Tải bản đầy đủ (.pdf) (712 trang)

Những vấn đề chung về kinh tế và xã hội truyền thống Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.18 MB, 712 trang )


BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO
TRƯỞNG BAN
z

Phó Giáo sư, Tiến só Trần Đức Cường
Viện Khoa học xã hội Việt Nam
ĐỒNG TRƯỞNG BAN

z

Giáo sư, Tiến só khoa học Vũ Minh Giang
Đại học Quốc gia Hà Nội
ỦY VIÊN

z

Phó Giáo sư, Tiến só Phan Xuân Biên
Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh

z

Giáo sư, Tiến só khoa học Trương Quang Học
Đại học Quốc gia Hà Nội

z

Tiến só Phạm Văn Vang
Viện Khoa học xã hội Việt Nam

z



Phó Giáo sư, Tiến só Phạm Xuân Hằng
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

z

Phó Giáo sư, Tiến só Ngô Văn Lệ
Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố
Hồ Chí Minh

z

Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Thế Nghóa
Viện Khoa học xã hội Việt Nam

z

Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Văn Nhật
Viện Khoa học xã hội Việt Nam

z

Tiến só Nguyễn Giang Hải
Viện Khoa học xã hội Việt Nam

z

Tiến só Vũ Ngọc Tú
Đại học quốc gia Hà Nội


z

Bà Nguyễn Thu Nga
Đại diện lãnh đạo A25, Bộ Công an
5


CHỦ TRÌ CÁC TIỂU BAN
Tiểu ban 1: NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ
z

Tiến só Vũ Tuấn Anh (Việt Nam) - Trưởng tiểu ban

z

Ủy viên: Viện só Tiến só khoa học Võ Đại Lược (Việt Nam)

z

Tiến só Lê Đăng Doanh (Việt Nam)

z

Thư ký: Tiến só Phùng Xuân Nhạ (Việt Nam)

z

Marina Trigubenko (Nga)

z


Giáo sư, Tiến só Trần Văn Thọ (Nhật Bản)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Trương Thò Minh Sâm (Việt Nam)

z

Tiến só Phùng Xuân Nhạ (Việt Nam)

z

You Mingqian (Trung Quốc)

Tiểu ban 2: NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI
z

Trưởng tiểu ban: Giáo sư Phạm Xuân Nam (Việt Nam)

z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só Trònh Duy Luân (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Trần Thò Kim Xuyến (Việt Nam)

z


Thư ký: Tiến só Nguyễn Đức Nhuệ (Việt Nam)

z

Melanie Beresfort (Pháp)

z

Irene Norlund (Đan Mạch)

z

Bùi Đình Thanh (Việt Nam)

z

Atsufumi Kato (Nhật Bản)

Tiểu ban 3: NHỮNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ TÔN GIÁO

6

z

Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến só Khổng Diễn (Việt Nam)

z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só Mạc Đường (Việt Nam)


z

Phó Giáo sư, Tiến só Ngô Văn Lệ (Việt Nam)


z

Thư ký: Tiến só Trương Huyền Chi (Việt Nam)

z

Hans Schenk (Hà Lan)

z

Masako Ito (Nhật Bản)

Tiểu ban 4: NGHIÊN CỨU GIÁO DỤC, CON NGƯỜI
VÀ NGUỒN NHÂN LỰC
z

Trưởng tiểu ban: Giáo sư Viện só Phạm Minh Hạc (Việt Nam)

z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só Đỗ Long (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Thế Nghóa (Việt Nam)


z

Thư ký: Tiến só Phạm Hồng Tung (Việt Nam)

z

Kathryn Poethig (Pháp)

z

Oscar Evangelista (Philippin)

z

Nolwen Henaff (Pháp)

Tiểu ban 5: LỊCH SỬ CỔ-TRUNG ĐẠI
z

Trưởng tiểu ban: Giáo sư Phan Huy Lê (Việt Nam)

z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só khoa học Nguyễn Hải Kế (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư Lê Xuân Diệm (Việt Nam)


z

Thư ký: Tiến só Lê Trung Dũng (Việt Nam)

z

Momoki Shiro (Nhật Bản)

z

Yang Baoyun (Trung Quốc)

z

Poliakov A.B. (Nga)

z

George Duton (Mỹ)

Tiểu ban 6: LỊCH SỬ CẬN-HIỆN ĐẠI
z

Trưởng tiểu ban: Giáo sư Đinh Xuân Lâm (Việt Nam)

z

Ủy viên: Giáo sư Văn Tạo (Việt Nam)

z


Phó Giáo sư, Tiến só Phan Xuân Biên (Việt Nam)

z

Thư ký: Tiến só Đinh Quang Hải (Việt Nam)
7


z

Kurihara Hirohido (Nhật Bản)

z

Tiến só Nguyễn - Marshall Thò Thanh Vân (Mỹ)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Kolotov V. N. (Nga)

z

Pascal Bourdeaux (Pháp)

z

Pierre Asselin (Pháp)

z


Jeong Nam Song (Hàn Quốc)

z

Mohamed Tavakol (Iran)

Tiểu ban 7: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA, VĂN MINH: BẢN SẮC,
HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN
z Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến só Ngô Đức Thònh (Việt Nam)
z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só Hồ Só Quý (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Trần Trọng Đăng Đàn (Việt Nam)

z

Thư ký: Tiến só Hà Quang Năng (Việt Nam)

z

Giáo sư, Tiến só Mai Quốc Liên (Việt Nam)

z

Oksana Vladimirovna Novakova (Nga)


z

Shoichi Ota (Nhật Bản)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Chí Bền (Việt Nam)

z

Mark Chang (Nhật Bản)

Tiểu ban 8: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HÓA, VĂN MINH:
TRUYỀN THỐNG VÀ TÔN GIÁO
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư, Tiến só Đỗ Quang Hưng (Việt Nam)
z

Ủy viên: Giáo sư, Tiến só Trần Đình Sử (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư, Tiến só Trònh Khắc Mạnh (Việt Nam)

z

Thư ký: Tiến só Nguyễn Văn Dũng (Việt Nam)

z

Giáo sư Trần Quốc Vượng (Việt Nam)


Tiểu ban 9: NHỮNG VẤN ĐỀ VĂN HỌC VÀ NGÔN NGỮ
z Trưởng tiểu ban: Giáo sư Hà Minh Đức (Việt Nam)

8

z

Ủy viên: Phó Giáo sư, Tiến só Phan Trọng Thưởng (Việt Nam)

z

Giáo sư Đoàn Thiện Thuật (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư, Tiến só khoa học Lý Toàn Thắng (Việt Nam)

z

Phó Giáo sư Hoàng Thò Châu (Việt Nam)

z

Thư ký: Tiến só Lại Văn Hùng (Việt Nam)


Tiểu ban 10: NHỮNG NGHIÊN CỨU KHU VỰC
z Trưởng tiểu ban: Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Quang Ngọc (Việt Nam)
z Ủy viên: Giáo sư, Tiến só khoa học Vũ Minh Giang (Việt Nam)

z Phó Giáo sư, Tiến só Đinh Văn Đức (Việt Nam)
z Phó Giáo sư, Tiến só Nguyễn Văn Lòch (Việt Nam)
z Thư ký: Tiến só Nguyễn Văn Kim (Việt Nam)
z
z
z

Sakurai Yumio (Nhật Bản)
Emmanuel Poisson (Pháp)
Đỗ Bang (Việt Nam)

9


MỤC LỤC
z

Lời nói đầu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .15

PHẦN MỘT
PHÁT BIỂU VÀ BÁO CÁO TẠI PHIÊN TOÀN THỂ
z
z
z

z

z

z


z

z

z

Diễn văn khai mạc — Đào Trọng Thi . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Bản lónh Việt Nam — Trần Văn Giàu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Việt Nam học trên đường phát triển và giao lưu, hợp tác quốc tế
— Phan Huy Lê . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sự chuyển giao bí mật các triều đại ở Đại Việt vào đầu thế kỷ XII
— Alexei Borisovich Poliakov . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Để truyền thống được nối tiếp và thêm phong phú
— Trần Bạch Đằng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Việt Nam trong ASEAN: chủ nghóa đa phương
và quan hệ với các cường quốc — Carlyle A. Thayer . . . . . . . . .
Kinh tế đối ngoại nước ta hiện nay - tình hình và các giải pháp
— Võ Đại Lược . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Sự biến đổi xã hội Đại Việt thế kỷ XIV quan văn khắc
— Momoki Shiro . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Phát biểu bế mạc — Trần Đức Cường . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . .21
. . . .24
. . . .29
. . . .38
. . . .43
. . . .47
. . . .59

. . . .77
. . . .89

PHẦN HAI
BÁO CÁO KHOA HỌC TẠI CÁC TIỂU BAN
CHỦ ĐỀ

I - NHỮNG VẤN ĐỀ KINH TẾ

z

Bối cảnh quốc tế, khu vực hiện nay tác động đến an ninh
và phát triển kinh tế Việt Nam — Nguyễn Xuân Thắng . . . . . . . . . . .97

z

Sự biến đổi cơ cấu tổ chức kinh tế và tiêu thụ sản phẩm của
nông dân trong thời kỳ đổi mới — Shitara Sumiko . . . . . . . . . . . . . .108

z

Những mũi đột phá về kinh tế trước đổi mới
— Đỗ Hoài Nam - Đặng Phong . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .114

z

Nội lực và ngoại lực trong quá trình phát triển kinh tế
— Trần Văn Thọ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .142

z


Đổi mới ở Việt Nam: thành tựu và những vấn đề đặt ra
— Nguyễn Duy Quý . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .163
11


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

12

z

Các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGS) ở Việt Nam:
đối chiếu với ASEAN để nhận diện rõ triển vọng và thách thức
— Trần Đình Thiên - Nguyễn Cao Đức . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .171

z

Quan hệ kinh tế Việt Nam - Nhật Bản giữa bối cảnh quốc tế mới
trong những năm gần đây và triển vọng
— Vũ Văn Hà - Trần Anh Phương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .189

z

Quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ và tác động của nó đối với
sự phát triển của Việt Nam — Nguyễn Thiết Sơn . . . . . . . . . . . . . . .197

z

Việc vay vốn ngân hàng và làng xã đồng bằng sông Hồng

— Okae Takashi . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .209

z

Triển vọng hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc trong bối cảnh
hình thành khu mậu dòch tự do ASEAN - Trung Quốc — Đỗ Tiến Sâm . .217

z

Vò thế của ASEAN và Việt Nam trong quan hệ với các tổ chức quốc tế,
khu vực và các nước lớn — Vũ Tuyết Loan . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .224

z

Du lòch Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế: tiềm năng - cơ hội,
thách thức - giải pháp — Phan Huy Xu . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .236

z

Ảnh hưởng của những rủi ro về khí tượng thủy văn tự nhiên đối với
sự phát triển của Việt Nam kể từ sau đổi mới và tác động
của sự thay đổi khí hậu toàn cầu với những nguy cơ trong tương lai
— Tan Phạm - David Wratt - Graeme Campbell - Doug Ramsay . . . . .244

z

Xuất khẩu lao động - một hướng hội nhập để phát triển của Việt Nam:
những vấn đề và giải pháp — Hoàng Minh Hà . . . . . . . . . . . . . . . .257

z


Việt Nam tiến mạnh trên con đường đổi mới — Cốc Nguyên Dương . .266

z

Một số vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam — Nguyễn Xuân Dũng . .273

z

Pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế — Nguyễn Thò Quế Anh . . . . . . . . . . . . . .285

z

Đô la hóa ở Việt Nam — Andreas Hauskrecht - Nguyễn Thanh Hải . . . .299

z

Đấu tranh chống tội phạm sản xuất, buôn bán hàng giả một biện pháp góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập
và phát triển của Việt Nam — Trần Văn Luyện . . . . . . . . . . . . . . . .319

z

Phát triển kinh tế và công bằng xã hội: phân tích hộ gia đình
về kinh tế, xã hội và phân bố thời gian tại một thôn thuộc
đồng bằng sông Hồng — Noguchi Hiroshi - Chuma Shoko . . . . . . . . .334

z


Nhìn lại gần 20 năm đổi mới của Việt Nam:
tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng nỗi lo chất lượng và
“tụt hậu xa hơn” còn đó — Trần Đình Bút . . . . . . . . . . . . . . . . . . .344

z

Vấn đề tăng trưởng và chất lượng tăng trưởng của Việt Nam
trong những năm gần đây — Trương Thò Minh Sâm . . . . . . . . . . . . .356

z

Những thay đổi tiến bộ trong trồng lúa ở đồng bằng sông Hồng:
báo cáo sơ bộ về quản lý dòch hại tổng hợp ở Thái Bình
— Yunita T. Winarto . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .364


MỤC LỤC

z

Công nghiệp hóa rút ngắn của Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay: hiện thực hay kỳ vọng?
— Phùng Xuân Nhạ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .381

z

Bàn về truyền thống trong thò trường tự do: những so sánh
mang tính giao thoa văn hóa — Gerald Waite . . . . . . . . . . . . . . . . .387

z


Tiến trình thúc đẩy sự hội nhập kinh tế của Việt Nam trong ASEAN và
đóng góp của Nhật Bản — Hoàng Thò Minh Hoa . . . . . . . . . . . . . . .397

z

Hợp tác Việt - Nga các vấn đề và giải pháp — M. E. Trigubenko . . . .407

z

Toàn cầu hóa kinh tế và cơ may của công nghiệp hóa
rút ngắn ở Việt Nam — Bùi Tất Thắng . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .421

z

Quá trình hội nhập quốc tế mới của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
— Nguyễn Thò Hoài Phương . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .437

CHỦ ĐỀ

II - NHỮNG VẤN ĐỀ XÃ HỘI

z

Xã hội học và chính sách xã hội — Bùi Đình Thanh . . . . . . . . . . . .447

z

Vấn đề phân tầng xã hội Việt Nam hiện nay: một số khía cạnh
phương pháp tiếp cận và nghiên cứu — Trònh Duy Luân . . . . . . . . .460


z

Cách tiếp cận “giới” hoạt động nuôi dạy trẻ ở một cộng đồng
nông dân Việt — Nguyễn Thò Thanh Bình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .474

z

Vẽ Hà Nội ở thời quá khứ hoàn thành: bức tranh đô thò Việt Nam
xưa và nay — Lisa Drummond . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .485

z

Hoạt động tạo thu nhập của phụ nữ thò trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm - Hưng Yên trong quá trình đô thò hóa
— Hà Thò Thanh Vân . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .495

z

Nỗ lực tập thể, huy động xã hội và phong trào xã hội
ở Việt Nam hiện nay — Bùi Thế Cường . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .503

z

Bình đẳng giới trong công tác đào tạo cán bộ nữ
ở Việt Nam hiện nay — Đỗ Thò Thạch . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .516

z

Thực trạng mối quan hệ giữa vợ và chồng trong
gia đình Việt Nam giai đoạn đổi mới — Đỗ Thò Bình . . . . . . . . . . . .524


z

Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vò thế, năng lực cho phụ nữ
— Nguyễn Thò Kim Dung . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .536

z

Chiến lược kiếm sống: phát triển và nghèo khổ trên con đường
hội nhập thò trường - dựa vào nghiên cứu tình huống ở Hà Nội,
Hưng Yên, Sơn La và Sóc Trăng — Irene Norlund . . . . . . . . . . . . . .542

z

Thực trạng và những thách thức đối với gia đình
ở Việt Nam hiện nay — Ngô Thò Ngọc Anh . . . . . . . . . . . . . . . . . . .556

z

Trẻ vò thành niên nhập cư: quan điểm giới trong nghiên cứu
— Trần Thò Kim Xuyến - Nguyễn Thò Hòa . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .564

z

Vấn đề kết hôn của phụ nữ Việt Nam với nam giới Đài Loan:
thực trạng - hệ quả - giải pháp — Trần Hồng Vân . . . . . . . . . . . . . .584
13


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI


14

z

Có thể làm đồng bộ điều kiện lao động thông qua bộ quy tắc
ứng xử lao động không? nhận thức đối với Việt Nam
từ một số nước Đông Nam Á — Angie Ngọc Trân . . . . . . . . . . . . . .593

z

Sự thay đổi về thu nhập của người lao động dư thừa Việt Nam
— Nguyễn Hoàng Giang . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .608

z

Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam
— Nguyễn Thò Tình . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .620

z

Báo chí trong đời sống cư dân đô thò
thành phố Hồ Chí Minh hiện nay — Dương Kiều Linh . . . . . . . . . . .627

z

Nghèo và những nhân tố tác động đến nghèo ở tỉnh Lâm Đồng nghiên cứu từ cách tiếp cận vi mô — Mai Chiếm Hiếu . . . . . . . . . . .640

z


Vấn đề bình đẳng giới đối với nữ doanh nhân trong quá trình
đổi mới và hội nhập nền kinh tế — Bùi Thò Kim Quỳ . . . . . . . . . . . .653

z

Mấy vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc
và giao lưu văn hóa ở Việt Nam — Mai Quốc Liên . . . . . . . . . . . . . .659

z

Khởi xướng “chương trình xóa đói giảm nghèo” - một sáng tạo nổi bật
của thành phố mang tên Chủ tòch Hồ Chí Minh — Tô Văn Giai . . . . . .664

z

Mô hình hưởng thụ văn hóa của cư dân khu công nghiệp
từ điều tra đònh lượng — Nguyễn Tuấn Anh . . . . . . . . . . . . . . . . . . .668

z

Giải quyết tranh chấp và hòa giải ở Việt Nam — Jenny Pitts . . . . . . .687

z

Xóa đói giảm nghèo vùng dân tộc thiểu số
tại một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam — Phùng Đức Thắng . . . . .699

z

Tiếp nhận tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và một số thay đổi về

cơ cấu việc làm, phân công lao động của hộ gia đình nông dân:
trường hợp một cộng đồng ở Bắc Việt Nam — Nguyễn Đức Chiện . . .707

z

Vấn đề giới và sự phát triển của nữ trí thức Việt Nam
trong thế kỷ XXI — Nguyễn Thò Bính Hà . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .719

z

Công tác hòa giải ở nông thôn Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ
nghiên cứu văn hóa cộng đồng làng xã: trường hợp của
xã Thạch Châu, tỉnh Hà Tónh — TKato Atsufumi . . . . . . . . . . . . . . .725

z

Mấy vấn đề về quá trình chuyển hóa và biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay — Trònh Thò Quang . . . . . . . . . . . .734

z

Thành phố Hồ Chí Minh và cuộc chiến chống đói nghèo (1975 - 2002)
— Mạc Đường . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .749

z

Xu hướng văn hóa-xã hội của văn hóa trẻ Việt Nam
đương đại và vấn đề bản sắc — Lê Hương Thu . . . . . . . . . . . . . . . .757

z


Góp phần giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng dân số
và việc làm của vùng Bắc Trung bộ trong sự nghiệp
công nghiệp hiện đại hóa — Đoàn Minh Duệ . . . . . . . . . . . . . . . . .678

z

Đặc trưng xã hội cơ bản của đô thò hoa ở Việt Nam
giai đoạn hiện nay — Nguyễn Hữu Minh . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .775


Phan

Hai
BAO CAO KHOA HOẽC TAẽI
CAC TIEU BAN

93


94


CHUÛ ÑEÀ

I

NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ KINH TEÁ

95



96


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY
TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Thắng*

I. ĐẶC ĐIỂM MỚI CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC

Về các xu hướng lớn trong sự phát triển của thế giới kể từ đầu thập kỷ
90 của thế kỷ XX, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và các
nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ:
1. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, mang tính hai mặt: tích cực
và tiêu cực, đang lôi cuốn hầu hết mọi quốc gia, bất luận ở trình độ phát
triển nào, tham gia vào quá trình này;
2. Cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới phát triển nhanh, nền kinh
tế thế giới đang trong bước chuyển sang kinh tế tri thức và xu thế này cũng
không còn là vấn đề riêng của các nước phát triển;
3. Hòa bình hợp tác và phát triển là dòng chính, phổ biến của sự phát
triển thế giới kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, mặc dù vậy, các
cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vẫn còn có thể xảy ra ở một số nơi,
dưới nhiều hình thức khác nhau;
4. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục là khu vực phát triển
năng động của thế giới, tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổi
cục diện và trật tự kinh tế quốc tế.
Tuy vậy, sau một thập kỷ nhìn lại, bối cảnh khu vực và quốc tế đã thay
đổi hết sức nhanh chóng. Các xu hướng chung (như đã nêu), về căn bản,

vẫn là những động thái chủ yếu của sự phát triển thế giới mặc dù tần suất,
phạm vi, hình thức của nó đã rất khác so với 5 năm trước đây. Sự phản
ứng chính sách chậm chạp của bất kỳ nước nào sẽ là nguyên nhân của
việc đánh mất cơ hội phát triển và làm gia tăng các nguy cơ rủi ro có
phương hại đến các lợi ích quốc gia. Do vậy, theo chúng tôi, cần phải làm
rõ các đặc điểm mới của bối cảnh quốc tế và khu vực:
* Phó giáo sư, Tiến siõ, Viện Kinh tế chính trò thế giới. Việt Nam.

97


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

Một là, hệ thống kinh tế thế giới, mặc dù được đẩy mạnh bằng tiến
trình tự do hóa nhằm hướng tới một hệ thống kinh tế đa phương, không
phân biệt đối xử và không khác biệt trên cơ sở xóa bỏ mọi rào cản (kể
cả rào cản thể chế), trên một số phương diện, vẫn còn là một hệ thống
thiếu công bằng. Vai trò dẫn dắt và chi phối của hệ thống kinh tế thế giới
vẫn thuộc về các nước phát triển nhất, đứng đầu là Mỹ và vì vậy, mọi
sáng kiến thúc đẩy tiến trình tự do hóa và toàn cầu hóa rốt cuộc vẫn là
mang lại nhiều lợi ích hơn cho các nước phát triển. Đặc biệt sau cuộc
chiến Irắc, Mỹ đã nổi lên như một tối siêu cường duy nhất, bất chấp công
pháp quốc tế, đã can dự và dính líu vào mọi diễn tiến của tình hình thế
giới, cả về chính trò-quân sự và kinh tế-xã hội. Từ các thực tế này, trong
khuôn khổ WTO, vòng đàm phán Doha khó có thể kết thúc vào năm 2005
do các nước bất đồng về thời hạn và lónh vực tự do hóa. Khắc phục tình
trạng này là sự nổi lên của xu hướng ký kết các hiệp đònh thương mại tự
do song phương. Mỹ đã chuyển từ lập trường chỉ ủng hộ cơ chế đa phương
sang ủng hộ cả cơ chế song phương trong tự do hóa thương mại. Xu hướng
đẩy nhanh các tính toán tay đôi giữa các nước đang phần nào làm yếu đi

các nỗ lực liên kết đa phương cũng như vai trò của các đònh chế đa
phương trong quan hệ kinh tế quốc tế. Nói cách khác, xu hướng liên kết
kinh tế quốc tế trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ, nhiều hình thức đang diễn
ra cùng lúc, đan xen nhau một cách hết sức phức tạp. Tuy nhiên, cần phải
nhấn mạnh lại là, đặc điểm mới này không phải là sự đi ngược của tiến
trình tự do hóa thương mại toàn cầu bởi vì về nguyên tắc, WTO không
loại trừ khả năng một quốc gia thành viên có thể tham gia vào một đònh
chế kinh tế khác, miễn là điều đó không đi ngược lại các nguyên tắc của
hệ thống thương mại đa phương. Những hiệu ứng mà chúng tôi vừa nêu
cần phải được quan tâm trong từng trường hợp cụ thể, nhất là các hiệp
đònh tự do song phương giữa một quốc gia cụ thể với một đònh chế khu
vực nào đó bởi lẽ chính là FTA này sẽ là các “nhân tố”, một mặt, tạo sức
ép để các đònh chế này hội nhập sâu hơn và mặt khác, nếu không xử lý
thích hợp, chúng dễ làm cho các nỗ lực chung trong hội nhập nội khối
cũng như thế thương lượng cạnh tranh của đònh chế đó bò suy giảm.
Hai là, hòa bình, hợp tác và phát triển là dòng chính, song từng lúc
có thể bò đứt đoạn bởi các làn sóng khủng bố quốc tế và các cuộc chiến
chống chủ nghóa khủng bố. Sau sự kiện 11-9 và các cuộc chiến tranh
Afganistan, Irắc, tình hình an ninh chính trò quốc tế đã biến chuyển theo
một chiều hướng bất lợi cho sự phát triển. Sự hiện diện của chủ nghóa
khủng bố dưới mọi hình thức phản ánh các xung đột về tôn giáo, văn
hóa, sắc tộc… và đương nhiên, đằng sau đó là các xung đột lợi ích kinh
tế giữa các tập đoàn xuyên quốc gia, giữa nhóm các nước phát triển và
đang phát triển. Một khi tình hình an ninh chính trò-xã hội bò đe dọa,
niềm tin của các nhà đầu tư và thương mại bò giảm sút, mọi người dân
có xu hướng tích trữ, tiết kiệm thay vì tiêu dùng và đầu tư; các hoạt động
98


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH...


du lòch, dòch vụ thiếu khởi sắc… Như chúng ta đều biết, tiêu dùng và
đầu tư là hai yếu tố chủ yếu tạo động lực cho tăng trưởng nên dưới hiệu
ứng của bối cảnh quốc tế kể từ sau sự kiện 11-9 và các cuộc chiến chống
khủng bố quốc tế, các yếu tố này có chiều hướng giảm sút (đến mức các
chương trình kích cầu ở một số nước đã không mang lại kết quả như
mong đợi) khiến cho nền kinh tế thế giới đã và đang rơi vào một tình
trạng tăng trưởng không cao, thậm chí tiếp tục yếu ớt ở một số nước. Đó
là chưa kể đến các giảm sút kinh tế có tính chu kỳ, hiệu ứng của các
căn bệnh toàn cầu (như hiệu ứng của bệnh SARS)… đang đặt môi trường
phát triển bền vững của nền kinh tế thế giới trước một loạt vấn đề phải
giải quyết và đương nhiên, phải có sự nỗ lực chung của toàn cầu mới có
thể ngăn chặn được.
Ba là, khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt là Đông Á và Đông
Nam Á, tiếp tục phát triển năng động song tình hình đã diễn ra phức tạp,
khó lường. Các tiến trình hợp tác đã biến chuyển trên nhiều tuyến theo
theo hướng vừa hội nhập, vừa cạnh tranh giành ảnh hưởng tại khu vực
này theo các tiếp cận lợi ích đơn biệt của từng quốc gia. Trung Quốc sau
gia nhập WTO đã đi trước một bước so với Nhật Bản và Hàn Quốc khi ký
kết hiệp đònh khung về Khu vực mậu dòch tự do ASEAN - Trung Quốc
khiến cho động thái hội nhập của ASEAN đang có những sắc diện mới.
ASEAN đang tìm cách để vượt ra sức ép này nhằm khắc phục tình trạng
giảm niềm tin, ít hấp dẫn về đầu tư, thương mại và nâng cao khả năng
cạnh tranh với tính cách là một chỉnh thể khu vực. Sự hướng mạnh của
các dòng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc đang là một bất lợi
đối với các nước ASEAN, nhất là các nước thuộc tầng kém phát triển trong
ASEAN - những nước đang rất cần các nguồn lực bên ngoài để hỗ trợ tăng
trưởng và phát triển. Các hiệp đònh thương mại tự do song phương giữa
ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Nhật Bản đang được xúc tiến và nếu như
các quá trình này diễn ra đúng tiến độ thì liệu, xét từ góc độ đòa-kinh tế,

ASEAN có bò thay đổi vò trí ưu tiên trong tính toán chiến lược của các nước
bên ngoài? Đó là chưa kể đến việc, trong nội bộ ASEAN, mặc dù đã ký
thỏa thuận về Cộng đồng ASEAN, một số nước, nhất là các nước phát triển
hơn như Singapore, Malaysia, Thái Lan… đang có khuynh hướng “vượt
trước” về tự do hóa thương mại. Các nước này đang đẩy mạnh tiến trình
ký kết các hiệp đònh thương mại tự do song phương với bên ngoài và thậm
chí với nhau. Theo đó, cùng với nguyên tắc “đồng thuận” và nguyên tắc
ASEAN-X, có thể sẽ là không đủ để đáp ứng các yêu cầu của tiến trình
hội nhập mới của ASEAN. Hơn nữa cho dù đã hướng tới cộng đồng kinh
tế ASEAN (AEC) triển vọng về hội nhập sâu hơn của ASEAN vẫn đang có
nguy cơ ít hiệu quả và rất có thể bò “hòa tan” trong Đông Á một khi ý
tưởng về khu vực mậu dòch tự do toàn Đông Á đã manh nha sẽ được thúc
đẩy. Đây là điều phải cảnh báo sớm để các nước trong ASEAN có phản
ứng chính sách thích hợp, nếu không muốn mất đi tính chủ động trong
99


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

hội nhập kinh tế quốc tế. Cũng tại Đông Á, các nước đang buộc phải tính
đến nguy cơ xung đột hạt nhân ở Bắc Triều Tiên; vấn đề Philippin, Thái
Lan đã trở thành “đồng minh” ngoài NATO của Mỹ bởi lẽ những động thái
này, có thể tạo ra một cân bằng chiến lược giữa các nước lớn, song dù
vậy nó cũng là tiềm ẩn những bất ổn về an ninh chính trò và đương nhiên
cả an ninh kinh tế trong khu vực. Ngoài ra, cũng cần tính đến mầm xuất
phát của bệnh SARS cũng ở khu vực này, dù đã khống chế, song điều gì
sẽ còn xảy ra sau sự kiện đó cũng là điều rất cần tiếp tục cảnh báo với
các nước trong khu vực.
Như vậy, có thể kết luận rằng, kể từ đầu thập kỷ 90 đến nay, tình hình
quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi có lợi cho các nước trong tiếp cận

phát triển, nhất là trong việc thích ứng với tiến trình toàn cầu hóa và hội
nhập vào một nền kinh tế thế giới đang từng bước chuyển sang kinh tế tri
thức. Nguồn lực khu vực và quốc tế, nhất là về tài chính, công nghệ và thò
trường, từ các nước phát triển, đang trở thành điều kiện cho sự tăng trưởng
của các nước đi sau. Tuy nhiên, như chúng tôi đã phân tích, các xu hướng
phát triển của thế giới, đặc biệt là các động thái mới của tình hình quốc
tế và khu vực đang tạo ra những tác động phức tạp, khó lường cho các
nước, nhất là trong việc lựa chọn và xác đònh các trật tự và chính sách ưu
tiên trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (bởi các tiến trình liên kết
đang diễn ra nhiều chiều, đa phương và ở dưới nhiều cấp độ đan xen
nhau) và theo đó, tính tổn thương, các rủi ro của sự phát triển ở các nước
cũng rất lớn khi mà sự lệ thuộc vào nhau giữa các quốc gia và khu vực đã
trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết.
II. TÁC ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC ĐẾN AN NINH VÀ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

An ninh kinh tế, như chúng ta đều biết, là một nội dung chủ yếu của
an ninh phi truyền thống được đề cập từ nhiều năm nay do nguy cơ rủi
ro, những hệ lụy dây chuyền diễn ra xuất phát tới sự lệ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia, khu vực ngày càng chặt chẽ dưới tác động của toàn cầu
hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Đó là vấn đề ổn đònh của môi trường
kinh tế vó mô; sự an toàn của các dòng hàng hóa – dòch vụ, vốn, công
nghệ, lao động…; vấn đề tăng trưởng nhanh và bền vững… Tất cả những
tiêu chí này đã không còn chỉ tùy thuộc vào vai trò chế đònh của chính
phủ, sự nỗ lực đơn phương của các quốc gia mà là kết quả của “động thái
phối hợp” giữa các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế thế giới: đó là sự
tham gia của các đònh chế kinh tế khu vực, các đònh chế kinh tế toàn cầu,
các tập đoàn xuyên quốc gia, thậm chí các tổ chức phi chính phủ… Do
vậy, bất kỳ sự thay đổi nào của các động thái quốc tế và khu vực đều có
ảnh hưởng tới các chủ thể này và dó nhiên, đến an ninh kinh tế của mọi

quốc gia.
100


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH...

Việt Nam đang trong quá trình phát triển kinh tế thò trường đònh hướng
xã hội chủ nghóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nên dó nhiên, an
ninh kinh tế đất nước luôn nằm trong hiệu ứng tác động của bối cảnh quốc
tế và khu vực. Mức độ, tần suất của sự tác động sẽ ngày càng gia tăng khi
chúng ta đã và đang tiến gần hơn đến các thể chế kinh tế toàn cầu. Ở
đây, chúng ta phải đối mặt với 3 vấn đề:
Một là, trình độ phát triển còn thấp và chất lượng tăng trưởng không
cao giữa nước ta và các nước sẽ là bất lợi cho việc duy trì các điều kiện
ổn đònh phát triển;
Hai là, một nền kinh tế mới chuyển đổi sang kinh tế thò trường, sự phản
ứng của các tầng lớp dễ tổn thương thường rất chậm và yếu trước các thay
đổi của bối cảnh bên ngoài;
Ba là, Đảng và Nhà nước có chủ trương đẩy mạnh tăng trưởng, phát
triển và hội nhập kinh tế quốc tế song mức độ sẵn sàng của các chủ thể
kinh tế-xã hội (các cơ quan quản lý của nhà nước, các doanh nghiệp và
người dân) chưa cao.
Vậy tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực đến an ninh và phát
triển kinh tế Việt Nam sẽ diễn ra như thế nào?
1. Những tác động tích cực

a. Bối cảnh quốc tế và khu vực đã đưa lại nhiều cơ hội thuận lợi cho
Việt Nam phát triển kinh tế thò trường và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc
tế. Dưới tác động của các xu hướng và động thái (như phân tích ở trên),
Việt Nam đã và đang từng bước gia nhập các thể chế kinh tế khu vực và

toàn cầu, trong đó quyết tâm đẩy mạnh đàm phán gia nhập WTO vào năm
2005 là cơ hội tốt cho việc đẩy nhanh cải cách trong nước nhằm đạt tới
các mục tiêu do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra, đặc biệt trong
lónh vực cải cách doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng và phát triển khu
vực tư nhân. Hội nhập quốc tế là để tạo ra một nền kinh tế cạnh tranh
và mở cửa hơn nữa, tiếp nhận và thực hiện phân bổ hiệu quả nguồn lực
thế giới trên cơ sở phát huy tối đa nguồn lực và lợi thế so sánh của ta.
Mặt khác, từ vai trò đã và đang sẽ là thành viên của các đònh chế khu
vực và quốc tế, Việt Nam có điều kiện tận dụng và tạo dựng một môi
trường và khung khổ phát triển tốt hơn, tạo vò thế vững chắc hơn trong
các đàm phán quốc tế trên mọi cấp độ. Chẳng hạn, chỉ sau khi trở thành
thành viên của WTO, Việt Nam có thể có lợi thế tốt hơn trong ký kết các
FTA song phương với các đối tác khác. Đây cũng là điều kiện tiên quyết
mà các nước hiện là thành viên của WTO đặt ra.
b. Cùng với việc thể hiện các cam kết mạnh mẽ về tự do hóa thương
mại, thông qua hội nhập, Việt Nam có điều kiện để thực hiện tiến trình
101


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn hiện đại. Các nguồn lực cho công
nghiệp hóa về vốn, công nghệ, thò trường và lao động được hình thành một
cách thuận lợi. Thò trường các nước phát triển dưới mọi loại hình trở thành
điều kiện cho sự tăng trưởng của nền kinh tế nước ta (giống như kinh
nghiệm thành công của các nền kinh tế Đông Á trước đây). Cụ thể là:
Một là, sự phân công mới của lao động quốc tế trên phạm vi toàn cầu
đã tạo điều kiện cho chúng ta có cơ sở và khả năng để tập trung nguồn
lực cho phát triển và hiện đại hóa các ngành công nghiệp có lợi thế so
sánh (các ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên). Ví dụ, hiện đại

hóa các ngành sử dụng nhiều lao động bằng công nghệ mới thông qua các
kênh chuyển giao và sáng tạo công nghệ từ các nước có trình độ phát triển
cao hơn;
Hai là, kinh nghiệm thế giới đã cho chúng ta niềm tin về bước phát
triển rút ngắn đối với tiến trình tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế
tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu, các sản phẩm hàng hóa hữu hình tức
là mất một số năm ít hơn (dưới 20 năm) cho mục tiêu tăng tỷ lệ này lên
90-95%;
Ba là, nhờ các ưu đãi về thuế và phi thuế quan chủ yếu dành cho các
sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo, việc thực hiện các lộ trình hội
nhập cũng là quá trình để tiến hành công nghiệp hóa và theo đó, càng hội
nhập nhanh vào các đònh chế kinh tế khu vực và toàn cầu, tiến trình công
nghiệp hóa càng được đẩy mạnh hơn;
Bốn là, sự xâm nhập của các công ty xuyên quốc gia (TNCs) dưới nhiều
hình thức đang trở thành nhân tố tích cực cho các quá trình cơ cấu lại đầu
tư, tiếp nhận công nghệ và phát triển thò trường nhằm thích ứng với tiến
trình tự do hóa và phát triển bền vững một khi đây là nhân tố đầu tư không
gây nợ, các doanh nghiệp trong nước trở thành các nhà thầu phụ, các vệ
tinh cho các tập đoàn TNCs và hơn nữa, đây là kênh để tạo dựng môi
trường hỗ trợ cho sự lớn mạnh của các doanh nghiệp trong nước nhằm
chống chọi với các sức ép cạnh tranh bên ngoài đang ngày càng trở nên
khốc liệt.
c. Các quá trình hình thành và hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thò
trường có điều kiện được đẩy mạnh vì bối cảnh quốc tế và khu vực thường
xuyên thay đổi thường không thể chấp nhận sự bất cập, lạc hậu và kém
thích ứng của các thể chế kinh tế bên trong. Do đó, môi trường pháp luật,
các nguyên tắc thò trường, các chế tài điều hành và giám sát nền kinh tế
bắt buộc phải được điều chỉnh theo các tiêu chí quốc tế. Đây là khâu quan
trọng để khôi phục tính cạnh tranh, tăng hấp dẫn của thò trường Việt Nam,
giảm rủi ro và tăng tính minh bạch của nền kinh tế. Việc hình thành một

hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu của thông lệ quốc tế, đồng
bộ và thống nhất, minh bạch và chính xác trong hướng dẫn thi hành chính
102


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH...

là hệ quả của những sức ép về thay đổi thể chế kinh tế dưới tác động của
quá trình thực hiện các cam kết quốc tế. Quá trình này là quá trình liên tục
đổi mới và đảm bảo thích ứng cao với mọi thay đổi của bối cảnh quốc tế
và khu vực. Nó đảm bảo khả năng phản ứng chính sách kòp thời, hạn chế
được các cú sốc lớn từ bên ngoài tác động lên nền kinh tế của chúng ta.
2. Những thách thức mới

a. Môi trường quốc tế đã và đang có nguy cơ bất ổn, bởi sự xuất hiện
của các biến cố mới, khó lường trước. Đó là:
1. Sự “lây lan” trên quy mô lớn của chủ nghóa khủng bố và cuộc chiến
chống chủ nghóa khủng bố vẫn tiếp tục diễn ra phức tạp sau sự kiện 11-9
và đặc biệt gần đây sau cuộc chiến tranh Irắc;
2. Hệ quả của sự suy giảm kinh tế Mỹ-Nhật năm 2001 và chính sách
đồng đôla yếu của Mỹ năm 2003 đang làm cho các dấu hiệu phục hồi của
nền kinh tế toàn cầu kém vững chắc;
3. Hiệu ứng toàn cầu của bệnh SARS…
Tất cả những sự kiện này đang làm giảm sút niềm tin của các nhà đầu
tư và người tiêu dùng và theo đó, nền kinh tế thế giới tuy đã phục hồi song
sẽ chưa vững chắc trong những năm tiếp theo. Dó nhiên, trong tình hình
đó, một nền kinh tế hướng về xuất khẩu và dựa một phần đáng kể vào
FDI sẽ chắc chắn gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm, mở rộng thò trường
và khai thác các nguồn lực quốc tế. Tình hình cũng giống như điều chúng
ta đã thấy là sau khủng hoảng tài chính-tiền tệ châu Á 1997, khi gặp khó

khăn về thò trường xuất khẩu và sút giảm đầu tư, tăng trưởng của nền kinh
tế nước ta đã không cao và vì vậy, nếu môi trường kinh tế quốc tế tiếp tục
bất ổn, chúng ta khó có thể tăng trưởng nhanh, bền vững để đáp ứng yêu
cầu phát triển rút ngắn như Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra.
b. Các xu hướng liên kết kinh tế trên nhiều tuyến, nhiều cấp độ trên
thế giới và đặc biệt trong khu vực đang tạo ra nhiều thách thức cho tiến
trình nỗ lực hội nhập chung của ASEAN. Các hiệp đònh thương mại tự do
song phương đang được coi là bước đi quan trọng của hầu hết các nước
với khu vực kiểu như khu vực mậu dòch tự do ASEAN – Trung Quốc
(ACFTA); với từng nước (như Nhật Bản với Singapore), hoặc giữa các nước
ASEAN với nhau (như giữa Thái Lan với Singapore) buộc ASEAN phải thúc
đẩy tiến trình hội nhập sâu hơn, và mặt khác, ASEAN cũng sẽ khó khăn
khi nếu nhiều nước thành viên ưu tiên mạnh các vấn đề giải quyết tay đôi,
họ có thể sẽ làm giảm thế thương lượng và mặc cả của toàn khu vực với
bên ngoài. Vấn đề đặt ra là trong những trường hợp đó, nếu chúng ta chỉ
chú trọng hội nhập vào các hiệp đònh đa phương (vốn là bước đi khôn
ngoan của các nước kém phát triển để tránh bò các nước phát triển chèn
103


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

ép) thì liệu chúng ta có mất đi lợi thế và bò đứng ngoài các tính toán song
phương đã trở nên hết sức phổ biến hay không? Điều có thể thấy rõ là do
những động thái này, sức ép cạnh tranh đang dồn đẩy lên vai các nước
nghèo trong ASEAN. Chúng ta sẽ gặp khó khăn trong cạnh tranh xuất khẩu.
Hơn nữa, với việc gia nhập WTO và ký kết ACFTA, các dòng đầu tư trực
tiếp nước ngoài đang hướng mạnh vào Trung Quốc (năm 2002, FDI vào
Trung Quốc đứng đầu thế giới với 52 tỷ USD và năm 2003, mặc dù bò hiệu
ứng bệnh SARS, FDI vào Trung Quốc vẫn đạt 43 tỷ USD) và theo đó, dòng

FDI vào Việt Nam không mạnh như trước (mặc dù chúng ta đã cải thiện
mạnh mẽ môi trường đầu tư) và điều này sẽ gây nên nhiều khó khăn cho
sự tăng trưởng ổn đònh của Việt Nam. Đây có thể coi là một động thái mới
của khu vực có ảnh hưởng đáng kể đến an ninh phát triển kinh tế của
chúng ta.
c. Hệ thống kinh tế thế giới, như chúng tôi đã nêu ở trên, vẫn là một
hệ thống có một số mặt chưa công bằng, mặc dù các yêu cầu đặt ra cho
các nước là dỡ bỏ các rào cản về thuế quan, phi thuế quan, về đối xử quốc
gia, về thể chế… Trong tiến trình này, các nước phát triển sẽ tiến tới phải
loại bỏ mọi ưu đãi dành cho các nước kém phát triển như: hạn ngạch, GSP
và các ưu đãi khác. Vẫn biết, đối với các nền kinh tế có khả năng cạnh
tranh, các dỡ bỏ này là hết sức quan trọng và cần thiết cho sự phát triển
của họ. Song với các nước kém phát triển thì tình hình lại khác. Lâu nay,
để xuất khẩu sang thò trường các nước phát triển, họ phải dựa chủ yếu vào
các ưu đãi đó và việc phải đối mặt với sự xóa bỏ này trong một thời gian
tương đối ngắn sẽ là một thách thức vô cùng lớn cho hoạt động xuất khẩu
nói riêng, cho phát triển kinh tế-xã hội nói chung. Đây cũng là một tác
động mà chúng ta buộc phải sẵn sàng chuẩn bò sớm để tránh những cú
sốc không đáng có cho nền kinh tế.
- Kinh tế, chính trò, an ninh cùng các hệ thống an sinh xã hội, môi
trường sinh thái trong điều kiện ngày nay đã xoắn bện chặt chẽ với nhau.
Trong bối cảnh đó, các tầng lớp dễ tổn thương trong xã hội luôn là những
nhóm bất lợi trong toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, phải
thấy được các đổ vỡ, bất ổn từ trong các khía cạnh xã hội của sự phát triển,
nhất là các cú sốc từ bên ngoài, rất dễ xảy ra trong hệ thống kinh tế thế
giới hiện nay, sẽ tác động mạnh đến các nhóm “yếu thế”, đặc biệt là trong
khu vực nông nghiệp và nông thôn, các vùng sâu, vùng xa. Điều đó cũng
có nghóa là, việc thiết đònh các chính sách xã hội, chính sách quản lý sự
phát triển ở các đòa phương phải luôn tính đến các thay đổi thường xuyên
của bối cảnh quốc tế và khu vực.

Việt Nam có lợi thế là tăng trưởng và phát triển trong môi trường chính
trò-xã hội ổn đònh. Tuy vậy, những bất ổn của khu vực với các động thái:
vấn đề hạt nhân như Bắc Triều Tiên; Philippin và Thái Lan trở thành đồng
minh ngoài NATO của Mỹ; các bất ổn về tôn giáo, dân tộc… ở một số nước
104


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH...

trong khu vực… sẽ có tác động nhất đònh đến phát triển của chúng ta với
tư cách là thành viên của ASEAN và là một quốc gia thuộc khu vực Đông
Nam Á. Bất ổn đònh môi trường phát triển của một nước sẽ tùy thuộc đáng
kể vào môi trường và động thái của mọi nước trong toàn khu vực. Hiệu
ứng của các căng thẳng này sẽ chắc chắn làm giảm sút niềm tin và tính
tích cực của các nhà hoạt động đầu tư và thương mại quốc tế đối với khu
vực. Đó là chưa kể, hơn 40% đầu tư vào Việt Nam là đến từ các nước trong
khu vực Đông và Đông Nam Á, chắc chắn sẽ bò đình trệ, nếu các căng
thẳng và xung đột trong khu vực tiếp tục bò kích đẩy. Mặc dù vậy, về khía
cạnh này, cũng cần cảnh giác với các quan điểm của các thế lực bên ngoài
thổi phồng quá mức tình hình căng thẳng trong khu vực.
III. MỘT VÀI ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CHIẾN LƯC CHO VIỆT NAM

Với bối cảnh quốc tế và khu vực diễn biến phức tạp, khó lường như
phân tích ở trên, Việt Nam phải luôn tỉnh táo, cập nhật, để có những
quyết sách phù hợp.
Thứ nhất, trong các động thái thay đổi của bối cảnh quốc tế và khu
vực, chúng ta cần lưu ý phân tích sự điều chỉnh chiến lược của các nước
phát triển và các nước lớn.
Thứ hai, luôn đứng vững trên góc nhìn của một nước đang phát triển,
đi sau để tiếp cận các cơ hội và thách thức của sự phát triển, nghóa là phải

dựa vào các đònh chế khu vực và quốc tế (mà chúng ta đã, đang và sẽ là
thành viên chính thức) để tạo thế và lực cho Việt Nam khi giải quyết các
vấn đề phát triển bên trong như đóng góp vào các tiến trình phát triển
toàn cầu. Điều này còn giúp để tránh được các áp đặt, các sức ép vô lý từ
các nước lớn.
Theo đó, chúng tôi có 3 đề xuất về giải pháp chiến lược:
Một là, coi việc đẩy mạnh tiến trình gia nhập WTO vào đầu năm 2005
đã được Việt Nam khẳng đònh như một giải pháp đột phá để thực hiện cải
cách toàn diện nền kinh tế đất nước (vì theo yêu cầu của các nguyên tắc
WTO, chúng ta phải cải cách cả về cơ cấu, về cơ chế chính sách và các
thể chế kinh tế, về năng lực cạnh tranh của quốc gia…) và với việc tham
gia WTO, chúng ta có hẳn một “câu lạc bộ toàn cầu” để thương lượng, đối
thoại và đảm bảo được các lợi ích của mình trong quan hệ song phương
với các đối tác khu vực và quốc tế khác nhau. Kinh nghiệm cho thấy,
nguồn lực và sức ép hội nhập chống được các tư duy ỷ lại, lùi bước, thiếu
sẵn sàng và đẩy nhanh việc thực hiện các cam kết quốc tế. Công việc này
bắt đầu từ cam kết chung, nhất quán để sau đó hướng dẫn các bộ, ngành,
đòa phương triển khai thực hiện chứ không phải ngược lại. Cần thể hiện
quan điểm đặt lợi ích quốc gia lên trên hết chứ không thể chờ đợi, tìm
tiếng nói đồng thuận thường khó khăn từ các quan hệ lợi ích cục bộ vốn
105


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẦN THỨ HAI

khác biệt và phân tán. Một khi các cam kết quốc tế được thực hiện (đó
cũng là điều bình thường) thì các mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững
và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn của chúng ta sẽ được
thực hiện một cách thắng lợi. Chúng tôi cho rằng, sau khi trở thành thành
viên WTO, Việt Nam hoàn toàn có đủ điều kiện để thuyết phục, đàm phán

và ký kết các FTA song phương với các nước lớn và các nước phát triển.
Hai là, cùng với tiến trình gia nhập WTO, để thích ứng và thụ hưởng
các lợi ích do xu hướng hình thành các hiệp đònh tư do thương mại song
phương đã trở nên phổ biến, rộng khắp trên nhiều cấp độ, Việt Nam không
thể đứng ngoài và cần chủ động chuẩn bò tính toán lựa chọn những đối
tác phù hợp để tiến tới đàm phán ký kết các hiệp đònh tự do thương mại
song phương. Dó nhiên, khi tiến hành công việc này cần phải đảm bảo
nguyên tắc không đi ngược lại các quy đònh của WTO.
Ba là, thực hiện an ninh cho sự phát triển, giảm thiểu rủi ro và hạn chế
tính tổn thương cho nền kinh tế không thể không tính đến các động thái
chính trò và an ninh truyền thống. Phải thường xuyên chú ý đến ý đồ của
các nước lớn – vốn đang giữ vai trò dẫn dắt các tiến trình phát triển quốc
tế, khi họ thường áp đặt các điều kiện bất lợi cho các nước kém phát triển
hơn. Cần phải tính đến vai trò tối siêu cường của Mỹ từ sau cuộc chiến
tranh Irắc để có những chính sách thích hợp với họ: dứt khoát rõ ràng trong
các phản ứng chính sách về chính trò, nhân quyền và phải mềm dẻo, linh
hoạt trong các phản ứng về kinh tế. Chẳng hạn, nên giải quyết các vấn đề
kinh tế trên các nguyên tắc về giải quyết tranh chấp của WTO và trên các
điều khoản đã ký kết trong Hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. Cần
phải tính đến vai trò và ảnh hưởng của Nhật Bản với những đònh hướng
ưu tiên phát triển cho các nước thành viên mới trong ASEAN để có thể ký
kết các hiệp đònh kinh tế song phương với Nhật Bản. Với Trung Quốc, cần
nhìn nhận rõ hơn những bất lợi về cạnh tranh xuất khẩu và thu hút FDI
do tính hấp dẫn nhiều mặt của nhân tố này. Mặc dù vậy, cần có “động
thái phối hợp” tốt và thích ứng với Trung Quốc để tranh thủ vò thế của
quốc gia này trong tiếp cận thò trường Trung Quốc và các thò trường khu
vực khác vì sự phát triển của chúng ta. Ở đây, theo chúng tôi, cần nhìn
nhận rõ hơn vai trò của hợp tác Đông Á với sự nổi lên của nhân tố Trung
Quốc và vò trí hàng đầu của nền kinh tế Nhật Bản. Người ta đang dự đoán
tới một Cộng đồng kinh tế Đông Á nay mai và nguy cơ liên kết ASEAN có

thể sẽ bò lôi cuốn vào cộng đồng này. Theo đó, Việt Nam cũng như các
nước ASEAN cần nỗ lực để đẩy mạnh AEC vì một tầm nhìn ASEAN 2020
nhằm củng cố và nâng cao thế thương lượng cạnh tranh của ASEAN trên
trường quốc tế, bắt buộc các nước lớn phải tính đến ASEAN trong chiến
lược và chính sách phát triển của họ.
Với tất cả các nỗ lực cải cách và phát triển mà Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ IX đã xác đònh, chúng ta cần tiếp tục rà soát và điều chỉnh cho
106


BỐI CẢNH QUỐC TẾ, KHU VỰC HIỆN NAY TÁC ĐỘNG ĐẾN AN NINH...

phù hợp với tình hình mới của đất nước cũng như của bối cảnh quốc tế
và khu vực. Những giải pháp chiến lược cơ bản của Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ IX cho đến nay vẫn còn nguyên giá trò. Với 3 giải pháp đột
phá của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, các đề xuất trên đây là một
sự cụ thể hóa cần thiết cho tiến trình tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền
vững của Việt Nam nhằm thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. An ninh kinh tế ở ASEAN và vai trò của Nhật Bản, Nxb Chính trò quốc gia, Hà Nội 2001.
2. Tài liệu: Tiến tới cộng đồng kinh tế ASEAN, ASEAN Secretariat, 4-2003.
3. Michael G. Plummer, Sự thay đổi cơ cấu của một châu Á được Toàn cầu hóa, Journal
of Asian Economics, 2-2003.
4. Eng Chuan Ong, Khu vực mậu dòch tự do Đông Á “đặt neo” vào ASEAN, The
Washington Quarterly, Sping 2003.
5. Vương Trấn Ninh, Hợp tác thương mại tự do khu vực và song phương của Mỹ, Tạp
chí “Liêu Vọng” (Trung Quốc) số 33, 8-2003.
6. Báo cáo thông tin chuyên đề của Tổ nghiên cứu kinh tế đối ngoại của Thủ tướng

sau chuyến đi nghiên cứu 3 nước Singapore, Malaysia, Thái Lan.
7. Các bản tin nội bộ hàng tháng, “Hội nhập và phát triển” của Ủy ban Quốc gia về
hợp tác kinh tế quốc tế, 2003.

107


×