- Các tô chức sự nghiệp khác;
UBND cấp tỉnh quyết định thành lập các đơn vị sự nghiệp khác trực thuộc Sở
theo quy định của pháp luật;
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của các tổ chức giúp việc Giám đốc Sở, các tổ chức sự nghiệp.
2.3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của hệ thống cơ quan dịch vụ về đất đai
Từ trước đến nay, trong quản lý nhà nước về đất đai những thủ tục hành chính
liên quan đến giao đất, cho thuê đất, chuyến mục đích SDĐ, cấp giấy chứng nhận
QSDĐ, thực hiện các quyền của người SDĐ quy định rất phức tạp, rườm rà và gây
nhiều khó khăn cho người SDĐ. Vì vậy, để cải cách căn bản các thủ tục hành chính
trong lĩnh vực đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, cho thuê đất sử dụng vào mục
đích sản xuất, kinh doanh, hoàn thành việc cấp giấy
chứng nhận QSDĐ trong phạm vi cả nước; hệ thống các cơ quan dịch vụ về đất đai
lần đầu tiên được thành lập ớ nước ta nhằm thực hiện các thủ tục liên quan đến đất
đai cho người dân. Hơn nữa việc ra đời hệ thống các cơ quan này góp phần tạo tiền
đề cần thiết cho việc ra đời thị trường bất động sản có tổ chức ở nước ta. Các tổ
chức này bao gồm: Văn phòng đăng ký đất đai, tổ chức phát triển quỹ đất và tổ
chức hoạt động tư vấn trong quàn lý và SDĐ.
2.3.1 Văn phòng đăng ký đất đai
(Được quy định tại Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC)
2.3.1.1 Vị trí và chức năng
Văn phòng đăng ký đất đai là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Tài
nguyên và Môi trường, có chức năng thực hiện đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất; xây dựng, quản lý, cập nhật, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa

chính và cơ sở dữ liệu đất đai; thống kê, kiểm kê đất đai và cung cấp thông tin đất
đai cho tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
Văn phòng đăng ký đất đai có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng; được Nhà
nước bố trí văn phòng, trang thiết bị làm việc và mở tài khoản theo quy định của
pháp luật.
2.3.1.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của văn phòng đăng ký đất đai
- Thực hiện việc đăng ký đất được Nhà nước giao quản lý, đăng ký quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
15


- Thực hiện việc cấp lần đầu, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng
nhận).
- Thực hiện việc đăng ký biến động đối với đất được Nhà nước giao quản lý,
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
- Lập, chỉnh lý, cập nhật, lưu trữ và quản lý hồ sơ địa chính; tiếp nhận, quản lý
việc sử dụng phôi Giấy chứng nhận theo quy định của pháp luật.
- Cập nhật, chỉnh lý, đồng bộ hóa, khai thác dữ liệu đất đai; xây dựng, quản lý
hệ thống thông tin đất đai theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện việc thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
chỉnh lý bản đồ địa chính; trích lục bản đồ địa chính.
- Kiểm tra bản trích đo địa chính thửa đất; kiểm tra, xác nhận sơ đồ nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất do tổ chức, cá nhân cung cấp phục vụ đăng ký, cấp Giấy
chứng nhận.
- Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- Cung cấp hồ sơ, bản đồ, thông tin, số liệu đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất cho các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện việc thu phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện các dịch vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ phù hợp với năng lực
theo quy định của pháp luật.
- Quản lý viên chức, người lao động, tài chính và tài sản thuộc Văn phòng đăng
ký đất đai theo quy định của pháp luật; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định hiện
hành và tình hình thực hiện nhiệm vụ về các lĩnh vực công tác được giao.
2.3.1.3 Cơ cấu tổ chức
a. Lãnh đạo Văn phòng đăng ký đất đai: Văn phòng đăng ký đất đai có Giám
đốc và không quá 02 Phó Giám đốc. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc và Phó
Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật và phân
cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh), phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy định.
b. Cơ cấu tổ chức:
- Phòng Hành chính - Tổng hợp;
- Phòng Kế hoạch - Tài chính (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét quyết định
thành lập đối với Văn phòng đăng ký đất đai có từ 15 Chi nhánh trở lên);
- Phòng Đăng ký và cấp giấy chứng nhận;
- Phòng Thông tin - Lưu trữ;
- Phòng Kỹ thuật địa chính;
16


- Các Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai.
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại các quận, huyện, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh là đơn vị hạch toán phụ thuộc; có con dấu riêng và được Nhà nước bố trí
văn phòng, trang thiết bị làm việc theo quy định của pháp luật. Chi nhánh có Giám
đốc, không quá 02 Phó Giám đốc và các bộ phận chuyên môn. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh quyết định số lượng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai.
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai và các Chi nhánh trực thuộc
Văn phòng đăng ký đất đai; thực hiện bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó

Trưởng phòng của Văn phòng đăng ký đất đai và Giám đốc, Phó Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định của pháp luật và phân cấp quản lý
cán bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn chức danh theo quy
định.
c. Biên chế, số lượng người làm việc của Văn phòng đăng ký đất đai được giao
trên cơ sở đề án vị trí việc làm gắn với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động và
nằm trong tổng biên chế, số lượng người làm việc của tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
2.3.2 Tổ chức phát triển quỹ đất
(được quy định tại Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-BTNMT-BNV-BTC)
2.3.2.1 Vị trí và chức năng
Tổ chức phát triển quỹ đất được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) và ở huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc
tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), có chức năng tổ chức thực hiện việc bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư; tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất, phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội và ổn định thị trường bất động sản; nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất; phát triển các khu tái định cư; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng
trên đất; đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; quản lý quỹ đất
đã thu hồi, đã nhận chuyển nhượng, đã tạo lập, phát triển và thực hiện dịch vụ trong
lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh là đơn vị trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi
trường, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Giám
đốc Sở Tài nguyên và Môi trường và Giám đốc Sở Nội vụ. Tổ chức phát triển quỹ
đất cấp huyện là đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, do Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh quyết định thành lập theo đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
và Giám đốc Sở Nội vụ.
Tổ chức phát triển quỹ đất là đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần hoặc
toàn bộ chi phí hoạt động, có tư cách pháp nhân, có trụ sở và con dấu riêng; được
17



mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước và các tổ chức tín dụng để hoạt động theo quy
định của pháp luật.
2.3.2.2 Nhiệm vụ và quyền hạn
a. Tổ chức phát triển quỹ đất có các nhiệm vụ sau:
- Tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất;
- Tạo quỹ đất và phát triển quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất; phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội; phục vụ sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa,
thể dục thể thao, môi trường và các nhu cầu khác của địa phương; ổn định thị
trường bất động sản;
- Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân theo
quy định của pháp luật;
- Tổ chức phát triển các khu, điểm và nhà tái định cư phục vụ việc thu hồi đất
thực hiện các dự án;
- Tổ chức thực hiện đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên quỹ đất đã được giao
quản lý để đấu giá;
- Quản lý quỹ đất đã được giải phóng mặt bằng; quỹ đất đã nhận chuyển nhượng;
quỹ đất đã tạo lập và phát triển; quỹ nhà đất đã xây dựng để phục vụ tái định cư và
quỹ đất thu hồi theo quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38
của Luật Đất đai thuộc khu vực đô thị, khu vực có quy hoạch phát triển đô thịnhưng
chưa giao dự án đầu tư hoặc chưa đấu giá quyền sử dụng đất;
- Tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất
theo quy định của pháp luật;
- Lập phương án sử dụng quỹ đất được giao quản lý và các phương án, đề án, dự
án đầu tư tạo lập và phát triển quỹ đất trình cơ quan có thẩm quyền quyết định;
- Cung cấp dịch vụ trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng; cung cấp
thông tin về địa điểm đầu tư, giá đất, quỹ đất cho các tổ chức, cá nhân theo yêu
cầu;
- Tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ theo chương trình, kế hoạch, phương

án, dự án, đề án và các hoạt động dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ, lĩnh vực chuyên
môn được giao;
- Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để triển khai thực hiện
nhiệm vụ được giao;
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
b. Tổ chức phát triển quỹ đất có các quyền hạn sau:
- Được cung cấp các văn bản về chính sách, pháp luật của Nhà nước và các tài
liệu khác liên quan đến nhiệm vụ được giao;
18


- Tư vấn, cung cấp dịch vụ thuộc các lĩnh vực phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
được giao cho tổ chức và cá nhân;
- Liên doanh, liên kết, hợp tác với tổ chức kinh tế, cá nhân để thực hiện nhiệm
vụ, dịch vụ theo quyết định của cấp có thẩm quyền;
-Thuê tư vấn, thực hiện các công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ được giao.
2.3.2.3. Cơ cấu tổ chức
Tổ chức phát triển quỹ đất có Giám đốc và không quá 02 Phó Giám đốc; việc bổ
nhiệm và miễn nhiệm Giám đốc, Phó Giám đốc thực hiện theo phân cấp quản lý cán
bộ của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, phù hợp với tiêu chuẩn, chức danh theo quy định
của pháp luật.
Tổ chức phát triển quỹ đất được thành lập tối đa không quá 03 phòng chuyên
môn, nghiệp vụ; số lượng phòng chuyên môn, nghiệp vụ thành lập căn cứ vào đặc
điểm của từng địa phương và theo nhiệm vụ của Tổ chức phát triển quỹ đất.
Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh sau khi thống nhất với Giám đốc
Sở Nội vụ; Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quy
định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổ chức phát triển quỹ đất cấp
huyện theo đề nghị của Giám đốc Tổ chức phát triển quỹ đất và Trưởng Phòng Nội vụ
cấp huyện.


19


CHƯƠNG III
HỆ THỐNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỆ THỐNG CƠ QUAN QUẢN LÝ ĐẤT
ĐAI Ở ĐỒNG NAI
3.1. Lịch sử hình thành và phát triển Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng
Nai
3.1.1 Quá hình trình thành ban đầu (1976 đến 1986)
Tháng 7/1976, Phòng Quản lý ruộng đất thuộc Ty Nông nghiệp được thành lập.
Trưởng phòng lúc đấy là đồng chí Tống Hoài Lân, hai phó trưởng phòng là đồng
chí Đỗ Sĩ Ấn và đồng chí Nguyễn Văn Dũng, là bước đầu tiên trong công cuộc quản
lý đất đai của tỉnh Đồng Nai.
Vào ngày ngày 24/05/1979, Quốc hội và Chính phủ đã quyết định thành lập hệ
thống quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Chính phủ và UBND các cấp để thực
hiện chức năng thống nhất quản lý Nhà nước đối với đất đai thì đến ngày
16/12/1981, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 717/QĐ.UBT tách Phòng Quản
lý Ruộng đất thuộc Ty Nông nghiệp thành lập Ban Quản lý Ruộng đất trực thuộc
UBND tỉnh đây là tiền thân của sở Tài nguyên và Môi trường ngày nay.
Trong thời gian đầu mới thành lập, Ban Quản lý Ruộng đất có 01 Trưởng ban,
02 Phó Trưởng Ban và 63 cán bộ công nhân viên, được tổ chức thành 04 phòng:
Điều tra Cơ bản 24 người, Đăng ký thống kê ruộng đất 06 người. Ngoài ra, Tỉnh đã
tăng cường 10 cán bộ về các huyện để thực hiện công tác quản lý ruộng đất ở địa
phương.
Trưởng Ban Quản Lý Ruộng đất đầu tiên của Tỉnh là đồng chí Nguyễn Văn
Nghiệp, hai phó trưởng Ban là đồng chí Nguyễn Xuân Hai và đồng chí Nguyễn Văn
Dũng.
Đối với cấp huyện, có bộ phận Quản lý Ruộng đất từ 1- 4 người thuộc Phòng
Nông nghiệp. Cấp xã, công tác Quản lý Ruộng đất do cán bộ thống kê hoặc Nông

nghiệp kiêm nhiệm.
3.1.2 Giai đoạn củng cố và xây dựng (1986 đên 1993)
Đó là giai đoạn năm 1986-1993. Thời kỳ này hệ thống tổ chức ngành Địa chính
không có thay đổi lớn so với thời năm 1981-1985. Năm 1986, Ban Quản lý Ruộng
đất tỉnh lúc này có 01 Trưởng ban, 02 Phó trưởng ban và 61 cán bộ công nhân viên,
được tổ chức thành 04 phòng (Điều tra Cơ bản, Đăng ký thống kê Ruộng đất, Thanh
tra, Tổng hợp) cùng với một trạm phân tích thổ nhưỡng. Trưởng Ban Quản lý
Ruộng đất là đồng chí Tống Hoài Lân, hai phó trưởng Ban là đồng chí Nguyễn
Xuân Hai và đồng chí Nguyễn Văn Dũng. Năm 1992, UBND tỉnh bổ nhiệm tiếp
đồng chí Lê Viết Hưng làm Phó Trưởng Ban.
20


Cấp huyện là Tổ Quản lý Ruộng đất thuộc Phòng nông nghiệp; cấp xã do cán bộ
thống kê hoặc nông nghiệp kiêm nhiệm.
Thời kỳ này bộ máy tổ chức và Quản lý Đất đai cấp tỉnh, bước đầu đã đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ. Tuy nhiên bộ máy tổ chức Quản lý Đất đai cấp huyện, cấp
xã còn phụ thuộc, kiêm nhiệm nhiều việc lại thường xuyên thay đổi nên hồ sơ, tài
liệu làm ra không được bảo quản, chỉnh lý biến động thường xuyên.
3.1.3 Giai đoạn phát triển (1993 đến nay)
Đây là giai đoạn có nhiều sự kiện quan trọng trong quá trình hoạt động của
ngành Tài nguyên và Môi trường Đồng Nai.
Thực hiện Nghị Định 34/CP ngày 23 tháng 4 năm 1994 của Chính Phủ, ở Trung
Ương đã thành lập Tổng Cục Địa chính trên cơ sở xác nhập Tổng cục Quản lý
Ruộng đất và Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước. Tại Đồng Nai, ngày 23/8/1994,
UBND tỉnh ban hành Quyết định số 1961/QĐ.UBT thành lập Sở Địa chính trên cơ
sở Ban quản lý Ruộng đất cũ. Sở Địa chính mới được thành lập có 01 Giám đốc, 02
Phó Giám đốc và 36 công nhân viên, được tổ chức thành 04 phòng (Tổ chức- Hành
chính- Tổng hợp 09 người, Đăng ký- Thống kê 06 người, Kế hoạch Tài chính 05
người, Đo đạt Bản đồ 07 người), Thanh tra Sở có 06 người và một Tổ Lưu trữ gồm

03 người.
Ngày 04/9/1995, UBND tỉnh Quyết định thành lập Phòng Quy hoạch _ Giao đất
trên cơ sở tách phòng Kế hoạch-Tài chính (Quyết định sồ 2060/QĐ.UBT). Ngày
24/6/1996 xác nhập Phòng Kế hoạch - Tài chính và Phòng Tổ chức - Hành chính Tổng hợp thành Phòng Hành chính Tổng hợp (Quyết định số 3293/QĐ.UBT).
Ngày 06/02/2001, nhằm thống nhất việc quản lý nhà đất, tạo điều kiện cho
người dân trong việc lập các thủ tục nhà đất, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số
358/QĐ.CT.UBT sáp nhập Phòng Quản lý nhà thuộc Sở Xây dựng về Sở Địa chính
thành lập Sở Địa chính - Nhà đất.
Bên cạnh việc cũng cố, kiện toàn lại các phòng chuyên môn trực thuộc Sở, bộ
máy tổ chức của Sở đã hình thành thêm các đơn vị sự nghiệp trực thuộc. Đơn vị đầu
tiên là Trung tâm kỹ thuật Địa chính - một đơn vị sự nghiệp có thu, dự toán cấp hai
hoạt động theo phương thức tự trang trải. Tổng số cán bộ công nhân viên là 28
người (trên cơ sở lực lượng của đội đo đạt thuộc Sở trước đây), trong đó có 01
Giám đốc, 01 phó Giám đốc và 26 nhân viên được tổ chức thành 02 phòng (Hành
chính, Kỹ thuật) và một Đội Đo đạc - Bản đồ. Ngày 03/9/1999, UBND tỉnh đã ban
hành Quyết định số 3201/QĐ.CT.UBT, chuyển trung tâm thành đơn vị dự toán cấp
01 và bổ sung chức năng đo vẽ nhà, dịch vụ tư vấn pháp luật đất đai. Hiện nay
Trung tâm có 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc và 225 viên chức được tổ chức thành
11 đơn vị trực thuộc bao gồm 05 phòng, 03 đội và 3 đơn vị trực thuộc.
21


Đơn vị thứ hai được thành lập đó là Trung tâm thông tin Lưu trữ địa chính -một
đơn vị sự nghiệp dự toán cấp 2. Trung tâm có tổng số cán bộ, công nhân viên là 09
người trong đó có 01 Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm và 08 nhân viên (trên cơ
sở Tổ Lưu trữ thuộc Sở trước đây).
Riêng cấp huyện, đến cuối năm 1994 cũng thành lập Phòng Địa chính (riêng Tp.
Biên Hoà thành lập Ban Địa chính). Tổng số cán bộ công nhân viên chức là 67
người. Ở cấp xã, đến cuối năm 1995 đã có 163/163 xã, phường, thị trấn bổ nhiệm
đầy đủ cán bộ Địa chính. Đặc biệt, để giữ ổn định cán bộ Địa chính xã và tao điều

kiện đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ nhằm thực hiện tốt công tác quản lý
đất đai ở cơ sở. Từ tháng 5/1994, UBND tỉnh đã giao cho Sở Địa chính trực tiếp
điều động, bố trí, chuẩn y và trả lương, sinh hoạt phí cho cán bộ Địa chính xã. Đến
năm 1998, thực hiiện Nghị định 09/CP của Chính phủ, UBND tỉnh đã ban hành
Quyết định số 812/1998/QĐ.UBT việc quản lý trả lương cho cán bộ Địa chính xã,
giao về cho UBND xã đảm nhiệm từ tháng 10/1999 đến nay.
Lãnh đạo Ban quản lý ruộng đất, rồi Sở Địa chính giai đoạn 1986 - 1996 gồm
Giám đốc là đồng chí Tống Hoài Lân, hai Phó Giám đốc là đồng chí Nguyễn Xuân
Hai và đồng chí Lê Viết Hưng. Năm 1996, đồng chí Tống Hoài Lân và đồng chí
Nguyễn Xuân Hai nghỉ hưu, UBND tỉnh quyết định bổ nhiệm đồng chí Lê Viết
Hưng làm Giám đốc, Phó Giám đốc là đồng chí Nguyễn Hữu Lý. Năm 1998,
UBND tỉnh bổ nhiệm tiếp đồng chí Phan Văn Linh làm Phó Giám đốc.
Năm 2003, bộ máy cơ quan quản lý về đất đai có sự thay đổi lớn, ở Trung ương
Chính phủ quyết định thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường; ở địa phương, ngày
17/06/2003, UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 1746/QĐ.UBT của về
việc thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường trên cơ sở sáp nhập chức năng Sở Địa
chính Nhà đất với các chức năng quản lý môi trường, quản lý tài nguyên nước,
khoáng sản từ các Sở khác; đối với cấp huyện, đến cuối tháng 12 năm 2003 cũng đã
hình thành Phòng Tài nguyên và Môi trường trên cơ Sở phòng Địa chính Nhà đất
trước đây được bổ sung thêm các chức năng mới theo quy định.
Đồng chí Lê Viết Hưng tiếp tục được UBND tỉnh bổ nhiệm làm Giám đốc Sở
Tài nguyên và Môi trường, 3 phó giám đốc gồm: đ/c Nguyễn Hữu Lý, đ/c Phan Văn
Linh, đ/c Phan Văn Hết. Đến tháng 12 năm 2005, đ/c Nguyễn Hữu Lý được UBND
tỉnh điều chuyển công tác; tháng 3/2006 UBND tỉnh bổ nhiệm tiếp đ/c Võ Văn
Chánh làm phó giám đốc. Bộ máy tổ chức của Sở thời kỳ này được tổ chức thành
10 đơn vị trực thuộc gồm: 05 phòng chuyên môn (Phòng Quy hoạch Kế hoạch,
Phòng Đăng ký Nhà đất, Phòng Đo đạc Bản đồ, Phòng Môi trường, Phòng Tài
nguyên nước và Khoáng sản), Văn phòng Sở, Thanh tra Sở, Trung tâm Kỹ thuật Địa
chính Nhà đất, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường, Trung tâm Quan
22



trắc và Kỹ thuật Môi trường. Ngày 04/6/2004, UBND tỉnh ban hành Quyết định số
2135/2004/QĐ.UBT thành lập Qũy Bảo vệ môi trường Đồng Nai; tháng 4 năm
2005, UBND tỉnh quyết định chuyển chức năng quản lý nhà về Sở Xây dựng và sáp
nhập Phòng Đo đạc Bản đồ và Phòng Đăng ký Nhà đất thành Phòng Đất đai; ngày
24/2/2005, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 872/QĐ.CT.UBT thành lập
Văn phòng Đăng ký Quyền sử dụng đất trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm Thông tin
Tài nguyên và Môi trường và các chức năng theo quy định của Luật Đất đai năm
2003.
Như vậy tính đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường có 04 phòng chuyên môn,
Văn phòng Sở, Thanh tra Sở và 04 đơn vị sự nghiệp dự toán cấp 1 trực thuộc
(Trung tâm kỹ thuật địa chính Nhà đất, Văn phòng Đăng ký đất đai, Trung tâm
Quan trắc và Kỹ thuật Môi trường, Qũy Bảo vệ môi trường Đồng Nai). Tổng số cán
bộ công chức, viên chức 450 người (cán bộ công chức thuộc khối văn phòng Sở 82
người, người lao động thuộc các đơn vị sự nghiệp 378 người) . Trong đó có 06
người trình độ trên đại học, chiếm 1,17%; 165 người trình độ đại học, chiếm 38,9%;
156 người có trình độ cao đẳng và trung cấp, chiếm 36,6%; còn lại là công nhân kỹ
thuật và một số nhân viên khác.
Từ Ban Quản lý Ruộng đất, Sở Địa chính, Sở Địa chính - Nhà đất đến Sở Tài
nguyên và Môi trường ngày nay qua gần 30 năm đã hoàn thành những nhiệm vụ
quan trọng trong chặng đường phát triển. Trong công tác quản lý đất đai, đã xây
dựng được hệ thống bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính cho toàn bộ 171 xã,
phường, thị trấn. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 329.667 hộ gia đình,
cá nhân; đạt tỷ lệ 97% số hộ khu vực nông thôn và 74 % số hộ khu vực đô thị được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đã hoàn tất việc xây dựng quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2010 cho các cấp hành chính trong tỉnh. Giải quyết hàng ngàn vụ
tranh chấp, khiếu kiện về đất đai, góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội trên địa
bàn tỉnh. Về bảo vệ môi trường, đã xây dựng được mạng lưới quan trắc chất lượng
nước mặt, nước ngầm và môi trường không khí cho các khu vực trọng điểm; xây

dựng phòng thí nghiệm phân tích và thử nghiệm môi trường đạt tiêu chuẩn quốc
gia; đẩy mạnh các hoạt động truyền thông môi trường; thẩm định về thủ tục bảo vệ
môi trường cho hàng ngàn dự án đầu tư. Công tác quản lý môi trường đã góp phần
xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế các tác động xấu đối với môi trường,
nhất là tại các khu công nghiệp và các đô thị trong tỉnh. Về quản lý tài nguyên nước
và khoáng sản đã từng bước thiết lệp hệ thống cơ sở dữ liệu, quy hoạch khai thác sử
dụng đảm bảo hiệu quả, bền vững.
Sở Tài nguyên và Môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường đánh giá là
một trong những đơn vị dẫn đầu cả nước về phát triển công nghệ thông tin trong
23


công tác quản lý đất đai và đo đạc bản đồ. Với những thành tích đã đạt được, Sở Tài
nguyên và Môi trường đã được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen và cờ thi đua
xuất sắc; năm 2000 vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động Hạng
ba.
3.2. Cơ cấu tổ chức Sở Tài nguyên và Môi trường

Sơ đồ tổ chức Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh Đồng Nai
Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai được chia thành các bộ phận sau:
Ban giám đốc gồm Giám đốc Sở là người đứng đầu có chức năng và nhiệm vụ theo
quy định pháp luật, giúp việc cho giám đốc có các phó Giám đốc. Thực hiện các
công việc được giao gồm chín phòng chuyên môn và bảy đơn vị sự nghiệp, vì tiểu
luận này chỉ tập trung vào cơ quan quản lý về lĩnh lực đất đai nên em sẽ chỉ đi vào
cơ cấu tổ chức của các phòng liên quan đến hoạt động quản lý đất đai như: Chi cục
quản lý đất đai; Văn phòng đăng ký đất đai; Trung tâm phát triển quỹ đất.
3.2.1 Chi cục quản lý đất đai
3.2.1.1 Chức năng:
Chi cục Quản lý đất đai (Chi cục QLĐĐ) được UBND tỉnh Đồng Nai thành lập
theo quyết định số 2600/QĐ-UBND ngày 15-9-2009 trên cơ sở tổ chức lại hoạt

động của Phòng Đất đai trước đây. Chi cục QLĐĐ là cơ quan chuyên môn trực

24


thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, có tài
khoản riêng. Chi cục QLĐĐ có chức năng giúp Sở Tài nguyên và Môi trường quản
lý Nhà nước về đất đai, đo đạc bản đồ. Chi cục QLĐĐ chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ
chức, biên chế và hoạt động của Sở Tài nguyên & Môi trường; có tư cách pháp
nhân, có trụ sở (tại đường Đồng Khởi, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa), con
dấu và tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước để hoạt động theo quy định của pháp
luật. Việc thành lập Chi cục QLĐĐ có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác quản lý
nhà nước về đất đai, đo đạc, bản đồ, tạo tính chủ động cao trong thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn, nâng cao vai trò, trách nhiệm của đơn vị..
3.2.1.2 Cơ cấu tổ chức, bộ máy:
Chi cục Trưởng: Lê Văn Tân
Phó Chi cục Trưởng: Tuốt Sa Liêm
Phó Chi cục Trưởng: Nguyễn Hồng Quế
3.2.1.3 Các phòng chuyên môn:
Phòng Hành chính – Tổng hợp
Phòng Kinh tế đất
Phòng Đăng ký đất đai
Phòng Đo đạc – Bản đồ
3.2.1.4 Nhiệm vụ:
- Tham mưu giúp Giám đốc Sở xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình,
dự án, đề án, nhiệm vụ, kế hoạch về quản lý đất đai, đo đạc và bản đồ.
- Chủ trì hoặc tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật về đất đai, đo đạc và bản đồ theo phân công của Giám đốc Sở;
- Tham gia xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, dự án, đề
án, nhiệm vụ, kế hoạch có nội dung liên quan đến lĩnh vực quản lý đất đai, đo đạc

bản đồ do các cơ quan, đơn vị trong tỉnh chủ trì soạn thảo;
- Giúp Giám đốc Sở tổ chức thẩm định hồ sơ về chuyển mục đích sử dụng đất;
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xác nhận đăng ký hoạt động đo đạc bản đồ;
thẩm định hồ sơ và đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp, bổ sung, gia hạn
và thu hồi giấy phép hoạt động đo đạc và bản đồ theo quy định của pháp luật;
- Giúp Giám đốc Sở hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện công tác đăng ký quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu, sử dụng tài sản gắn liền với đất, lập và quản lý hồ sơ địa
chính, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo phân cấp của
Sở và quy định pháp luật.
- Tham mưu giúp Giám đốc Sở hướng dẫn, kiểm tra việc điều tra, khảo sát, đo
đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập và chỉnh lý biến động bản đồ địa chính, bản đồ
hiện trạng sử dụng đất; thống kê, kiểm kê đất đai và việc xây dựng hệ thống thông
25


×