Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của an sinh xã hội, được
Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bởi bảo hiểm xã hội có vai trò rất quan trọng
trong đời sống xã hội. Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bị
mất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động, đảm bảo các quyền của người được
hưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời thể hiện tính nhân văn của Đảng và
Nhà nước luôn quan tâm đến chính sách về con người.
Trong cuộc sống, con người phải tuân theo quy luật phát triển và sự sinh tồn
của tự nhiên nên khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động như
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của nền kinh tế thị
trường thì người lao động cần có một khoản vật chất giúp đỡ người lao động giải quyết
những khó khăn để trang trải cuộc sống đó. Vì vậy, việc tham gia bảo hiểm xã hội của
người lao động là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, không hẳn người lao động nào cũng
hiểu và biết được tính nhân văn của việc tham gia bảo hiểm xã hội. Do đó, Nhà nước
đã có sự can thiệp điều chỉnh đối với loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc để đảm bảo
quyền lợi của người lao động.
Bảo hiểm thai sản là một trong những chế độ của bảo hiểm xã hội bắt buộc nằm
song hành với các chế độ bảo hiểm ốm đau, chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh
nghề nghiệp, chế độ bảo hiểm hưu trí,… Bảo hiểm thai sản ngoài chức năng đảm bảo
thu nhập cho người lao động khi công việc lao động tạm thời bị gián đoạn, nó còn góp
phần quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động, đảm bảo quyền
được chăm sóc của trẻ em.
Vì vậy, ngày 20/11/2014 Quốc hội đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội, có hiệu
lực thi hành kể từ ngày 01/01/2016. Luật được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội
khóa XIII nhằm đảm bảo các quyền lợi của người lao động theo đúng các tình hình
thực tế của xã hội.
Sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đối với người lao
động mà đặc biệt là lao động nữ, tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng
làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội nên người viết
đã chọn đề tài “Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản”.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
1
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
2. Mục tiêu đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu những quy định và hệ thống chế độ
bảo hiểm thai sản ở Việt Nam về phương diện pháp lý và thực tiễn áp dụng. Từ đó,
người viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thực hiện pháp luật,
hoàn thiện chế độ thai sản theo quy định.
3. Phương pháp nghiên cứu
Người viết sử dụng phương pháp phân tích luật viết, so sánh và tập hợp để làm
rõ chế độ thai sản theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành về chế
độ thai sản. Tìm hiểu về thực trạng giải quyết chế độ thai sản hiện nay từ đó đưa ra các
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ thai sản đối với người lao động.
5. Bố cục đề tài
Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn có
bố cục gồm có 3 chương:
Chương 1: Khái quát về bảo hiểm xã hội và chế độ thai sản
Chương 2: Quy định pháp luật về chế độ thai sản
Chương 3: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về chế độ thai sản và đề xuất
giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết chế độ thai sản
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
2
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN
1.1. Khái quát về bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam từ những năm 1930 thời kỳ
Pháp thuộc. Đây là chế độ trợ cấp do chính quyền thuộc địa thực hiện đối với nhân dân
và viên chức Việt Nam đang làm việc trong bộ máy hành chính và lực lượng hành
chính của Pháp ở Đông Dương khi họ bị ốm đau già yếu hoặc chết.
Tuy nhiên, đối với công nhân Việt Nam gần như chính quyền Pháp không công
nhận quyền lợi của họ mà điển hình là công nhân ở các nhà máy bị ốm đau, bệnh tật
hay chết đều không được hưởng chế độ chữa bệnh, mai táng …
1.1.1. Khái niệm, ý nghĩa và đặc điểm của bảo hiểm xã hội
Khái niệm
Thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” lần đầu tiên được chính thức sử dụng làm tiêu đề
cho một văn bản quy phạm pháp luật vào năm 1935 (Luật Bảo hiểm xã hội năm 1935
của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ). Thuật ngữ này xuất hiện trở lại trong một đạo luật được
thông qua tại New Zealand vào năm 1938.
Và đến năm 1941, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ hai, thuật ngữ này
được dùng trong Hiến chương Đại Tây Dương (the Atlatic Charter of 1941).
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO: International Labour Organization) nhanh
chóng chấp thuận thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” và theo ILO thì Bảo hiểm xã hội được
hiểu là: “Sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình, thông qua một loạt các
biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để đối phó với
những tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập gây ra
bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, chết; thêm vào đó, bảo hiểm xã hội còn
chăm sóc y tế, sức khỏe và trợ cấp cho các gia đình đông con”.
Ở các nước không giống nhau thì thuật ngữ “Bảo hiểm xã hội” được hiểu khác
nhau và phạm vi áp dụng của nó cũng không giống nhau. Song có thể hiểu một cách
khái quát nhất theo Từ điển tiếng Việt: “Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm những quyền
lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già
yếu, bị tai nạn lao động,…”1.
Ở những góc độ khác nhau, cũng có thể có những khái niệm khác nhau về Bảo
hiểm xã hội, cụ thể:
1
Hoàng Phê, Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, năm 1996, tr. 36
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
3
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Dưới góc độ pháp lý: Bảo hiểm xã hội là một chế độ pháp định bảo vệ người
lao động, sử dụng tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và được
sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và
gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn
lao động, thai sản, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật (hưu) hoặc chết.
Dưới góc độ tài chính: Bảo hiểm xã hội là kỹ thuật chia sẻ rủi ro và tài chính
giữa những người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ chính sách xã hội: Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội nhằm
đảm bảo đời sống vật chất cho người lao động khi họ không may gặp phải các “rủi ro
xã hội”, nhằm góp phần đảm bảo an toàn xã hội,…
Cần phân biệt Bảo hiểm xã hội với một số khái niệm có nội dung gần giống với
nó như: bảo hiểm thương mại, an sinh xã hội, cứu tế xã hội,… Khái niệm an sinh xã
hội có phạm vi rộng hơn so với Bảo hiểm xã hội, những chế định cơ bản của hệ thống
an toàn xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội, trợ cấp gia đình, trợ cấp do
các quỹ công cộng tài trợ, quỹ dự phòng và sự bảo vệ được giới chủ và các tổ chức xã
hội cung cấp. Còn bảo hiểm thương mại chủ yếu mang tính chất tự nguyện, quan hệ
bảo hiểm xuất hiện trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm, phạm vi đối tượng tham gia bảo
hiểm nhà nước rộng hơn so với bảo hiểm xã hội (gồm mọi cá nhân, tổ chức), mức
hưởng được đề xuất trên cơ sở mức tham gia bảo hiểm và hậu quả xảy ra.
Ý nghĩa
Bảo hiểm xã hội không chỉ có vai trò to lớn đối với đời sống của người lao
động, đảm bảo được thu nhập của người lao động khi họ mất việc làm, ốm đau, thai
sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà thông qua đó trật tự xã hội còn được đảm
bảo, tạo điều kiện thúc đẩy xã hội phát triển công bằng và văn minh hơn.
Trong điều kiện kinh tế thị trường với nhiều biến động không ngừng, Bảo hiểm
xã hội tồn tại, hoạt động và phát triển dựa trên mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ giữa
người sử dụng lao động với người lao động thông qua bên thứ ba - Tổ chức bảo hiểm
xã hội chuyên trách dưới sự bảo trợ đặc biệt của Nhà nước. Trong mối quan hệ đó:
Về phía người sử dụng lao động: Mặc dù phải đóng một phần vào quỹ bảo hiểm
xã hội nhưng họ không phải chi ra những khoản tiền lớn khi những người lao động gặp
những rủi ro nêu trên.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
4
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Về phía người lao động: Bảo hiểm xã hội đặt chỗ dựa về mặt tâm lý cho họ,
giúp họ yên tâm trong công tác từ đó nâng cao hiệu quả công việc, hạn chế được tình
hình ngừng trệ sản xuất kinh doanh, giảm thiệt hại cho người sử dụng lao động.
Đối với Nhà nước: Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi quốc gia. Vì
thực hiện bảo hiểm xã hội góp phần ổn định xã hội, tạo điều kiện cho kinh tế phát
triển. Thực hiện bảo hiểm xã hội sẽ hình thành quỹ tiền tệ tập trung có thể đầu tư một
phần vào các hoạt động kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ bảo hiểm xã
hội. Do việc chi trả không phải lúc nào cũng diễn ra thường xuyên, cho nên Nhà nước
có thể đầu tư trở lại để bảo toàn quỹ. Mặt khác, bảo hiểm xã hội giúp cho Nhà nước
điều tiết và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội.
Như vậy, tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội mang lại lợi ích cho cả ba bên:
người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước và xã hội. Do đó, cả ba bên đều có
mối quan hệ với bảo hiểm xã hội. Cùng với tiến trình phát triển của xã hội, bảo hiểm
xã hội ngày càng trở thành một nhu cầu thường xuyên, chính đáng của người lao động.
Nó cần phải được đáp ứng như hàng loạt nhu cầu thiết yếu khác của con người, nó là
một bộ phận cấu thành trong hệ thống chính sách kinh tế - xã hội của quốc gia.
Bảo hiểm xã hội không những đóng một vai trò thiết yếu về mặt xã hội mà còn
mang một ý nghĩa kinh tế - chính trị to lớn. Tính kinh tế được thể hiện: Bảo hiểm xã
hội phải tính toán thu - chi và hiệu quả hoạt động (nhưng khác với kinh doanh kiếm
lời). Bảo hiểm xã hội có ý nghĩa chính trị bởi thông qua đó tính ưu việt, trình độ văn
minh của một thể chế chính trị của một quốc gia, của một Nhà nước được thể hiện.
Ngoài những ý nghĩa trên bảo hiểm xã hội còn mang tính nhân đạo, tính nhân
văn cao cả, nó thực hiện theo quy luật “lấy số đông bù cho số ít” tức là lấy sự đóng
góp nhỏ của số đông chu cấp cho số ít mà vì lý do nào đó (bị ốm đau, thai sản, tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp...) họ bị giảm đi hoặc mất thu nhập hay rủi ro trong cuộc
sống bình thường.
Đặc điểm
Con người sống lao động, làm việc nhằm thoả mãn các nhu cầu của mình, từ
các nhu cầu cơ bản, thiết yếu như: ăn, mặc, ở, đi lại,… Đến các nhu cầu cao hơn như
vui chơi, giải trí, có địa vị trong xã hội, được tôn trọng bảo vệ,… Khi cuộc sống càng
phát triển thì nhu cầu của con người cũng ngày càng cao hơn. Để thoả mãn nhu cầu
của mình con người phải lao động, phải bỏ sức lao động nhằm nhận được những gì
tương xứng với sức lao động đã bỏ ra. Vì vậy có thể nói khả năng lao động quyết định
đến nhu cầu sống và phát triển của con người.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
5
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Tuy nhiên trong cuộc sống không phải lúc nào con người cũng gặp thuận lợi có
một cuộc sống ổn định. Trái lại có rất nhiều khó khăn, bất lợi ít nhiều ngẫu nhiên phát
sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác.
Chẳng hạn bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm, khi tuổi già khả năng lao
động và khả năng tự phục vụ suy giảm,… Khi rơi vào trường hợp này, các nhu cầu
thiết yếu của cuộc sống không bị giảm đi mà còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện
thêm một số nhu cầu mới như: ốm đau thì cần khám chữa bệnh, tai nạn thì cần người
chăm sóc nuôi dưỡng,… Bởi vậy để đảm bảo ổn định cuộc sống của mỗi cá nhân cũng
như toàn xã hội, con người đã có nhiều cách khác nhau như tương trợ, giúp đỡ lẫn
nhau, kêu gọi sự giúp đỡ của Nhà nước. Tuy nhiên, các hình thức này đều mang tính bị
động và không chắc chắn.
Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là người lao động và
người sử dụng lao động. Những người lao động bán sức lao động và nhận được tiền
công từ người sử dụng lao động. Ban đầu người lao động chỉ nhận được tiền công và
tự đối phó với những rủi ro cuộc sống cũng như trong lao động của họ. Về sau do sự
đoàn kết đấu tranh của những người lao động mà những người sử dụng lao động buộc
phải chịu một phần trách nhiệm về những rủi ro trong lao động và cuộc sống của
người lao động. Mâu thuẫn giữa hai lực lượng trên phát sinh do khoản tiền chi trả cho
các rủi ro ngày càng lớn hoặc do sự không chi trả của người sử dụng lao động, điều
này ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của xã hội. Bởi vậy, Nhà nước đã phải đứng
ra can thiệp để điều hòa mâu thuẫn này, Nhà nước bắt buộc người sử dụng lao động và
người lao động phải nộp một khoản tiền nhất định để chi trả rủi ro trong cuộc sống của
người lao động. Từ đó, một nguồn quỹ đã được thành lập để chi trả cho việc này. Theo
thời gian cùng với sự tiến bộ của xã hội, lực lượng lao động ngày càng đông, sản xuất
càng phát triển thì nguồn quỹ càng lớn mạnh đảm bảo cuộc sống cho người lao động
và gia đình họ. Như vậy, bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất
khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung
do sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội. Từ những đặc điểm trên, bảo
hiểm xã hội có một số bản chất sau:
Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường. Kinh tế càng phát
triển thì bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.
Mối quan hệ giữa các bên trong bảo hiểm xã hội phát sinh trên cơ sở quan hệ
lao động diễn ra giữa ba bên: bên tham bảo hiểm xã hội (người lao động và người sử
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
6
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
dụng lao động), bên bảo hiểm xã hội (cơ quan nhận nhiệm vụ bảo hiểm xã hội), bên
được bảo hiểm xã hội (người lao động và gia đình họ).
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong bảo
hiểm xã hội có thể là rủi ro trái với ý muốn của con người như: ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp, hoặc xảy ra ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản,… Đồng thời
có thể xảy ra ở trong hoặc ngoài quá trình lao động.
Phần thu nhập bị mất đi, bị giảm của người lao động được thay thế, bù đắp từ
nguồn quỹ bảo hiểm xã hội. Nguồn này do các bên tham gia đóng góp là chủ yếu, còn
lại do nhà nước bù thiếu.
Nhìn chung, bảo hiểm xã hội mang cả bản chất kinh tế và bản chất xã hội. Tính
kinh tế và tính xã hội của bảo hiểm xã hội không tách rời mà đan xen lẫn nhau. Khi đề
cập sự bảo đảm kinh tế cho người lao động và gia đình họ là đã đề cập đến tính xã hội
của bảo hiểm xã hội, ngược lại, khi nói đến sự đóng góp ít nhưng lại đủ trang trải mọi
rủi ro xã hội thì đã đề cập đến tính kinh tế của bảo hiểm xã hội.
1.1.2. Phân loại bảo hiểm xã hội
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì bảo hiểm xã hội được phân loại theo
nhóm bảo hiểm xã hội và các chế độ bảo hiểm như sau:
Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà
người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia 2.
Như người viết đã đề cập ở trên thì Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều
phối đối với loại hình bảo hiểm bắt buộc mà cả hai chủ thể đều phải tham gia là người
sử dụng lao động và người lao động.
Trong đó, người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao
động. Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có
giao kết hợp đồng lao động3.
Theo đó, mỗi bên người sử dụng lao động và người lao động tự đóng góp theo
đúng tỷ lệ mà Luật Bảo hiểm xã hội quy định. Mức đóng hiện tại năm 2016 theo quy
định là người sử dụng lao động đóng 18% và người lao động đóng 8% trên mức lương
làm cơ sở đóng bảo hiểm xã hội.
2
3
Khoản 2 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Điều 6 Bộ luật Lao động năm 2012
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
7
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Khi tham gia bảo hiểm xã hội thì dĩ nhiên đôi bên sẽ không bị thiệt hại khi có
biến cố xảy ra. Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì bảo hiểm xã hội
bắt buộc có 05 chế độ bảo hiểm xã hội được hưởng. Đó là:
Chế độ ốm đau
Chế độ ốm đau là một chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc khi đó người lao động
bị ốm đau, tai nạn mà không phải là tai nạn lao động phải nghỉ việc và có xác nhận của
cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền theo quy định.
Tuy nhiên, những trường hợp ốm đau, tai nạn phải nghỉ việc do chính bản thân
tự hủy hoại sức khỏe, do say rượu hoặc sử dụng chất ma túy, tiền chất ma túy thì
không được hưởng chế độ ốm đau.
Ngoài ra, người lao động phải nghỉ việc để chăm sóc con dưới 07 tuổi bị ốm
đau và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì vẫn được tính
là chế độ ốm đau.
Thai sản
Chế độ thai sản là quyền lợi mà người lao động nữ mang thai, sinh con, mang
thai hộ và nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi và lao động
nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản, lao động nam
đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con được hưởng khi tham gia bảo hiểm xã hội.
Người viết sẽ tập trung đi sâu và phân tích ở Chương 2 của luận văn này.
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Chế độ bảo hiểm tai nạn lao động là chế độ của người lao động bị suy giảm khả
năng lao động từ 5% trở lên do người lao động bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ
làm việc, ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu
cầu của người sử dụng lao động và trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc
trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp là chế độ của người lao động bị suy giảm
khả năng lao động từ 5% trở lên do người lao động bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề
nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc
trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại.
Hưu trí
Hưu trí là chế độ cơ bản nhất trong 05 chế độ của hệ thống bảo hiểm xã hội,
được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 từ Điều 53 đến Điều 65, bao gồm
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
8
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
các quy định về đối tượng áp dụng, điều kiện hưởng lương hưu, mức lương hưu hằng
tháng và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, điều chỉnh lương hưu,…
Chế độ hưu trí có thể hiểu là chế độ đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao
động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa.
Tử tuất
Chế độ tử tuất là một chế độ bảo hiểm xã hội mang tính nhân văn cao nhất và
đặc thù nhất vì hưởng chế độ tử tuất chính là người lo mai táng hoặc thân nhân.
Chế độ tử tuất bao gồm hai trợ cấp đi kèm là trợ cấp mai táng và trợ cấp tử tuất
hằng tháng hoặc trợ cấp tuất một lần.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức
mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập
của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội để người tham
gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất4.
Bảo hiểm xã hội tự nguyện có hai chế độ bảo hiểm xã hội là chế độ hưu trí và
chế độ tử tuất. Hai chế độ này về phương thức thì tương tự như chế độ của bảo hiểm
xã hội bắt buộc.
1.2. Khái quát về chế độ thai sản
1.2.1. Khái quát về chế độ thai sản
Trong hệ thống các chế độ trợ cấp của bảo hiểm xã hội, chế độ thai sản được
xem là chế độ xuất hiện từ rất sớm. Ngay kỳ họp đầu tiên và trong suốt quá trình hoạt
động, Tổ chức lao động thế giới (ILO) đã ban hành nhiều Công ước và Khuyến nghị
thể hiện sự quan tâm, bảo vệ sức khỏe cũng như quyền lợi cho lao động nữ. Đó là
Công ước số 3 về việc sử dụng lao động nữ trước và sau khi đẻ, năm 1919 (có hiệu lực
từ ngày 13/6/1921), Công ước số 103 về bảo vệ thai sản (xét lại) năm 1952 (có hiệu
lực từ ngày 07/9/1955), Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội năm
1952 (có hiệu lực từ ngày 27/4/1952) và Khuyến nghị số 95 (sửa đổi năm 1952) 5. Mục
đích của Công ước và Khuyến nghị này là nhằm đảm bảo cho người lao động nữ và trẻ
sơ sinh được chăm sóc cần thiết và được bảo vệ mức sống đủ cho hai mẹ con trong
thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc. Theo đó, các Công ước này đã ấn định thời
gian nghỉ sinh con, khoản trợ cấp, chế độ chăm sóc y tế.
4
5
Khoản 3 Điều 03 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Giáo trình Luật An sinh xã hội, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007, tr.116
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
9
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Hiện nay, chế độ thai sản được quy định trong pháp luật ở hầu hết các nước trên
thế giới nhưng tùy vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ này
được quy định khác nhau về thời gian nghỉ, mức trợ cấp, điều kiện hưởng. Ở nước ta,
cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, chế độ bảo hiểm thai sản đã được quy định
cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành được chính quyền đến nay.
Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chế độ trợ cấp thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn
thiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được quyền lợi hợp pháp, cũng
như thể hiện chính sách đặc biệt ưu đãi đối với người lao động.
Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, có thể hiểu chế độ trợ cấp thai
sản là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội, bao gồm các quy định của Nhà nước
nhằm bảo đảm thu nhập, sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con
nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai,… Chế độ thai sản cũng như các chính
sách xã hội đối với lao động nữ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức
năng làm mẹ, vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội. Từ đó,
tạo điều kiện cho người lao động nói chung, lao động nữ nói riêng ổn định cuộc sống,
sức khỏe nhằm phát huy có hiệu quả năng lực nghề nghiệp, kết hợp hài hòa cuộc sống
lao động và cuộc sống gia đình.
1.2.2. Mục đích và ý nghĩa của chế độ thai sản
Mục đích
Hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia thường bao gồm nhiều chế độ khác
nhau, số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào
trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống bảo hiểm xã hội qua từng thời kỳ
của mỗi nước.
Chế độ thai sản có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống bảo hiểm xã hội
của mỗi quốc gia vì chế độ này ảnh hưởng đến một bộ phận lớn lao động trong xã hội
và đến tương lai của một đất nước. Một đất nước muốn tồn tại và phát triển phải chăm
lo chu đáo đến thế hệ tương lai. Cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, chế độ thai
sản được xem một trong năm chế độ được thực hiện sớm nhất trong lịch sử phát triển
của bảo hiểm xã hội ở nước ta. Chế độ trợ cấp này đã góp phần rất to lớn vào việc ổn
định đời sống của hàng triệu người lao động và gia đình họ, khuyến khích người lao
động hăng hái, yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
của đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử.
Theo quy định của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), một quốc gia được coi là
có hệ thống bảo hiểm xã hội chỉ khi có ít nhất một trong ba chế độ là ốm đau, thai sản,
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
10
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được thiết lập. Chế độ thai sản là chế độ có vai
trò to lớn trong hệ thống bảo hiểm xã hội của mỗi quốc gia, bởi lẽ đó là chế độ có ảnh
hưởng rất lớn đến cuộc đời của những người tham gia bảo hiểm xã hội. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường, khi nguồn thu nhập chính của người lao động là thu nhập
từ các hoạt động tu nghiệp, thì khi nghỉ thai sản, nguồn thu nhập chủ yếu của họ lại là
khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Trong hệ thống chính sách xã hội có những loại chính sách xã hội phổ biến, có
ảnh hưởng, có tác động đến đại bộ phận các tầng lớp dân cư trong xã hội. Đồng thời,
có những chính sách xã hội có tính đặc thù, chỉ có những ảnh hưởng, những tác động
đến một bộ phận, một tầng lớp xã hội nào đó. Nói cách khác, mỗi một loại chính sách
xã hội có một loại đối tượng tác động nhất định nhằm đạt một mục tiêu nhất định. Là
một bộ phận của chính sách xã hội, chính sách thai sản đối với người lao động giữ một
vai trò rất to lớn.
Thứ nhất, đối tượng của chính sách là những người lao động nữ, chiếm một tỷ
lệ đáng kể trong dân cư và trong lực lượng lao động của xã hội. Những người này đã
có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của đất nước.
Thứ hai, mục tiêu của chính sách đối với người nghỉ thai sản là nhằm góp phần
đảm bảo cuộc sống vật chất và tinh thần cho họ trong thời gian nghỉ sinh con mà
không có nguồn thu nhập nào khác.
Thực hiện tốt chính sách thai sản sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định xã hội, đảm
bảo thực hiện thắng lợi các chính sách xã hội khác của quốc gia. Thực hiện tốt chính
sách đối với người nghỉ thai sản sẽ góp phần tạo ra động lực mới để thực hiện các
chính sách kinh tế; khuyến khích người lao động hăng hái sản xuất, nâng cao năng suất
và chất lượng lao động. Thực tế cho thấy, ở các nước thực hiện tốt chính sách thai sản
đối với người lao động đã tạo ra một cơ sở xã hội bền vững. Ngược lại, ở những nước
chưa thực hiện tốt chính sách này thì xã hội luôn ở vào trạng thái bất ổn định, người
lao động luôn luôn phải đối mặt trước những khó khăn khi phải nghỉ việc mà không có
những đảm bảo trong cuộc sống ở phía trước. Điều này luôn dẫn đến những nguy cơ
bất ổn định về chính trị ở các quốc gia này. Chính vì thế, các nước luôn chú trọng xây
dựng và hoàn thiện chính sách, chế độ thai sản đối với người lao động, nhằm đảm bảo
sự ổn định về chính trị và phát triển xã hội.
Ở nước ta, ngay từ khi mới thành lập nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng
xây dựng hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội. Cùng với sự phát triển chung của đất
nước, chế độ thai sản ngày càng được hoàn thiện hơn và đã góp phần rất tích cực trong
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
11
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
việc đảm bảo cuộc sống cho người lao động, góp phần giữ vững ổn định chính trị, tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Ý nghĩa
Trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ thai sản là chế độ được áp
dụng chủ yếu là đối với lao động nữ, đối tượng chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi
sinh đẻ khi khám thai, bị sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con
nuôi sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai.
Chế độ thai sản thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và của cộng đồng xã hội đối
với thế hệ tương lai, thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình
thai nghén, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, đồng
thời chế độ thai sản cũng nhằm mục đích trợ giúp, giữ cân bằng thu nhập, góp phần tạo
sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ nói riêng và người lao
động nói chung. Nó có vị trí quan trọng đối với người lao động nữ, nhằm động viên,
khuyến khích và hỗ trợ cho người mẹ khi họ mang thai, sinh đẻ và nuôi con sơ sinh.
Bên cạnh đó, nó còn thể hiện rõ rệt sự ưu đãi của Nhà nước đối với người lao động khi
thực hiện chức năng làm mẹ của họ.
Người phụ nữ ngày nay đã tự lao động để đảm bảo cho cuộc sống và cống hiến
cho xã hội. Qua đó, họ ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của bản thân trong
xã hội, họ đã có mặt trong hầu hết các ngành nghề và đã thể hiện một cách xuất sắc
năng lực của mình. Khác với nam giới họ còn có nhiệm vụ quan trọng là tái sản xuất
con người, do đó khi mang thai và sinh con là giai đoạn khó khăn nhất của họ nên họ
cần được sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội. Đó chính là khoản tiền trợ cấp phù hợp
với công sức mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động.
Như vậy, chế độ thai sản là một chế độ mang tính xã hội hoá cao, nó được thực
hiện thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách khác,
nó diễn ra một cách liên tục vì sự sống luôn phát triển. Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc
và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với
nhau hơn, thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với người.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
12
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ THAI SẢN
2.1. Đối tượng áp dụng chế độ thai sản
Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì người lao động tham gia bảo hiểm xã
hội bắt buộc là đối tượng được hưởng trợ cấp thai sản, cụ thể là: Người làm việc theo
hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp
đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03
tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao
động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp
luật về lao động; Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng
đến dưới 03 tháng; Cán bộ, công chức, viên chức; Công nhân quốc phòng, công nhân
công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên
môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với
quân nhân; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng
tiền lương6.
Các đối tượng này có tham gia đóng phí bảo hiểm xã hội thì khi thuộc một
trong các trường hợp được đề cập tại mục 2.2 thì đều được nghỉ việc hưởng trợ cấp.
Như vậy, đối tượng hưởng trợ cấp bảo hiểm thai sản chủ yếu là lao động nữ
trong quá trình thai nghén, sinh con, có quan hệ lao động theo quy định của pháp luật
lao động, có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Tuy nhiên, không phải trong mọi
trường hợp nghỉ thai sản đều được hưởng chế độ này, mà họ phải đáp ứng đầy đủ các
điều kiện mà Luật định.
2.2. Điều kiện hưởng chế độ thai sản
Pháp luật của hầu hết các nước từ lâu đã quy định cụ thể về điều kiện thời gian
đóng bảo hiểm xã hội trước khi hưởng chế độ thai sản. Chẳng hạn, Pháp luật bảo hiểm
xã hội của Thái Lan quy định phải có 07 tháng đóng góp trong 15 tháng trước khi sinh.
Singapore quy định ít nhất phải có 06 tháng làm việc. Nhật Bản quy định phải có 12
tháng làm việc trước đó. Tại Philippines, trợ cấp thai sản được thực hiện trong 04 lần
sinh, với điều kiện người lao động nữ phải đóng bảo hiểm xã hội 03 tháng trong vòng
12 tháng trước khi sinh con.
6
Điều 30 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
13
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Đối với Việt Nam điều kiện hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 31
Luật Bảo hiểm xã hội 2014, theo quy định này thì người lao động được hưởng chế độ
thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau: Lao động nữ mang thai; Lao động nữ
sinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ; Người lao động
nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao
động thực hiện biện pháp triệt sản; Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ
sinh con (Có thể hiểu là điều kiện cần).
Và điều kiện đủ là:
Lao động nữ sinh con; Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai
hộ; Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội
từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con
nuôi.
Lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi
mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12
tháng trước khi sinh con.
Người lao động đủ điều kiện quy định như trên mà chấm dứt hợp đồng lao
động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi
dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định7.
Việc quy định điều kiện thời gian tham gia đóng bảo hiểm xã hội cho trường
hợp lao động nữ sinh con và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi là
quy định tiến bộ, vì quy định này không chỉ chú trọng đến việc trợ giúp cho người lao
động khi nghỉ việc để thực hiện thiên chức mà còn chú trọng đến sự bảo toàn và phát
triển về tài chính của quỹ bảo hiểm xã hội.
2.3. Thời gian hưởng chế độ khi khám thai
Nuôi con khoẻ mạnh, thông minh là niềm vui, hạnh phúc, là mong muốn của
mỗi người mẹ, mỗi gia đình và là trách nhiệm thiêng liêng đối với giống nòi, đất nước.
Để con khoẻ mạnh, mỗi người mẹ cần phải có thời gian chăm sóc sức khoẻ của mình,
đặc biệt trong thời kỳ có thai, cho con bú, vì sức khoẻ, bệnh tật của người mẹ trong
thời kỳ này đều có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển và sức khoẻ của đứa con trong
bụng hay đang được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ. Vì vậy, cùng với mức trợ cấp nghỉ thai
sản, thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản cũng là nội dung được quy định cụ thể trong
các văn bản pháp luật quốc tế cũng như trong nước từ trước đến nay.
7
Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
14
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Ở nước ta, thời gian nghỉ thai sản được quy định khác nhau cho nhiều trường
hợp: nghỉ khám thai, nghỉ vì sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, nghỉ vì sinh non,
nghỉ sinh con, nghỉ khi con sơ sinh bị chết, nghỉ khi nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi,
nghỉ khi thực hiện các biện pháp tránh thai, nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau
thời gian hưởng chế độ thai sản,…
Các quy định về thời gian nghỉ cho mỗi trường hợp luôn có sự thay đổi và ngày
càng được tính toán dựa trên nhiều cơ sở khoa học để phù hợp hơn trong việc bảo vệ
sức khoẻ cho người lao động và trẻ sơ sinh, phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội
và khả năng chi trả của quỹ bảo hiểm xã hội.
Ở những tháng đầu tiên của thai kỳ, một số lao động nữ thường có cảm giác
mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn (thai nghén), việc chăm sóc sức khỏe cho người lao động
nữ trong giai đoạn này là rất quan trọng. Do đó, để đảm bảo an toàn cho sức khoẻ của
người mẹ và thai nhi trong suốt quá trình mang thai, người phụ nữ cần đến các cơ sở y
tế để khám thai định kỳ. Tại đây, các bác sĩ chuyên khoa sẽ theo dõi sự phát triển của
thai nhi cũng như đề phòng và điều trị kịp thời những bệnh lý có thể xảy ra trong quá
trình thai nghén. Số lần khám thai được căn cứ vào quá trình phát triển của thai nhi.
Khám thai đầy đủ, đúng quy định sẽ giúp cho người phụ nữ thực hiện chức năng làm
mẹ an toàn.
Để bảo vệ, chăm sóc lao động nữ khi có thai, theo Khuyến nghị của Tổ chức y
tế thế giới, pháp luật về bảo hiểm xã hội nước ta quy định trong thời gian mang thai,
lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 1 ngày. Trong trường hợp
lao động có thai làm việc ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai
không bình thường thì được nghỉ việc hưởng trợ cấp 02 ngày cho mỗi lần khám thai.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi đi khám thai tính theo ngày làm
việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần. Quy định thời gian nghỉ
tính theo ngày làm việc góp phần hạn chế được sự chuyên quyền của người sử dụng
lao động, nhiều khi do yêu cầu công việc mà không đảm bảo đúng thời gian khám thai
định kỳ cho lao động nữ, đồng thời quy định này cũng phù hợp với thời gian làm việc
của đa số cơ sở y tế ở nước ta hiện nay.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
15
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
2.4. Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc
phá thai bệnh lý
Sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý có thể do nguyên
nhân khách quan hay chủ quan gây ra. Dù do nguyên nhân nào, thì sảy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý cũng làm người phụ nữ bị ảnh hưởng rất lớn
về mặt thể chất và tinh thần.
Nhằm giúp người lao động nữ nhanh chóng phục hồi sức khoẻ, sớm ổn định
tinh thần, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định trong trường hợp này người lao
động nữ được nghỉ việc hưởng trợ cấp 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi; 20 ngày nếu
thai từ 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày nếu thai từ 13
tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. Thời gian
nghỉ việc hưởng chế độ thai sản khi sảy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu tính cả
ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hàng tuần8.
Trước đây, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 chỉ quy định đối với các trường
hợp hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu. Luật cũ chưa được quy
định đối với “phá thai bệnh lý”. Phá thai bệnh lý có thể hiểu là trường hợp người mẹ bị
bệnh tật, không thể sinh con được. Khi đó, cơ sở y tế khuyến cáo phải tiến hành phá
thai để đảm bảo an toàn cho người mẹ. Vì vậy, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã bổ
sung đầy đủ đối với trường hợp phá thai bệnh lý tương tự như sẩy thai, nạo, hút thai
hoặc thai chết lưu.
Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 đã không còn “cứng nhắc” khi như
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 khi bổ sung “lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền 9” và chỉ đưa
ra thời gian nghỉ việc tối đa như trên.
2.5. Thời gian hưởng chế độ khi sinh con
Người phụ nữ gần đến ngày sinh do sự di chuyển khó khăn nên rất cần được
nghỉ ngơi, cần có thời gian để chuẩn bị một số vật dụng cho việc sinh đẻ cũng như để
chuẩn bị tâm lý tốt nhất đón đứa con chào đời. Và sau khi sinh do sức khoẻ của người
phụ nữ còn yếu, trẻ sơ sinh cần được chăm sóc từ người mẹ, nên nhất thiết phải được
nghỉ ngơi để phục hồi sức khoẻ và chăm sóc con sơ sinh.
Nhằm đảm bảo sức khoẻ cho mẹ và con, đảm bảo chức năng làm mẹ an toàn;
Cùng với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) cũng như
8
9
Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Khoản 1 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
16
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
pháp luật nước ta đã quy định thời gian nghỉ sinh con bao gồm thời gian nghỉ trước và
sau khi sinh.
Thời gian nghỉ việc trước và sau khi sinh con được dựa trên cơ sở tính toán một
cách khoa học lượng thời gian cần và đủ để người phụ nữ hồi phục sức khoẻ, đồng
thời đủ để đứa trẻ phát triển, tách được mẹ; dựa vào điều kiện lao động và môi trường
sống của người lao động cũng như vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất
nước.
Ở nước ta, trước đây độ dài thời gian nghỉ thai sản luôn có sự thay đổi ở mỗi
thời kỳ. Cụ thể là, Sắc lệnh 79/SL năm 1947 quy định thời gian nghỉ thai sản là 8 tuần;
Sắc lệnh số 77/SL năm 1950 quy định là 2 tháng; Điều lệ tạm thời về chế độ bảo hiểm
xã hội năm 1961 quy định là 60 ngày; Quyết định số 07/HĐBT được ban hành ngày
15/01/1983 quy định 75 ngày; Quyết định số 121/HĐBT được ban hành ngày
19/4/1986 quy định 180 ngày; Nghị định số 43/CP được ban hành ngày 22/6/1993 quy
định thời gian nghỉ là 180 ngày. Nghị định số 12/CP được ban hành ngày 26/01/1995
quy định 3 mức nghỉ: 04 tháng, 05 tháng hoặc 06 tháng phụ thuộc vào điều kiện lao
động, các quy định này nhìn chung là phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời đạt được
mục đích bảo vệ sức khỏe cho người mẹ và trẻ sơ sinh.
Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 quy định về thời gian nghỉ khi lao động nữ sinh
con như sau: 04 tháng nếu làm nghề hoặc công việc trong điều kiện lao động bình
thường; 05 tháng nếu làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc
danh mục Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; làm việc theo
chế độ ba ca; làm việc thường xuyên ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên
hoặc là nữ quân nhân, nữ công an nhân dân; 06 tháng đối với lao động nữ là người tàn
tật theo quy định của pháp luật về người tàn tật.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì: Lao động nữ sinh con được nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ
sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01
tháng. Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02 tháng.
Ngoài ra, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 còn mở rộng đối tượng là lao động
nam đang đóng bảo hiểm xã hội mà khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai
sản là 05 ngày làm việc; 07 ngày làm việc khi vợ sinh con phải phẫu thuật, sinh con
dưới 32 tuần tuổi; Trường hợp vợ sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh ba
trở lên thì cứ thêm mỗi con được nghỉ thêm 03 ngày làm việc; Trường hợp vợ sinh đôi
trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
17
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định đối với lao động nam được
tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 còn quy định trường hợp sau khi sinh con, nếu
con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con;
nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày
con chết, nhưng thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không vượt quá thời gian đã
quy định; thời gian này không tính vào thời gian nghỉ việc riêng theo quy định của
pháp luật về lao động.
Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham
gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi
dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ
theo quy định. Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện
quy định mà chết thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà
không nghỉ việc theo quy định thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối
với thời gian còn lại của mẹ theo quy định.
Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con
hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ
thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi10.
Thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày
nghỉ hằng tuần trừ lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ
việc hưởng chế độ thai sản thì không tính ngày nghỉ Lễ, nghỉ tết, ngày nghỉ hằng tuần.
2.6. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ
Trong cuộc sống, không phải người phụ nữ nào cũng có thể sinh con. Chính vì
thế, Pháp luật Việt Nam luôn có tính nhân văn trong việc chấp thuận hình thức mang
thai hộ và nhờ mang thai hộ là một chế độ thai sản của Luật Bảo hiểm xã hội.
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cũng quy định cụ thể:
Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao
đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt quá thời gian quy định.
10
Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
18
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ mà thời gian hưởng chế
độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì người mang thai hộ vẫn được hưởng chế độ thai sản
cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con
cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi11.
Chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ
Về khám thai: Lao động nữ mang thai hộ đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
vào quỹ ốm đau và thai sản, trong thời gian mang thai được nghỉ việc để đi khám thai
05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người
mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần
khám thai.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ
được tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần12.
Trường hợp, lao động nữ mang thai hộ đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào
quỹ ốm đau và thai sản, khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý
thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau: 10 ngày nếu
thai dưới 05 tuần tuổi; 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi; 40 ngày
nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi; 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên.
Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định theo trường hợp này tính cả
ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần13.
Lao động nữ mang thai hộ khi sinh con mà có đủ điều kiện quy định tại Khoản
2 hoặc Khoản 3 Điều 31 về điều kiện hưởng chế độ thai sản của Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014 thì được hưởng các chế độ sau: Trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần
mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ mang thai hộ sinh con; Nghỉ việc hưởng chế độ
thai sản cho đến ngày giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ nhưng không vượt
quá thời gian quy định tại Khoản 1 Điều 34 về thời gian hưởng chế độ khi sinh con của
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Trong trường hợp kể từ ngày sinh đến thời điểm giao đứa trẻ hoặc thời điểm
đứa trẻ chết mà thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày thì lao động nữ mang
11
Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Khoản 1 Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc
13
Khoản 2 Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của
Luật Bảo hiểm xã hội bắt buộc
12
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
19
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày tính cả ngày nghỉ
lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần.
Thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ là thời điểm ghi trong
văn bản xác nhận thời điểm giao đứa trẻ của bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai
hộ.
Sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Khoản 2 về nghỉ việc hưởng
chế độ thai sản khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và điểm b
Khoản 3 Điều 3 Nghị định 115/2015/NĐ-CP về nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho
đến ngày giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ, trong 30 ngày đầu làm việc mà
sức khỏe chưa hồi phục thì lao động nữ mang thai hộ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi
sức khỏe theo quy định tại Điều 41 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về dưỡng sức,
phục hồi sức khoẻ sau thai sản, trừ trường hợp lao động nữ mang thai hộ chấm dứt hợp
đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con.
Khi lao động nữ mang thai hộ sinh con thì người chồng đang đóng bảo hiểm xã
hội bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo
quy định tại Khoản 2 Điều 34 về thời gian hưởng chế độ khi sinh con của Luật Bảo
hiểm xã hội năm 2014.
Chế độ thai sản đối với người mẹ nhờ mang thai hộ
Người mẹ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào quỹ ốm đau
và thai sản từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con
thì được hưởng các chế độ sau:
- Trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động
nữ mang thai hộ sinh con trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ không tham gia
bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 3 của
Nghị định 115/2015/NĐ-CP.
Trường hợp lao động nữ mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ không tham
gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc không đủ điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 3
của Nghị định 115/2015/NĐ-CP thì người chồng đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc
vào quỹ ốm đau, thai sản của người mẹ nhờ mang thai hộ được hưởng trợ cấp một lần
bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh cho mỗi con.
- Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ thời điểm nhận con cho đến khi con
đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con,
người mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ thêm 01 tháng.
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
20
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ không nghỉ việc thì ngoài tiền lương
vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định.
- Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ chết hoặc gặp rủi ro mà không còn đủ
sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm
quyền khi con chưa đủ 06 tháng tuổi thì người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ
hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời
gian còn lại của người mẹ nhờ mang thai hộ theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 4
Nghị định 115/2015/NĐ-CP.
- Trường hợp người cha nhờ mang thai hộ hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng quy
định tại Điểm c Khoản 1 Điều 4 Nghị định 115/2015/NĐ-CP đang tham gia bảo hiểm
xã hội bắt buộc mà không nghỉ việc thì ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai
sản đối với thời gian còn lại của người mẹ nhờ mang thai hộ theo quy định tại Điểm b
Khoản 1 Điều 4 Nghị định 115/2015/NĐ-CP.
- Trường hợp sau khi sinh con, nếu con chưa đủ 06 tháng tuổi bị chết thì người
mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Khoản 3
Điều 34 của Luật Bảo hiểm xã hội.
2.7. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi và khi thực hiện các biện
pháp tránh thai
2.7.1. Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi
Đây là quy định áp dụng cho người lao động nam hoặc lao động nữ nhận nuôi
con nuôi dưới 06 tháng tuổi theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, được nghỉ
việc hưởng trợ cấp thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Pháp luật hiện hành
không khống chế số con nuôi sơ sinh.
Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng
chế độ thai sản quy định thì chỉ cha hoặc mẹ được nghỉ việc hưởng chế độ14.
Quy định này đảm bảo được quyền làm cha mẹ của người lao động, thể hiện
rằng pháp luật đang tiến đến một xu hướng chung là mọi lao động đều có quyền bình
đẳng và được tạo điều kiện để được hưởng chế độ thai sản. Đồng thời cũng đảm bảo
hơn sự công bằng, không phân biệt con đẻ hay con nuôi, thể hiện sự phù hợp và thống
nhất các quy định pháp luật khác.
14
Điều 36 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
21
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Nhìn chung, thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của
pháp luật Việt Nam hiện hành là ưu đãi đối với lao động nữ hơn so với các nước trong
khu vực cũng như các nước trên thế giới.
2.7.2. Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai
Trước đây, người lao động khi thực hiện các biện pháp tránh thai nhằm mục
đích kế hoạch hóa dân số thì các chế độ đối với họ nằm trong quỹ kế hoạch hóa dân số
của y tế. Sau này, Nhà nước chuyển sang thực hiện bảo hiểm xã hội đối với họ và
trong một thời gian dài, các biện pháp như đặt vòng tránh thai, hút điều hòa kinh
nguyệt, triệt sản được tính để hưởng chế độ ốm đau. Quy định như vậy là chưa hợp lý,
vì về bản chất, những biện pháp này đều thuộc diện thai sản, đều ảnh hưởng đến tâm
sinh lý và chức năng sinh sản của người lao động. Mặt khác, mức hưởng chế độ ốm
đau lại thấp hơn mức hưởng chế độ thai sản. Vì thế, pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện
hành đã chuyển những biện pháp này sang chế độ thai sản nhằm đảm bảo hơn sự công
bằng về quyền lợi cho người lao động.
Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định thời gian hưởng chế độ khi thực hiện
các biện pháp tránh thai: khi đặt vòng tránh thai người lao động được nghỉ việc 07
ngày; khi thực hiện biện pháp triệt sản người lao động được nghỉ việc 15 ngày.
Thời gian nghỉ việc cho các trường hợp trên tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết và
ngày nghỉ hàng tuần.
2.8. Trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng
tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao
động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha được
trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con 15.
Ta có ví dụ sau đây: Người lao động A sinh con vào tháng 10/2016 thì trợ cấp
một lần khi sinh con là 2 x 1.210.000 = 2.420.000 đồng (do mức lương cơ sở là
1.210.000 đồng được áp dụng từ 01/5/2016)16.
2.9. Mức hưởng chế độ thai sản
Mức hưởng chế độ thai sản được quy định tại Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội
năm 2014, chúng ta có thể phân ra chi tiết như sau:
15
Điều 38 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
Nghị định 47/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 của Chính phủ quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công
chức, viên chức và lực lượng vũ trang
16
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
22
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
2.9.1. Nghỉ chế độ khám thai
Như đã đề cập tại mục 2.3 về chế độ khám thai: Trong thời gian mang thai, lao
động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; Trường hợp ở xa cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình
thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.
Và mức hưởng chế độ thai sản được tính như sau: Mức hưởng một ngày được
tính bằng mức hưởng chế độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày và người lao động
hưởng mức một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã
hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Ta có thể hình dung qua ví dụ sau đây:
Người lao động A có mức lương đóng bảo hiểm xã hội tháng 05 là 4.000.000
đồng; Tháng 06, 07 và 08 là 4.500.000 đồng; Tháng 09 là 5.000.000 đồng và tháng 10
là 5.500.000 đồng. Người lao động này sẽ được hưởng chế độ khám thai với mức tiền
lương được tính như sau:
Tiền lương bình quân 06 tháng:
4.000.000 + 4.500.000 × 3 + 5.000.000 + 5.500.000
≈ 4.666.667 (đồng)
6
Mức hưởng một ngày của người lao động A:
4.666.667
≈ 194.445 (đồng)
24
Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức
hưởng chế độ khám thai là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo
hiểm xã hội.
2.9.2. Nghỉ chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai
bệnh lý
Về chế độ này, người lao động được nghỉ hưởng chế độ với thời gian được quy
định theo Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và mức hưởng sẽ được tính như
sau: Mức hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý
thì mức hưởng một ngày được tính bằng mức trợ cấp theo tháng chia cho 30 ngày 17.
Ta có thể lấy ví dụ về trường hợp của người lao động A được đặt ra tại mục a)
thì mức hưởng một ngày của người lao động A là:
17
Điểm c Khoản 1 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
23
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
4.666.667
= 155.556 (đồng)
30
Trong đó, mức lương bình quân tháng (06 tháng trước khi nghỉ việc) được tính
tương tự mục a).
Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức
hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý là mức
bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
2.9.3. Nghỉ chế độ khi sinh con
Chế độ nghỉ khi sinh con đã được đề cập tại Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm
2014, cụ thể:
Đối với lao động nữ
Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi
sinh con là 06 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai
trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 01 tháng.
Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản trước khi sinh tối đa không quá 02
tháng .
18
Và mức hưởng là một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng
bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.
Đối với lao động nam
Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc
hưởng chế độ thai sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm
2014 và mức hưởng được tính như sau:
Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo
hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người
lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ này là mức
bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng một ngày đối với trường hợp này được tính bằng mức hưởng chế
độ thai sản theo tháng chia cho 24 ngày.
Giả sử lao động A (ví dụ nêu trên) thì cách tính trong trường hợp này tương tự
như mục 2.9.1 đã nêu.
Các trường hợp đặc biệt
18
Khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
24
SVTH: Lê Hoàng Sang
Đề tài: Quy định pháp luật bảo hiểm xã hội về chế độ thai sản
Trường hợp sau khi sinh con, nếu con dưới 02 tháng tuổi bị chết thì mẹ được
nghỉ việc 04 tháng tính từ ngày sinh con; nếu con từ 02 tháng tuổi trở lên bị chết thì
mẹ được nghỉ việc 02 tháng tính từ ngày con chết.
Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội hoặc cả cha và mẹ đều tham
gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi
dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của người mẹ.
Trường hợp mẹ tham gia bảo hiểm xã hội nhưng không đủ điều kiện quy định tại
khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 31 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 mà chết thì cha
hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con
đủ 06 tháng tuổi.
Trường hợp cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng tham gia bảo hiểm xã hội mà
không nghỉ việc theo quy định tại khoản 4 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì
ngoài tiền lương còn được hưởng chế độ thai sản đối với thời gian còn lại của mẹ theo
quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
Trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con
hoặc gặp rủi ro sau khi sinh mà không còn đủ sức khỏe để chăm sóc con theo xác nhận
của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì cha được nghỉ việc hưởng chế độ
thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
Các trường hợp đặc biệt nêu trên, mức hưởng chế độ thai sản được tính tương
tự mục 2.9.1.
2.9.4. Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang
thai hộ (Thời gian nghỉ theo Điều 35 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014); Hưởng chế độ
khi nhận nuôi con nuôi (Thời gian nghỉ theo Điều 36 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014).
Các chế độ này được tính trợ cấp tháng tương tự mục 2.9.3.
2.9.5. Hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai (Thời gian nghỉ
theo Điều 37 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014).
Chế độ này được tính trợ cấp tương tự mục 2.9.2.
Áp dụng chung cho tất cả các chế độ thai sản: Thời gian nghỉ việc hưởng chế
độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng được tính là thời gian đóng bảo
hiểm xã hội, người lao động và người sử dụng lao động không phải đóng bảo hiểm xã
hội19.
2.10. Lao động nữ đi làm trước khi hết thời hạn nghỉ sinh con
19
Khoản 2 Điều 39 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014
GVHD: Võ Thị Bảo Trâm
25
SVTH: Lê Hoàng Sang