Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề bồi DƯỠNG KIỄN THỨC, xây DỰNG nền văn HÓA TIÊN TIẾN, đạm đà BẢN sắc dân tộc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (243.26 KB, 28 trang )

CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG KIẾN THỨC
XÂY DỰNG NỀN VĂN HOÁ TIÊN TIẾN,
ĐẬM ĐÀ BẢN SẮC DÂN TỘC

Nửa cuối thế kỷ 20 thuật ngữ văn hoá được sử dụng một cách rộng rãi,
phổ biến trong cộng đồng quốc tế cũng như trong các quốc gia, dân tộc. Văn
hoá đã và sẽ thâm nhập sâu vào mọi lĩnh vực, mọi tổ chức, mọi hoạt động của
đời sống xã hội, giữ vai trò nền tảng tinh thần, đồng thời vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển, tiến bộ lịch sử. Nhận thức đúng đắn vai trò của
văn hoá. Đảng Cộng sản Việt Nam đã thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo việc xây dựng, phát triển nền văn hoá và hướng văn hoá phục vụ đắc lực
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước. Đảng ta
khẳng định: “Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là
mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội” (Văn kiện
Đại hội Đảng IX, tr.144).
Để nắm vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo quan điểm của Đảng, cần
tiếp cận sâu sắc lý luận chung về văn hoá, phân tích rõ tính tất yếu và những
khía cạnh bản chất của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chỉ ra
những định hướng, nguyên tắc, giải pháp xây dựng nền văn hoá đó và một số
yêu cầu vận dụng. Chuyên đề này triển khai và tập trung giải quyết 3 vấn đề
cơ bản sau:
1. Xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam là vấn đề có tính quy luật.
2. Sự thống nhất gữa tính tiên tiến và tính bản sắc trong xây dựng nền
văn hoá mới.
3. Định hướng, nguyên tắc và giải pháp xây dựng nền văn hoá Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.


2
1. Xây dựng nền văn hoá mới ở Việt Nam là vấn đề có tính quy luật


1.1. Xây dựng nền văn hoá mới là nhiệm vụ quan trọng, một bộ phận
cấu thành của cách mạng xã hội chủ nghĩa
1.1.1. Cách mạng XHCN là cuộc cải biến sâu sắc, toàn diện và triệt để
nhất, trong đó văn hoá là một mặt trận
Những cuộc CMXH diễn ra trong xã hội có giai cấp đối kháng trước đây
đều không xoá bỏ được chế độ tư hữu và tình trạng người bóc lột người. Chỉ
đến cách mạng XHCN dưới sự lãnh đạo của chính Đảng của giai cấp vô sản
mới thực sự đem lại sự thay đổi căn bản trong toàn bộ hệ thống sản xuất vật
chất và sản xuất tinh thần của xã hội. Cách mạng XHCN hướng vào giải
phóng toàn xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng con người; khắc phục triệt
để tình trạng con người bị tha hoá, tạo điều kiện, phát triển và không ngừng
hoàn thiện con người.
Chủ nghĩa cộng sản trong bản chất của nó - như C.Mác nói - là “chủ
nghĩa nhân đạo hiện thực”, Lênin cũng đã từng chỉ ra: chủ nghĩa xã hội khoa
học là thành tựu trí tuệ của loài người. Giai cấp công nhân không tham gia tạo
dựng học thuyết đó với tư cách công nhân, mà với tư cách những nhà lý luận
của CNXH. Như vậy cách mạng XHCN tự thân nó đã bao hàm tính văn hoá.
Cách mạng XHCN “sáng tạo ra cái mới, con người mới, sáng tạo ra nhân
sinh quan mới”. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải tiến hành một cuộc cải biến
sâu sắc trên tất cả các phương diện, trong đó văn hoá là một mặt trận.
Chúng ta tiến hành cách mạng XHCN trong thực trạng của một nền văn
hoá “trồng lúa nước”. Các cư dân cư trú phổ biến trong các làng xóm khép
kín, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, các phương tiện giao thông và thông
tin rất thô sơ. Nhìn tổng quát đó là nền văn hoá của những người nông dân
gắn với các cuộc chiến tranh vệ quốc, cách thức lao động chân tay, cuộc
chiến đấu giành quyền dân chủ và dân sinh để tồn tại. Trong di sản văn hoá
ấy, có sự đan xen hoà quyện của các hệ tư tưởng và niềm tin tôn giáo; nó chi


3

phối rất sâu và rất mạnh, thẩm thấu vào huyết mạch mỗi con người và ùa vào
các không gian văn hoá người Việt trên mọi miền đất nước. Đặc biệt hệ tư
tưởng Nho giáo có vị trí khá quan trọng xâm nhập vào hầu hết các tuyến văn
hoá Việt Nam, từ văn hoá chính trị, văn hoá đạo đức, văn hoá pháp luật đến
văn hoá giáo dục… Do vậy mà nền văn hoá Việt Nam trong truyền thống có
sự phát triển pha tạp các dòng văn hoá, tạo nên các đối trọng tự nhiên của nó,
thiếu tính khuynh hướng và không có trường phái rõ rệt. Đây là nguyên nhân
cơ bản hình thành những kết cấu cổ truyền, khiến cho nền văn hoá Việt Nam
về đại thể mang khá nhiều nét đẹp nhưng không ít cái lạc hậu.
Đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trên thực tế chúng ta
không có nền văn hoá của giai cấp công nhân đối mặt với nền văn hoá của
giai cấp tư sản. Giai cấp công nhân về số lượng lại rất ít, tuyệt đại bộ phận
đều xuất thân từ nông dân. Vì vậy, khi phát triển đô thị, chúng ta không có
một nền văn hoá đô thị nguyên nghĩa, khi tiến hành công nghiệp hoá, chúng
ta không có tảng nền của văn hoá công nghiệp. Từ các độ thị cũ và mới đến
các khu công nghiệp nhanh chóng trở thành những tụ điểm tiếp nhận các làng
văn hoá nông dân truyền thống, với các sắc màu khác nhau, tuy có cải tiến ít
nhiều nhưng về căn bản vẫn mang nặng tư tưởng thủ cựu, bấp bênh, lạc hậu.
Xây dựng CNXH đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền văn hoá
cao với nội dung dân tộc, hiện đại, nhân văn. Đây là một nhiệm vụ khó khăn,
phức tạp không phải là công việc một sớm, một chiều. Muốn thay đổi, muốn
cải tạo các tư tưởng “cố hữu cổ truyền”, những quan hệ đã phong hoá phải có
một cơ chế biến đổi nội sinh từ trong bản thân nó.
Kinh nghiệm lịch sử cho thấy chúng ta không thể xây dựng được một
nền văn hoá cao nếu không có sự cải biến sâu sắc về trình độ nhận thức, trình
độ lưu trữ, trình độ quan hệ, trình độ sáng tạo của con người trong tất cả các
hoạt động; nó vừa liên quan đến các lĩnh vực khoa học, công nghệ, vừa liên
quan có tính bản chất đến vấn đề con người, vấn đề tăng trưởng nguồn lực,



4
trình độ của con người; các phong tục, tập quán, niềm tin, hệ chuẩn giá trị,
cách thức sinh hoạt, tiềm thức và vô thức… Tất cả những vấn đề đó thuộc nội
dung và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hoá mới trong quan hệ
khăng khít với các lĩnh vực khác cấu thành tính sâu sắc, toàn diện và triệt để
của cách mạng XHCN.
1.1.2. Cách mạng XHCN diễn ra trong điều kiện chống phá kịch liệt
của kẻ thù trên tất cả các phương diện, trong đó chống lại sự phản kháng
về phương diện tư tưởng văn hoá là sự phản kháng sâu sắc nhất và mãnh
liệt nhất
Quá trình xây dựng xã hội mới phải gắn liền với việc đấu tranh xoá bỏ
những tàn dư về tư tưởng và văn hoá của chế độ cũ, đặc biệt phải nhổ tận gốc
rễ những nọc độc về tư tưởng và văn hoá phản động đang hàng ngày hàng giờ
truyền lan vào trong đời sống văn hoá của từng người và của xã hội. Lênin đã
từng chỉ ra “suốt trong thời kỳ quá độ, cách mạng sẽ vấp phải sự phản kháng
của tư bản cũng như của rất nhiều tay chân của chúng trong giới trí thức tư
sản là những kẻ đang chống lại một cách có ý thức và sẽ vấp phải sự phản
kháng của khối rất lớn những người lao động – trong đó có cả nông dân – họ
đang bị đè quá nặng dưới những phong tục tập quán tiểu tư sản, thứ phản
kháng một cách không có ý thức” và “khi xã hội cũ chết, thì người ta không
thể đem tử thi của nó mà bỏ vào áo quan để chôn xuống đất, thây ma ấy rữa ra
trong hàng ngũ chúng ta và gây bệnh sang bản thân chúng ta… trên thế giới
chưa có và không thể có một cuộc cách mạng vĩ đại nào diễn biến khác
được”. Vì vậy: sau khi hoàn thành cuộc cách mạng chính trị lớn nhất chưa
từng thấy trên thế giới thì những nhiệm vụ khác lại đặt ra cho chúng ta, những
nhiệm vụ về văn hoá.
Đất nước ta đi lên CNXH từ nền kinh tế lạc hậu bị chiến tranh tàn phá,
công tác quản lý sản xuất còn nhiều nhược điểm. Những bệnh thâm canh cố
đế của người sản xuất nhỏ như chủ nghĩa tự do, ý thức coi thường kỷ cương



5
phép nước, tham ô lãng phí, tham nhũng… tồn tại kéo dài. Đặc điểm sản xuất
nhỏ để lại cho chúng ta những con người vốn quen với tư tưởng cá nhân, vị
kỷ. Những mặt tiêu cực và hạn chế của văn hoá cổ truyền đã hằn sâu trong
nếp sống con người, nó biến thành thói quen, lối sống của họ. Nhiều quan
điểm đạo đức, văn hoá bị ràng buộc bởi khuôn khổ chặt hẹp của lễ giáo phong
kiến. Con người bộc lộ nhiều nhược điểm, hạn chế trong phương pháp tư duy,
nếp nghĩ, tầm nhìn…
Cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, nhất là đế quốc Mỹ đã kết
thúc cách dây nhiều thập kỷ, tới nay vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề.
Nó đã tiến hành tàn phá đất nước ta không chỉ bằng bom đạn, chất độc da
cam mà bằng cả nọc độc của văn hoá thực dân – một thứ “văn hoá” nô dịch,
lai căng, đồi trụy cực kỳ phản động… làm nhiễm độc tâm hồn của h àng triệu
người. Liên minh “ma quỷ” giữa những di hại của những tư tưởng phong
kiến, tư tưởng tư sản cùng với những tác động phản giá trị của thế giới “hiện
đại” thông qua “diễn biến hoà bình” của đế quốc Mỹ… làm cho sự nghiệp
xây dựng nền văn hoá mới diễn ra trên một cục diện mới với những hình thức
và đặc điểm mới. Chúng ta không những phải cải tạo toàn bộ thực trạng văn
hoá đó, ngăn chặn những yếu tố tiêu cực nảy sinh mà còn xây dựng cơ sở, tạo
điều kiện cho những yếu tố văn hoá nhân đạo, cách mạng sinh thành mau
chóng trong điều kiện lịch sử mới; phải làm cho những quan hệ mới của con
người phát triển và không ngừng hoàn thiện, để “văn hoá, nghệ thuật cũng
như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế, chính
trị”(1)
1.1.3. Cách mạng XHCN đặt ra yêu cầu cao về phẩm chất và năng lực
về mọi mặt của chính đảng của giai cấp vô sản và đông đảo quần chúng
cách mạng.
Cách mạng XHCN đòi hỏi phải năng văn hoá của mỗi người lên một
trình độ mới về chất. Bởi vì theo Mác “Để sử dụng vô số của cải, con người

(1)

Hồ Chí Minh – thư gửi các hoạ sỹ nhân triển lãm văn hóa năm 1951.


6
cần phải có năng lực sử dụng chúng, tức là phải có trình độ văn hoá cao”.
Trình độ văn hoá Mác nói ở đây chính là trình độ người, là văn hoá người.
Theo ông sự uyên bác kết hợp với những nguyên tắc vị kỷ thường biến thành
tính ấu trĩ xã hội, thói học làm sang, dẫn đến phân đôi nhân cách. Với một
mẫu hình nhân cách như thế chỉ có thể làm trầm trọng hơn tính vô nhân đạo
trong xã hội. Giai cấp vô sản không thể xoá bỏ được những điều kiện sống
của mình – Mác khẳng định – nếu nó không xoá bỏ được tất cả những điều
kiện sống vô nhân đạo của xã hội hiện đại tập trung trong tình cảnh của bản
thân nó.
Nền văn hoá mới phải có chủ thể quản lý mới đại diện cho cả nền kinh tế
và hệ thống chính trị mới. Đó là chủ thể quản lý có trình độ học vấn cao, biết
tổ chức nền văn hoá cao hơn nền văn hoá của giai cấp địa chủ và giai cấp tư
sản. Chủ thể quản lý này chính là giai cấp công nhân đã được trí tuệ hoá. Để
trở thành người quản lý nền văn hoá mới, giai cấp công nhân phải trở thành
chủ thể của lịch sử. Sự thống nhất giữa tình cảm và lý trí, giữa tài năng, trí tuệ
với những yêu cầu mới của lịch sử là điều kiện rất quan trọng để họ hoàn
thành sứ mệnh của mình.
Khi bàn về “cách mạng văn hoá”, Lênin đã nhận định những tiềm lực
của cách mạng, của phục hưng, của đổi mới có sẵn trong giai cấp công nhân
và đặt ra những yêu cầu cao “phải tạo điều kiện cho những nhân tài có thể
xuất hiện từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động” (1). Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đưa ra một mệnh đề ngắn gọn những tính khái quát rất cao:
Muốn xây dựng CNXH phải có con người mới XHCN. Trên ý nghĩa đó Đảng
ta đã có chiến lược con người, coi đây là động lực cơ bản của cách mạng

XHCN, của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mô hình con
người đã được Đảng ta xác định từ Nghị quyết Đại hội lần thứ tư và được
phát triển hoàn thiện ở các kỳ đại hội. Đặc biệt NQTƯ5 (khoá VIII) đã xác
(1)

V.I.Lênin, Toàn tập, Nxb TB, M.1977, T6, tr.38, T35 tr.349, T41, tr.361 – 365, T45 tr.349.


7
lập một số đức tính cơ bản của con người Việt Nam (2). Những đức tính đó vừa
là sự kế thừa những truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam, vừa xây
dựng những phẩm chất năng lực phù hợp với giai đoạn cách mạng mới. Con
người với những phẩm chất đó chỉ có thể có được thông qua quá trình cải biến
cách mạng trong đó cách mạng tư tưởng văn hoá có vai trò quyết định trực
tiếp.
1.1.4. Xem xét trong sự khái quát rộng rãi nhất có thể thấy văn hoá
không chỉ có mặt mà còn xuyên thấm vào các yếu tố cấu thành xã hội.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người tuân theo các quy luật khách
quan. Nghiên cứu tiến trình phát triển của lịch sử xã hội thực chất là khảo sát
sự vận hành theo quy luật của các yếu tố cơ bản cấu thành nên hình thái kinh
tế xã hội, đó là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng.
Văn hoá là một khái niệm phức tạp. Có thể có những nhận thức khác nhau tuỳ
theo cách tiếp cận. Ở các hướng tiếp cận khác nhau cũng đi đến những quan
niệm khác nhau về vai trò của văn hoá. Nhìn chung ở các phương pháp tiếp
cận khác nhau, chúng ta dễ nhận thấy ở văn hoá một điểm chung đó là hệ giá
trị. Có thể nói đây là hệ quy chiếu nói lên bản chất của văn hoá.
Văn hoá là quá trình phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội,
của mỗi con người. Trình độ của quan hệ đó được đánh giá thông qua quá
trình con người giải quyết các mối quan hệ với tự nhiên (chiều cao) với xã hội
(chiều rộng) với chính mình (chiều sâu) và với tổ tiên, con cháu (chiều lịch

sử). Các mối quan hệ đó tồn tại trong lịch sử gắn với một hình thái kinh tế xã
hội nhất định, biểu hiện thành một chuỗi tương tác: con người – quá trình sản
xuất, con người – con người, con người – các thiết chế xã hội… Từ đó có thể
khẳng định: trình độ của lực lượng sản xuất, của quan hệ sản xuất, của kiến
trúc thượng tầng trong một hình thái kinh tế xã hội bao giờ cũng gắn với và
được đánh giá thông qua văn hoá. Xuyên thấm vào các cấu thành cơ bản của
một hình thái kinh tế xã hội văn hoá trở thành động lực, mục tiêu và hệ điều
(2)

Xem NQTƯ5, Nxb CTQG, H.1998, tr.58 – 59.


8
tiết của sự phát triển, thành tiêu chuẩn để xem xét các nấc thang tiến hoá của
lịch sử loài người, của tiến bộ xã hội.
Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới, một thời gian dài chúng ta đã
thiếu kiến thức toàn diện và thiếu cụ thể hoá nhất quán trong từng bước đi. Có
lúc thì ta ưu tiên phát triển công nghiệp nặng rồi ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp. Có lúc thì ta
hợp tác hoá toàn quốc để đi đến cấp cao, có lúc lại trở lại khoán cho từng hộ
gia đình. Có lúc ta lại nặng về quan hệ sản xuất phá vỡ sự phù hợp của nó với
tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất. Có lúc ta nặng về kiến trúc
thượng tầng vượt qua tính “tương ứng” của cơ sở hạ tầng v.v.. Điều đó phản
ánh sâu sắc trình độ văn hoá của xã hội – một nền văn hoá còn bấp bênh,
thiếu toàn diện, thiên lệch.
Nhận thức văn hoá là sự hoá thân của đời sống “nó thấm vào mọi lĩnh
vực hoạt động của con người”, “nó xuyên suốt cơ thể xã hội” (1); nó biểu hiện
trình độ người, trình độ xã hội, văn minh loài người, văn hiến quốc gia v.v.. là
cơ sở để chúng ta hiểu sâu sắc hơn vai trò của văn hoá và khẳng định tính tất
yếu xây dựng nền văn hoá mới ở nước ta hiện nay.

Trong lịch sử văn minh của mình, loài người đã xây dựng nên nhiều lý
thuyết phát triển xã hội. Mỗi quốc gia, xuất phát từ những mục tiêu của mình
từ các điều kiện đặc thù, với cách nhìn nhận khác nhau đã vạch ra con đường
và những chiến lược phát triển riêng, đưa đất nước mình đi lên ở các mức độ
khác nhau. Tuy nhiên, một sự thật không thể chối cãi là trong những năm 80
đến đầu những năm 90 của thế kỷ này, những khủng hoảng về mô hình phát
triển đã và đang diễn ra và lan truyền theo làn sóng ở mọi khu vực trong hành
tinh. Điều đó đem lại một sự cảnh tỉnh cho các lý thuyết phát triển thiên lệch
và cực đoan. Với những vấp ngã đó, ngày nay người ta càng nhận thấy một
cách sâu sắc vai trò của văn hoá. UNESCO đã đi đến khẳng định: “Trong mọi
(1)

Thập kỷ toàn thế giới phát triển văn hoá, UNESCO, 1980, Phụ lục 4, tr.1.


9
xã hội ngày nay, bất luận ở trình độ phát triển nào, văn hoá và phát triển là hai
mặt gắn liền với nhau”.
Ở nước ta, trong suốt tiến trình cách mạng, vai trò của văn hoá luôn được
Đảng ta quan tâm và định hướng đúng đắn.
Trong cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta có một văn kiện nổi tiếng về
văn hoá - đó là “Đề cương văn hoá Việt Nam” (1943) với 3 nguyên tắc; dân
tộc, khoa học, đại chúng. Trong cách mạng XHCN, Đảng ta đã có nhiều nghị
quyết, chỉ thị quan trọng về văn hoá”(2).
Khẳng định “Trong thời đại Hồ Chí Minh ở thế kỷ này, sự phát triển về
văn hoá đã góp phần quyết định và những thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ bảo vệ độc lập, thống nhất
cho Tổ quốc, đứng vững trước các biến động to lớn của lịch sử, đổi mới thành
công, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội, tuy một số mặt chưa
vững chắc tạo tiền đề cho những phát triển tiếp theo”… NQTƯ5 (khoá 8) đã

mở ra nhận thức mới về văn hoá và vai trò của văn hoá trong cách mạng
XHCN; coi văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội.
1.2. Vai trò ngày càng tăng của văn hoá trong giai đoạn cách mạng
mới
Lịch sử văn hoá Việt Nam qua ba lần chuyển mình lột xác cơ bản:
Từ cơ chế nông nghiệp làng xã thuần tuý bản địa, nó đã dung hợp với
văn hoá Trung Hoa và khu vực, với chế độ đẳng cấp phong kiến hà khắc là
chủ đạo, tạo nên một cơ chế nhà nước dựa trên làng xã.
Từ cái nền phong kiến ấy, văn hoá Việt Nam đã hoà nhập với dòng giao
lưu phương Tây (bước đầu phát triển đô thị, giao thông, hình thành khoa học)
rồi tiếp nhận cơ chế XHCN và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghiệp.

Đọc “Điểm lại những NQ của Đảng về văn hoá nghệ thuật”, Tài liệu nghiên cứu NQ Hội nghị lần thứ
5 BCHTƯ Khoá 8.
(2)


10
Giai đoạn hiện nay, khi sự giao lưu với phương Tây đem lại những biến
đổi ngày càng mạnh mẽ trên mọi phương diện, nền văn hoá Việt Nam đang có
sự chuyển động mới, xuất hiện nhiều nhân tố mới, phản ánh trạng thái mới
của đời sống văn hoá.
1.2.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây là phương hướng
cơ bản mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã vạch ra. Nước
ta bước vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá khi cuộc cách mạng khoa học kỹ
thuật trên thế giới đang diễn ra với nhịp điệu và tốc độ cao, đem lại những
biến đổi mau lẹ trên nhiều phương diện. Cuộc cách mạng khoa học – công
nghệ đặt ra yêu cầu tất yếu cần phải nhận thức đúng vị trí và tăng cường
nguồn lực cho văn hoá. Văn hoá phải được coi là nhân tố cấu thành, yếu tố

nội sinh của sự phát triển. Nói đến CNH, HĐH như là giải pháp chủ yếu của
sự phát triển hiện nay mà xa rời, coi nhẹ nhân tố văn hoá là chưa nhận thức
đúng về tư tưởng của CNH, HĐH hiện nay. Lựa chọn phát triển văn hoá, nâng
cao chất lượng toàn diện của con người và xã hội là cơ sở căn bản tạo ra sức
mạnh nội tại của sự nghiệp CNH, HĐH, là sự lựa chọn sáng suốt từ bên trong
của CNH, HĐH.
1.2.2. Cơ chế thị trường diễn ra sâu rộng. Nền văn hoá Việt Nam phải
đối mặt với kinh tế thị trường. Trong cuộc đối mặt với kinh tế thị trường, nền
văn hoá Việt Nam phải đối mặt với các khả năng khách quan do kinh tế thị
trường đem lại. Khả năng phát triển nhanh hay chậm, đúng hướng hay chệch
hướng, lành mạnh hay u tối…. hoàn toàn tuỳ thuộc vào việc nhận thức và tổ
chức quá trình xã hội hoá văn hoá. Bởi vì, trong cuộc đối mặt với kinh tế thị
trường để rồi dung hợp với nó, có cái hay, cái dở, cái được, cái mất, cái xuất
hiện, cái tiêu vong, cái thoát khỏi, cái nhiễm phải. Đây là những đối trọng
nảy sinh tất yếu đặt ra yêu cầu cho những người làm công tác văn hoá nói
riêng và toàn xã hội cần có sự định hướng điều chỉnh thích ứng bằng nỗ lực
chủ quan của chính mình theo hệ những chuẩn mực của nền văn hoá mới.


11
Như vậy, nói đến thị trường không có nghĩa là thả trôi văn hoá cho thị
trường, mà chính là biết sử dụng thị trường, lợi dụng thị trường để tính toán
khả năng cung cấp văn hoá cho quần chúng, nâng cao mặt bằng dân trí và góp
phần vào quá trình nâng cao năng lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
1.2.3. Quá trình giao lưu, hội nhập diễn ra với tốc độ rất cao. Với
những phương tiện kỹ thuật hiện đại. Giao lưu hội nhập là thời cơ để chúng ta
tiếp thu những thành tựu khoa học tiên tiến, hướng tới phát huy nội lực phát
triển đất nước một cách nhanh chóng và chính xác. Thực tiễn chỉ trong 2 thập
kỷ gần đây chúng ta chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương
tiện thông tin, mạng điện thoại, FAx, điện thoại cầm tay, các băng, đĩa CD,

VCD, DVD,Video, các mạng vi tính, hệ thống truyền hình qua vệ tinh và đặc
biệt là việc nói mạng Internet quốc tế… Có thể nói thông tin tàn tới tận buồng
ngủ của mỗi gia đình.
Nếu không mở rộng tiếp thu thông tin quốc tế chúng ra sẽ bị tụt hậu ngày
càng xa. Nhưng tính đa tạp của quá trình giao lưu hội nhập đặt ra những thách
thức mới, đòi hỏi chúng ta phải giải quyết.
Một là, quá trình giao lưu và tràn ngập thông tin như vậy đã tác động
như thế nào tới định hướng chính trị, tinh thần của xã hội? Làm sao chống lại
các luận điệu xuyên tạc thù địch? Làm sao giữ gìn nâng cao hơn bản chất
cách mạng của văn hoá dân tộc?
Hai là, làm thế nào gìn giữ và làm sống động hơn nữa bản sắc dân tộc
trước sự xâm nhập của “đế quốc thông tin”, trước sự đe doạ dẫn đến cái gọi là
“sự thống nhất về văn hoá” trước sự “xâm lăng văn hoá”. Đây là một vấn đề
không đơn giản. Trước những thời cơ mới và thách thức mới của quá trình
giao lưu, hội nhập, nền văn hoá Việt Nam phải có năng lực và bản lĩnh mới;
vừa mở rộng giao lưu tiếp thu cái hay, cái đẹp của thế giới, vừa giữ gìn phẩm
chất cách mạng và bản sắc dân tộc. Nếu không giữ được hai phẩm chất này
nền văn hoá chúng ta sẽ chệch hướng, tự làm nhục mình trước lịch sử. Điều


12
đó đòi hỏi chúng ta phải xác định những phương hướng, nhiệm vụ về văn hoá
để tranh thủ thời cơ vượt qua những thách thức, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
mới.
1.2.4. Sự gia tăng của các phản giá trị. Bên cạnh những thành tựu kinh
tế – xã hội của công cuộc đổi mới, trong đó có thành tựu về văn hoá, trong xã
hội ta hiện nay lại đang diễn ra và có biểu hiện gia tăng những vấn đề nhức
nhối về văn hoá; đó là sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống văn hoá…
Đây là những nguy cơ ảnh hưởng tới nền văn hoá dân tộc, sự phát triển bền
vững của đất nước. Trong bài phát biểu quan trọng khai mạc Hội nghị Trung

ương 5 (khoá 8), đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu chỉ ra “Các tiêu cực xã
hội có chiều hướng gia tăng trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá tinh
thần, nhất là sự xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận
không nhỏ cán bộ, đảng viên và nhân dân, dẫn tới nguy cơ đối với vận mệnh
của Đảng và sự phát triển của dân tộc”. Lối sống thực dụng, lối sống “bung
ra” gây nên nhiều tệ nạn xấu trong cơ thể xã hội từ gia đình, trường học đến
nhà máy, cơ quan, từ cơ sở đến Trung ương v.v.. Trong xã hội xuất hiện nhiều
nghịch lý: người ngay bị kẻ gian bắt nạt, cái thiện bị cái ác chen lấn, luật pháp
kỷ cương phép nước không còn được giữ nghiêm, lòng tin bị sói mòn, tính
tham lam, sự tàn bạo của kẻ xấu hoành hoành… Sự đam mê nhu cầu vật chất
cùng dục vọng thấp hèn, lối sống bất chấp đạo lý, dư luận xã hội và pháp luật
đang xô đẩy một số người và nhóm người đi vào con đường phạm tội. Tất cả
những hiện tượng trên đây đang làm vẩn đục môi trường văn hoá - xã hội, gây
bất bình trong nhân dân, làm xói mòn nền tảng tinh thần xã hội, tạo miếng đất
màu mỡ cho sự xâm nhập và gia tăng của các phản giá trị.
*

*
*


13
Trên đây là vấn đề cơ bản trong bối cảnh mới của đất nước. Xã hội ta
đang ở trong một cuộc giao thoa, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, sản xuất
nhỏ tiến lên công nghiệp hiện đại trong một thế giới vừa hợp tác, vừa cạnh
tranh. Nền văn hoá nước ta đang trong một sự chuyển đổi mạnh mẽ từ một
nền văn hoá nông nghiệp lạc hậu bấp bênh sang một nền văn hoá mới theo
mô thức: dân tộc – hiện đại – nhân văn. Một cuộc chuyển đổi những giá trị xã
hội đang diễn ra. Hàng loạt vấn đề thuộc hệ giá trị đạo đức xã hội, nghề
nghiệp, luân lý gia đình đang đứng trước những thách thức lớn lao.

Cuộc đấu tranh giữa nền văn hoá dân tộc với sự “xâm lăng văn hoá” của
các thế lực thù địch, cuộc đấu tranh giữa văn hoá và phản văn hoá, cuộc đấu
tranh phân biệt mặt tích cực và tiêu cực đan xen lẫn nhau trong việc phục hồi
những phong tục, tập quán truyền thống v.v.. Nói tóm lại đời sống văn hoá
của xã hội ta đang rất sống động, phức tạp đòi hỏi chúng ta cần nhận thức rõ
vai trò ngày càng tăng của văn hoá trong quá trình phát triển xã hội theo
hướng cách mạng, nhân văn; từ đó có sự định hướng rõ ràng, có những chủ
trương, biện pháp cụ thể.
Trước tình hình đó, việc tập trung xây dựng và phát triển nền văn hoá
mới là yêu cầu tất yếu, là nội dung quan trọng của cách mạng XHCN.
2. Sự thống nhất giữa tính tiên tiến và tính bản sắc trong xây dựng
nền văn hoá mới
Ngay từ trong cương lĩnh 91 và Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, Đảng ta
đã khẳng định nền văn hoá mới mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm này tiếp tục được làm rõ và khẳng định
trong Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá VIII) và Nghị quyết Đại hội Đảng IX,
kết luận Trung ương 10 (khoá IX).
Trong bối cảnh hiện nay, việc tập trung xây dựng và phát triển nền văn
hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt không chỉ
cho hiện tại mà cho cả tương lai của đất nước. Không có nền văn hoá tiên


14
tiến, chúng ta không có đủ nội lực hoàn thành công cuộc cách mạng XHCN.
Không giữ được bản sắc dân tộc, chúng ta sẽ đánh mất “căn cước” dân tộc,
nghĩa là mất đi tất cả. Vấn đề cốt lõi ở đây là chúng ta phải nhận thức thế nào
là “tiên tiến”, thế nào là “đậm đà bản sắc dân tộc”, sự thống nhất biện chứng
giữa “tiên tiến” với “bản sắc dân tộc”.
2.1. Những khía cạnh bản chất của nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc

2.1.1. Quan niệm nền văn hoá tiên tiến
Tiên tiến tức là ở vị trí hàng đầu, vượt hẳn trình độ phát triển chung.
Tiên tiến đối lập với lạc hậu, bảo thủ, trì trệ. Nền văn hoá tiên tiến là nền văn
hoá vượt trội, ở vị trí hàng đầu trong đời sống văn hoá nhân loại đương đại.
Chúng ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH, đòi hỏi phải xây dựng một
nền văn hoá tiên tiến, phù hợp với giai đoạn mới, phù hợp với lực lượng sản
xuất tiên tiến, quan hệ sản xuất mới.
Đặc trưng cơ bản của nền văn hoá tiên tiến là: yêu nước; tiến bộ; có nội
dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nhân văn, tất cả vì con người, vì
hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do toàn diện của con người trong
mối quan hệ hài hoà giữa cá nhân và cộng đồng, giữa tự nhiên và xã hội; tiên
tiến không chỉ trong nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong
phương tiện truyển tải nội dung.
- Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam. Trong cuộc
sống riêng từ giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, có thể có
nhiều khác biệt. Nhưng tinh thần yêu nước ở người Việt Nam là hằng số: Mỗi
khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó lướt qua mọi nguy
hiểm khó khăn… Chủ nghĩa yêu nước của người Việt Nam được thể hiện cụ
thể ở lòng dũng cảm và ý chí bất khuất. Đó là chủ nghĩa anh hùng; là những
con người hết mực yêu hoà bình, yêu tự do, nhưng khi đất nước lâm nguy thì


15
“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ”.
Đất nước ta đang ở thời kỳ quá độ với nền kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN, sự nghiệp CNH, HĐH nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật cho CNXH đòi hỏi huy động tối đa tiềm năng vật chất và tinh thần của
cả dân tộc, của tất cả các thành phần kinh tế. Chủ nghĩa yêu nước là một động

lực cực kỳ to lớn. Nền văn hoá tiên tiến do đó trước hết phải là một nền văn
hoá yêu nước. Yêu nước gắn liền với yêu CNXH. Yêu nước là ý chí đưa đất
nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh - đó là một nội dung tư tưởng lớn của nền văn
hoá tiên tiến.
- Gắn liền với yêu nước là tiến bộ, nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn
hoá kết tinh tất cả những gì là tiến bộ, là chân, là thiện, là mỹ của dân tộc, của
thời đại, của loài người.
Dân tộc nào cũng có mặt mạnh, mặt yếu. Có giá trị văn hoá trường tồn,
lại cũng có giá trị chỉ phù hợp với từng thời kỳ, từng giai đoạn. Việc kế thừa
và phát triển truyền thống văn hoá dân tộc hiện nay do vậy, phải có hệ tiêu chí
phù hợp. Mặt khác, trong thời kỳ mới, chúng ta có nhiều điều kiện thuận lợi
để giao lưu văn hoá với nước ngoài. Vấn đề đặt ra là phải nhận thức và giữ
vững giá trị cốt lõi của nền văn hoá tiên tiến.
- Hạt nhân cốt lõi của nền văn tiên tiến là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Nói đến văn hoá không thể không nói hệ tư tưởng. Vì hệ tư tưởng chi
phối quan niệm về giá trị, chi phối đạo đức, lối sống và hành vi con người.
Đành rằng hệ tư tưởng không đồng nhất với văn hoá, không thể quy toàn bộ
các giá trị văn hoá vào hệ tư tưởng, nhưng xét chung và xét đến cùng, trong
xã hội có giai cấp, văn hoá bao giờ cũng có cốt tuỷ là hệ tư tưởng giai cấp.
C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Lịch sử tư tưởng chứng minh cái gì, nếu


16
không phải là chứng minh rằng sản xuất tinh thần cũng biến đổi theo sản xuất
vật chất? Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những
tư tưởng của giai cấp thống trị”.
Trong văn hoá Việt Nam đã từng tồn tại hệ tư tưởng Nho, Phật, Đạo.
Văn hoá Việt Nam có cả tư tưởng tam dân của Tôn Dật Tiên… Ở mức độ

khác nhau hệ tư tưởng nào cũng mang hai đặc tính định hướng và dính kết tạo
nên diện mạo hoá của mỗi thời đại. Hệ tư tưởng của mỗi giai cấp bằng cả hữu
thức và vô thức; nó tham gia tổ chức các thiết chế ở tầm sâu và tầng cao; nó
xác lập hệ chuẩn trong mọi lĩnh vực xoay quanh văn hoá chính trị của giai cấp
thống trị; nó nhào nặn các hoạt động văn hoá và xuyên thấm vào ý thức xã hội
để trở thành hạt nhân quyết định sự sinh thành của mọi vòng cộng đồng văn
hoá.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết cách mạng và khoa học kết tinh
những tinh hoa văn hoá nhân loại, hướng vào giải phóng toàn xã hội, giải
phóng dân tộc, giải phóng con người, khắc phục triệt để tình trạng con người
bị tha hoá, tạo điều kiện phát triển và không ngừng hoàn thiện con người – là
“chủ nghĩa nhân đạo hiện thực”. Văn hoá Việt Nam từ khi có chủ nghĩa MácLênin xuất hiện, bất cứ một người có lương tri nào cũng nhận thấy rằng, nó
đã cổ vũ phong trào độc lập dân tộc Việt Nam; nó đã nâng dân tộc Việt Nam
vào hàng các dân tộc có bản lĩnh trên thế giới. Không có hệ tư tưởng nào làm
được cái việc giải phóng dân tộc ta trong hoàn cảnh chủ nghĩa đế quốc đã chia
nhau thống trị thế giới. Chính hệ tư tưởng Mác-Lênin đã thổi sinh khí vào văn
hoá Việt Nam, làm bừng tỉnh khói óc và nâng những cánh tay của các con
người bị đoạ đầy, bị nô lệ kéo cao ngọn cờ độc lập dân tộc bằng nhiệt huyết
sôi sục của con tim.
Nguyễn Ái Quốc đi từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc và
những hiểu biết sâu sắc nhiều nền văn hoá lớn Đông – Tây, đến với chủ nghĩa
Mác-Lênin như một bước ngoặt quyết định hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.


17
Sự gặp gỡ thần kỳ này đã sản sinh ra một mẫu hình văn hoá mới, mẫu hình
“văn hoá của tương lai”. Với các giá trị khoa học, nhân đạo và cách mạng vốn
có của nó, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự công sinh trên
cơ sở tiến bộ xã hội đã tạo ra những quan hệ tốt đẹp, tình yêu thương, tự do và
hạnh phúc giữa con người và con người trong văn hoá mới Việt Nam; tạo ra

sự thống nhất hữu cơ giữa các giá trị giai cấp, dân tộc và nhân loại, cá nhân
và xã hội, xã hội và tự nhiên trong nền văn hoá. Nó đã đem đến cho nền văn
hoá Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh là một bộ phận cốt lõi của nền văn hoá tiên tiến mà chúng ta
đang xây dựng.
- Tính chất tiên tiến của nền văn hoá phải thể hiện cả trong hình thức
biểu hiện, trong những cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện chuyển tải nội
dung. Ví dụ trong văn chương, trong công nghệ truyền hình, điện ảnh, kiến
trúc…. Một điểm cần lưu ý: tiên tiến thường có nghĩa là hiện đại, song không
phải mọi cái hiện đại đều là tiên tiến; sự lầm lẫn này dễ dẫn đến những tắc tị,
bệnh hoạn trong nhận thức, lối sống và nếp sống văn hoá - xã hội. Vì vậy tiên
tiến phải gắn bó hữu cơ với giữ vững bản sắc văn hoá dân tộc.
2.1.2. Quan niệm bản sắc văn hoá dân tộc ( hay BSDT của văn hoá)
Lịch sử văn hoá mới Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều định ngữ cho khái
niệm “dân tộc”: tính chất dân tộc, hình thức dân tộc, cốt cách dân tộc, bản
lĩnh dân tộc, bản sắc dân tộc v.v… Bản sắc dân tộc là muốn nói những nét
độc đáo tốt đẹp của nền văn hoá mỗi dân tộc. Sắc màu, sắc điệu trong sinh
hoạt văn hoá và cách cảm, cách nghĩ trải qua tiến trình lịch sử của mỗi dân tộc
đã được bản thể hoá.
Theo Hà Xuân Trường: Bản sắc dân tộc là những giá trị cao đẹp của
truyền thống được thể hiện dưới những sắc thái độc đáo do hoàn cảnh lịch sử,
địa lý, thiên thiên tạo nên trong quá trình hình thành đất nước Việt Nam, cộng
đồng các dân tộc Việt Nam.


18
GS, TS Nguyễn Văn Huyên trong "Văn hoá - phát huy bản sắc và hội
nhập” đưa ra quan niệm: Toàn bộ những đặc điểm địa lý, môi trường tự
nhiên, nhân chủng, điều kiện kinh tế – xã hội của mỗi dân tộc quy định đặc
điểm tâm lý, ý thức, biến vào các biểu tượng, các mô thức (vật chất, tinh thần)

thành các phong tục, lối sống, phong cách tư duy, thị hiếu, sở thích, tiêu chí
đánh giá, phương thức hoạt động độc đáo. Tất cả những cái đó tạo thành nét
riêng của mỗi nền văn hoá mà người ta gọi là bản sắc dân tộc. Bản sắc văn
hoá dân tộc như vậy là bộ gen, là nhân lõi của bản chất văn hoá mỗi dân tộc,
nơi hội tụ các phẩm chất tinh tuý đặc sắc nhất của dân tộc, là cái cốt lõi bên
trong tựa như tấm căn cước của một dân tộc. Nói đến bản sắc văn hoá tức là
nói đến cái mặt bất biến của văn hoá trong quá trình phát triển của lịch sử.
Giáo sư Phan Ngọc đã đưa ra hệ thống những yếu tố thể hiện sức mạnh
tiềm tàng chi phối tư tưởng và hoạt động của dân tộc để nêu bật bản sắc văn
hoá Việt Nam như: vấn đề Tổ quốc (người Việt Nam là con người Tổ quốc
luận); vấn đề gia đình Việt Nam; vấn đề thân phận; vấn đề diện mạo… Từ đó
đi đến khẳng định: Bản sắc văn hoá dân tộc là sự lựa chọn văn hoá của mỗi
dân tộc. Nó là sức mạnh vốn có để một dân tộc, một đất nước tồn tại và phát
triển.
Có thể khái quát: Bản sắc văn hoá dân tộc là toàn bộ tâm hồn, khí phách
sâu xa nhất của dân tộc, nơi hội tụ các phẩm chất đặc sắc của văn hoá cộng
đồng, là cái lõi bên trong như là căn cước của một dân tộc.
- Nhờ bản sắc dân tộc, chúng ta biểu lộ được trọn vẹn sự hiện diện của
dân tộc trong giao lưu. Chỉ giữ được bản sắc văn hoá dân tộc ta mới có điều
kiện giao lưu bình đẳng với các nền văn hoá thế giới, còn sao chép, trở thành
“cái bóng” “cái đuôi” của người ta thì không còn có gì mà hội nhập bình
đẳng. Theo hướng đó, bản sắc văn hoá dân tộc là cơ sở khẳng định bản lĩnh
của dân tộc.


19
- Cái bất biến của bản sắc lại hàm chứa cái khả biến. Qua các thời kỳ lịch
sử bản sắc văn hoá của dân tộc luôn luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển
và biến hoá bởi sự nghiệp lao động và chiến đấu của nhiều thế hệ trong lịch
sử dân tộc.

- Bản sắc dân tộc của văn hoá không phải là sự phản ánh thứ một chủ
nghĩa dân tộc hẹp hòi. Hướng tới giữ gìn và phát triển bản sắc dân tộc của văn
hoá là hướng tới tự do dân tộc trong tự do chung của nhân loại. Địa chỉ của
giá trị văn hoá nhân loại nằm trong giá trị văn hoá của mỗi dân tộc .
Khảo sát bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam là tìm diện mạo của nó
có tính bền vững, tìm giá trị của nó để phát huy và tìm hướng phát triển nó.
Cả khuynh hướng tự ti dân tộc, lẫn khuynh hướng tự cao dân tộc đều đối lập
với phép biện chứng duy vật khi phân tích bản sắc văn hoá dân tộc trong thời
đại mới. Mỗi dân tộc vươn lên khẳng định bản sắc phải đặt trong mối quan hệ
với các giá trị nhân loại. Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là chăm lo cho
sự trường tồn và phát triển sức sống của dân tộc. Song, điều này khác hẳn xu
hướng phục cổ như đã xảy ra gần đây ở nhiều nơi trong ma chay, cưới xin, lễ
hội… Trong bài nói tại Hội nghị cán bộ văn hoá 20/10/1958, Chủ tịch Hồ Chí
Minh chỉ rõ “nói là khôi phục vốn cũ thì nên khôi phục cái gì tốt, còn cái gì
không tốt thì phải loại dần ra. Xem ra thì năm nay tương đối khá, còn như
năm ngoái, khi khôi phục vốn cũ thì khôi phục cả đồng bóng,rước xách thần
thánh. Vì khôi phục như thế nên ở nông thôn nhiều nơi quên cả sản xuất, cứ
trống mõ bì bõm, ca hát lu bù”. Việc lựa chọn những giá trị truyền thống để
kế thừa và phát triển thể hiện quá trình tự ý thức dân tộc, quá trình tự nhận
thức, tự khám phá về mình xuất phát từ tầm cao mới của lịch sử, là quá trình
gạn đục khơi trong và là sự tiếp nối dòng chảy liên tục của lịch sử dân tộc
trong thế giới hiện đại.
2.2. Mối quan hệ giữa tính tiên tiến và tính bản sắc của nền văn hoá Việt
Nam


20
Bản sắc dân tộc với tính chất tiên tiến của nền văn hoá nước ta là quan
hệ hữu cơ thống nhất. Nền văn hoá tiên tiến phải là nền văn hoá đậm đà bản
sắc dân tộc bởi “gốc của văn hoá là dân tộc”. Ở phần sâu xa nhất tạo thành

linh hồn và sức sống bền vững của nó, văn hoá bao giờ cũng mang bản sắc
dân tộc. Quá trình quốc tế hoá càng tăng thì yếu tố dân tộc, ý thức về cội
nguồn, ý thức độc lập tự chủ càng tăng. Ngược lại nền văn hoá mỗi dân tộc
càng phát triển đậm đà về bản shắc thì càng phong phú, gần gũi và thống nhất
thêm bấy nhiêu nền văn hoá nhân loại. Đó là biện chứng lịch sử dân tộc, lịch
sử văn hoá dân tộc, lịch sử nhân loại và lịch sử văn hoá nhân loại.
Sự thống nhất giữa tính tiên tiến và tính bản sắc của nền văn hoá mới cần
được nhận thức trên một số phương diện chủ yếu sau:
2.2.1. Quan hệ giữa “tiên tiến” với “bản sắc dân tộc” là sự thống nhất
hữu cơ, song có hệ qui chiếu vận động riêng
- Quan hệ gắn bó, tác động qua lại, qui định lẫn nhau:
+ Chỉ xây dựng được nền văn hoá tiên tiến khi kết tinh được trong đó
những giá trị cốt lõi và đặc sắc của dân tộc mang tính bền vững trường tồn
trong lịch sử.
+ Những giá trị văn hoá tiên tiến được sáng tạo ngày càng làm dày thêm
di sản văn hoá dân tộc và làm cho bản sắc dân tộc vươn tới trình độ tiên tiến,
thấm hơi thở hiện đại và phát huy vai trò trong đời sống hiện thực.
+ Phải nắm thực chất “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc, phải nhận thức rằng
bản sắc dân tộc là cội nguồn, khởi đầu và là nền tảng tinh thần. Đồng thời, cái
mới chân chính nào cũng không “bay bổng” khỏi mảnh đất truyền thống.
+ Mọi giá trị văn hoá chỉ là tiên tiến khi đáp ứng được nhu cầu chân
chính của dân tộc, của cộng đồng, được thừa nhận, trở thành thói quen tư duy
và hành động sáng tạo.


21
+ “Tiên tiến” không tách rời mà luôn gắn bó hữu cơ với bản sắc dân tộc.
Yêu nước và tiến bộ, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thực sự đã
chứa đựng trong nó những giá trị cốt yếu nhất của bản sắc dân tộc.
+ Bản sắc dân tộc cần được làm dày thêm thông qua giao lưu văn hoá,

tiếp thu những giá trị văn hoá tiên tiến của văn hoá nhân loại.
+ Những giá trị văn hoá tiên tiến phải thích ứng, phù hợp với truyền
thống bản sắc văn hoá dân tộc và phát triển, chuyển hoá thành sức sống bên
trong, trở thành động lực quan trọng giữ gìn, phát huy truyền thống văn hoá
dân tộc, thúc đẩy xã hội, con người phát triển tiến bộ.
+ Chỉ nhấn mạnh “tiên tiến” sẽ làm cho sự phát triển văn hoá dân tộc
không bền vững, “mất gốc”, kìm hãm yếu tố nội sinh. Đánh mất bản sắc văn
hoá của mình thì dân tộc ta không còn là dân tộc Việt Nam nữa.
+ Nếu quá nhấn mạnh bản dân tộc sẽ dẫn đến tình trạng trì trệ chậm đổi
mới, phủ nhận tính năng động sáng tạo, tụt hậu, kìm hãm xã hội phát triển.
- Mối quan hệ giữa “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc” có sự tương tác qua
lại, mỗi mặt vận động theo hệ qui chiếu riêng, song không phải là sự vận động
ngược chiều mà là sự chuyển hoá lẫn nhau:
+ Tiên tiến theo hệ qui chiếu là sự giữ gìn, củng cố phát triển, khẳng
định nền tảng và định hướng nền văn hoá phát triển theo những tiêu chuẩn
tiến bộ, hiện đại và nhân văn.
+ Tiên tiến đòi hỏi bản sắc dân tộc luôn vươn lên, tự lọc bỏ yếu tố lạc
hậu, tự nâng mình lên tầm hiện đại để bảo tồn, đổi mới, sáng tạo, phát triển.
+ Bản sắc dân tộc đòi hỏi mọi sáng tạo, mọi sự tiếp thu những giá trị văn
hoá tiên tiến của nhân loại, thời đại phải dựa chắc trên cơ sở truyền thống bản
sắc văn hoá dân tộc.
2.2.2. Quan hệ giữa tiên tiến và bản sắc dân tộc trong xây dựng nền văn
hoá thực chất là phản ánh sự thống nhất giữa tính phổ quát và tính bắc sắc
- Đây là hai đặc tính cốt lõi của văn hoá


22
+ Tính phổ quát của văn hoá thể hiện ở chỗ bất cứ nền văn hoá nào cũng
xuất phát từ con người và vì con người, đều hướng tới chân, thiện, mỹ để phát
triển. Trong bất cứ nền văn hoá nào cũng có thể tìm thấy vô số yếu tố chung

với các nền văn hoá khác.
+ Tính bản sắc của văn hoá thể hiện ở chỗ, văn hoá bao giờ cũng gắn với
cộng đồng người nhất định. Mỗi nền văn hoá chứa đựng những yếu tố đặc
trưng riêng độc đáo, phản ánh điều kiện sinh hoạt của từng cộng đồng và bản
thân đời sống cộng đồng ấy. Do có tính bản sắc mà văn hoá giữ được sự đa
dạng, phong phú, độc đáo trong mỗi dân tộc, cộng đồng qua chiều dài thăng
trầm của lịch sử.
- Tính phổ quát và tính bản sắc của văn hoá thống nhât biện chứng. Văn
hoá mang tính bản sắc riêng nhất khi tồn tại trong từng cá nhân và tính phổ
quát cao nhất với tư cách là văn hoá nhân loại. Song tính phổ quát và tính bản
sắc có sự chuyển hoá. Phản ánh tính phổ quát và tính bản sắc, văn hoá luôn
phát triển thống nhất trong sự đa dạng và phát triển một cách đa dạng trong sự
thống nhất. Đồng thời, tính phổ quát và tính đa dạng còn được thể hiện ở mối
quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại của mỗi nền văn hoá.
Trong truyền thống văn hoá dân tộc, tính liên tục tiếp nối các giá trị văn
hoá là nét đặc trưng. Mỗi nền văn hoá không chỉ bao gồm văn hoá truyền
thống mà còn có các yếu tố hiện và ngày càng vươn tới hiện đại. Tiếp thu các
yếu tố hiện đại phải là sự củng cố làm dày thêm truyền thống và truyền thống
chỉ có thể phát triển khi không ngừng được bổ sung những giá trị tiên tiến của
thời đại. Và, giá trị văn hoá hiện đại chỉ được “tiêu dùng” khi đáp ứng nhu
cầu văn hoá chân chính của dân tộc, hợp với tâm hồn, cốt cách văn hoá đã trở
thành truyền thống, bản sắc của dân tộc.
- Xây dựng nền văn hoá ở nước ta hiện nay phải trên cơ sở mối quan hệ
giữa tính phổ quát với tính bản sắc, giữa truyền thống với hiện đại mới giải
quyết đúng đắn mối quan hệ giữa “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc”.


23
2.2.3. Mối quan hệ giữa “tiên tiến” và “bản sắc dân tộc” trong xây
dựng nền văn hoá hiện nay phản ánh các qui luật cơ bản của sự phát triển

văn hoá
- Quy luật sáng tạo văn hoá: quy luật này vạch rõ sự phát triển văn hoá
bắt đầu từ chính quá trình hoạt động sáng tạo của con người.
+ Hoạt động sáng tạo và sáng tạo văn hoá là bản chất và đặc trưng riêng
của con người. Sự sáng tạo văn hoá liên tục được nảy sinh trong sản xuất vật
chất, sản xuất tinh thần, trong tổ chức đời sống vật chất và đời sống tinh thần,
trong quản lý, tổ chức, các hoạt động… Vì vậy, để xây dựng nền văn hoá tiên
tiến không thể chỉ trông chờ vào ngoại lực, mà phải không ngừng sáng tạo
những giá trị văn hoá tiên tiến hợp quy luật.
+ Thực chất của mọi quá trình sáng tạo là hình thành phát triển, khẳng
định những nhân tố mới tiên tiến, hợp qui luật.
- Quy luật kế thừa văn hoá.
+ Kế thừa là qui luật trong sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng. Mỗi
nền văn hoá chỉ có thể phát triển vững chắc khi biết kế thừa được kho tàng
văn hoá quí báu, vô tận của nhân loại trong lịch sử và thời đại. Đồng thời, có
kế thừa mới làm cho nền văn hoá mỗi dân tộc luôn mang đậm bản sắc văn hoá
dân tộc.
+ Kế thừa văn hoá là dòng chảy liên tục từ quá khứ đến hiện tại và tương
lai. Vì thế mà văn hoá phát triển liên tục có chiều sâu có sức sống bền vững
và phát huy được vai trò to lớn trong đời sống cộng đồng.
+ Kế thừa không phải bằng mọi giá mà có chọn lọc, có định hướng theo
mục đích của giai cấp, dân tộc.
- Quy luật giao thoa và tiếp biến văn hoá.
+ Là sự phát triển văn hoá trong giao lưu văn hoá, qua giao lưu văn hoá
nhằm kết tinh các yếu tố văn hoá tiên tiến từ các tiểu cộng đồng, các vùng văn


24
hoá thành đặc trưng chung, khắc phục xu hướng khu biệt hoá; mở rộng hội
nhập, làm cho các nền văn hoá xích lại gần nhau trong sự phát triển đồng đại.

+ Tác động của qui luật này diễn ra theo một hay nhiều phương thức như
đồng đẳng, đồng hoá, xung đối...
3. Định hướng, nguyên tắc và giải pháp xây dựng nền văn hoá tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
3.1. Một số định hướng
3.1.1. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc theo
định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Văn hoá tiên tiến thực chất là sự tiếp nối truyền thống yêu nước và
nhân văn gắn với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản.
- Bản sắc dân tộc của văn hoá tiên tiến cũng là những giá trị tiêu biểu của
truyền thống được tiếp tục phát triển trong công cuộc xây dựng mới.
- Văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc gắn chặt với định hướng xã
hội chủ nghĩa mới trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội.
3.1.2. Xây dựng nền văn hoá một cách toàn diện, liên tục và có chiều
sâu
- Xây dựng văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải toàn diện: cả
vĩ mô, vi mô, cả nội dung - hình thức, cả không gian văn hoá, chủ thể văn
hoá… văn hoá vùng, miền, cả văn hoá dân gian và văn hoá bác học.
- Biết kết hợp mục tiêu cụ thể với mục tiêu xuyên suốt.
- Đưa việc giải quyết mối quan hệ giữa “tiên tiến” với “bản sắc dân tộc"
đi vào chiều sâu.
3.2. Nguyên tắc xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc
3.2.1 Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý
của nhà nước và vai trò làm chủ của nhân dân.
- Đảng lãnh đạo văn hoá và văn hoá lãnh đạo của Đảng.
- Nhà nước quản lý bằng pháp luật và văn hoá quản lý,văn hoá pháp luật.


25

- Bảo đảm tự do, dân chủ cho mọi sáng tạo văn hoá (Đại hội IX, tr.115).
(nhân dân làm chủ văn hoá và văn hoá làm chủ của nhân dân).
3.2.2. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ khách quan – chủ quan
- Phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn.
- Tích luỹ về lượng để nhảy vọt về chất.
- Kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống: “Nhân rộng những điển hình tốt
trên các mặt sản xuất, kinh doanh và các hoạt động xã hội; kiên quyết đấu
tranh loại trừ các hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội” (Đại hội IX,
tr.296).
- Tận dụng điều kiện, thời cơ và phát hiện, bồi đắp các khả năng có lợi.
- Nhận thức và vận dụng các qui luật phát triển văn hoá.
+ Tạo điều kiện để con người phát triển tự do, toàn diện và kích thích
khả năng sáng tạo của quần chúng.
+ Không bê nguyên si cái cổ truyền hoặc bài tân, thủ cựu; loại bỏ các
phản giá trị, đặt giá trị vào đúng không gian, thời gian văn hoá và vai trò của
nó. Chống hư vô lịch sử; hiện đại hoá lịch sử.
+ Phát triển văn hoá thống nhất trong đa dạng và đa dạng trong thống
nhất. Giao lưu văn hoá quốc tế phải chủ động, tích cực, chọn lựa để đổi mới
nhưng không đổi màu; hội nhập nhưng không hoà tan.
3.3. Các giải pháp chủ yếu
3.3.1. Giữ gìn, phát huy và phát triển truyền thống, bản sắc văn hoá
dân tộc
- Tiến hành kiểm kê toàn bộ di sản văn hoá vật thể.
- Sau tầm, giới thiệu, khôi phục các di sản văn hoá phi vật thể. “Bảo tồn
và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn học, nghệ thuật, ngôn
ngữ, chữ viết và thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các di tích lịch
sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; khai thác các kho tàng văn hoá cổ
truyền” (Đại hội IX – tr.115).



×