Tải bản đầy đủ (.doc) (1,143 trang)

NGUYỄN DU VỀ TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.45 MB, 1,143 trang )

NGUYỄN DU VỀ TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM
NGUYỄN DU
VỀ TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM
(Tái bản lần thứ tư)
Tác giả: TRỊNH BÁ ĐĨNH
Với sự cộng tác của:
NGUYỄN HỮU SƠN – VŨ THANH
Tuyển chọn và giới thiệu

LỜI NÓI ĐẦU
Sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về số lượng, tuy nhiên, khối
lượng những công trình nghiên cứu, những lời bình luận, đánh giá về nó thì
hết sức lớn. Việc bình luận, nghiên cứu Nguyễn Du và di sản của ông đã có
lịch sử dài hơn một thế kỷ rưỡi, qua nhiều chặng với những cách nhìn, cách
tiếp cận khác nhau, đặc biệt phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu trong thế
kỷ XX. Có thể nói, ý thức về di sản của Nguyễn Du luôn tiến triển cùng với tư
tưởng xã hội và tư tưởng văn học của dân tộc. Tập sách này tuyển chọn
những bài viết, những công trình nghiên cứu tiêu biểu trong số những thành
tựu đó. Trước hết nó nhằm mục đích cung cấp tư liệu phục vụ cho việc giảng
dạy và học tập về Nguyễn Du trong nhà trường. Sau nữa, nó cũng có thể giúp
ích cho những người hoạt động văn hóa, văn học và phần nào cả một số nhà
nghiên cứu quan tâm tới việc tìm hiểu, khai thác di sản của Nguyễn Du nói
riêng và của văn học truyền thống nói đúng. Để thuận tiện cho việc theo dõi
và sử dụng tập sách, chúng tôi muốn lưu ý độc giả mấy điểm sau:
a. Những bài viết, những công trình được tuyển chọn vào tập sách này
chủ yếu thuộc lĩnh vực ngữ văn. Điều ấy có nghĩa là, những bài nghiên cứu
thuộc lĩnh vực vẫn gọi là văn bản học, những bài phát biểu có tính chất chính
trị xã hội và văn hóa chung sẽ không có ở đây; ngoại lệ là một đôi bài đó in
dấu ấn đậm nét trong lịch sử bình luận, nghiên cứu Truyện Kiều hay được



nhắc tới. Một số thơ ca tiêu biểu viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều được đưa
vào tập sách vì sáng tác thơ ca cũng là một cách giải thích, đánh giá…
b. Với những công trình biên khảo lớn, ở đây chỉ tuyển một số phần tiêu
biểu, trừ hai cuốn Khảo luận về Kim Vân Kiều và Quyền sống của con người
trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du được lấy lại hầu như nguyên vẹn.
c. Các văn bản được sử dụng đều chú rõ xuất xứ và về cơ bản được
giữ nguyên văn.
Nhân tập sách ra mắt bạn đọc, chúng tôi xin gửi lời cám ơn đến các
PGS. Nguyễn Lộc và Nguyễn Thạch Giang đã góp ý cho đề cương bản thảo.
Chúng tôi cũng gửi lời cám ơn đến GS. Hà Minh Đức, Viện trưởng Viện Văn
học đã viết LỜI GIỚI THIỆU; và đặt biệt là các tác giả và thân nhân của
những cố tác giả đã giúp đỡ và cho phép sử dụng các bài viết trong tập sách
này.
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC

LỜI GIỚI THIỆU
Trước mắt chúng ta là bộ tư liệu văn học khá đồ sộ về các tác gia tiêu
biểu của lịch sử văn học Việt Nam. Trong lịch sử phát triển của văn hóa dân
tộc, so với nhiều ngành nghệ thuật khác văn học là nhân tố trội và có một vị trí
quan trọng. Kho tàng văn học dân gian vô giá chưa khai thác và đoán định
được hết sự giàu có và xác định được đầy đủ giá trị văn chương. Mười thế kỷ
văn học viết với những đỉnh cao về tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá quát, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn
Khuyến, Phan Bội Châu, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu,
Huy Cận, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao…
những tên tuổi luôn là niềm tự hào cho nền văn hóa và văn học dân tộc.
Theo dòng lịch sử tác phẩm văn chương luôn chịu sự thử thách chọn
lọc khắc nghiệt của thời gian và nhiều tác phẩm rơi vào lãng quên. Dưmg như
ngược với quy luật ấy, những tác giả và tác phẩm tiêu biểu lại không ngừng



được luận bàn qua các thời kỳ lịch sử. Cuộc đời và tác phẩm của họ mang
nhiều tâm tư sâu sắc, quy tụ được nhiều vấn đề xã hội và có thể dự báo một
điều gì cho mai hậu. Sinh thời Nguyễn Du băn khoăn:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?
(Ba trăm năm lẻ nữa ta đâu biết,
Thiên hạ ai người khác Tố Như?)
Thế hệ kế tiếp, những kẻ hậu sinh thiết tha muốn hiểu ông và đã một
phần hiểu ông. Từ ý kiến tâm huyết của Ngô Đức Kế, đến những công trình
nghiên cứu sâu sắc của Hoài Thanh, Xuân Diệu, của các nhà nghiên cứu Lê
Đình Kỵ, Lê Trí Viễn,… Truyện Kiều đã được phân tích từ trên nhiều bình
diện, và đáng quý khi tác phẩm này đã góp phần vào sự phát triển đời sống
tình cảm của dân tộc.
“Truyện Kiều” tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du” thật sự đã giữ vai
trò quan trọng biết nhường nào làm những con người Việt Nam chúng ta xích
lại gần nhau, sát cánh bên nhau, thông cảm và đồng cảm trong đời sống
thường nhật, trong lao động, đấu tranh để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc thân
yêu của mình”.
Đấy là trường hợp Nguyễn Du và cũng là của nhiều nhà văn tiểu biểu
khác mà trước hết phải kể đến Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi, người anh hùng
cứu quốc, nhà tư tưởng, nhà văn hoá, nhà thơ. Tất cả những phẩm chất của
các nhân vật trên quy tụ lại trong nhiều tác phẩm văn chương và hậu thế đã
tìm hiểu, nghiên cứu ông trên nhiều bình diện. Đinh Gia Khánh nghiên cứu
quan điểm văn chương của Nguyễn Trãi; Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi
tìm hiểu Quân trung từ mệnh tập – tập luận chiến quân sự và ngoại giao; rồi
văn thơ chữ Hán; văn thơ Quốc âm cũng được nhiều nhà nghiên cứu khai
thác. Đặc biệt Bình Ngô đại cáo được đánh giá rất cao qua nhiều bài viết từ
Bùi Kỷ, Vũ Khiêu đến Bùi Văn Nguyên. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn
Trãi là của một thời và của muôn đời. Những ý kiến đánh giá về ông qua các



thời đại giúp cho người đọc hiểu được vị trí và sự đóng góp của ông cho văn
hóa và văn học nước nhà.
Văn học thời trung đại còn khởi sắc ở chặng đường cuối với nhiều nhà
văn tiêu biểu. Nguyễn Đình Chiểu là một ngôi sao, một tấm gương sáng trên
cả hai phương diện đạo và đời. Nhà yêu nước lớn, nhà nho giữ đạo vẹn tròn,
nhà văn giàu dũng khí và tài năng, người đã gìn giữ và đưa văn chương lên vị
trí cao quý. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều ý kiến sâu sắc của Phạm Văn
Đồng và nhiều nhà nghiên cứu khác về sự nghiệp văn thơ tác giả. Trong công
lao chung nghiên cứu về tác giả thời kỳ trung đại phải kể đến những công
trình của Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn, Đinh gia
Khánh, Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Huệ Chi, đặc biệt là Xuân Diệu. Ông tự đặt
cho mình nhiệm vụ phải nói cho được cái hay, cái đẹp, hương vị cao quý của
văn thơ các danh nhân ở mọi thời. Ông bà người ngưỡng mộ thi hào dân tộc
Nguyễn Du, “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, ca ngợi Nguyễn Khuyến,
nhà thơ của “dân tình làng cảnh”, cảm thương cái tài cái phận với tiếng cười
ra nước mắt của Tú Xương.
Bước sang thời kỳ hiện đại cánh cửa lịch sử mở dần từ đầu thế kỷ XX
và chỉ sau hai thập kỷ lịch sử văn học đã bước vào thời kỳ Phục hưng với
Phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn, trào lưu hiện thực phê phán và tiếp
theo hơn nửa thế kỷ văn học cách mạng. Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là
một tác gia lớn mở đầu và khai sáng cho nền văn học cách mạng. Sự nghiệp
của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh bao gồm trên nhiều phạm vi: thơ ca,
truyện ký, văn chính luận và ở lĩnh vực nào cũng nổi lên với những tác phẩm
tiêu biểu. Nghiên cứu sự nghiệp văn thơ Hồ Chí Minh là niềm hứng thú của
nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước và chúng ta đã có một khối lượng tư
liệu phong phú về văn thơ Hồ Chí Minh. Sự nghệp văn thơ Hồ Chí Minh đòi
hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu trên nhiều vấn đề về nội dung tư tưởng
cũng như nghệ thuật biểu hiện. Các tác giả Đặng Thai Mai, Trần Huy Liệu,

Phạm Huy Thông, Hoài Thanh... các nhà thơ Xuân Diệu, Chế Lan Viên đều có
nhiều bài viết hay về văn thơ Hồ Chí Minh.


Tố Hữu, nhà thơ vô sản với phong cách sáng tạo độc đáo đã sớm thu
hút được sự quan tâm của bạn đọc. Ngay từ thời kỳ Mặt trận Dân chủ, Trần
Minh Tước đã gọi “Tố Hữu là nhà thơ của tương lai”. Cách mạng tháng tám
thành công, tập thơ Từ ấy được giới thiệu và Đặng Thai Mai xem tập thơ là
“bó hoa lửa lộng lẫy”. Suốt nhiều thập kỷ, Tố Hữu vẫn được xem là “lá cờ đầu
của thơ ca cách mạng”, hay nói như Chế Lan Viên: “Anh là người mở đường,
dẫn đường và hiện nay vẫn trên đường”. Hơn 60 năm sáng tác thơ Tố Hữu
đã chinh phục được nhiều thế hệ bạn đọc qua giọng điệu trữ tình cách mạng
ấm áp tình đời tình người. Hàng trăm bài viết, nhiều công trình nghiên cứu đã
khai thác khá triệt để thơ Tố Hữu với nhiều cách tiếp cận, vận dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu thích hợp. Và chắc chắn mọi ý kiến không dễ thuận
chiều, xuôi gió. Hai cuộc tranh luận về tập thơ Từ ấy và Việt Bắc đã ghi lại
được những quan điểm học thuật khác nhau và phần nào không khí văn học
một thời. Những nhà văn nhà thơ lớn của thời kỳ hiện đại như Xuân Diệu,
Nguyễn Tuân, Nam Cao đều có phong cách sáng tạo độc đáo lôi cuốn mạnh
mẽ người đọc. Xuân Diệu “nhà thơ mới nhất” trong Phong trào Thơ mới, nhà
thơ lớn của nền thơ ca cách mạng, nhà phê bình nghiên cứu văn học uyên
thâm và tinh tế đã là đề tài của biết bao công trình. Nguyễn Tuân độc đáo và
tài hoa trong văn cũng như trong đời, một kiểu mẫu nhà văn lấy mình làm
điểm tựa để nói về cuộc đời với nhiều ý tưởng lạ, ngôn từ chắt lọc, sáng tạo.
Nam Cao đến muộn, ông chưa được biết đến trong Nhà văn hiện đại của Vũ
Ngọc Phan nhưng từ những năm đầu thập kỷ sáu mươi, Nam Cao đã thu hút
và ngày càng nằm sâu trong ký ức từ tuổi học trò đến những người trải đời và
đau đời. Tất cả những trang viết về các nhà văn tiêu biểu trên, được chọn lọc
qua các tập tư liệu, như còn mang theo hơi thở, sức sống, dư âm và tài năng
sáng tạo từ cội nguồn, những cây lớn vẫn tỏa bóng mát và hương thơm. Các

tập tư liệu về văn học Việt Nam được sưu tầm công phu, có hệ thống, chọn
lọc theo một chuẩn mực thống nhất. Chuẩn mực cao nhất là chất lượng, bài
viết phải góp phần nói lên được đặc điểm và phong cách của tác giả. Được
viết ra từ nhiều thời điểm với những quan điểm nhận thức khác nhau nên
cách đánh giá chắc chắn là có nhiều điểm khác biệt. Đó là chuyện bình


thường trong nghiên cứu văn học và theo thời gian chắc chắn còn có thêm
những suy nghĩ mới.
Đây là bộ tư liệu đầu tiên giới thiệu chín tác giả chính trong chương
trình văn học của nhà trường. Chắc chắn là chúng ta phải có thêm nhiều tập
tư liệu khác. Bên cạnh Xuân Diệu phải có Huy cận, giới thiệu Nguyễn Tuân
phải có Tô Hoài, và giới thiệu Nam Cao phải có Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng,
Nguyễn Công Hoan. Mục đích cuối cùng không chỉ vì riêng cho tác giả mà
trước hết là vì bạn đọc. Phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất để có thể hiểu
kỹ về tác giả, tác phẩm. Chịu trách nhiệm biên soạn với Nhà xuất bản Giáo
dục, các nhà nghiên cứu của Viện Văn học đã làm việc với tinh thần say mê
và ý thức tôn trọng những giá trị tinh thần cao quý của văn học dân tộc.
Viện trưởng Viện Văn học
GS. HÀ MINH ĐỨC

DI SẢN CỦA NGUYỄN DU VÀ THỜI GIAN
Sáng tác của Nguyễn Du (1765– 1820) được lưu hành từ rất sớm, có lẽ
ngay từ lúc nhà thơ còn sống. Phạm Quý Thích, người cùng thời, chỉ mất sau
Nguyễn Du 5 năm từng có bài thơ nổi tiếng bằng chữ Hán đề vịnh Truyện
Kiều. Nhiều nhà nho ở Thăng Long, nhất là những học trò của Phạm Quý
Thích, trong đó có một số người là danh thần, danh sĩ chắc có biết và ông
tham gia vào việc phổ biến Truyện Kiều, và cũng có thể không chỉ có Truyện
Kiều mà còn cả những sáng tác khác của Nguyễn Du nữa. Tương truyền,
Truyện Kiều được chính Phạm Quý Thích nhuận sắc và cho in ở phố Hàng

Gai thuộc Hà Nội bây giờ. Nghe nói, sau khi Nguyễn Du mất vài chục năm,
vua Tự Đức từng có sớ cho quan tỉnh Nghệ An thu thập tất cả di cảo của
Nguyễn Du để đưa về kinh. Nếu những chuyện đó là có thực, thì cho tới lúc
ấy, sáng tác của ông đã có ảnh hưởng khá lớn trong xã hội, chí ít là ở tầng
lớp có văn hóa cao.


Từ đó tới nay, việc sưu tập, nghiên cứu, phổ biến di sản văn học của
Nguyễn Du không bao giờ bị đứt đoạn, nó luôn phát triển cùng với sự tiến bộ
của ngành văn bản học và ngữ văn học nước ta, đặc biệt từ sau những năm
30 của thế kỷ XX, khi việc sưu tầm, nghiên cứu văn học được ý thức như là
hoạt động khoa học. Một điểm móc đáng chú ý là năm 1965, nhân dịp 200
năm năm sinh, Nguyễn Du được Hội đồng hòa bình thế giới quyết định kỷ
niệm như một danh nhân văn hóa thế giới và chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo
tiến hành kỷ niệm trọng thể thi hào của dân tộc mình. Một trong các hoạt động
kỷ niệm là việc nghiên cứu và cho xuất bản lại các tác phẩm của Nguyễn Du.
Hai công trình nghiêm túc đáng được chú ý ra mắt lúc đó là Thơ chữ Hán
Nguyễn Du do Lê Thước và Trương Chính sưu tầm, hiệu đính, chú thích 249
bài thơ và cuốn Truyện Kiều do nhóm nghiên cứu văn bản Truyện Kiều của
Viện Văn học thực hiện. Sau đó, các tác phẩm của Nguyễn Du còn được
nhiều nhà nghiên cứu khác giám định, bổ sung, hiệu đính và cho in lại. Đến
nay, chúng ta đã có được các tác phẩm sau của Nguyễn du: Truyện Kiều
(Đoạn trường tân thanh), Văn chiêu hồn, Thơ chữ Hán (Thanh Hiên thi tập
hay Thanh niên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục), Văn tế
Trường Lưu nhị nữ, Thác lời trai phường Vải.
Tuy vậy, việc nghiên cứu di sản của Ngurễn Du về mặt văn bản học,
chưa phải đã kết thúc, và cũng chưa biết đến khi nào mới kết thúc. Còn có
những ý kiến hồ nghi tác giả một số bài thơ chữ Hán vẫn được coi là của
Nguyễn Du. Việc xác định thời điểm ra đời của các tác phẩm còn chưa được
giải quyết. Ngay về thời điểm Nguyễn Du viết Truyện Kiều thì mặc dù đã mất

nhiều công sức, nhưng các ý kiến trong giới nghiên cứu vẫn còn rất khác
nhau. Nổi cộm nhất vẫn là chuyện văn bản Truyện Kiều: cần tìm kiếm một bản
Kiều gần sát với bản do chính Nguyễn Du viết ra. Bản gốc thì đã hoàn toàn
thất lạc. Bản Kiều in sớm nhất mà các nhà khảo cứu hiện có được là bản ra
đời năm 1871, tức sau khi tác giả mất đã nửa thế. kỷ. Hiện nay có đến vài
chục bản Kiều khác nhau. Tuy nhiên, thực ra thì sự sai biệt giữa các bản
không lớn, chủ yếu khác nhau ở một số chữ phiên âm, một số cách hiểu
nghỉa của từ. Với các sáng tác khác của nhà thơ tình hình cũng gần như vậy.


Do đó, trọng tâm của giới nghiên cứu là hướng vào tìm hiểu tư tưởng và nghệ
thuật của Truyện Kiều cùng những sáng tác khác của ông.
***
Truyện Kiều, một tác phẩm được Nguyễn Du sáng tác khi “chồng chất
những khối lỗi ở trong lòng” và được viết như có máu chảy trên đầu ngọn
bút”, tất nhiên phải chứa đầy những tâm tình của ông. Tuy nhiên vì thông qua
một câu chuyện, lại là câu chuyện có sẵn của Trung Quốc thì dẫu sao, tâm
tình ấy cũng chỉ được bộc lộ gián tiếp, đưa ánh xạ qua sự kể chuyện khách
quan. Thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn của ông thì khác, đó là nơi giãi bày trực
tiếp tấm lòng của ông, ghi dấu trung thành những sự biến trong cuộc đời
thăng trầm của nhà thơ. Tìm hiểu chúng trước hết là nhằm làm rõ “phẩm cách
phức tạp và sinh hoạt bi đát” (Đào huy Anh) của Nguyễn Du. Trước Cách
mạng tháng Tám, Đào Duy Anh, Trần Trọng Kim đã từng viết về các thi phẩm
này. Trong cuốn Khảo luận về Kim Vân Kiều, Đào Duy Anh dành phần cuối,
gọi là “phụ lục” để viết về thơ chữ Hán Nguyễn Du. Sau này có nhiều tác giả
khác tiếp tục tìm hiểu thơ chữ Hán và Văn chiêu hồn như Hoài Thanh, Xuân
Diệu, Đinh Hùng, Trương chính, Nguyễn Lộc…
Ba tập thơ chữ Hán: thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm và Bắc
hành tạp lục như là ba tập nhật ký bằng thơ của Nguyễn Du trong một khoảng
thời gian dài từ năm nhà thơ 21 tuổi đến năm ông 49 tuổi (1814), ở đó “bài

nào cũng chứa đựng một lời tâm sự” và “bộc lộ thái độ sống của ông một
cách rõ nét”. (Trương Chính). Căn” cứ vào tập Bắc hành tạp lục, Đào Duy Anh
còn vẽ lại được con đường sứ trình của nhà thơ từ Huế tới Bắc kinh và từ
Bắc Kinh trở về. Các bài thờ chữ hán cho thấy rõ và nhà thơ lớn của chúng ta
đã có một cuộc sống hết sức chật vật không chỉ trong “mười năm gió bụi” mà
cả khi đã ở quê nhà Hồng Lĩnh. Về “cuộc đời lưu ly phiêu bạt” với những “sinh
hoạt bi đát” cuả Nguyễn Du thì hầu như mọi người đã nhất trí, tuy nhiên tâm
sự của ông, điều mà Đào Duy Anh gọi là “phẩm cách phức tạp” được bộc lộ
qua nội dung thơ chữ hán thì đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau. Cụ thể
trên hai khía cạnh: thái độ của Nguyễn Du đối với các triều đại Lê, Tây Sơn,


Nguyễn và nội dung tình thương của ông trước những kiếp tài hoa bạc mệnh
và những người cùng khổ.
Tình cảm thực của Nguyễn Du đối với các triều đại Lê, Tây Sơn,
Nguyễn như thế nào? Trước Cách mạng, Đào Duy Anh cho rằng thơ chữ Hán
của Nguyễn Du là “bài bi ca khảng khái”, trong đó “lòng trung trinh là phần chủ
yếu trong tâm tính Nguyễn Du… Cái lòng ấy, đến lúc chết ông vẫn chung chú
vào nhà Lê vua Lê…”. Thái độ bất đắc chí của Nguyễn Du khi làm quan triều
Nguyễn cũng được Đào Duy Anh giải thích là bởi vì nhà thơ luôn mang tâm
sự day dứt cuả “kẻ bề tôi phải thờ hai vua”. Còn với Tay Sơn thì theo Đào Duy
Anh, Nguyễn Du có thái độ chống đối đến cùng. Hơn bốn mươi năm sau, tới
năm 1988, trong lời giới thiệu cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du, nhà nghiên cứu
vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Ông viết: “Nổi bật nhất (ở thơ chữ Hán – TBĐ)
là lòng cô trung của Nguyễn Du đối với nhà Lê, trọn vẹn từ trước đến sau.
Hình như nhà thơ thấy rằng, nhà Lê mất và mất luôn cả lẽ sống của mình. Khi
làm quan với nhà Nguyễn mà lòng nhớ nhà Lê vẫn không phai nhạt”.
Ở đây cũng cần nói thêm rằng, theo sách sử và Gia phả cho biết thì
Nguyễn Du là con cựu thần nhà Lê, thân phụ ông làm đến Đại tư đồ; chú bác,
anh em đều làm quan to đời Lê - Trịnh. Khi tây sơn ra Bắc, Nguyễn Du bất

hợp tác và trốn tránh Đến. năm 1786 ông còn toan vào Gia Định với Nguyễn
Ánh khi đó đang mưu đồ đánh Tây Sơn.Nhà Nguyễn lên cầm quyền, Nguyễn
Du ra làm quan, đường hoạn lộ không có gì trắc trở, tuy nhiên ông luôn buồn
bực và bất đắc chí.
Năm 1965, cuốn Thơ chữ Hán Nguyễn Du ra mắt, trong phần giới thiệu,
ông Trương Chính đã đưa ra những nhận xét khác với Đào Duy Anh. Trương
Chính không phủ nhận thái độ trung với nhà Lê và chống Tây Sơn của
Nguyễn Du, song theo ông khi ra làm quan với nhà Nguyễn, Nguyễn Du chỉ
nhớ nhà Lê như nhớ “cái sự muôn năm cũ” chứ không phải cô trung. Nhà thơ
hiểu rằng vận nhà Lê đã hết. Nguyễn Du buồn và bất đắc chí, cái buồn và bất
đắc chí của một ông quan bị chèn ép. Trương Chính cũng không đồng tình
với Hoài Thanh khi nhà phê bình cho rằng thái độ của Nguyễn Du đối với các


triều đại bấy giờ không rõ rệt lắm. Ông viết: “(Nguyễn Du) đi theo nhà Nguyễn
mà lại nhớ tiếc nhà Lê, và đường như nhớ tiếc cả Tây Sơn nữa”. Nhận xét ấy
của Hoài Thanh là căn cứ vào bốn câu trong Long Thành cầm giả ca:
Thành quách suy di nhân sự cải,
Kỷ xứ tang điền biến thương hải.
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong,
Ca vũ không di nhất nhân tại.
(Thành quách đổi dời việc đời cũng khác,
Bao nơi nương dâu trở thành biển cả.
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu vong đâu hết,
Mà còn sót lại một người trong làng ca múa).
Theo Trương Chính thì bốn câu thơ này chẳng hàm ý nhớ tiếc nhà Lê
mà chỉ là cảm xúc cuả nhà thơ về việc đời “bãi bể nương dâu”.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc có vẻ đồng tình với Trương Chính trong
đánh giá tình cảm của Nguyễn Du đối với nhà Lê. Theo ông, Nguyễn Du quả
có nhớ nhà Lê cả trong cuộc đời lẫn trong thơ, nhưng vẫn ý thức được sự

sụp đổ của nó là tất yếu, “nhớ mà không có ý muốn phục hồi”. Tuy nhiên,
Nguyễn Lộc lại nghiêng về phía Hoài Thanh trong cách hiểu bốn câu thơ đã
dẫn trên của bài Long Thành cầm giả ca. Ông cho rằng ít nhất thì Nguyễn Du
cũng không thể có thái độ thù địch với Tây Sơn, khi mà nhà thơ đã đặt sóng
đôi một bên là người mình yêu mến với một bên là kẻ thù, nếu quả ông coi
Tây Sơn là kẻ thù (Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong, Ca kỹ không lưu nhất
nhân tại). Nhận xét đó thật xác đáng, tuy nhiên những câu thơ tương tự như
thế thật quá hiếm hoi trong thi tập của Nguyễn Du. Tại sao vậy? Có lẽ Nguyễn
Lộc đã đúng khi cho rằng “điều quan trọng đối với Nguyễn Du không phải là
vấn đề triều đại này hay triều đại khác, mà là vấn đề nhà thơ biết đặt lòng
mình nơi những con người bất hạnh, những con người đau khổ” tức là tinh
thần nhân đạo của nhà thơ.


Vấn đề tinh thần nhân đạo, cái khía cạnh thứ hai trong tâm sự của
Nguyễn Du cũng đã được các nhà phê bình nghiên cứu đề cập đến nhiều với
việc phân tích những bài thơ: Điếu La Thành ca giả, Long Thành cầm giả ca,
Thái Bình mại giả ca, Sở kiến hành, các bài thơ về Khuất Nguyên, Đỗ Phủ,
Âu Dương Tu…
Đào Duy Anh trong cuốn khảo luận kể trên của mình đã lý giải tình cảm
xót thương của Nguyễn Du đối với những kiếp tài hoa nhưng xấu số (người
con hát ở Long Thành, cô Cầm trong Long Thành cầm giả ca…) và những kẻ
nghèo khổ “dưới đáy xã hội” xuất phát từ chỗ cho rằng bởi nhà thơ là người
“đồng cảnh” với họ. Hình ảnh cuộc đời là sự phong chiếu hình ảnh cá nhân
nhà thơ: ông thương những giai nhân bạc mệnh “vì thấy số phận họ cũng bi
đát như mình”. Ông cũng đã từng nếm đủ sự đau đớn khổ sở cả về vật chất
lẫn tinh thần, cảnh “sinh kế quẫn bách trong bước giang hồ mươi năm gió
bụi”.
Trương Chính lại một lần nữa không đồng tình với cách nhìn nhận ấy.
Theo ông, “không phải lúc nào và ở đâu Nguyễn Du cũng chỉ thấy mình và chỉ

nghĩ đến mình”. Nguyễn Lộc cũng khẳng định: Nguyễn Du không bao giờ “chỉ
ngồi ngắm cái bóng dưới chân mình” và ông còn đi xa hơn khi cho rằng trong
thi phẩm của Nguyễn Du thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo: Nguyễn Du
luôn quan tâm đến cuộc đời, đến con người, “không chỉ riêng Trung Quốc mà
của cả Việt Nam”, “khắp nhân gian, “khắp cõi người”. Vậy là tình thương của
Nguyễn Du từ chỗ được lý giải như loại tình cảm cá nhân của một con người
“đồng cảnh”, “đồng bệnh”, đi tới chỗ được xem như một phẩm chất của chủ
nghĩa nhân đạo rộng lớn. Bước đi đó dường như tiến gần hơn tới chỗ giải
thích đúng đắn nội dung thi phẩm của nhà thơ. Tác phẩm Văn chiêu hồn càng
cho ta rõ điều ấy. Văn chiêu hồn không chỉ là trường ca về “tình trắc ẩn” của
Nguyễn Du đối với một hàng người nào đó, mà về tình yêu thương với tất
thảy các nạn nhân của “thập loại chúng sinh” và cả ý nguyện muốn giải thoát
cho họ. Văn chiêu hồn nói về cõi âm. Đối với cách hiểu nghệ thuật của chúng
ta “thì cõi âm là một ám dụ về trần thế. Nhưng có thể trong lòng, trong tâm


linh nhà thơ Nguyễn Du, nó lại thực hữu, thực hữu như cuộc sống trần thế, là
mặt thứ hai của cuộc sống trần thế. Tình thương của nhà thơ đã ôm trùm
cuộc đời một cách trọn vẹn, cả phần này lẫn phần kia, âm thế và dương thế.
Cho đến nay, trừ Truyện Kiều, các thi phẩm của Nguyễn Du chủ yếu
mới được xem xét về phương diện nội dung. Giá trị nghệ thuật thường chỉ
được nêu qua. Có thể người ta nghĩ rằng việc nghiên cứu các thi phẩm này
chỉ để hỗ trợ cho việc làm sáng tỏ thêm Truyện Kiều; có thể lại nghĩ rằng để
biết tài năng nghệ thuật của Nguyễn Du thì xét Truyện Kiều đã là đầy đủ.
Thực trạng nghiên cứu ấy, về khách quan, ta thấy các thi phẩm của Nguyễn
Du chưa được xem như có giá trị nghệ thuật tự thân. Trong khi đó thì ngay từ
năm 1943, Đào Duy Anh đã viết rằng: “Về hình thức cũng như về nội dung, tôi
tưởng thơ Nguyễn Du có thể để cùng hàng với thơ Cao Bá Quát và có thể
đem so sánh với thơ Đường”.
***

Nhưng dẫu sao thì các thi phẩm của Nguyễn Du cũng không thể có cái
địa vị như của Truyện Kiều trong lịch sử văn học và văn hóa. Nói đến di sản
Nguyễn Du chủ yếu phải nói đến Truyện Kiều. Nói về việc tiếp thu nghiên cứu
di sản Nguyễn Du quan trọng nhất phải nói về quá trình tiếp thu nghiên cứu
Truyện Kiều. Dưới đây, chúng tôi chỉ phác qua những giai đoạn chính của quá
trình đó qua việc nêu lên một số nét tiêu biểu về tư tưởng và phương pháp
tiếp cận Truyện Kiều.
Giai đoạn từ khi Truyện kiều ra đời cho đến năm 1930
Trong quãng thời gian hơn mội trăm năm này, người bình luận Truyện
Kiều là các nhà nho và “nhà nho tân học” (chữ của Đào Duy Anh). Ở thế kỷ
XIX, các nhà nho thường qua những bài thơ vịnh hay những bài tựa viết về
Truyện Kiều mà bộc lộ cách nhìn, chính kiến của mình đối với tác phẩm. Còn
sang thế kỷ XX, các nhà nho tân học lại phát biểu bằng các bài văn chính
luận. Việc bình luận ở cả giai đoạn này luôn chia thành hai dòng khen và chê
(“kẻ khen người chê, kẻ yêu người ghét ồn ào” – Ngô Đức Kế). Ngợi khen có


khi đến tán dương quá mức; trái lại, những lời chê bai cũng đôi khi đến độ
quá gay gắt.
Ở thế kỷ XIX, người bình luận có khi đứng trên lập trường đạo đức
chính thống ”tam cương ngũ thường” để đánh giá các nhân vật Truyện Kiều,
nhất là Thúy Kiều. Nguyễn Văn Thắng ca ngợi Thúy Kiều “xét sau trước đủ
trung trinh hiếu nghĩa”. Minh Mệnh đánh giá Kiều có hiếu, biết tiết nghĩa.
Ngược lại cũng trên lập trường này, Nguyễn Công Trứ lại mạt sát Kiều: “Bạc
mệnh chẳng làm người tiết nghĩa, Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm”. Cùng
một chỗ đứng mà khen chê hoàn toàn trái ngược nhau. Bênh vực, thông cảm
với Thúy Kiều nhiệt tình nhất phải nói là các nhà nho như Mộng Liên Đường
chủ nhân, Phong Tuyết chủ nhân, và nhất la Chu Mạnh Trinh, những người
bình luận Truyện Kiều từ lập trường “nhân sinh”. Họ thấy ở Thúy Kiều một
“người đồng điệu” (Chu Mạnh Trinh), dù “tuy khác đời mà chung một dạ”

(Mộng Liên Đường chủ nhân). Họ luôn nhiệt tình bênh vực cho phẩm hạnh,
đạo đức của nàng Kiều.
Sang đầu thế kỷ XX, việc bàn luận về Truyện Kiều có lúc đã trở thành
luận chiến mang màu sắc đấu tranh chính trị xã hội. Đáng chú ý là cuộc đấu
tranh của các ông Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng chống việc đề cao quá
đáng Truyện Kiều của ông Phạm Quỳnh và một số người khác. Phạm Quỳnh
trong bài diễn thuyết năm 1924 đọc tại lễ kỷ niệm Nguyễn Du nhân ngày mất
đã đánh giá Truyện Kiều là “quốc hoa” “quốc hồn”, “quốc túy” của dân tộc. Trái
lại, Ngô Đức Kế cho Truyện Kiều chỉ là cuốn truyện phong tình, trong đó
không tránh khỏi tám chữ “ai, dâm, sầu, oán, đạo, dục, tăng, bi”: Huỳnh Thúc
Kháng cũng đồng tình và coi đấy là “cuốn sách có hại”, không thể dùng làm
sách để học tập.
Nhận xét về việc bình luận Truyện Kiều ở giai đoạn này, ông Đào Duy
Anh đã rất đúng khi cho rằng. “hai bên (khen và chê - TBĐ) đều lấy tư tưởng
luân lý mà phê bình phán đoán một tác phẩm nghệ thuật”. Họ đều xem chức
năng văn học là “tải đạo” và nhiều khi coi tác phẩm văn chương như một cuốn
sách luân lý. Ngay Phạm Quỳnh, một người được xem là có cái nhìn mới mẻ,


táo bạo, nhưng khi nhận định về Thúy Kiều cũng viết rằng nàng “là nột người
đa tình, nhưng không đắm đuối vì tình; lấy nghĩa mà chế tình là đúng luân lý
đạo đức”.
Tuy nhiên, dù thuộc vào hàng ngũ những người khen ngợi hay hàng
ngũ những người phều phán Truyện Kiều, thì tất cả họ đều đánh giá cao nghệ
thuật văn chương của Nguyễn Du. Nhưng văn chương được nhìn như có sự
tách tời của hình thức với nội dung. Ngô Đức Kế thừa nhận: “kể về văn
chương quốc âm của ông Nguyễn Du thì cũng hay thật”, nhưng lại nói thêm
“văn thì hay mà truyện lại truyện phong tình” tức là dở, đáng chê trách). Văn
lúc này được xem là kỹ thuật vẽ cảnh, tả người, dùng câu, đặt chữ sao cho
khéo, xinh xắn. Còn nội dung thì cần chân thực (đối lặp với bịa đặt, hoang

đường). Thực ở đây là cái thực kinh nghiệm – “những điều trông thấy” – chứ
không phải cái thực khách quan. Nhân vật, xã hội do nhà văn tạo ra với nhân
vật, xã hội của đời sống thực tế không phải lúc nào cũng được phân biệt rõ.
Giai đoạn từ 1930 đến Cách mạng tháng Tám
Nghiên cứu phê bình văn học lúc này đã hoàn toàn khác trước. Nó đã
thành một bộ môn riêng biệt, mang ý nghĩa hiện đại. Cũng như trong đời sống
văn học, trong đời sống nghiên cứu, phê bình xuất hiện những khuynh hướng
khác nhau. Điều này cũng thấy trong việc tìm hiểu Truyện Kiều. Có thể thấy rõ
ba khuynh hướng sau: khuynh hướng phê bình ấn tượng chủ quan với các
ông Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Lưu Trọng Lư…; khuynh hướng giáo khoa
qua những công trình của các ông Đào Duy Anh, Dương Quảng Hàm; và cuối
cùng là cách tiếp cận kiểu “khoa học” của ông Nguyễn Bách Khoa.
Những người phê bình theo lối ấn tượng chủ quan cho rằng không thể
phân tích, cắt nghĩa tác phẩm nghệ thuật vì làm vậy là tiêu diệt nó. Họ chủ
trương lĩnh hội tác phẩm nghệ thuật bằng trực giác, dựa vào ấn tượng chủ
quan của người đọc. Hoài Thanh viết: “Chất thơ bàng bạc trong Truyện Kiều
phải được cảm nhận một cách hồn nhiên. Cứ phân tích, giảng giải, nó sẽ tan
đi. Đến đây phải im hơi nhẹ bước mới hòng nhận thấy cái đẹp khi dịu dàng
thùy mị, khi tráng lệ huy hoàng”.


Theo họ, những người thường bị gọi là phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”
thì nhà phê bình không phải là người giải thích tác phẩm mà là người “kể lại
cuộc phiêu lưu của mình qua các tuyệt phẩm” (A. France). “Đọc Truyện Kiều
là theo những lời văn êm đềm, bóng bẩy để phiêu lưu trong giây lát, trong một
cuộc đời phiêu lưu của một cô gái giang hồ, bất hạnh” (Lê Tràng Kiều). Họ
phủ nhận việc tìm hiểu tư tưởng, triết lý của tác phẩm, mà đề cao cái tạo nên
ở người đọc những xúc cảm nghệ thuật mạnh. Tuy nhiên, tuyên bố thì như
vậy, nhưng trong thực tế khi phê bình Truyện Kiều, họ vẫn sử dụng thao tác
phân tích, lý giải tác phẩm, coi đó như một văn bản khách quan. Bài phê bình

Một phương diện của thiên tài Nguyễn Du: Từ Hải của Hoài Thanh là một
minh chứng cho điều đó. Một số luận điểm của những người tiêu biểu cho
phái “vị nghệ thuật” lúc này đã bị những nhà “vị nhân sinh” phê phán. Trong
cuộc đấu tranh giữa hai phái ”vị nghệ thuật” và “vị nhân sinh” những năm
1935-1939, Truyện Kiều nhiều lần được đưa ra làm ví dụ. Những nhà “vị nhân
sinh” cho rằng thước đo giá trị tác phần là “lý tưởng của nó” lợi hay hại cho sự
tiến hóa chung của nhân quần”; họ phê phán việc chỉ đề cao giá trị nghệ thuật
của tác phẩm. Tuy vậy lúc này do sự chi phối trực tiếp của cuộc đấu tranh
chính trị, lại xuất phát từ quan niệm duy vật khá thô sơ về nghệ thuật, nên
việc đánh giá Truyện Kiều họ cũng có nhiều thiếu sót.
Đào Duy Anh trong công trình Khảo luận về kim Văn Kiều khi bàn về
văn chương Truyện Kiều có một số ý kiến gần gũi với những nhà “vị nghệ
thuật” nói trên, song thực chất thì khuynh hướng của ông khác hẳn. Vệc công
trình của ông dành cả một chương bàn về tư tưởng Nguyễn Du trong Truyện
Kiều là một bằng chứng. Theo Đào Duy Anh thì tư tưởng Nguyễn Du ở đây là
“tài mệnh tương đố” và nó “làm nòng cốt cho toàn truyện”. Một triết lý lại làm
nòng cốt cho toàn truyện thì đó là điều mà các nhà “vị nghệ thuật” không bao
giờ chấp nhận được. Đào Duy Anh sử dụng rất nhiều dữ liệu về tác giả (dòng
họ, gia đình, hành trạng…), thời thế, nguồn gốc tác phẩm, nhằm soi sáng
Truyện Kiều từ nhiều phía. Có người cho rằng ông ảnh hưởng cách nghiên
cứu của Gustave Lanson. Mở đầu cuốn sách, Đào Duy Anh nói rõ ông viết
cồng trình này nhằm đối tượng là “những học sinh đang muốn tìm hứng thú


nghiên cứu quốc văn. Do vậy ta có thể gọi đây là khuynh hướng giáo khoa
(hay khuynh hướng nhà trường). Cách xem xét này về sau cũng thấy được
vận dụng trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm.
Một khuynh hướng bị phê phán nhiều nhất lúc này là của Nguyễn Bách
Khoa với hai cuốn sách: Nguyễn Du và “Truyện Kiều” (1941) và Văn chuơng
“Truyện. Kiều” (1942). Nguyễn Bách Khoa xác lập một phương pháp riêng gọi

là “khoa học” để nghiên cứu văn học và thực tế ông đã vận dụng nó để xem
xét Truyện Kiều trong hai công trình kể trên. Ông chủ trương “gác bỏ hết tình
cảm riêng, thành kiến và dư luận…” tức các yếu tố chủ quan của người đánh
giá. Theo ông “bất cứ vấn đề gì cũng là một vấn đề toán pháp” nên đều có thể
nghiên cứu theo cách của khoa học chính xác. Dễ hiểu vì sao có sự tranh cãi
gay gắt giữa Nguyễn Bách Khoa với Hoài Thanh và những người cùng hướng
với ông trong việc nghiên cứu Truyện Kiều. Theo Nguyễn Bách Khoa “thì
Truyện Kiều là sản phẩm do Nguyễn Du tạo ra, Nguyễn Du lại là sản phẩm
của thời đại ông. Thời đại Nguyễn Du là thời đại suy tàn thì con người
Nguyễn Du là chiến bại.Truyện Kiều do vậy là chiến bại, sầu oán. Chiến bại,
sầu oán làm nên chất thơ, vẻ đẹp của Truyện Kiều… Đúng là một lôgic thép,
chỉ có điều nó không đúng với thực tế sáng tạo văn học. Nguyễn Bách Khoa
cũng vận dụng nhiều luận thuyết khoa học: tâm lý học, di truyền học… để giải
thích Truyện Kiều. Các quận giải nhiều khi máy móc, cực đoan và đã bị phê
phán một cách chính đáng.
Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám tới đầu những năm 80
Nổi bật ở giai đoạn này là việc nghiên cứu Truyện Kiều trong quan hệ
với hiện thực đời sống xã hội theo quan điểm mỹ học mácxít. Tác phẩm văn
học được nhìn nhận như là sự phản ánh đời sống xã hội và bộc lộ thái độ của
nhà văn đối với hiện thực đó. Hai công trình theo hướng này xuất hiện sớm
và đáng chú ý hơn cả là cuốn Quyền sống của con người trong “Truyện Kiều”
của Hoài Thanh (1949) và bài báo Đặc sắc của văn học cổ điển Vệt Nam qua
nội dung “Truyện Kiều” của Đặng Thai Mai (1955). Vấn đề tinh thần nhân đạo


và tính hiện thực của Truyện Kiều được hai tác giả chú ý đặc biệt và coi là giá
trị cơ bản của tác phẩm.
Cuốn Quyền sống của con người trong “Truyện Kiều”, theo tác giả thì
nó được viết trên tinh thần của “chủ nghĩa nhân văn mới”. Tác giả Hoài Thanh
cho rằng khi Nguyễn du dựng lên một cuộc đời, một con người trong tác

phẩm, thì đó là cách ông phát biểu ý kiến của mình trước những vấn đề thời
đại. Nói về Thúy Kiều, “Nguyễn Du đã nói dùm nỗi niềm cho tất cả những
người bị ngạt thở trong cái khuôn phong kiến”. Còn nói đến Từ Hải là nói đến
cái mơ ước được sống phóng túng, “sống mạnh mẽ, sống say mê ở ngoài
khuôn khổ bấy giờ”. Giá trị nhân văn của Truyện kiều theo Hoài Thanh chính
là ở đó. Ông Đặng Thai Mai cũng đặt vấn đề: tinh thần nhân đạo của Nguyễn
Du là thế nào? Theo ông, đó trước hết là tình yêu đối với con người, con
người bị đày đọa. Từ đây ông đưa ra khái niệm nhân dân tính của tác phẩm.
Nghiên cứu tính hiện thực của văn học, Hoài Thanh cho rằng cần phải
thấy: xã hội phong kiến trong Truyện Kiều qua con mắt của Nguyễn Du. Ông
đã dành hẳn một chương của công trình cho việc phân tích xã hội phong kiến
trong Truyện Kiều và đi đến kết luận: “Đó là xã hội mục nát đến tận xương”.
Còn Đặng Thai Mai thì nói nhiều đến “tinh thần tả thực”, “bút pháp tả thực”
của Nguyễn Du. Trong bài viết của mình, ông đặt vấn đề tìm hiểu xem Truyện
kiều có phản ánh ít nhiều gì xã hội Việt Nam ở đầu thế kỷ trước hay không?
Theo Đặng Thai Mai, mặc dù là một câu chuyện của nước ngoài, nhân vật
hoàn cảnh đều ở Trung Quốc, nhưng ”từ Truyện Kiều, ta có thể nhận lấy
những tia hồi quang soi rọi cho mọi người nhìn thấy những mối mâu thuẫn
của xã hội phong kiến trên con đường phân hóa”. Ông cho rằng đó là cách
nhìn của phản ánh luận. Nội dung xã hội của tác phẩm, chủ nghĩa nhân đạo,
nhân dân tính, tinh thần hiện thực, những thuật ngữ thể hiện tiêu chí đánh giá
Truyện Kiều mà Hoài Thanh và Đặng Thai Mai vận dụng trong hai công trình
kể trên sẽ còn tiếp tục vang lên từ những cuốn sách và bài viết về Truyện
Kiều trong suốt cả giai đoạn này.


Từ sau hòa bình 1954 đến cuối những năm 50, xuất hiện cách nhìn
dung tục trong việc xem xét quan hệ giữa Truyện Kiều và hiện thực xã hội
thời đại Nguyễn Du qua những công trình của Trần Đức Thảo, Trương Tửu,
Minh Tranh. Truyện Kiều được họ xem như “tri thức lịch sử chính xác về xã

hội và con người Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX” (Trương Tửu). Từ
đấy dẫn tới việc phân tích nội dung xã hội Truyện Kiều một cách thô thiển,
chằng hạn các tác giả trên tìm cách xác định thành phần giai cấp, “liên minh
giai cấp” của các nhân vật trong truyện: Thuý kiều thuộc tiểu phong kiến lớp
dưới, yêu Kim Trọng vốn thuộc tầng lớp thống trị là thể hiện xu hướng tiểu
phong kiến vươn lên thành phần phong kiến thống trị. Kiều lấy Thúc Sinh là
tiểu phong kiến tìm lối thoát trong thành phần phú thương... Kết quả những
công trình nghiêng cứu thuộc loại đó là đã làm giảm uy tín cuả nghiêng cứu
phê bình văn học theo tinh thần phản ánh luận. Tuy nhiên, thật may mắn là
ảnh hưởng của chúng không lớn và đã bị phê phán kịp thời. Những năm 60,
70 việc nghiên cứu Truyện Kiều có những bước tiến mới. Dịp kỷ niệm 200
năm năm sinh Nguyễn Du (1965) xuất hiện nhiều công trình, bài viết về
Truyện Kiều của các nhà nghiêng cứu phê bình và nhà văn (Cuốn Thi hào
dân tộc Nguyễn Du của nhà thơ Xuân Diệu cũng ra đời trong dịp này. Trong
đó, phần viết về Truyện Kiều có nhiều khám phá có giá trị về nghệ thuật thơ,
về “tài thơ” của Nguyễn Du). Dường như để khắc phục cách hiểu máy móc ra
giai đoạn trước về quan hệ giữa nội dung tác phẩm và hiện thực xã hội, giờ
đây những vấn đề chủ quan của người sáng tác đã được chú ý nhiều: tư
tưởng xã hội, tư tưởng nghệ thuật của Nguyễn Du, triết lý trong Truyện
Kiều… Tuy nhiên điểm nổi bật nhất lúc này là vấn đề tìm hiểu phương pháp
sáng tác của Nguyễn Du trong Truyện Kiều. Đáng chú ý hơn cả là cuốn
chuyên khảo Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du của Lê Đình
kỵ (1970), trong đó, những trang viết về dân vật của Truyện Kiều rất đặc sắc
với nhiều kiến giải thú vị. Phần viết về lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Du qua
vật Thúy Kiều có những khám phá mới. Tuy nhiên việc nhà nghiên cứu tìm
hiểu phương pháp sáng tác của Nguyễn Du ở Truyện Kiều trong tương quan
với phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực khiến nhiều người không


đồng tình, nhất là khi ông thực sự lấy các nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực

làm tiêu chuẩn để đo sáng tác của Nguyễn Du (nội dung xã hội, nội dung
phản ánh, tính cách và hoàn cảnh điển hình, những chi tiết hiện thực chủ
nghĩa, ngôn ngữ đa dạng phong phú ăn khớp với sự thật đời sống…). Điều gì
chưa ăn khớp với các tiêu chuẩn đó, được ông gạt vào khu vực “những ràng
buộc của mỹ học đương thời”. Khách quan thì người ta thấy, ông đã khẳng
định có một thứ chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều, hay ít ra cũng là “một
cố gắng vươn tới chủ nghĩa hiện thực”. Dù người ta có đồng tình với tác giả
hay không ở điểm này, thì việc đặt vấn đề nghiên cứu phương pháp sáng tác
Truyện Kiều đã là một bước tiến quan trọng về phía trước. Các công trình tiếp
theo sau của Nguyễn Lộc, Đặng Thanh Lê tránh sử dụng những tiêu chí có sẵ
về phương pháp sáng tác vốn thường được đúc kết từ các nền văn học
phương Tây để tìm hiểu Truyện Kiều mà chủ yếu căn cứ vào thực tế phát
triển văn hóa, văn học truyền thống Việt Nam. Tuy nhiên, ám ảnh về một chủ
nghĩa hiện thực không phải là không còn. Đối với chúng ta hiện nay, vấn đề
này chỉ được giải quyết triệt để nếu trả lời được hai câu hỏi sau đây: Một là,
phải chăng có một con đường tiến hoá chung cho các nền văn học ở cả
phương Đông lẫn phương Tây, và như vậy tiến đến chủ nghĩa hiện thực là
một tất yếu? Hai là, ở thời đại Nguyễn Du phải chăng đã có những tiền đề
kinh tế xã hội và văn hóa để làn nảy sinh phương pháp hiện thực chủ nghĩa?
Các ý kiến vẫn còn khác biệt nhau, vấn đề còn để ngỏ. Tuy nhiên trên thực tế
nghiên cứu thì từ cuối những năm 70, việc quan tâm đến nội dung xã hội
trong tác phẩm, quan hệ giữa tác phẩm và hiện thực đời sống đã dịu bớt đi,
những cách tiếp cận mới đối với Truyện Kiều đã bắt đầu xuất hiện.
Ở miền Nam thời kỳ 1954–1975 cũng có không ít người để tâm phê
bình, nghiên cứu Truyện Kiều. Dịp kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du trên
các tập san Văn (số 43, 44) và Bách khoa thời đại (số 209) nhiều bài phê bình
Truyện Kiều được công bố. Trước đó, năm 1960 có cuốn Chân dung Nguyễn
Du tập hợp một loạt bài viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều của nhiều tác giả:
Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan, Trần Thanh Hiệp, Doãn Quốc Sĩ… Trước
sau năm 1970 cũng thấy một số công trình khá công phu của Phạm Thế Ngũ,



Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục… Dưới ảnh hưởng của phê bình văn học
phương Tây hiện đại, trong việc phê bình nghiên cứu Truyện Kiều cũng đã
xuất hiện một số khuynh hướng như–: khuynh hướng hiện sinh với Nguyên
Sa, Đặng Tiến và ít nhiều cả Thanh Lãng; khuynh hướng cấu trúc luận với Bùi
Hữu Sủng, Trần Ngọc Ninh… Tuy nhiên các tìm tòi nói chung còn lẽ tẻ, chưa
tác giả nào triển khai một cách hệ thống và kết quả cũng không khám phá
được nhiều. Có một cuốn sách khiêm tốn về số trang với những bài tiểu luận
ngắn gọn, nhưng lại gây được hứng thú ở đông đảo người đọc, đó là cuốn
Đọc lại Nguyễn Du của Vũ Hạnh (5–1966) trong đó có nhiều nhận xét sâu
sắc, tinh tế về tư tưởng và nghệ thuật Truyện Kiều.
Giai đoạn từ đầu những năm 80 đến nay
Truyện Kiều được tiếp cận bởi nhiều phương pháp mới: phong cách
học, thi phúp học, ký hiệu học… Đã xuất hiện một số công trình đáng chú ý
của Phan Ngọc, Trần Đình Sử, Đỗ Đức Hiểu và một vài tác giả khác. Điểm
chung của các phương pháp nghiên cứu này là ở chỗ: thứ nhất, tác phẩm
được nhìn nhận là một văn bản nghệ thuật, trong đó thế giới nghệ thuật do
nhà văn tạo ra không có liên hệ trực tiếp với thế giới hiện thực được nó thể
hiện, hay nói cách khác không thể đồng nhất hai thế giới đó; thứ hai, văn bản
nghệ thuật này là một hệ thống nghệ thuật mà nói đến nội dung là nói cả cách
hình thức hóa nội dung và nói đến hình thức là nói luôn cả việc hình thức này
có tác dụng gì trong việc thể hiện nội dung” (Phan Ngọc), nghĩa là không tách
Truyện Kiều thành hai phần nội dung và hình thức để nghiên cứu. Thực ra sự
ý thức như vậy cũng đã có từ giai đoạn trước và cũng đã được áp dụng vào
phân tích tác phẩm, tuy nhiên lúc này nó được quan niệm triệt để và tiến hành
nhất quán hơn.
Năm 1985 xuất hiện công trình được giới ngữ văn học chú ý: Tìm hiểu
phong cách Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” của Phan Ngọc. Tư tưởng chủ
đạo làm xuất phát điểm cho nhà nghiên cứu là nhằm xác định những cống

hiến nghệ thuật của riêng Nguyễn Du - cái mà ông gọi là phong cách Nguyễn
Du. Những cống hiến đó, theo ông là một giá trị khách quan, “có thể tính toán


được”. Để “định lượng” những cống hiến của Nguyễn Du, ông đã dùng cách
thức gọi là “thao tác luận”. Đi vào phân tích Truyện Kiều, đầu tiên ông căn cứ
vào tần số lặp lại để chỉ ra những “nét trội” trong tác phẩm; tiếp theo, ông đặt
chúng trên hai trục lịch sử và thời đại để xem xét, đối chiếu nhằm làm sáng tỏ
đóng góp riêng của Nguyễn Du. Nhiều điều mới mẻ đã được ông nêu lên
phương pháp tự sự kịch trong Truyện Kiều; Truyện Kiều, tiểu thuyết phân tích
tâm lý hiện đại – phân tích tâm lý tàn nhẫn… Tuy nhiên xung quanh những kết
luận của ông cũng có nhiều ý kiến khác nhau.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong các bài viết về Truyện Kiều được
tập hợp dưới tiêu đề “Mấy khía cạnh thi pháp Truyện Kiều” đã soi tác phẩm
qua một loạt những phạm trù của thi pháp học hiện đại: cái nhìn nghệ thuật,
không gian, thời gian nghệ thuật… Ông xuất phát từ chỗ xác định trong
Truyện Kiều, Nguyễn Du đã sáng tạo ra một chủ đề tư tưởng mới so với Kim
Vân Kiều truyện; từ đó dẫn tới sáng tạo ra loại cốt truyện và người kể chuyện
mới. Những phân tích của nhà thi pháp học đối với cái nhìn nghệ thuật về con
người, thời gian nghệ thuật của Truyện Kiều cũng có nhiều điểm mới mẻ và
thú vị.
Nhìn chung các tác giả đều cố gắng khách quan hóa việc phân tích tác
phẩm, muốn làm cho những kết luận của mình là hiển nhiên, “không còn tranh
cãi”. Tuy vậy, mọi việc không đơn giản, các ý kiến vẫn cứ rất xa nhau. Chẳng
hạn Phan Ngọc cho rằng, Nguyễn Du đã cải tạo tư tưởng tình – khổ ở Kim
Vân Kiều truyện thành tư tưởng tài – mệnh (“tài mệnh tương đố”) trong
Truyện kiều, song Trần Đình Sử lại cho rằng “thân mệnh tương đố” mới là tư
tưởng cơ bản của Truyện Kiều, còn ở Kim Vân Kiều truyện là “tài mệnh tương
đố”… Điều đó có nghĩa là những cuộc tranh luận sẽ vẫn tiếp diễn và như vậy
nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều sẽ tiếp tục tiến triển.

Sáng tác của Nguyễn Du không thật đồ sộ về khối lượng, nhưng có vị
trí đặc biệt quan trọng trong di sản Văn học và văn hóa dân tộc. Hơn nữa, nó
lại rất năng sản. Từ Truyện Kiều đã nảy sinh biết bao những hình thức sáng
tạo văn học và văn hóa khác nhau: thơ ca về Kiều, các phóng tác Truyện Kiều


bằng văn học, sân khấu, điện ảnh; rồi rất nhiều những dạng thức của nghệ
thuật dân gian: đố Kiều, giảng Kiều, tẩy Kiều, bói Kiều… Đặc biệt là số lượng
rất lớn những bài bình luận, những công trình phê bình, nghiên cứu Truyện
Kiều. Để thấy rõ vị trí và ý nghĩa di sản của Nguyễn Du, tốt nhất là chúng ta
hình dung giả định những sáng tác của ông không được viết ra, và vì thế
cũng không có những sáng tạo văn hóa văn học lấy cảm hứng từ đó. Ta sẽ
thấy ngay một khoảng trống vắng lớn trong đời sống lịch sử văn học và văn
hóa dân tộc. Trong tập sách này chúng tôi tuyển chọn những công trình
nghiên cứu ngữ văn, các bài phê bình, bình luận văn học tiêu biểu viết về các
sáng tác của Nguyễn Du. Ngoài ra, chúng tôi cũng đưa vào một số bài thơ
viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều đã khá phổ biến. Cuốn sách mặc dù đã có
số trang khá lớn, nhưng đó cũng chỉ mới là một phần những gì mà người ta
đã nói và viết về Nguyễn Du và di sản của ông.
TRỊNH BÁ ĐĨNH

NIÊN BIỂU NGUYỄN DU
Ngày

– Nguyễn Du, tự Tố Như, hộ Thanh Hiên, sinh ở phường Bích

23-11

câu, Thăng Long (nay thuộc Hà Nội), là con thứ bảy trong gia


Ất Dậu
(3-1-1766)

đình.
– Cha: Nguyễn Nghiễm (1708 - 1775), tự Hy Di, hiệu Nghi Hiên,
biệt hiệu Hồng Ngư cư sĩ; là quan chức, sử gia, nhà thơ Quê tổ ở
làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay thuộc
tỉnh Hà Tây); quê sinh ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (nay
thuộc tỉnh Hà Tĩnh).
– Mẹ: Trần Thị Tần (24-8-1740 – 27–8–1778). Con gái một người
làm chức câu kê. Quê làng Hoa Thiều, xã Minh Đạo, huyện Tiên
du (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh). Bà là vợ thứ ba của Nguyễn
Nghiễm, kém chồng 32 tuổi, sinh được 5 con (4 trai, 1 gái)


Đinh Hợi
(1767)
Tân Mão
(1771)

– Nguyễn Nghiễm được thăng Thái tử Thái bảo, hàm tòng Nhất
phẩm, tước Xuân Quận công.
– Nguyễn Nghiễm trí sĩ, được thăng Đại tư đồ. Sau được vời giữ
chức quan Tham tụng, rồi đổi làm Thượng thư bộ Hộ.
– Nguyễn Huệ (1752-1792), Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ khởi binh
ở ấp Tây Sơn (nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định).

Giáp Ngọ
(1774)


– Nguyễn Nghiễm sung chức Tả tướng, cùng Hoàng Ngũ Phúc
đánh chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
– Đoàn Nguyễn Thục (1718 – 1775) giữ chức Đốc trấn Nghệ An.

Ất Mùi
(1775)
Bính Thân
(1776)
Mậu Tuất
(1778)

– Anh trai cùng mẹ là Nguyễn Trụ (sinh 1757) qua đời.
– Đoàn Nguyễn Thục qua đời.
– Nguyễn Nghiễm qua đời tại quê nhà. Được truy tặng tước Huân
dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc thần.
– Bà Trần Thị Tần, mẹ Nguyễn Du qua đời.
– Anh thứ hai của Nguyễn Du là Nguyễn Điều (sinh năm 1745)
được thăng Trấn thủ Hưng Hóa.

Canh Tý

– Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản (1734 - 1786) đang làm

(1780)

Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn “vụ án Canh Tý”, bị bãi
chức, giam ở nhà Châu Quận công.
– Nguyễn Du được Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 -?) đón về quê ở
Sơn Nam Hạ tiếp tục học tập.


Nhâm Dần
(1782)

– Trịnh Sâm mất, kiều binh phế Trịnh Cán, lập Trịnh Tông lên ngôi
chúa.
– Nguyễn Khản được làm Thượng thư bộ Lại, tước Toản Quận
công.
– Nguyễn Điều làm Trấn thủ Sơn Tây.

Quý Mão

– Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, đậu Tam trường (Tú

(1783)

tài). Lấy vợ là con gái Đoàn Nguyễn Thục. Tập ấm chức Chánh
thủ hiệu hiệu quân Hùng hậu của cha nuôi họ Hà ở Thái Nguyên.


– Anh cùng mẹ là Nguyễn Đề (1761 – 1805) đỗ đầu kỳ thi Hương
ở điện Phụng Thiên (Cử nhân).
– Nguyễn Khản thăng chức Thiếu bảo, cuối năm thăng Tham
tụng.
Giáp Thìn
(1784)

– Tháng hai, kiêu binh nổi dậy đưa Hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên làm
Thái tử.
– Tư dinh Nguyễn Khản ở phường Bích Câu bị phá, phải trốn lên
ở với người em là Nguyễn Điều (1745 –?) đang làm Trấn thủ Sơn

Tây.
– Nguyễn Huệ đánh tan 2 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm – Xoài
Mút.

Bính Ngọ
(1786)

– Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh. Trịnh Tông bị bắt và tự tử, kết
thúc 216 năm “vua Lê chúa Trịnh” (1570– 1786).
– Nguyễn Khản bị bệnh mất ở Thăng Long.
– Vua Lê Hiển Tông mất. Lê Chiêu Thống nối ngôi.

Đinh Mùi
(1787)
Mậu Thân
(1788)

– Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Nguyễn Hữu
Chỉnh.
– Nguyễn Huệ đem quân Bắc diệt vũ Văn Nhậm.
– Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh.
– Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở thành Phú Xuân (Huế), đổi
niên hiệu là Quang Trung.

Kỷ Dậu
(1789)

– Nguyễn Huệ đại phá quận Thanh.
– Đoàn Nguyễn Tuấn hợp tác với Tây Sơn, giữ chức Thị lang bộ
Lại.

– Nguyễn Du về quê vợ ở Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam (nay thuộc
tỉnh Thái Bình).

Tân Hợi

– Tháng mười, anh thứ tư cùng cha khác mẹ là Nguyễn Quýnh

(1791)

chống Tây Sơn bị bất giết. Dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền bị


Phá.
Nhâm Tý

– Nguyễn Huệ qua đời.

(1792)
Quý Sửu
(1793)

– Nguyễn Du về thăm quê Tiên Điền.
– Cuối năm vào kinh đô Phú Xuân thăm anh là Nguyễn Đề đang
làm Thái sử ở viện Cơ mật và anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn.

Giáp Dần

– Nguyễn Đề được thăng Tả phụng nghi bộ Binh và vào Quy

(1794)


Nhơn giữ chức Hiệp tán nhung vụ.

Ất Mão

– Nguyễn Đề đi sứ sang Yên Kinh dự lễ nhường ngôi của vua

(1795)

Càn Long nhà Thanh.
– Xướng họa thơ cùng các sứ thần Triều Tiên.

Bính Thìn
(1796)

– Nguyễn Đề đi sứ nhà Thanh trở về được thăng chức Tả đồng
nghị Trung thư sảnh.
– Mùa đông, Nguyễn Du có ý trốn vào Gia Định theo Nguyễn Ánh
nhưng bị Quận công Nguyễn Thận bắt giam ba tháng ở Nghệ An.
Sau khi được tha, Nguyễn Du về sống ở Tiên Điền.
– Nguyễn Du có thơ My trung mạn hứng (Cảm hứng trong tù).

Nhâm Tuất
(1802)

– Mùa thu, Gia Long diệt nhà Tây Sơn.
– Nguyễn du ra làm Tri huyện Phù Dung, phủ Khoái Châu, trấn
Sơn Nam (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Mấy tháng sau thăng Tri
phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc tỉnh Hà Tây).


Quý Hợi

– Được cử lên ải Nam Quan tiếp sứ Thanh sang phong sắc vua

(1803)

cho Gia Long.

Ất Sửu

– Thăng Đông các đại học sĩ (hàm Ngũ phẩm), tước Du Đức hầu.

(1805)
Đinh Mão

– Vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân.
– Được cử làm giám khảo kỳ thi Hương ở Hải dương.

(1807)
Mậu Thìn

– Mùa thu, xin về quê nghỉ.

(1808)
Kỷ Tỵ

– Được bổ chức Cai bạ (hàm Tứ phẩm) ở Quảng Bình.



×