Tải bản đầy đủ (.doc) (6 trang)

Phân tích nhân vật Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (103.92 KB, 6 trang )

[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

Đề 20.3. Phân tích vẻ đẹp của hình tượng nhân vật Huấn Cao trong
truyện ngắn ''Chữ người tử tù'' của Nguyễn Tuân. Từ đó nhận xét về nghệ
thuật khắc hoạ nhân vật của nhà văn.
Trong nền văn học Việt Nam, đặc biệt là trong trào lưu văn học lãng mạn
1930-1945 toả ngát những bông hoa muôn màu muôn sắc. Giữa vuờn hoa ngàn
sắc tía đó nổi lên một bông hoa ngát hương: ''Vang bóng một thời'' của Nguyễn
Tuân- Tác phẩm viết về ''một thời'' đã qua nay chỉ còn ''vang bóng''. Trong ''Vang
bóng một thời'', truyện ngắn ''Chữ người tử tù'' có một giá trị riêng, nổi bật. Ai đã
từng đọc ''Chữ ngưòi tử tù'' chắc hẳn đều rung động, cảm phục, ngưỡng mộ trước
vẻ đẹp của nguời anh hùng sa cơ lỡ vận mà hiên ngang, bất khuất, có tài, có tâm,
mến mộ nghĩa khí đó là nhân vật Huấn Cao. Huấn Cao là kết tinh, là hội tụ phẩm
chất của một con người có nhân, dũng, khí. Ông là tập hợp của tất cả những gì tinh
tuý nhất, thanh tao nhất, tinh khiết nhất.
Nguyễn Tuân là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời tìm cái đẹp. Ông có một
vị trí quan trọg và đóng góp không nhỏ đối với văn học Việt Nam hiện đại: thúc
đẩy thể tuỳ bút, bút kí đạt trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ
văn học dân tộc; đem đến cho nền văn xuôi hiện đại một phong cách tài hoa, độc
đáo. “Vang bóng một thời” khi in lần đầu (1940) gồm 11 truyện ngắn, là tác phẩm
kết tinh tài năng của Nguyễn Tuân trước Cách mạng, được nhà phê bình Vũ Ngọc
Phan nhận xét là “một văn phẩm đạt gần tới sự toàn diện, toàn mĩ”. Nhân vật
chính trong “Vang bóng một thời phần lớn là những nho sĩ cuối mùa- những con
người tài hoa, bất đắc chí. Gặp lúc Hán học suy vi, sống giữa buổi “Tây Tàu nhố
nhăng”, những con người này mạc dù buông xuôi bất lực nhưng vẫn mâu thuẫn
sâu sắc với xã hội đương thời. Họ không chịu a dua theo thời, chạy theo danh lợi
mà vẫn cố giữ “thiên lương” và “sự trong sạch của tâm hồn”. Họ dường như cố ý
lấy “cái tôi” tài hoa, ngông nghênh của mình để đối lập với xã hội phàm tục; phô
diễn lối sống đẹp thanh cao của mình như một thái độ phản ứng trật tự xã hội
đương thời. Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng ông
Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”, một con người tài hoa, không chỉ có tài mà


còn có cái tâm trong sáng; mặc dù chí lớn không thành nhưng tư thế vẫn hiên
ngang bất khuất. Qua đó, Nguyễn Tuân thể hiện quan niện về cái đẹp và bộc lộ
thầm kín lòng yêu nước.
Huấn Cao là một hình tượng thuẩm mĩ, một nét đẹp trong cuộc sống đời
thường, là một người có nhân cách vẹn toàn, vừa có tài văn, tài võ vừa là người có
nghĩa khi. Huấn Cao phảng phất bóng dáng của Cao Bá Quát, là linh hồn của nhà
nho kiệt xuất. Cao Bá Quát đã từng sống một cuộc sống tunh hoành nganh dọc, là
một người có tài, có đức, văn hay chữ đẹp, sống trong giai đoạn triều Nguyễn,
dám đứng lên chống lại bọn thực dân phong kiến, chống lại bọn cường quyền, đả
kích xã hội phong kiến thối nát, bỉ ổi. Phải chăng, Nguyễn Tuân đã muợn Huấn
Cao để ngợi ca Cao Bá Quát và mặt khác dựa vào Cao Bá Quát để khái quát lên
một hình tượng Huấn Cao mà cái đẹp của Tài Hoa hoà hợp với cái đẹp của khí
phách, tuy chí lớn không thành nhưng vẫn coi thường nguy hiểm, gian khổ, xem

1


[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

khinh cái chết. Tư thế của Huấn Cao hiên ngang lồng lộng toả sáng trên cái nền
đen quánh của ngục tù.
Nói đến vẻ đẹp của hình tượng Huấn Cao trước hết phải nhắc tới cái tài.
Huấn Cao là một ngưòi viết chữ đẹp: ''Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm''.
Trong thị hiếu thẩm mĩ của ngưòi xưa, từ Trung Quốc đến Việt Nam thì viết chữ
đẹp là cả một nghệ thuật cao quý và chơi chữ đẹp là thú chơi thanh tao của các cụ
đồ nho xưa. Viết chữ đẹp là biểu hiện của con người co' trí thức, một vẻ đẹp hoàn
mĩ trong văn hoá truyền thống dân tộc. Nó như một sản phẩm nghệ thuật, như một
vật báu mà con người thèm muốn, khao khát. Ngoài ra, Huấn Cao còn có tài bẻ
khoá vượt ngục tù, coi nhà tù như nơi không người, ra vào như chơi. Điều đó thể
hiện một con người khao khát tự do, hoài bão tung hoành, luôn đấu tranh cho

chính nghĩa, chống lại triều đình phong kiến mục nát. Tất cả những tài năng đó
làm nên một Huấn Cao có tầm lớn, đi vào trong lòng độc giả như một người anh
hùng, một trượng phu đã vượt lên truyên tất cả cái bình thường nhỏ nhoi, hẹp hòi
của cuộc đời để vẫy vùng, để ''chọc trời khuấy nước''. Nhưng trong cái xã hội
phong kiến người bóc lột người, ''nhân tài như lá mùa thu'' ấy thì Huấn Cao hiện
lên là một anh hùng thất thế. Nguyễn Du cũng đã từng viết về Từ Hải- một anh
hùng thời đó: ''Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn (''Truyện Kiều''). Song vị ''hùm
thiêng'' Huấn Cao này tuy có sa cơ, lỡ nghiệp nhưng Huấn Cao của chúng ta vẫn
hiên ngang, bất khuất, vẫn dũng khí, kiên cường. Do đó, người đọc không chỉ
nhận ra Huấn Cao là một người có tài mà ông còn là một người có dũng khí, hiên
ngang trước bạo lực cường quyền, trước cái chết đang treo lơ lửng. Hết mực ca
ngợi các tài của Huấn Cao, đồng thời Nguyễn Tuân cũng hết sức chân trọng các
tâm của Huấn Cao. Bởi ''Chữ tâm kia mới bằng 3 chữ tài'' (Nguyễn Du) hay như
Lục Du, một nhà thơ yêu nước của Trung Quốc thời nhà Tống, sau cuộc đời làm
thơ của mình đã khuyên con: ''Như quả dục học thi- Công phu tại thi ngoại'' (Nếu
như quả là con muốn học làm thơ thì công phu là ở ngoài việc chữ nghĩa). ''Cái
Tâm'' của ông cũng vuông vắn, cao khiết và đầy sức chinh phục như nét chữ của
ông vậy. Có lẽ, ''Phong cách tức là con người'' đã được thể hiện rẩt rõ ở đây.
Bên cạnh tài viết chữ đẹp, Huấn Cao còn có tài "bẻ khóa vượt ngục", khí
phách hiên ngang. Mặc dù viết chữ Nho đẹp ''Có được chữ ông Huấn mà treo là có
một báu vật trên đời'' lẽ ra ông phải trung thành với đạo thánh hiền, giữ mình theo
lễ nghĩ Nho giaó: trung với vua, một lòng một dạ với triều đình. Nhưng không,
Huấn Cao không chịu vào luồn ra cúi, không chuịu sống trong cảnh nhung hoa, áo
gấm, ''cá chậu, chim lồng'', thà làm ''giặc triều đình'' sống theo chính nghĩa mà
mình đã vạch ra. Sự nghiệp dang dở, bị bắt, bị kết vào mức án cao nhất là tử hình
ông vẫn không hề tỏ ra run sợ, không mảy may tiếc nuối, hối hận. Huấn Cao- ngôi
sao Hôm chính vị ấy- bước vào nhà ngục trong tư thế thật hiên ngang, khí phách,
ung dung. Trong con mắt của bọn lính ông thật cao thượng, bất khuất, khinh đời.
Ngay cả với gông xiềng, với cái án tử hình sắp đến gần, thái độ của ông vẫn ngang
tàng, lạnh lùng. Huấn Cao ung dung, lãnh đạm, dỗ gông trước mặt chúng nó,

không thèm chấp mấy lời đe doạ của bọ lính''chúc mũi gông nặng, khom mình
thúc mạnh đầu thành gông xuống thềm ghế đá tảng đánh thuỳnh một cái''. Ông
bình thản ăn những món ăn do quan ngục biệt đãi, ''coi như mình có quyền hưởng
2


[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

thụ'', ông làm những việc theo ý mình, hoàn toàn tự chủ. Ông ngước mắt lên nhìn
cái nhà lao, lên những bộ mặt bất nhân nham nhở. Cái nhìn hiên ngang đó không
run sợ, không căm hờn, oán giận, không van xin cầu khẩn. Đó là cái nhìn cuả một
kẻ dám làm, dám chịu. Thậm chí ông còn khinh bạc, nặng lời khi chưa rõ ý tôt'
của quản ngục: ''Người hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều...là nhà ngươi
đừng đặt chân tay vào đây''. Con người ''khuấy nước, chọc trời'' này chẳng biết nể
sợ ai. Nếu trong đời thường ''trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ'', ''nhất sinh không
vì vàg ngọc hay quyền thế mà phải ép mình viết câu đối bao giờ'', thi khi sa vào
chốn giam cầm thì mấy chén rượu, vài bữa cơm thịt của hai con người vô danh
tiểu tôt' ở chốn ngực tù bé nhỏ này làm sao mà lung lạc được ông hay vì quyền uy
mà làm ông run sợ. Thật đúng là nhân cách lí tưởng mà con người của ngàn năm
qua vẫn ao ước: ''Bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất''.
Cái thái độ khinh đời, ngang tàng đó phải chăng đã làm cho viên quản ngục
ngây ngất kính nể. Thái độ kính phục của quản ngục gợi cho ta nhớ đến một trong
những đoạn hay nhất của bộ tiểu thuyết ''Những người khốn khổ'' của Vích-to
Huy-gô, đọan ''Người cầm quyền khôi phục uy quyền''. Trong đó, kẻ có quyền
hành trong tay luôn bắt bớ, đánh đập, hành hạ, xúc phạm con người một cách
không nương tay, không thương tiếc là thanh tra Gia-ve đã bị khuất phục trước vẻ
đẹp nhân cách của người tù khổ sai mà hắn suốt đời săn lùng là Giăng-van-giăng.
Thì ra, quyền lực không phải là uy quyền, bạo lực, lad gông cùm, xiềng xích.
Quyền lực là cái đẹp, phẩm chất tốt đẹp, chủ ngĩa nhân đạo, là thiên lương vẫn có
uy quyền riêng bất khả chiến thắng. Chính vì thế, Huấn Cao đã mang đến cho

chốn lao tù, cho cái địa ngục sống này một ánh sáng kì ảo, huyền diệu, lung linh,
chói lọi, soi sáng đạo lí làm người. Thiên lương cao đẹp của ông là một vầng hào
quang toả sáng rự rỡ trên bầu trời đầy u ám của nhà tù.
Huấn Cao- vầng hào quang chói lọi này không những là một người có dũng,
trí, mà còn là một con người có trái tim nhân hậu. Khi biết được thiện ý của quản
ngục, Huấn Cao rất cảm động. Từ đó, ta thấy ông Huấn Cao là người có lòng bao
dung độ lượng, chia sẻ nỗi niềm cùng với hai người bạn mới mà suýt nữa ông
đánh mất: ''Ta cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài của các người. Nào ta biết đâu
một người như thầy quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu
chút nữa, ta đi phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ''. Sự biệt đãi bằng vật chất và
thái độ ân cần không làm cho trái tim sắt đá kia phải mền mỏng. Chính ''cái tấm
lòng biệt nhỡn liên tài'' và những ''sở thích cao quý'', hướng về văn minh, văn hoá
mới cảm hoá được trái tim dường như được đúc bằng thép ấy. Thái độ ''biệt nhỡn
liên tài'' của Huấn Cao đối với quản ngục không phải là sự ''liên tài'' sự trả ơn đối
với những người đã đối xử tử tế, biết chơi chữ của mình mà là sự trân trọng, cảm
động trước một nhân cách ''Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi ùn''. Quản ngục sống
giữa bùn nhơ nhớp nháp của lao tù mà vẫn giữ được Thiên lương, biết trọng người
tài, kính cái đẹp thì thật là đáng cảm phục. Đó cũng là một đoá sen trong bùn.
Ánh hào quang rực rỡ, vẻ đẹp tuyệt diệu toả ra rất rõ ở cảnh Huấn Cao cho
chữ. Nó bộc lộ trọn vẹn nhất vẻ đẹp của nhân cách Huấn Cao. Ở đây vẻ đẹp này
toả hương thơm ngát hơn lúc nào hết. Dưới ngòi bút tài ba Nguyễn Tuân, một
cảnh tượng đầy kịch tính đã diễn ra, một cảnh tượng ''xưa nay chưa từng có''. Đó
3


[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

là sự tương phản giữa một bên là gian nhà lao ẩm thấp. Tối tăm bẩn thỉu, ''một
buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân
gián'' với một bên là tấm lụa trắng tinh, căng thẳng và với ánh sáng của một bó

đuốc tẩm dầu đang cháy rực rỡ. ''Ba đầu người chăm chú trên một tấm lụa bạch
nguyên vẹn''. Nó là sự trái ngược của sự tàn bạo, đánh đạp, tra khảo dã man với
ánh sáng của một nền văn minh, văn hoá. Đó còn là sự mâu thuẫn giữa bóng tối và
ánh sáng, cái xấu và cái đẹp, cái ác và cái thiện, cái chết và cái sống, cái xấu xa đê
tiện với cái trong trẻo cao thượng. Ngòi bút dựng cảnh dựng người của Nguyễn
Tuân rất giàu tính chất tạo hình với trình độ nghệ thuật điêu luyện, sắc sảo như Vũ
Ngọc Phan nhận xét:''Gần đạt tới sự hoàn mĩ''. Dưới ánh sáng của bó đuốc đỏ rựcbó đuốc của trí tuệ, của niềm tin, của hi vọng và trong khung cảnh thật nghiêm
trang, thật thiêng liêng này Huấn Cao dồn hết tâm linh, sinh lực và từng nét chữ.
Ông không mảy may lưu ý gì đến cái xấu, cái hôi hám, bẩn thỉu đang tồn tại mà
hoàn toàn bị thu hút, bị quyến rũ vào một sự vật: tấm lụa bạch nguyên vẹn. Đúng
thế, ở đây chỉ có cái đẹp, cái cao thượng mới thực sự tồn tại. Chính tấm lụa trắng
tinh này mà ông Huấn Cao đang cho ra đời những con chữ tuyệt tác ấy mới thực
sự có sức mạnh. Ở đây, không còn là Huấn Cao tử tù nữa. Chỉ còn là một Huấn
Cao tự do nhất, sống động nhất. Cái giá treo cổ kia cũng không còn nữa mà chỉ có
cuộc sống vĩnh hằng của chân lí về cái đẹp.
Ngôi sao sáng- Huấn Cao- đang phát quang bừng tỉnh cái không gian u tối,
phá vỡ cái màn đêm ngự trị ngàn đời ở đây. Huấn Cao như đem đến nơi này một
thế giới khác, thế giới văn hoá. Vẻ đẹp cao nhân đó đã làm cho ''viên quản ngục lại
vội khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh giấu ô chữ đặt trên phiến lụa óng.
Và cái thầy thơ lại gầy gò, thì run run bưng chậu mực''. Tự nhiên, ở nhà ngục này
có sự thay bậc, đổi ngôi, có sự chuyển hoá vị trí, vị thế xã hội của con người. Nó
nói lên một sự thật mà đầy tính lãnh mạn. Giờ phút này và tại nơi đây không phải
quản ngục làm chủ mà nguời tù tài hoa làm chủ. Sức mạnh, quyền lực của cái đẹp
và chân lí là thế. Cái đẹp và cái chân lí tồn tại trên đời, thể hiện sức mạnh, quyền
uy theo cách riêng của nó. Nó không khuất phục người ta bằng bạo lực, nó chinh
phục người ta bằng tự bản thân của nó. Nó không giày xéo, áp đặt con nguời để
bắt người ta phải tuân theo nó, trái lại nó vực con người ta vươn lên, đứng dậy, tự
nguyện đi theo nó để hướng tới cái chân, thiện, mĩ, trở nên trong sáng và tôt' đẹp
hơn. Và ở đây, ''cái đẹp đã lên ngôi thay thế cho cáo xấu xa, thấp hèn, cái đẹp
nâng đỡ con người'' (Đôxtôiepxki). Cái đẹp đăng quang, cái xấu xa thấp hèn, cái

đẹp phải chìm xuống nhường chỗ cho cái đẹp. Cái đẹp đã tồn tại, sẵn sàng và rất
cần sự đánh thức cái thiên lương (bản tính tốt đẹp sẵn có ở mỗi con người). Huấn
Cao cho chữ như chuyển giao một nhân cách- nhân cách tự do, chuyển giao cái
đẹp để cái đẹp mãi mãi sinh sôi nảy nở, đi vào cõi bất tử vĩnh hằng. Hình tượng
nhân vật Huấn Cao được khắc hoạ bằng ngòi bút lãng mạn cứ sừng sững, hiên
ngang hiện lên như muốn cất bổng lên, phá vỡ chốn lao tù, phá vỡ cái cuộc sống
đang tràn ngập màn đêm, ngột ngạt trì trệ: ''Tôi bảo thực đấy, thầy quản nên tìm về
nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã... Ở đây, khó giữ được
thiên lương cho lành vững...''. Phải chăng đó là quan niệm thẩm mĩ của Huấn Cao,
hay cũng chính là của tác giả Nguyễn Tuân: cái đẹp phải gắn với cái thiện, cái đẹp
4


[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

không thể ở chung với cái xấu, cái ác. Sự chân thành, bộc bạch giản dị đó của
Huấn Cao đã khiến cho ngục quản cảm động vái người tù một cái và nói một lời
thật cảm động: ''Kẻ mê muội này xin bái lĩnh''. Chính Cao Chu Thần cũng có một
câu nói thật đẹp: ''Nhất sinh đê thủ bái mai hoa'' (1 đời chỉ biết cúi đầu vái lạy hoa
mai). Cái cúi đầu của quản ngục truớc con người tài hoa, đầy dũng khí Huấn Cao
này chẳng khác gì Cao Bá Quát cúi đầu trước hoa mai vậy.
Huấn Cao là một con người tích tụ những phẩm chất tốt đẹp nhất. Tuy bị
cầm tù về nhân thân nhưng lại rất tự do về nhân cách, đúng như Bác Hồ- vị Cha
già kính yêu của dân tộc đã nói:
''Thân thể ở trong lao
Tinh thần ở ngoài lao
Muốn nên sự nghiệp lớn
Tinh thần càng phải cao''.
Trước các chết kề cận, cái chết giáp bên nhưng con người nhân, trí, dũng đó
vẫn hiên ngang anh dũng, lạc quan, yêu đời, như chị Võ Thị Sáu- nữ chiến sĩ dũng

cảm, anh hùng của dân tộc Việt Nam:
''Đi giữa hai hàng lính
Vẫn ung dung mìm cuời''.
Hay nói cách khác đi, Huấn Cao dưới ngòi bút của Nguyễn Tuân là biểu
tượng cho cái đẹp trong bối cảnh lịch sử đầy rẫy những xấu xa, tội ác, biểu tượng
cho Thiên lương. Con người sống vượt lên trên những hiện thực tầm thường tăm
tối để toả sáng, để vĩnh cửu, để bất diệt, truyền cho người đời phẩm giá làm người,
những phẩm giá tiêu biểu cho đạo lí dân tộc.
Truyện ngắn "Chữ người tử tù" mang đậm phong cách nghệ thuật của nhà
văn Nguyễn Tuân. Nhà văn thường hướng tới cái đẹp, cái phi thường lý tưởng:
đẹp thì phải đẹp tuyệt mỹ, tài thì phải siêu phàm, dữ dội thì phải đến mức khủng
khiếp, cá tính thì phải độc đáo. Cái đẹp ở nhân vật Huấn Cao là hiện thân cho vẻ
đẹp hoàn mỹ, vẻ đẹp nào của ông cũng được nâng cho ở mức tuyệt đỉnh. Tài năng
ở Huấn Cao ở mức độc đáo, có tài "bẻ khóa vượt ngục", khí phách hiên ngang, lại
có tài viết chữ đẹp; trong cảnh cho chữ được tác giả miêu tả là xưa nay chưa từng
có. Nhà văn tiếp cận, phản ánh đối tượng từ văn hóa, thẩm mỹ. Nếu là con người
thì phải là con người tài hoa, nghệ sỹ. Huấn Cao thực chất là người tử tù nhưng tác
giả lại miêu tả là người sáng tạo cái đẹp và yêu cái đẹp. Quản ngục bên ngoài là
công cụ trấn áp của triều đình nhưng bên trong lại là người có tâm hồn của người
nghệ sỹ yêu cái đẹp đến mức phi thường.
Tác phẩm đã tạo ra một tình huống truyện độc đáo. Tình huống đó xoay
quanh cuộc gặp gỡ giữa Huấn Cao và quản ngục. Nói trên bình diện xã hội, họ ở
vị trí đối lập nhau: một quan cai ngục và một tử tù, một người bảo vệ triều đình và
một người chống lại triều đình. Nhưng xét trên bình diện nghệ thuật, giữa Huấn
Cao và quản ngục là những tri ân, tri kỷ, họ đều yêu cái đẹp và trân trọng cái đẹp.
Tác giả đã tạo ra tình huống đó, tình huống gặp gỡ hết sức éo le, để làm nổi bật vẻ
đẹp nhân vật Huấn Cao, cũng như tấm lòng "biệt nhỡn liên tài" của quản ngục.
Với truyện ngắn "Chữ người tử tù", nhà văn đã tạo nên tác phẩm với nhiều
đoạn văn giàu kịch tính, thu hút người đọc. Tác giả đã dùng nghệ thuật tương phản
5



[Lê Hiền] Bộ tài liệu 132 đề Ôn thi Đại học môn Ngữ Văn

để tạo nên sự kịch tính này. Khung cảnh được đặt trong sự đối lập tương phản:
cảnh cho chữ diễn ra nơi ngục tăm tối đối lập với ánh sáng của ngọn đuốc; mùi
thơm của chậu mực đối lập với mùi hôi và sự dơ bẩn của phòng giam. Sự tương
phản ở nhân vật Huấn Cao và quản ngục: tử tù - quan cai ngục; dung dung làm
chủ nơi ngục tối - khúm lúm; thân xác thì bị trói buộc, tâm hồn thì tự do - thân xác
thì tự do, tâm hồn bị trói buộc… Sự tương phản trong từng nhân vật: Huấn Cao bề
ngoài có khí phách ngang tàng chống lại triều đình nhưng bên trong là nghệ sỹ yêu
cái đẹp; quản ngục là người bảo vệ triều đình, trấn áp cái đẹp nhưng bên trong có
sở thích cao quý bằng mọi cách để có được chữ người tử tù.
Dựng nên hình tượng ông Huấn Cao với vẻ đẹp rực rỡ, tráng lện giữa chốn
lao tù ẩm thấp, chật chội, Nguyễn Tuân đã thể hiện niềm cảm phục sâu sắc đối với
những anh hùng xả thân vì nghĩa lớn. Nhà văn đã sử dụng ngòi bút tả thực đầy
kịch tính kết hợp việc khăc' hoạ tính cách nhân vật và ngòi bút miêu tả phong cảnh
mang tính hiện thực lẫn lãng mạn. Những chi tiết lãnh mạn trong truyện có lẽ là
lời nhắn gửi của Nguyễn Tuân: Hãy vững tin vào cái đẹp, như Bielinxki nhận xét
về cảm hứng lãng mạn: ''Cảm hứng lãng mạn là khát vọng đối với tất cả những gì
đẹp đẽ và cao qúy''. Có thể nói ''Chữ người tử tù'' với búp pháp sắc sảo khi dựng
người, dựng cảnh, với ngôn ngữ văn xuôi giàu có và góc cạnh, với vẻ đẹp tuyệt
vời của Huấn Cao, tác phẩm xứng đáng là một áng văn chương một thời vang
bóng và nó mãi mãi ''vang bóng'' trong bạn đọc nhiều thế hệ.
***

6




×