BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TÀI NGUYÊN THỦY HẢI SẢN Ở VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2010 - 2014
Môn: Kinh tế Tài nguyên Môi trường.
Giảng viên: Trần Thị Thu Trang.
Lớp: CD11QM2
Nhóm: 3.
Hà Nội, 20 – 11- 2014
Đề tài: Phân tích trự trạng khai thác và sử dụng tài nguyên thủy hải sản ở Việt Nam
giai đoạn 2004-2014
Môn: Kinh tế Tài nguyên Môi trường.
Giảng viên: Trần Thị Thu Trang.
Lớp: CD11QM2
Nhóm: 3.
Thành viên nhóm 3:
1.1
Nguyễn Thị Nga.
1.2
Nguyễn Thị Hà.
1.3
Nguyễn Thị Thu Hiền.
1.4
Nguyễn Bích Ngọc.
1.5
Nguyễn Thị Hảo.
1.6
Mai Văn Nguyên.
1.7
Hoàng Thị Trang.
1.8
Nguyễn Văn Thịnh.
Hà Nội, 20 – 11 – 2014.
Tài liệu tham khảo.
1. Quy hoạch tổng thể ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 2001-2010 viện kinh tế và quy
hoạch thủy sản - Bộ thủy sản
2. Bộ thủy sản 1996, "nguồn lợi thủy sản Việt nam" NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
3. Trung Tâm thông tin nông nghiệp và phát triển nông thôn - Agroinfo (2010), "báo cáo
thường
niên
thủy
sản
2010
và
triển
vọng
2011"
4. Vũ Đình Thắng, Nguyễn Viết Trung (2005), "Giáo trình kinh tế thủy sản", NXB KHKT
5. Nguyễn Thị Đào (2005), " Hiện trạng phát triển thủy sản An Giang" luân văn thạc sĩ
Địa
lý
học.
6. Pgs. Ts Nguyễn Thanh Phương, Pgs Ts Trần Ngọc Hải, Pgs. Ts Dương Nhựt Long
(2009), "Giáo trình nuôi trồng thủy sản", Khoa thủy sản Đại học Cần thơ.
7. Ts Phạm Văn Hà (2010), "Tổng quan kinh tế Việt Nam 2009 - Bài nghiên cứu NC 16", Trung tâm kinh tế và chính sách trường Đại học kinh tế quốc dân.
Danh mục bảng
Bảng 1: Một số đặc trưng của các nhóm thủy, hải sản ở việt nam giai đoạn 2010 - 2014
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2010 – 2014.
Bảng 3: Sản lượng Xuất khẩu thủy sản năm 2010
Bảng 4: Sản lượng Xuất khẩu thủy sản năm 2011
Bảng 5: Biểu đố thị trường chính 11tháng đầu năm 2011
Bảng 6: Sản lượng Xuất khẩu thủy sản năm 2012
Bảng 7: Sản lượng Xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2014
MỤC LỤC
Mở đầu.....................................................................................................................4
I. Giới thiệu chung.................................................................................................4
II. Thực trạng khai thác và sử dụng....................................................................6
1
Thực trạng khai thác.....................................................................................6
1.1.
Nguồn lợi và năng lực khai thác.............................................................6
1.2.
Năng lực tàu thuyền................................................................................7
1.3.
Sản lượng khai thác.................................................................................7
2
Thực trạng sử dụng.....................................................................................11
2.1.
Tiêu thụ nội địa......................................................................................11
2.2.
Xuất khẩu thủy sản................................................................................11
III. Giải pháp, kiến nghị.....................................................................................17
1. Giải pháp.....................................................................................................17
2. Kiến nghị.....................................................................................................19
IV. Kết luận...........................................................................................................20
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 4
Mở đầu
Dẫu ra đời từ rất sớm, nghề cá Việt Nam cho đến những năm giữa thế kỷ trước vẫn
mang đậm dấu ấn của một loại hình hoạt động kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, trình độ sản
xuất còn lạc hậu, thủ công. Hoạt động nghề cá chỉ được xem như một nghề phụ trong sản
xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên trong những năm trở lại đây, do nhu cầu mặt hàng thủy sản trên thế giới
tăng cao, thị trường được mở rộng thì Ngành khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam
đã có những bước phát triển nhanh và ổn định, hàng hóa xuất khẩu đóng vai trò quan
trọng trong việc tăng thu nhập ngoại tệ mạnh cho đất nước, góp phần quan trọng vào sự
tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng của thủy sản trong khối nông, lâm và ngư
nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân tăng dần qua các năm. Ngành thủy sản đã trở thành
ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tham gia
xoá đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân không chỉ vùng nông thôn
ven biển, mà cả ở các vùng núi, trung du và Tây nguyên. Sự hiện diện dân sự của tàu
thuyền khai thác hải sản trên biển đã đóng góp vào việc giữ gìn an ninh, bảo vệ chủ quyền
vùng biển, đảo của Tổ quốc. Thông qua việc nghiên cứu tài liệu và số liệu thống kê về
hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy hải sản của Ngành, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về
thủy sản-những cơ hội và thách thức, thấy được những thành tựu mà Ngành đã đạt được
trong những năm trở lại đây, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát triển và nâng cao
vai trò của ngành thủy sản Việt Nam.
I. Giới thiệu chung
Việt Nam là đất nước nằm trong bán đảo Trung ấn , đựơc thiên nhiên phú cho nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển nghành thuỷ sản. Với bờ biển dài hơn 3200 km trải dài
suốt 13 vĩ độ Bắc Nam tạo nên sự khác nhau rõ rệt về các vùng khí hậu ,thời tiết ,chế độ
thuỷ văn....Biển Việt Nam có trữ lượng cá lớn và đặc sản biển phong phú : Hàng chục vạn
ha diện tích mặt nước trên đất liền ( bao gồm 39 vạn ha hồ lớn; 54 vạn ha vùng ngập
nước; 5,7 vạn ha ao và 44 vạn km sông và kênh rạch ) có thể nuôi tôm , cá và các thuỷ sản
khác. Do đó , ngành nuôi thuỷ sản của nước ta , kể cả thuỷ sản nước mặn , nước lợ , nước
ngọt có thể trở thành ngành sản xuất chính .
Vùng phát triển ngư nghiệp mạnh nhất ở Việt Nam là vùng ven biển từ Bình Thuận
trở vào, trong đó mạnh hơn cả là các tỉnh: Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang, Bến Tre, Trà
Vinh, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, với giá trị hàng năm trên 20 tỷ đồng .
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 5
Những vùng đánh cá biển mạnh nhất là Kiên Giang (trên 100 nghìn tấn / năm), sau
đó là Bà Rịa – Vũng Tàu và Bình Thuận (50 – 60 nghìn tấn/ năm).
Nghề nuôi trồng và đánh bắt cá nước ngọt mạnh nhất là Bạc Liêu, Sóc Trăng thành
phố Hồ Chí Minh ( từ 10 – 20 nghìn tấn / năm ). Riêng tôm thì tập trung cao nhất ở Cà
Mau với sản lượng hàng năm trên 25 nghìn tấn, chiếm 70 % sản lượng tôm cả nước .
Các vùng trọng điểm ngư nghiệp là Đà Nẵng, Nha Trang, Bình Thuận, Vũng Tàu ,
Kiên Giang, Cà Mau .
Vùng biển nước ta có nhiều loài cá và đặc sản quí với hàng nghìn loài cá biển, 3
trăm loài cua biển, 40 loài tôm he, gần 3 trăm loài trai ốc hến, 1 trăm loài tôm, trên 6 trăm
loài rong biển. Trong đó nhiều loại đặc sản có giá trị xuất khẩu cao, được ưa chuộng trên
thị trường quốc tế .
Bảng1: Một số loài đặc trưng của các nhóm thủy, hải sản ở việt nam giai đoạn 2010 - 2014
Nhóm cá
Nhóm giáp xác
nhóm nhuyễn nhóm rong
nhóm các loài
thể
khác
cá song mỡ, cá song
gầu,
cá
song
Bơlêkơri, cá song dẹt,
cá vượt, cá chem, cá
hồng đỏ, cá hồng ánh
bạc, cá giò, cá bớp
biển, cá bống bớp, cá
bớp, cá đối mục, các
đối, cá trap vàng, cá
cam, cá bò biển, cá
măng biển, cá rô phi,
cá rô phi vằn, cá rô
phi, cá đù đỏ mỹ, cá
hồng đỏ mỹ, cá chình
cẩm thạch, cá chình
bong, cá song chấm
đỏ, cá mú chấm đỏ,
cá song hoa nâu, cá
vược mõm nhọn, cá
tô sú, tôm cỏ,
tôm nương, tôm
râu dài, tôm lớt,
tôm he, tôm bạc,
tôm bạc thẻ, tôm
he mùa, tôm hải
quân, tôn he
nhật, tôm rảo,
tôm đất, tôm he
ấn độ, tôm càng
xanh, tôm chân
trắng, tôm bạc
thái bình dương,
tôm bạc tây
châu mỹ, tôm
hùm, tôm hùm
bong, tôm hùm
sao, tôm hùm
đá, tôm hùm
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
các loài đnag
được nuôi ở vn:
trai tắng, trai
ngọc mã thi,
trai ngọc môi
vàng.
Điệp
quạt, sò lông,
sò huyết, sò
trứng, sò tròn,
sò nodi, sò dài,
nghêu bến tre,
nghê lụa, nghao
dầu, ngao vạng,
hầu cửa sông,
vẹm cỏ xanh,
ốc hương, bào
ngư vành tai,
bào ngư chin
lỗ, cửu khổng,
các
loài
đang
đc
nuôi ở vn:
rong câu chỉ
vàng, rong
câu cước,
rong
câu
chỉ,
rong
câu
sợ
mảnh, rọng
sụn,
rong
hồng vân,
rong
cầu
thừng, rong
câu
bành
mai, rong
câu
chân
vịt,
rong
mơ…
rùa quản đồng,
đú, đồi mồi,
vích, đồi mồi
dứa,
tráng
bông, rùa da,
cầu gai den,
nhum đen, cầu
gai sọ dừa,
nhụm sọ, cầu
gai đá, nhum
đá, hải sâm mít,
đồn đột mít,
đồn đột dừa,
hải sâm mít
hoa, hải sâm
mít đen, đồn
đột đen, hải
sâm đen mềm,
hải sâm tắng,
Page 6
mú dẹt, cá múc chuột,
cá nhụ 4 râu, cá nhụ,
cá gộc, cá tráp đen, cá
dìa công, cá dìa
chấm, cá trình châu
âu, cá ngựa đen…
xanh, tôm hùm
đỏ, tôm hùm
gấm, tôm hùm
sỏi, tôm hùm
mốc, cua biển,
cua bùn, ghẹ
xanh, ghẹ hoa…
bào ngư bầu
dục, mực ống,
mực nang dạ
hổ, bàn mai
nứa, tu hài,
ngán, ngao tai
tượng…
đồn đột cát, dải
sâm vú, đồn đột
vú, hải sâm lưu,
sao biển, sam,
cua
móng
ngựa…
Tổng trữ lượng cá trong vùng biển Việt Nam khoảng 3 triệu tấn , trong đó gần 1,6
triệu tấn cá đáy và 1,4 triệu tấn cá nổi . Với trữ lượng cá trên , có thể đánh bắt từ 1,3 đến
1,4 triệu tấn / năm .
Tiềm năng của biển nước ta lớn , nhưng hiện nay sản lượng cá đánh bắt và các đặc
sản biển , sản lượng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản nước lợ , nước ngọt còn thấp
II. Thực trạng.
1. Thực trạng khai thác
Từ một nghề cá thủ công, quy mô nhỏ, hoạt động ở vùng gần bờ, khai thác hải sản
đã chuyển dịch theo hướng trở thành một nghề cá cơ giới, tăng cường khai thác ở vùng
biển xa bờ, hướng vào các đối tượng khai thác có giá trị cao và các đối tượng xuất khẩu.
Cùng với phát triển khai thác hải sản xa bờ là ổn định khai thác vùng ven bờ, khai thác đi
đôi với bảo vệ và phát tri
- Cá: Theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 100 loài
có ển nguồn lợi, môi trường sinh thái.
1.1. Nguồn lợi và năng lực khai thác
Việt nam có đường bờ biển dài, thủy hải sản phong phú, có giá trị khai thác và đánh
bắt với trữ lượng lớn. Thủy sản nước ta chủ yếu là cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong
biển. giá trị kinh tế cao. Trữ lượng khoảng 4,2 triệu tấn, sản lượng khai thác tối đa bền
vững là 1,7 triệu tấn /năm.
- Giáp xác: có 1640 loài, quan trọng nhất là các loài trong họ tôm he, tôm hùm, cua biển.
Khả năng khai thác 50000-60000 tấn/năm.
- nhuyễn thể: có trên 2500 loài, quan trọng nhất là mực sò, điệp, nghêu. Khả năng khai
thác mực 60000-70000 tấn/năm, nghêu là 100000 tấn/năm.
-Rong biển: có trên 650 loài, trong đó có 90 loài có giá trị kinh tế, rau câu, rong mơ có ý
nghĩa quan trọng. Trữ lượng rau câu, rong mơ khoảng 45000-50000 tấn/năm.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 7
1.2 Năng lực tàu thuyền
Trong những năm gần đây, số lượng tàu thuyền máy tăng nhanh, số thuyền thủ công
giảm dần, nhất là khi có Chủ trương phát triển khai thác xa bờ và ổn định khai thác vùng
ven bờ, thời điểm bắt đầu triển khai chương trình vay vốn tín dụng đầu tư đóng tàu đánh
bắt xa bờ. Tỷ trọng tàu thuyền công suất lớn trên 90 CV tăng mạnh từ hơn 19 nghìn chiếc
năm 2009 lên 27 nghìn chiếc năm 2013, mức tăng 42%. Tính đến ngày 10/12/2013 cả
nước có hơn 117 nghìn tàu cá, trong đó số tàu cá đã đăng ký là hơn 116 nghìn chiếc,
chiếm 99%, số tàu đăng kiểm chiếm 95% trong tổng số tàu.
- nghề khai thác ở nước ta rất đa dạng phong phú về quy mô cũng như tên gọi: theo thống
kê chưa đầy đủ có trên 20 loại nghề khai thác hải sản khác nhau được xếp vào 6 họ nghề
chủ yếu(theo số lượng tàu khai thác): nghề lưới kéo(34,2%), nghề lưới vây(21,1%), nghề
lưới rê(20,4%), nghề mành vó(17,3%), nghề câu(5%), nghề khác(2%)
Tỷ trọng sản phẩm khai thác xa bờ đã tăng nhanh, chiếm khoảng 40 % tổng sản lượng
khai thác hải sản.
1.3. Sản lượng khai thác
- Khai thác nội địa
+1,7 triệu ha thủy vực nội địa
+230 hồ tự nhiên và đầm phá với diện tích 34.600ha, năng suất hồ là 250kg/ha.năm
+25.000 hồ chưa nhân tạo với diện tích 400.000ha, năng suất hồ là 17kg/ha.năm ở các
tỉnh phía Bắc và 30-65kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam.
+2.360 con sông, trong đó có 100 con sông lớn, năng suất sông đạt 8-10kg/ha.năm ở các
tỉnh phía Bắc, 135-150kg/ha.năm ở các tỉnh phía Nam.
+có 544 loài cá nước ngọt trong đó 243 loài có ở các sông miền Bắc, 134 loài ở các sông
miền Trung, 255 loài ở các sông miền Nam, chỉ có 70 loài có giá trị kinh tế.
+có 186 loài cá nước mặn nợ trong đó có nhiều loài có giá trị như cá song, cá hồng, cá
vược, cá bống..
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 8
- Nguyên nhân dẫn đến việc khai thác không hiệu quả là: Có nhiều nguyên nhân hạn
chế khai thác tiềm năng của biển trong đó nguyên nhân quan trọng
+tình hình giá xăng dầu thế giới và trong nước có biến động liên tục tăng mạnh, ngư dân
là những người bị ảnh hưởng nặng nề, nhất là đối với tàu hoạt động khai thác xa bờ. Tình
hình này đã ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề khai thác thủy sản, không đảm bảo sản
lượng cho hoạt động chế biến, sinh kế và đời sống của cư dân ven biển gặp khó khăn
+ Đặc điểm nguồn lợi không thuận lợi cho việc đánh bắt xa bờ( cá ít kết đàn, tỉ lệ đàn cá
kích thước lơn thấp..,)
+ thiếu điều tra nguồn lợi và ngư trường.
+ Thiếu đào tạo nguồn nhân lực cho đánh bắt xa bờ.
+ Thiếu đầu tư hạ tầng cơ sở cho đánh bắt xa bờ.
+ chưa đầu tư đúng mức lao động , nhất là lao động kỹ thuật cho nghề đánh bắt nuôi trồng
thuỷ và hải sản.Đầu tư tràn lan, không đúng đối tượng.
+Việc lập, thẩm định và phê duyệt dự án thiếu căn cứ
+chỉ đạo đánh bắt xa bờ của tỉnh còn nhiều lúng túng.
Biện pháp khắc phục khai thác thủy sản không hiệu quả:
- Giá xăng dầu không ổn định
+ Nhà nước có chính sách để hỗ trợ vốn cho người dân vay, giảm các loại thuế phí liên
quan, có chính sách điều tiết giá xăng dầu.
+ Người dân chủ động trong việc sử dụng xăng dầu.
+ Để đánh bắt xa bờ có hiệu quả, trước tiên tàu ngư lưới cụ phải đầy đủ các điều kiện “
lưới thưa, dây nhỏ, máy mạnh”. Lưới thưa, dây nhỏ giảm lực cản, kéo lưới nhanh, ít tốn
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 9
nhiên liệu. Sử dụng máy tàu mới không những tiết kiệm nhiên liệu mà sản lượng khai
thác cũng cao hơn.
+ Tổ chức đội tàu dịch vụ mua ngay tôm cá trên biển. Theo cách tổ chức này, cứ 5-10
tàu cá liên kết lại thành 1 đoàn cùng đánh bắt chung ngư trường. Khi được nhiều cá thì
một trong số này sẽ luân phiên chở cá về cảng để bán, sau đó mua nhiên liệu, nước đá
hoặc vật dụng cần thiết chở ra biển cho các tàu còn lại. Đồng thời mua toàn bộ lại số cá,
mực mà các tàu đã đánh bắt được với giá gần tương đương với giá bán tại cảng. Với quy
trình khai thác này, lượng dầu tiêu hao một chuyến đi biển giảm từ 500-900 l/tàu
- Đặc điểm nguồn lợi không thuận lợi cho việc bắt cá xa bờ ( cá ít kết đàn, tỉ lệ đàn cá
kích thước lớn thấp..)
- Hỗ trợ nghiên cứu khoa học về đặc điểm loài cá.
+ Các chuyên gia cố vấn phải cố vấn người dân về các dòng thủy lưu, thủy vực, đường
đi và chu trình của đàn cá để xác định đúng luồng cá và hướng di chuyển của chúng để
đánh bắt một cách chính xác
+ Thiếu điều tra nguồn lợi và ngư trường.
+Lập các nơi nghiên cứu về nguồn lợi và ngư trường .
- Thiếu đào tạo nguồn nhân lực đánh bắt cá xa bờ:
+Đưa đánh bắt xa bờ vào các chương trình học của các trường để đào tạo nguồn nhân
lực đánh bắt xa bờ.
+Đưa cán bộ có chuyên ngành về địa phương giảng dạy cho ngư dân về đánh bắt xa bờ.
- Quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết các khu vực nuôi trên cơ sở đánh giá sức tải
của môi trường.
- Lập hồ sơ thiết kế chi tiết cho tất cả các vùng nuôi tâp trung.
- Quy hoạch mạng lưới chế biến và thương mại các sản phẩm thủy sản.
- Rà soát chỉnh sửa và xây dựng chính sách sử dụng đất, mặt nước nuôi trồng thủy sản.
- Xây dựng chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sỏ hạ tầng về thủy lợi, giao thong, đường điện…
cho các khu nuuoi trồng thủy sản thâm canh tập trung, các khu công nghiệp sản xuất
giống tập trung.
- Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ, đền bù để xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho
các khu nuôi trồng, sản xuất giống nhỏ lẻ hiện đang nằm ngoài khu quy hoạch bắt buộc
phải chuyển đổi mục đích sử dụng.
- Rà soát chỉnh sửa cơ chế chính sách huy động vốn dài hạn, ngắn hạn với lãi suất thích
hợp để đầu tư phát triển thủy sản.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 10
- Tăng cường cơ chế quản lý, hoàn chỉnh bộ máy tổ chức và tổ chức sản xuất nuuoi trồng
thủy sản:
+Lấy quy hoạch là công cụ chủ yếu để quản lý sự phát triển của nuuoi trồng thủy sản.
+Tăng cường đội ngũ thanh tra và kiểm soát viên và hệ thống quan trắc nuuoi trồng
thủy sản.
+ Tăng cường kiểm soát dịch bệnh và việc sử dụng các loại thuốc ngự y, đặc biệt là các
loại kháng sinh, các chất vi sinh… dùng trong nuôi trồng thủy sản. Xây dựng và thực
hành rộng rãi tiêu chuẩn nuôi sạch bệnh.
+ Thực hành triệt để việc áp dụng vùng nuôi tập trung thâm canh có điều kiện, các cam
kết chấp hành quy hoạch và quy dịnh về vệ sinh môi trường vùng nuuôi trồng.
+ Thục hiện và kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường các vùng, các dự
án phát triển nuôi trồng thủy sản, thực hiện nghiêm các quy định về khảo thử hạn và trung
hạn tùy theo đối tượng đào tạo. Ngoài ra, cần tổ chức thêm các khóa tập huấn ngắn ngày
cho người dân về kỹ thuật sản xuất giống, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và nguồn
lợi.
- Mở rộng hợp tác quốc tế:
+ Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực vè trao đổi gen, công nghệ nuôi và sản xuất
giống, những công nghệ sản xuất tiên tiến, nhập đối tượng nuôi mới, ứng dụng công nghệ
sinh học trong lai tạo giống mới, xử lý chất thải, cải tạo môi trường, phòng ngừa dịch
bệnh, nâng cao nguồn lực cho phát triển thủy sản.
+ khuyến khích lien doanh với doanh nghiệp nước ngoài để đầu tư, sản xuất giống, thức
ăn công nhiệp, đổi mới công nghệ nuôi, công nghệ chế biến thủy sản xuất khẩu.
+ Khuyến khích người nước ngoài đầu tư tại Việt Nam và người Việt đầu tư ở nước
ngoài.
+ Tranh thủ nguồn tài trợ nước ngoài và quốc tế để có thêm nguồn vốn đầu tư trực tiếp
hoặc gián tiếp cho nghành thủy sản.
- giải pháp về môi trường:
+ công tác quy hoạch: các địa phương cần quy hoạch vùng nuôi tôm thịt, tôm giống và
các động vật thủy hải sản khác, nhằm bảo vệ sinh thái và môi trường ven biển, chống ô
nhiễm môi trường và quản lý bệnh dễ dàng.
+ công tác quản lý: thực hiện quản lý các cấp và xây dựng quy chế cùng nhau quản lý
giữa người dân và Nhà nước nguồn tài nguyên và môi trường ngay tại địa phương.
+Bảo vê môi trường nước: tập trung quan tâm đến bảo vệ môi trường trong nuôi trồng
thủy sản nước ngọt, nước mặn ven biển, các trang trại vùng sản xuất nuôi trồng kinh tế
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 11
hộ, trên kênh rạch, sông ngòi…nhằm giải quyết vấn đề cấp và thoát nước trong nuôi trồng
thủy sản.
2.Thực trạng sử dụng:
2.1 Tiêu thụ nội địa.
Việt Nam là quốc gia được thiên nhiên ưu ái về ngư trường rộng lớn, Với nhiều loài
thủy hải sản, chính vì vậy sản lượng đánh bắt cũng như nuôi trồng của nước ta luôn đạt
mức tương đối cao, cụ thể năm 2010 sản lượng khai thác đạt 2.420.823 tấn, sản lượng
nuôi trồng đạt 2.706.752 tấn. Thế nhưng ở thị trường nội địa, 90 triệu dân với mức tiêu
thụ thủy sản lên đến 27kg/người/năm lại chiếm tỉ trọng khiêm tốn từ 10-15% sản lượng
toàn ngành. Sản phẩm thủy sản tiêu thụ nội địa chủ yếu là các mặt hàng dưới dạng sản
phẩm nước mắm, sản phẩm tươi sống chỉ chiếm khoảng 20% tổng sản lượng tiêu thụ nội
địa. Nhu cầu nhiều, sản lượng nhiều nhưng do nhiều nguyên nhân mà tiêu thụ nội địa lại
chiếm tỉ trọng thấp chỉ đạt 10-15% tổng sản lượng của ngành.
2.2. Xuất khẩu thủy sản.
Đến nay trung bình mỗi năm ngành thủy sản đóng góp khoảng 18% trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của đất nước và là một trong những ngành có kim ngạch xuất khẩu cao
nhất.Mặt hàng thủy sản của Việt Nam đã xuất hiện trên 160 quốc gia và vùng lãnh thổ
trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản, Mĩ, EU..Sản phẩm thủy sản xuất khẩu của
nước ta đang dần tạo được thương hiệu và được ưa chuộng trên thị trường thế giới, có thể
kể tới một số mặt hàng thủy sản chủ lực của nước ta như cá tra, cá basa, tôm sú, tôm chân
trắng…v.v
Theo dự báo của FAO triển vọng thương mại thủy sản thế giới đang tăng trưởng rất
nhanh với 38% sản lượng thủy sản được giao dịch quốc tế. Trong đó khu vực Bắc Mĩ –
(một trong số thị trường chính của ngành thủy sản nước ta) có thể sẽ tăng khối lượng nhập
siêu từ 1,7 triệu tấn hiện nay lên 2,4 triệu tấn vào 2015. Theo dự báo của FAO thì đây là
cơ hội và thị trường tiêm năng cho ngành thủy sản nếu có thể nắm bắt tốt.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 12
Bảng 2: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản giai đoạn 2010 – 2014.
Sảnlượng
(triệu tấn)
Trị giá
(tỷ USD)
Năm 2010
Năm 2011
Năm 2012
Năm 2013
5,1576
5,4329
5,8
5,9
Năm 2014
(Ướctính)
6,1
5,034
6,11
6,2
6,7
7
Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khâu thủy sản Việt Nam
Như vậy nhìn chung xuất khẩu thủy sản nước ta những năm gần đây luôn đạt mức tăng
trưởng khá từ 4,5-8% năm.
Xuất khẩu thủy sản năm 2010.
.Bảng 3: sản lượng xuất khẩu thủy sản năm 2010
Khốilượng
(tấn)
Giátrị
(triệu USD)
EU
364.015
1181.401
Mỹ
156.998
971.561
Nhật
135.136
896.890
Thịtrường
…
…
Nguồn: VASEP
Năm 2010, EU là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành thủy sản Việt Nam, với
khói lượng 364.015 tấn trị giá 181.401 triệu USD, theo sau là các thị trường Mỹ, Nhật.
Trong đó hai mặt hàng chủ lực của thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường này là
cá(cá tra, cá basa, cá ngừ..) và tôm(tôm sú, tôm chân trắng..), đây đều là những mặt hàng
thế mạnh của Việt Nam, được các thị trường trên ưa chuộng. Sản lượng xuất khẩu tôm đạt
240.985 tấn, trị giá 2.106.824 tỷ USD, trong đó tôm sú là loại tôm chủ lực của nước ta
chiếm 2/3 tổng sản lượng tôm. Sản lượng xuất khẩu cá tra và cá ngừ đạt 659.397 tấn trị
giá 1427,494 triệu USD và 83,863 tấn trị giá 293,119 triệu USD. Khác với tôm, cá tra là
sản phẩm được ưa chuộng nhất ở các nước Tây Âu, chiếm 35% tổng sản lương cá tra xuất
khẩu, còn cá ngừ lại xuất khẩu mạnh sang Mỹ với tỷ trọng 44,4% tổng sản lượng cá ngừ
xuất khẩu.
Xuất khẩu thủy sản năm 2011.
Năm 2011 là một năm thành công của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam với mức
tăng ấn tượng 22,3% cả về giá trị lẫn sản lượng so với năm 2010. Đặc biệt với mức tăng
ấn tượng của các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật, EU. Bên cạnh đó các thị trường
lớn khác như Hàn Quốc, Trung Quốc và Italia lần lượt đạt mức tăng trưởng là 32%, 49%
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
…
Page 13
và 41% về giá trị.Không chỉ tăng tưởng ở những thị trường truyền thống, ngành thủy sản
còn tiếp tục mở rộng xuất khẩu sang nhiều thị trường mới như chủ động xuất bán sang
Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) 2.000 tấn thủy sản.Thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4: sản lượng thủy sản xuất khẩu năm 2011(Nguồn: VASEP)
Thịtrường
Giátrị
(triệu USD)
So vớicùngkì 2010
(%)
EU
1219.410
+ 12.9%
Mỹ
1059.711
+ 20%
Nhật
896.844
+ 10.5%
Hànquốc
429.323
+ 29,2%
Bảng 5:Biểu đồ thị trường chính 11 tháng đầu năm 2011(Nguồn: VASEP)
Năm 2011, chỉ trong 11 tháng đầu năm, hai trong số ba sản phẩm xuất khẩu chủ lực
của thủy sản Việt Nam là tôm và cá tra đã về đích sớm. Tính đến ngày 15/11, giá trị xuất
khẩu tôm đạt 2,049 tỷ USD, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhật Bản vẫn được
xem là thị trường lớn nhất nhập khẩu tôm Việt Nam, đạt 505,180 triệu USD.Cùng với
tôm, tình hình xuất khẩu thế mạnh thứ hai của thủy sản Việt Nam là cá tra cũng khá tốt.
Tính đến giữa tháng 11/2011, kim ngạch xuất khẩu cá tra vẫn đạt 1,55 tỷ USD, tăng
27,8% so với cùng kỳ 2010, dự kiến cả năm sẽ đạt con số 1,6 tỷ USD. Châu Âu vẫn là thị
trường lớn nhất nhập khẩu cá tra Việt Nam, chiếm 30,2% tỷ trọng giá trị; đạt 468,7 triệu
USD (tăng 1,6% so với cùng kỳ). Tại thị trường Mỹ, kim ngạch xuất khẩu cá tra tính đến
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 14
15/11/2011 cũng đạt trên 274 triệu USD, tăng gần 100% so với cùng kỳ và sẽ tiếp tục tăng
trong những tháng cuối năm. Thị trường ASEAN cũng đạt hơn 96,886 triệu USD, tăng
44,8% so với cùng kỳ.Bên cạnh đó, tình hình xuất khẩu cá ngừ và nhuyễn thể hai mảnh
vỏ của Việt Nam cũng tương đối tốt.
Xuất khẩu thủy sản năm 2012.
Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng đâu thủy sản Việt Nam với giá trị đạt 1117,013
triệu USD tăng 5,4% với cùng kì năm 2011. Cụ thể về từng mặt hàng, xét về cơ cấu
sản phẩm, tuy giá trị xuất khẩu cá ngừ chỉ chiếm gần 9,4% trong tổng giá trị xuất khẩu
thủy sản Việt Nam nhưng đây là sản phẩm duy nhất có tăng trưởng cao trong tháng 11
và 11 tháng đầu năm trong số các sản phẩm thủy sản xuất khẩu chủ lực của Việt
Nam.Giá trị xuất khẩu cá ngừ trong tháng 11/2012 đạt 44,635 triệu USD, tăng 51,7%
so với cùng kỳ năm 2011, nâng giá trị xuất khẩu 11 tháng lên 526,540 triệu USD, tăng
53,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu cá ngừ lớn
nhất của Việt Nam với giá trị nhập khẩu 11 tháng đầu năm là 232,121 triệu USD (tăng
44,1%), đứng thứ hai là EU với 101,6 triệu USD (tăng 43,2%). Bên cạnh đó, do chịu
tác động bởi nhiều nguyên nhân dẫn tới là sự sụt giảm giá trị của các mặt hàng như
tôm, cá tra. Xuất khẩu tôm đạt 207,007 triệu USD, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm
2011. Xuất khẩu cá tra đạt 1,597 tỷ USD, giảm 2,4% so với cùng kỳ năm 2011
Xuất khẩu thủy sản năm 2013.
Bảng 6: sản lượng xuất khẩu thủy sản năm 2013(Nguồn: VASEP)
Thịtrường
Mỹ
EU
Nhật
…
Giátrị
(triệu USD)
1382.213
1074.458
1048.563
So vớicùngkì 2010
(%)
+ 23,8%
+ 2,88%
+ 3,4%
Mỹ là thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt nam, chiếm khoảng 22% thị phần
kim ngạch xuất khẩu năm 2013.Thống kê của bộ công thương cho thấy,tính đến tháng 12014 kim ngạch đạt 155,631 triệu USD, tăng 87,8% so với cùng kỳ năm 2013. Một số sản
phẩm thủy sản chủ yếu xuất khẩu sang bên Mỹ là :
- Cá tra: Cùng với EU, thị trường Mỹ là một trong 2 thị trường lớn nhất của cá tra, chiếm
khoảng 21-22% thị phần. Kim ngạch cá tra năm 2013 đạt 380,757% triệu USD tăng 6,1%
so với năm 2012. Tháng 1-2014,kim ngạch đạt 38,561 triệu USD, tăng 44,6% so với cùng
kỳ năm 2013.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 15
- Tôm: Thị trường Mỹ là thị trường lớn nhất chiếm khoảng 27% thị phần trong năm 2013.
Năm 2013 kim ngạch đạt 830,997 triệu USD tăng 82,5% so với năm 2012. Tháng 12014, kim ngạch đạt 86,889 triệu USD , tăng 163% so với cùng kỳ năm 2013.Xuất khẩu
tôm sang thị trường Mỹ tăng mạnh trong năm 2013 và đây là lần đầu tiên Mỹ vượt qua
Nhật Bản trở thành thị trường nhập khẩu tôm số 1 của Việt Nam.
- Nhuyễn thể 2 mảnh vỏ: Thị trường Mỹ là thị trường lớn thứ 3 sau EU, Nhật Bản và
chiếm khoảng 7% thị phần. Kim ngạch tính từ tháng 1-2014 đạt 0,485 triệu USD , tăng
21,7 % so với cùng kỳ năm 2013.
- Cua, ghẹ: Thị trường Mỹ là thị trường lớn nhất của mặt hàng này chiếm khoảng 48% thị
phần.Tháng 1-2014 kim ngạch đạt 0,485 triệu USD, tăng 66.9% so với cùng kỳ năm
2013.
- Cá ngừ: Thị trường Mỹ là thị trường cá ngừ lớn nhất của Việt Nam và chiếm khoảng 3536% thị phần. Tháng 1-2014, kim ngạch đạt 38,561 triệu USD tăng 44,6 % so với cùng kỳ
năm 2013.
Thị trường Mỹ dẫn đầu của thủy sản Việt Nam ở 4 mặt hàng là tôm ,cá tra, cá ngừ
và cua ghẹ. Kim ngạch của xuất khẩu của 4 mặt hàng này chiếm trên 95.7% trong tổng
kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang thị trường này trong năm 2013, trong đó
tôm chiếm 54,7%, cá tra chiếm 25%, cá ngừ chiếm 12,3% và cua ghẹ chiếm khoảng
3,5%. Nhìn chung, thị trường nhập khẩu thủy sản của Mỹ năm 2014 đang có xu hướng
phát triển tích cực, các mặt hàng chính xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đều tăng cao
trong đó có tôm và cá tra (hai mặt hàng chiếm 80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy
sản).
Xuât khẩu thủy sản năm 2014
Năm 2014, Mỹ vẫn là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm
21,89% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 16
Bảng 7: Sản lượng xuất khẩu thủy sản 8 tháng đầu năm 2014 (Triệu USD) (Nguồn:
VASEP)
SẢN PHẨM
Tôm các
loại (mã HS 03
và 16)
- Tôm chân
trắng
- Tôm sú
Cá tra (mã HS
03 và 16)
Cá ngừ (mã HS
03 và 16)
- Cá ngừ mã
HS 16
- Cá ngừ mã
HS 03
Cá các loại
khác (trừ cá
ngừ, cá tra)
Mực và bạch
tuộc
Nhuyễn thể hai
mảnh vỏ
Cua, ghẹ và
Giáp xác khác
TỔNG CỘNG
QI
QII
T7
T8
T18/2014
Tăng/giảm
(%)
377,22
3
395,83
6
2.563,95
0
+48,3
223,76
1
132,55
2
147,75
5
216,69
9
158,25
3
152,67
0
1.504,07
1
+88,4
895,597
+10,8
1.124,86
3
-1,0
798,139
992,753
481,110
582,501
260,731
344,061
408,563
415,876
114,591
129,727
38,666
44,075
327,059
-13,4
66,472
70,279
20,163
21,362
149,093
-8,6
48,119
59,448
18,503
22,712
177,966
-17,1
203,861
249,708
85,951
93,552
633,072
+18,1
91,774
127,545
45,036
43,134
307,490
+13,5
15,641
22,814
9,585
6,659
54,699
+11,1
20,079
23,794
13,489
14,996
72,357
+20,8
1.652,76
3
1.962,56
0
717,86
1
751,34
5
5.084,52
9
+22,2
Trừ mặt hàng cá ngừ (giảm 12,5%), cá tra tăng nhẹ, xuất khẩu các sản phẩm chính khác
đều tăng trưởng 2 con số (13 – 42%). xuất khẩu tôm tăng trưởng mạnh nhất (42%), chiếm
tỷ trọng cao nhất (50,6%), giá trị 2,9 tỷ USD.Tôm chân trắng chiếm ưu thế 58%, đạt 1,7
tỷ USD, tăng 75% nhờ lượng sản xuất và nhập khẩu nguyên liệu tăng, trong khi thị trường
thế giới đang thiếu nguồn cung do dịch bệnh EMS.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 17
Xuất khẩu cá tra quý III đã phục hồi (+6,6%) nhưng không đủ bù đắp mức sụt giảm
những tháng đầu năm vì thị trường nhập khẩu trầm lắng. Tổng xuất khẩu 9 tháng đầu năm
đạt 1,3 tỷ USD, tương đương với cùng kỳ năm ngoái.
Chất lượng cá ngừ sau thu hoạch so với năm ngoái vẫn chưa được cải thiện, ảnh
hưởng đến xuất khẩu sản phẩm giá trị cao (cá ngừ tươi để chế biến sashimi), trong khi
nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chính đều giảm tiếp tục ảnh hưởng đến giá trị xuất
khẩu của Việt Nam, khiến tổng xuất khẩu giảm 12,5% chỉ đạt 363 triệu USD.
Sau 2 năm giảm liên tục, xuất khẩu mực, bạch tuộc năm nay phục hồi rõ rệt nhờ nhu
cầu nhập khẩu của Hàn Quốc, Italia, Tây Ban Nha, Pháp, Đức và Trung Quốc đều tăng
mạnh. Chín tháng đầu năm Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang 166 thị trường trên thế giới.
Xuất khẩu sang tất cả các thị trường đều tăng trưởng khả quan (15%- 45%).
Xuất Khẩu năm nay có được những cơ hội tốt nhờ sản lượng tôm tăng, nhu cầu và
giá xuất khẩu cao…tuy nhiên, Doanh nghiệp gặp không ít khó khăn từ trong nước và thị
trường nhập khẩu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và lợi nhuận: chi phí liên quan đến
hoạt động xuất - nhập khẩu gia tăng, chính sách tín dụng không hiệu quả, thuế chống bán
phá giá tôm ở mức cao nhất, thuế chống bán phá giá cá tra giảm nhưng vẫn bất lợi cho
doanh nghiệp…
III. Giải pháp, kiến nghị
1.Định hướng và biện pháp quản lý
Từ hiện trạng nghề cá nước ta và những tồn tại trong công tác quản lý, đồng thời kết
hợp với những bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới, hiện các nhà quản lý
ngành thủy sản đã đề ra một số định hướng nghề cá ven bờ Việt Nam trong thời gian tới.
Trong đó tập trung vào các vấn đề chính:
Thứ nhất, tăng cường năng lực quản lý cho hệ thống tổ chức Khai thác và Bảo vệ
nguồn lợi thủy sản thông qua xây dựng chính sách khuyến khích sinh viên học ngành khai
thác thủy sản, quản lý nghề cá. Tổ chức lại bộ máy quản lý hành chính nhà nước về khai
thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản từ trung ương đến địa phương, cấp phường xã đồng
thời nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ của hệ thống.
Thứ hai, tổ chức lại khai thác hải sản tại vùng biển ven bờ và vùng lộng. Cụ thể: tổ
chức thực hiện quy hoạch khai thác hải sản, xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách nhằm
giảm cường lực khai thác hải sản phù hợp với khả năng nguồn lợi cho phép khai thác ở
vùng biển ven bờ và vùng lộng của từng địa phương.
Thứ ba, tăng cường quản lý hoạt động khai thác hải sản vùng biển ven bờ và vùng
lộng, theo hướng phân cấp quản lý tàu cá hoạt động khai thác, cường lực khai thác và bảo
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 18
vệ nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ và vùng lộng cho các địa phương. Phát triển các
mô hình đồng quản lý nghề cá, xây dựng, ban hành cơ chế và chính sách phát triển đồng
quản lý nghề cá, quy định các biện pháp quản lý nhằm quản lý hiệu quả, bền vững nguồn
lợi vùng biển ven bờ. Xây dựng các mô hình chuyển đổi nghề, tạo sinh kế thay thế cho
các nghề khai thác hải sản ảnh hưởng đến nguồn lợi và môi trường. Xây dựng, phát triển
các mô hình liên kết, liên doanh gắn kết các khâu từ khai thác, bảo quản, chế biến và tiêu
thụ sản phẩm phù hợp với từng địa phương, củng cố phát triển các làng nghề ngư nghiệp
hay truyền thống ven biển.
Thứ tư, tổ chức lại sản xuất trong khai thác hải sản vùng khơi. Trên cơ sở số liệu
điều tra nguồn lợi hải sản, các cơ sở dữ liệu về hải dương học nghề cá, thống kê nghề cá
thương phẩm, xây quy hoạch, dự báo ngư trường, lập bản đồ dự báo ngư trường khai thác
để làm cơ sở tổ chức lại khai thác hải sản. Xác định số lượng tàu cá khai thác tối đa trên
từng vùng biển theo nhóm nghề, đối tượng khai thác, chỉ đạo và hướng dẫn kịp thời các
địa phương xây dựng, quy hoạch, kế hoạch phát triển đội tàu cá và quản lý khai thác. Tổ
chức lại công tác quản lý khai thác hải sản vùng khơi theo hạn ngạch trên cơ sở hiệp
thương với các địa phương và phân bổ số lượng giấy phép khai thác theo nghề, phù hợp
với khả năng cho phép của nguồn lợi đối với từng vùng biển, kiểm soát hoạt động tàu
khai thác hải sản trước khi ra khơi, đến ngư trường, về cảng lên cá và tiêu thụ. Xây dựng
và nhân rộng mô hình tổ chức sản xuất trong khai thác hải sản như tổ ngư dân đoàn kết
sản xuất trên biển, hợp tác xã, liên kết giữa ngư dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu
thụ hải sản. Từng bước triển khai, hiện đại hóa tàu cá đảm bảo tính khả thi, hiệu quả, theo
từng giai đoạn, trước mắt hiện đại hóa đội tàu khai thác cá ngừ, sau đó rút kinh nghiệm và
nhân rộng.
Thứ năm, tổ chức lại dịch vụ, hậu cần trong khai thác hải sản. Nâng cấp, hoàn thiện
các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo Quyết định số 346/QĐ-TTg
ngày 15/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch hệ thống cảng cá, bến cá
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Quyết định số 1349/QĐ-TTg ngày 09/8/2011
của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch khu neo đậu tránh trú
bão cho tàu cá đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Thứ sáu, hoàn thiện mô hình quản lý cảng cá thống nhất từ Trung ương đến địa
phương, tổ chức lại dịch vụ hậy cần tại các cảng cá. Xây dựng và phát triển các mô hình
liên kết khai thác kết hợp với tàu dịch vụ hậu cần trên biển, khuyến khích các tổ chức, cá
nhân tham gia xây dựng các khu dịch vụ hậu cần trên các quần đảo và các đảo. Quy hoạch
chi tiết và xây dựng 5 Trung tâm nghề cá lớn gắn với các ngư trường trọng điểm tại Hải
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 19
Phòng, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Bà Rịa- Vũng Tàu, Kiên Giang; thí điểm ban hành chính
sách khuyến khích và kêu gọi đầu tư xây dựng các Trung tâm nghề cá. Phát triển, nhân
rộng các mô hình bảo quản sản phẩm khai thác hải sản bằng nước biển lạnh tuần hoàn,
bọt xốp Polyurethane, lót hầm bằng inox... thay cho hầm gỗ trước đây. Áp dụng hệ thống
truy xuất nguồn gốc theo chuỗi giá trin khai thác, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
nhằm quản lý, nâng cao chaaso lượng sản phẩm khai thác, hạn chế tình trạng đánh bắt bất
hợp pháp. Trước mắt, áp dụng quản lý theo chuỗi giá trị sản phẩm kết hợp với hiện đại
hóa tàu khai thác cá ngừ ở các tỉnh Nam Trung Bộ. Củng cố, phát triển và mở rộng các cơ
sở đóng, sửa tàu, ngư lưới cụ, máy móc khai thác trên tàu cá. Thí điểm tổ chức mô hình
hợp tác xã khai thác, kinh doanh dịch vụ hậu cần tại cảng cá, bến cá.
2. Kiến nghị
Nghị định 67 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản ra đời đã tạo
một động lực, cơ hội mới để ngư dân vươn khơi bám biển. Trong lĩnh vực khai thác và
xuất khẩu cá ngừ, Bộ NN&PTNT cần tập huấn kỹ thuật, đào tạo thuyền trưởng, máy
trưởng và chuyển giao công nghệ khai thác, bảo quản, chế biến… để ngư dân áp dụng và
chọn những đối tác nước ngoài giới thiệu cho các tỉnh nhằm liên kết hợp tác làm ăn.
Bộ NN&PTNT cần sớm ban hành các mẫu thiết kế tàu cá đóng mới để ngư dân lựa
chọn; đồng thời ban hành một số quy định, quy chuẩn, tiêu chuẩn về chất lượng cá, đá
lạnh dùng để ướp cá, kỹ thuật khai thác.
Cần có các định mức kỹ thuật cơ bản như mật độ nuôi, thời gian nuôi, kích cỡ cá khi
thu hoạch, sử dụng thức ăn có độ đạm tiêu chuẩn, từ đó mới ra được giá thành bình quân
hợp lý. Giá thành này đảm bảo cho ra giá sàn để người nuôi trình độ trung bình có lãi,
không thể đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi trình độ thấp. Hơn thế, nó khuyến khích
người nuôi áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ quản lý để thu lợi nhuận
cao.
Phương pháp chọn mẫu như dự thảo thông tư nêu ra đã thích hợp với các tỉnh, thành
phố có diện tích nuôi cá lớn, còn với những địa phương nuôi ít thì chỉ nên quy định “số
mẫu điều tra phải ít nhất là 25% tổng số cơ sở nuôi”. Phương pháp chọn mẫu cũng cần
chú ý về diện tích nuôi, có thể chia thành ba nhóm: dưới 1 ha, 1 - 5 ha, trên 5 ha.
Bên cạnh, cần quan tâm hình thức tổ chức sản xuất: nông hộ, trang trại, hợp tác xã,
doanh nghiệp để khảo sát được đầy đủ. Trong chi phí sản xuất, lãi suất vay vốn đầu tư và
chi phí thuê đất cần được tính đủ và thống nhất. Khi đó, những người có vốn hoặc đất nhà
không phải thuê mướn sẽ có điều kiện thu lợi nhuận cao hơn để phát triển sản xuất.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 20
UBND TP Hà Nội vừa yêu cầu triển khai thuwch hiện Chỉ thị của Thủ tướng chính
phủ về việc nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy sản và
tăng cường bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
Để khắc phục thực trạng này yêu cầu: Các sở, ban, ngành, đơn vị, địa phương liên
quan tiếp tục triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 01/1998/CT-TTg ngày 2-1-1998 của Thủ
tướng Chính phủ, cũng như các chỉ thị, quyết định của UBND tỉnh đã ban hành về việc
nghiêm cấm sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thuỷ sản; Quy chế quản lý
hoạt động khai thác ở vùng biển ven bờ và vùng nước nội địa trên địa bàn tỉnh
UBND tỉnh yêu cầu, Sở Nông nghiệp- PTNT tăng cường công tác thanh tra, kiểm
tra vùng nội đồng và vùng lộng theo phân cấp; hỗ trợ các địa phương trong việc xử lý các
vụ việc phức tạp vượt quá khả năng của địa phương. Phối hợp với UBND các huyện,
thành phố, thị xã và Công ty TNHH MTV khai thác công trình thuỷ lợi tổ chức thực hiện
công tác tái tạo nguồn lợi thủy sản, hàng năm thả bổ sung giống ra các thủy vực ngoài tự
nhiên, nhằm khôi phục nguồn lợi, tăng mật độ quần thể của các loài tại các lưu vực sông
và hồ chứa trên phạm vi toàn tỉnh.
Tham mưu, đề xuất, báo cáo UBND tỉnh quy hoạch, xác định vùng cấm, thời gian
và ngư cụ bị cấm trong khai thác thủy sản; các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản dựa vào
cộng đồng nhằm phục hồi các hệ sinh thái điển hình như san hô, cỏ biển, các bãi giống,
bãi đẻ của giống loài thủy sản tại các thủy vực tự nhiên.
Bên cạnh đó, các sở, ngành liên quan theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nghiêm ngặt
các nguồn thuốc nổ, kíp nổ, dây cháy chậm, chất độc tại các tổ chức, cá nhân thuộc đối
tượng quản lý, kiên quyết không để rò rỉ, thất thoát ra ngoài thị trường.
Tăng cường kiểm tra, kiểm soát, truy quét, xử lý nghiêm các đối tượng buôn bán,
tàng trữ, vận chuyển và sử dụng trái phép chất nổ, xung điện, chất độc để khai thác thủy
sản theo đúng pháp luật. UBND các huyện, thành phố, thị xã tăng cường công tác kiểm
tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về khai thác và bảo vệ nguồn lợi
thủy sản tại vùng biển ven bờ và vùng nước nội địa theo phân cấp...
IV. Kết luận.
Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam trong những năm qua đã phát triển mạnh mẽ cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu, trở thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế nước nhà, hoạt động
có hiệu quả, đem lại thu nhập và việc làm cho rất nhiều người dân. Việc phát triển đa
dạng hóa các hình thức nuôi trồng thủy sản thực hiện chuyển đổi nghề cho ngư dân khai
thác hải sản đã góp phần chuyển dịch kinh tế thủy sản sang 1 trạng thái ổn định hơn, kết
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 21
hợp hài hòa giữ khai thác và bảo vệ nguồn lợi tư nhiên có tác động sâu sắc đến sự bền
vững của ngành.
Ngành thủy sản những năm qua có bước phát triển tương đối ổn định gặt hái được
nhiều thành quả to lớn. Với những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế và xã hội như:
nâng cao sản lượng và kim ngạch xuất khẩu, đóng góp vào sự gia tăng GDP, góp phần tạo
công ăn việc lam, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân ven biển và ngành đã
từng bước hướng tới sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, mặt trái của sự phát triển đó là
mất cân đối giữa ba mặt: kinh tế, xã hội và môi trường.
Qua thực tế có thể thấy tình hình phát triển của ngành nuôi trồng thủy sản nay còn tự
phát, qua coi trọng mục tiêu kinh tế mà quên đi sự mất cân bằng sinh thái, nguy cơ cạn
kiệt một số giống loài thủy sản quý hiếm. Hơn nữa, tồn tại mà ngành đang phải đối mặt
đó là sự không bền vững về môi trường. Qua việc tìm hiểu nghiên cứu thực trangjnuuoi
trồng thủy sản hiện nay của Việt Nam để đưa ra những giải pháp nhằm tiến tới một sự
phát triển hoàn toàn cân bằng và bền vững.
Kinh tế tài nguyên môi trường – Gr.3
Page 22