Tải bản đầy đủ (.docx) (31 trang)

Nghiên cứu về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học, tác dụng dược lý của cây chè dung symplocos racemosa roxb. dự kiến dạng bào chế, bao bì đóng gói

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.02 MB, 31 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN
KHOA DƯỢC


ĐỒ ÁN PBL VỀ DƯỢC LIỆU
NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT, THÀNH PHẦN HÓA HỌC,
TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA CÂY CHÈ DUNG
Symplocos racemosa Roxb.
DỰ KIẾN DẠNG BÀO CHẾ, BAO BÌ ĐÓNG GÓI

Giáo viên hướng dẫn :

Đà Nẵng, ngày 30 tháng 1 năm 2016

DS. Đặng Xuân Khoa


MỤC LỤC

2


ĐẶT VẤN ĐỀ
Chè Dung theo kinh nghiệm dân gian trước đây là một phương thuốc chữa bệnh,
đặc biệt là bệnh dạ dày, bệnh tá tràng, sỏi thận, gan nhiễm mỡ...được người dân sử dụng
như một thức uống hằng ngày (Trích “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của cố GS
Đỗ Tất Lợi). Trong quá trình nghiên cứu thực địa về cây thuốc tại bán đảo Sơn Trà ngày
9/1/2016, nhóm khảo sát chúng tôi đã phát hiện cây chè Dung mọc tự nhiên ở độ cao
khoảng 300 đến 1500 mét rãi rác trên bán đảo Sơn Trà. Lá tươi được bà con nông dân
bản địa khai thác quanh năm, cao điểm từ tháng 9 đến tháng 12. Nguồn dược liệu thô này
được tiêu thụ ở các quầy thuốc đông y nhỏ lẻ, các cơ sở kinh doanh thuốc nam tại các chợ


trên địa bàn như chợ Diễm (Hòa Khánh nam), chợ Cồn… Nhận thấy đây là nguồn tài
nguyên thiên nhiên có tiềm năng khá lớn, cần nghiên cứu nên nhóm chúng tôi đã đi vào
tìm hiểu đặc điểm thực vật, các loài trong họ,nghiên cứu thành phần hóa học, công dụng
trị bệnh của cây chè Dung, có tên khoa học là : Symplocos racemosa Roxb, nhằm góp
một phần nhỏ bé tạo cơ sở cho những nghiên cứu quy mô hơn nhằm phát triển nguồn cây
dược liệu, chế biến ra những sản phẩm tiêu dùng cho xã hội, tạo ra giá trị kinh tế và góp
phần tạo việc làm cho đồng bào vùng nông thôn ven bán đảo Sơn Trà.

3


PHẦN 1. TỔNG QUAN
1.

VỀ THỰC VẬT

1.1. Vị trí phân loại
Chè Dung ở Sơn Trà còn gọi là Dung đất, Mu ếch, Dung chùm – Tên khoa học là
Symplocos racemosa Roxb, thuộc họ Dung - Symplocaceae. Bộ Chè Theales.
Cần phân biệt với hai loài khác cùng họ là:
Dung đen, Dung lịa, Nhóc – Symplocos poilanei Guillaumin [S. glomerata King
ex Clarke subsp. Congesta (Benth.) Noot. Var poilanei (Guillaumin) Noot.] thuộc
họ Dung – Symplocaceae.
- Dung lụa, Dung dẻo – Symplocos sumuntia Buch. – Ham ex D. Don (S. caudata
Wall. Ex A. DC.), thuộc họ Dung – Symplocaceae.
• Sinh thái: Mọc rải rác trong rừng thưa,đồi hoang, savan cây bụi ở độ cao tới
2000m
• Phân bố: Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải
Phòng, Ninh Bình, Thanh Hóa vào Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng Khánh Hòa, Ninh
Thuận, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu, An Giang.

-

1.2.

Thành phần các loài trong chi

Một số loài trong họ Dung (Symplocaceae).


S. adenophylla - dung chè, cây gỗ nhỏ, Đông Dương



S. chapaensis - dung Sa pa, cây gỗ nhỏ, Đông Dương



S. cochinchinensis - dung nam, cây gỗ nhỏ, Việt Nam



S. coreana - cây bụi, lá sớm rụng, cao tới 5m; Nhật Bản, Triều Tiên



S. ferruginea: Kháo[1]






S. glauca - cây gỗ, thường xanh, cao tới 15m; Nhật Bản, Đài Loan, Trung
Quốc, Đông Dương
S. lancifolia - cây gỗ, thường xanh, cao tới 5m; Nhật Bản

4




S. lucida - Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Á, Malesia



S. myrtacea - cây gỗ, thường xanh, cao tới 10m; Nhật Bản



S. paniculata - cây bụi, lá sớm rụng, cao tới 8m; Nhật Bản, Hàn Quốc; phổ biến
như một loại cây cảnh.



S. poilanei - dung sạn, gỗ nhỏ



S. prunifolia - cây gỗ, thường xanh, cao tới 10m; Nhật Bản, Triều Tiên




S. racemosa - Trung Quốc, Nam Á



S. sordida - dung úa, gỗ nhỏ



S. tanakae - cây gỗ, thường xanh; Nhật Bản



S. theophrastaefolia - cây gỗ, thường xanh, cao tới 15m; Nhật Bản, Đài Loan,
Trung Quốc
Ở Việt Nam có 1 chi: 35 loài.
1.3.



Đặc điểm thực vật chi

Symplocos là một chi thực vật có hoa trong bộ Ericales. Nó chứa khoảng 300 loài
phân bố ở châu Á và châu Mỹ. Nhiều loài mọc ở các vùng nhiệt đới ẩm. Đây là chi
duy nhất trong gia đình Symplocaceae. Các loài trong chi này thường là cây gỗ hay
cây bụi, với các lá có khía răng cưa, thiếu lá kèm, thường có màu hơi vàng. Hoa màu
trắng hay vàng mọc thành cụm với các hoa nhỏ. Bầu nhụy nhỏ. Quả là loại quả hạch.
1.4.

Nguồn gốc và phân bố một số loài dùng làm thuốc ở các địa phương.


Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu một số loài có trong từ điển cây thuốc Việt Nam của tác
giả Võ Văn Chi

Giới thiệu một số loài được ghi trong từ điển cây thuốc Việt Nam:
5


Dung chụm

Dung chụm – Symplocos glomerata King ex C.B. Clarke var.Glomerata, thuộc họ Dung –
Symplocaceae.
Phân bố: Lào Cai, Lai Châu, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Gia Lai, Đồng Nai.Còn có
ở Ấn Độ, Mianma, Nam Trung Quốc và bán đảo Mã Lai.
Bộ phận dùng: Rễ – Radix Symplocoris Glomeratae.
Công dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ dùng trị đòn ngã.
Dung đất

6


Dung đất, Mu ếch, Dung chùm – Symplocos racemosa Roxb., thuộc họ Dung –
Symplocaceae.
Phân bố: Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hải Phòng, Ninh
Bình, Thanh Hóa vào Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình
Phước, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu và An Giang.Còn phân bố ở Ấn Độ,
Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Nam Trung Quốc.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, vỏ rễ, lá – Cortex, Cortex Radicis e Folium Symplocoris
Racemosae.
Công dụng: Hoa rất thơm, rất được ong ưa thích. Quả ăn được, vỏ được dùng để nhuộm

và cả để giữ màu. Vỏ dùng chữa rong kinh, đau bụng, đau ruột, bệnh về mắt, loét. Nước
sắc còn dùng làm thuốc súc miệng chữa lợi răng chảy máu; cũng được dùng để chữa đái
ra đường trấp. Lá được dùng làm chè uống cho tiêu cơm; cũng được dùng chữa đau bụng
và ỉa chảy. Người ta còn dùng nước sắc và sirôlà dung đất chữa đau dạ dày có tăng toan
Ở Ấn Độ, vỏ cây Dung đất được dùng dưới dạng bột hay thuốc sắc trị đau bụng, các bệnh
đau mắt và các vết loét.
Ở Trung Quốc, là được dùng trị đau mắt nhiệt; rễ dùng trị đòn ngã.
Dung đen

7


Dung đen, Dung lịa, Nhóc – Symplocos poilanei Guillaumin [S. glomerata King ex
Clarke subsp. Congesta (Benth.) Noot. Var poilanei (Guillaumin) Noot.] thuộc họ Dung –
Symplocaceae.
Phân bố: Quảng Ninh, Hà Nội, Ninh Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Lâm Đồng, Khánh
Hòa.Còn có ở Trung Quốc.
Bộ phận dùng: Lá – Folium Symplocoris Poilanei.
Công dụng: Gỗ mềm, dùng là nhà và đồ đạc thông thường. Lá Dung đen nấu nước dùng
tắm ghẻ và trị nấm.
Dung hoa chùy

Dung hoa chùy, Dung lá táo, Dung tàu – Symplocos paniculata (Thunb.) Wall. Ex D.
Don, thuộc học Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Ở nước ta, có gặp từ Lào Cai, Sơn La, Lạng Sơn, Ninh Bình tới Thừa Thiên
Huế.Còn phân bố ở Bắc Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, đào Đài Loan, Triều Tiên, Nhật
Bản, Lào.
Bộ phận dùng: - Toàn cây – Herba Symplocoris Paniculatae.
Công dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc), dùng trị viêm tuyến sữa, viêm hạch Lympho, sán
khí, đau viêm ruột, ung thư dạ dày, sốt cao không nói được và vết thương bỏng cháy. Có


8


nơi dùng là trị dao chém xuất huyết và dùng dễ trị sởi cấp tính. Quả chiết được dầu thắp.
Vỏ, rễ và lá được dùng trong nông dược.
Ở Ấn Độ, vỏ cây cũng được dùng như vỏ cây Dung đất Symplocos racemosa làm tăng
trương lực, dùng trị đau mắt.
Dung lá thon

Dung lá thon, Dung lá mác – Symplocos lancifolia Sieb. Et Zucc., thuộc họ Dung –
Symplocaceae.
Phân bố: Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh vào Nghệ An, Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế và Đà Nẵng.Còn phân bố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Philippin.
Bộ phận dùng: Rễ, lá – Radix et Folium Symplocoris Lancifoliae.
Công dụng: Rễ được sử dụng ở Vân Nam (Trung Quốc) làm thuốc trị đòn ngã. Lá nấu
nước uống thay trà và cũng được sử dụng ở Quảng Tây (Trung Quốc) làm thuốc trị sang
tiết, bệnh mụn cơm và ngoại thương xuất huyết.

9


Dung lá trà

Dung lá trà, Dung đắng – Symplocos laurina (Retz.) Wall [S. cochinchinensis Lour. ssp.
Laurina (Retz.) Noot.], thuộc họ Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Lào Cai, Sơn La, Quảng Ninh, Hải Dương, Bắc Ninh, Phú Thọ, Hà Nội, Hà
Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Kon
Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Phước, Bình Dương,
Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa- Vũng Tàu và Kiên Giang. Còn có ở Ấn Độ, Xri Lanca,

Mianma, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan.
Bộ phận dùng: Rễ, vỏ cây – Radix et Cortex Symplocoris Laurinae.
Công dụng: Rễ và vỏ cây được sử dụng làm thuốc trị đòn ngã, thương phong đầu váng,
người nóng miệng khát và cảm mạo sốt cao; vỏ cây còn dùng chữa lỵ, ỉa chảy và hậu bối,
đọt lá dùng đắp trị bỏng.
Dung láng
Dung láng, Dung sáng – Symplocos lucida (Thumb.) Sieb, et Zucc. (S. elephantis
Guilaumin, S. ernestii Dunn), thuộc họ Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Quảng Ninh, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng, An
Giang. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan,
Malaixia, Indonexia, Philippin.

10


Bộ phận dùng: Rễ, lá – Radix et Folium Symplocoris Lucidae.
Công dụng: Rễ được dùng ở Vân Nam (Trung Quốc) làm thuốc chỉ khái, tiêu trướng; lá
dùng trị ho và suyễn nghịch.
Dung lụa

Dung lụa, Dung dẻo – Symplocos sumuntia Buch. – Ham ex D. Don (S. caudata Wall. Ex
A. DC.), thuộc họ Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Ở nước ta, có gặp từ Lào Cai, Phú Thọ, Hòa Bình, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình,
Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Ninh
Thuận đến Đồng Nai. Còn phân bố ở Ấn Độ, Nepan, Mianma, Trung Quốc, Triều Tiên,
Nhật Bản, Lào, Campuchia, Thái Lan và Malaixia.
Bộ phận dùng: Rễ, lá, hoa – Radix, Folium et Flos Symplocoris Sumuntiae.
Công dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc), rễ, hoa dùng trị hoàng đản, ho, phong thấp tê đau;
lá dùng trị viêm amygdal cấp tính và lở miệng.
Dung mốc

Dung mốc, Dung xanh, Dung xám – Symplocos glauca (Thunb.) Koidz, thuộc họ Dung –
Symplocaceae.
Phân bố: Lào Cai, Phú Thọ, Hà Nội, Quảng Trị, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng.
Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản.
Bộ phận dùng: Vỏ thân – Cortex Symplocoris Glaucae.
11


Công dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc) vỏ thân được dùng làm thuốc trị cảm mạo.
Dung rất xanh
Dung rất xanh – Symplocos viridissima Brand, thuộc họ Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Lâm Đồng. Còn có ở Ấn Độ, Mianma, Nam
Trung Quốc.
Bộ phận dùng: Lá – Folium Symplocoris Viridissimae.
Công dụng: Ở Vân Nam (Trung Quốc), là được dùng làm thuốc chỉ huyết.
Dung sạn

Dung sạn, Dung Nam, Dung bộp – Symplocos cochinchinensis (Lour.) S. Moore, thuộc
họ Dung – Symplocaceae.
Phân bố: Ở nước ta, có gặp tại Sơn La, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa
Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Đồng và một số nơi ở Nam Bộ. Còn có ở Ấn Độ,
Mianma, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Nhật Bản đến Malaixia, Indonexia, Philippin và
Irian.
Bộ phận dùng: Rễ – Radix Symplocoris Cochinchinensis.
Công dụng: Rễ được dùng ở Vân Nam (Trung Quốc) làm thuốc trị ho.

12



PHẦN 2. THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ
2.1.

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1.1.

Đối tượng nghiên cứu

Cây chè Dung Symplocos racemosa Roxb, thuộc họ Dung - Symplocaceae. Bộ Chè
Theales.
2.1.2.

Địa điểm thu hái

Thu hái trên Bán Đảo Sơn Trà ở độ cao từ 300-1500m.
2.1.3.

Phương pháp nghiên cứu :
-

-

Nghiên cứu đặc điểm thực vật : Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của cây trên
thực địa,thu mẫu quan sát,đối chiếu các tài liệu đã nghiên cứu về thực vật
trước đây để định danh cây Dung trên Sơn trà.
Nghiên cứu các thành phần hóa học tại phòng thí nghiệm,đối chiếu so sánh
với các tài liệu nghiên cứu trước đây nhằm so sánh thành phần, hàm lượng
hoạt chất.


2.2. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM VÀ NHẬN XÉT
2.2.1.

Nghiên Cứu về thực vật
2.2.1.1.

Đặc điểm hình thái của cây

Mô tả: Cây dung đất là loại cây nhỏ, vỏ nức sâu, cao 1,5-2m, nhưng có thể cao 4-5m hay
8-9m (nếu để lâu không bị đốn chặt). Lá mọc so le, dày, cuống ngắn, hình trứng thuôn
dài, phía cuống hẹp lại, phiến lá dài 9-15cm, rộng 3-6cm, mép có răng cưa ngắn, thưa,
mặt nhẵn, khi khô có màu vàng xanh hay vàng nâu. Hoa nhiều, màu trắng hay vàng lục
nhạt, mọc thành chùm ở nách lá hay ở đầu cành. Hoa mọc thành cụm, có 1 lá hoa và 2 lá
hoa con mọc đối nhau hay mọc ở đỉnh cuống hoa; đài 5 - 2 hợp; tràng 5 - 4 cánh trắng,
kích thước 4-5 mm, sớm rụng; nhị đính thành bó hay thành ống và đính trên ống tràng;
13


bầu dưới.Cuống hoa ngắn, trên mặt có phủ lông đen mịn màu hung. Hoa có mùi thơm,
nên ong rất thích. Quả hạch thường hình bầu dục hay hình thoi có vết tích đài chụm rất
lớn ở đỉnh ăn được, hình thuôn dài, dài 6-10mm, trên đỉnh có phiến đài, thịt quả màu tím
đỏ. Hạt thường 1-3 hạt, màu nâu.
Nơi sống và thu hái: Loài cây của lục địa Nam Á, mọc ở rừng thưa, savan cây gỗ, quần
hệ thứ sinh trên đất nghèo ở độ cao thấp và tới độ cao 1500m từ Cao Bằng, Lạng Sơn,
Vĩnh Phú, Quảng Ninh đến các tỉnh vùng Tây Nguyên. Còn phân bố ở Ấn Độ, Nam
Trung Quốc, Lào, Campuchia.
Thu hái vỏ thân hay vỏ rễ quanh năm, bóc vỏ về phơi hay sấy khô; vỏ mềm, dễ gãy vụn.
Lá thu hái quanh năm, mang về phơi hay sấy khô dùng dần.
Bộ phận dùng: Vỏ cây, vỏ rễ, lá - Cortex, Cortex Radicis et Folium Symplocoris
Racemosae.

Tính vị, tác dụng theo dân gian: Vỏ có vị se hơi thơm, tính mát.
Công dụng, chỉ định và phối hợp theo kinh nghiệm y học cổ truyền Trung Hoa và
Việt Nam: Hoa rất thơm, rất được ong ưa thích. Quả ăn được, vỏ được dùng để nhuộm
và cả để giữ màu. Vỏ dùng chữa rong kinh, đau bụng, đau ruột, bệnh về mắt, loét. Nước
sắc còn dùng để làm thuốc súc miệng chữa lợi răng chảy máu; cũng được dùng để chữa
đái ra dưỡng trấp. Lá được dùng làm chè uống cho tiêu cơm; cũng dùng chữa đau bụng
và chữa ỉa chảy. Người ta còn dùng nước sắc và xirô lá Dung đất chữa đau dạ dày có tăng
toan (Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng đã sử dụng với liều 15-30g lá khô mỗi ngày cho
người lớn, đạt kết quả tốt).
Ở Ấn Độ, vỏ cây Dung đất được dùng dưới dạng bột hay thuốc sắc trị đau bụng, các bệnh
đau mắt và các vết loét.
Ở Trung Quốc, lá được dùng trị đau mắt nhiệt, rễ dùng trị đòn ngã. Chữa rong kinh do sự
dãn nở của các mô ở tử cung và chữa đái ra máu: Vỏ Dung đất tán bột trộn với đường,
với liều 1g, ngày uống 3 lần, liên tục trong 3-4 ngày.
2.2.1.2.

Đặc điểm dược liệu

Lá thu hái trên rừng về phơi khô. Lá có màu vàng xanh nhạt hoặc vàng nâu nhạt. Mùi
thơm nhẹ đặc trưng.

14


2.2.2.

Nghiên cứu thành phần hóa học

Thành phần hóa học : Lá có tanin, hợp chất flavonoid.(Theo từ điển cây thuốc của tác
giả Võ Văn Chi)

2.2.2.1.

Flavonoid

Các dẫn chất flavonoid có khả năng dập tắt các gốc tự do như HO *, ROO*…. Các gốc này
sinh ra trong tế bào bởi nhiều nguyên nhân và khi sinh ra cạnh DNA,các chất béo màng
tế bào…thì sẽ gây ra những ảnh hưởng nguy hại như gây biến dị, hủy hoại tế bào, gây
ung thư, tăng nhanh sự lão hoá.
Thí nghiệm cho thấy khả năng làm mất gốc tự do của một số flavonoid theo thứ tự:
myricetin >quercetin> rhammetin> morin> diosmetin> naringenin> apigenin>
catechin> 5,7 dihydroxy-3', 4', 5' trimethoxy flavon> robinin> kaempferol> flavon.
Flavonoid tạo được phức với các ion kim loại mà chính các ion kim loại này là xúc tác
của nhiều phản ứng oxy hoá. Các flavonoid có 3,5,3',4' hydroxy có khả năng liên kết tốt
với các ion kim loại đó theo phức oxychromon, oxycarbonyl hoặc 3',4' orthodioxyphenol.

Thành phần của màng tế bào có các chất lipid dễ bị peroxyd hoá, tạo ra những sản phẩm
làm rối loạn sự trao đổi chất cũng dẫn đến sự huỷ hoại tế bào. Đưa các chất chống oxy
hoá như flavonoid vào cơ thể để bảo vệ tế bào thì có thể ngăn ngừa các nguy cơ như xơ
vữa động mạch, tai biến mạch, lão hoá , tổn thương do bức xạ, thoái hoá gan...
Flavonoid cùng với acid ascorbic acid ascorbic tham gia trong quá trình hoạt động của
enzym oxy hoá - khử. Flavonoid còn ức chế tác động của hyaluronidase. Enzym này làm
tăng tính thấm của mao mạch. Khi enzym này thừa thì gây hiện tượng xuất huyết dươi da
mà y học gọi là bệnh thiếu vit. P (P avitaminose). Các chế phẩm chứa flavonoid chiết từ
các loài Citrus như "Cemaflavone", "Circularine"....
15


Flavonoid từ lá bạc hà (diosmin) như "Daflon", "Diosmil", flavonoid từ hoa hoè (rutin)
với nhiều biệt dược khác nhau đã chứng minh tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm
tính "dòn" và tính thấm của mao mạch. Tác dụng này được hợp lực cùng với acid

ascorbic. Flavonoid được dùng trong các trường hợp rối loạn chức năng tĩnh mạch, tĩnh
mạch bị suy yếu, giãn tĩnh mạch, trĩ, chảy máu do đặt vòng trong phụ khoa, các bệnh
trong nhãn khoa như sung huyết kết mạc, rối loạn tuần hoàn võng mạc. Các dẫn chất
anthocyanosid có tác dụng tái tạo tế bào võng mạc và đã được chứng minh có tác dụng
tăng thị lực vào ban đêm.
Tác dụng chống độc của flavonoid thể hiện làm giảm thương tổn gan, bảo vệ được chức
năng gan khi một số chất độc được đưa vào cơ thể súc vật thí nghiệm (CCl4, benzen,
ethanol, CHCl3, quinin, novarsenol...) Dưới tác dụng của flavonoid ngưỡng acid ascorbic
được ổn định đồng thời lượng glycogen trong gan tăng. Sự tích luỹ glycogen có ý nghĩa
quan trọng trong việc nâng cao chức năng giải độc gan.
Việc sử dụng một số dược liệu trong điều trị viêm gan, xơ gan, bảo vệ tế bào gan rất hiệu
quả như: cây actisô, có biệt dược là Chophytol. Cây Silibum marianum Gaertn có biệt
dược "Legalon"; cây bụt dấm - Hibiscus sabdariffa.
Tác dụng kích thích tiết mật thể hiện ở các chất thuộc nhóm flavanon, flavon, flavonol và
flavan-3-ol.
Flavonoid thể hiện tác dụng chống co thắt những tổ chức cơ nhẵn (túi mật, ống dẫn mật,
phế quản và một số tổ chức khác). Ví dụ apigenin có tác dụng làm giảm co thắt phế quản
gây ra bởi histamin, acetylcholin, seretonin.
Trên bộ máy tiết niệu, nhiều flavonoid thuôc nhóm flavon, flavanon, flavonol thể hiện tác
dụng thông tiểu rõ rệt. Scoparosid trong Sarothamnus scoparius, lespecapitosid
trong Lespedeza capitata, quercitrin trong lá diếp cá, flavonoid của cây râu mèo đều có
tác dụng thông tiểu.
Tác dụng chống loét của flavanon và chalcon glycosid của rễ cam thảo đã được ứng dụng
để chữa đau dạ dày. Một số dẫn chất khác như catechin, 3-O-methyl catechin, naringenin
cũng đã được thử thấy có tác dụng chống loét.
Tác dụng chống viêm của nhiều flavonoid thuôc các nhóm flavon, flavanon,
dihydroflavonol, anthocyanin, flavan-3-ol, chalcon, isoflavon, biflavon, 4-aryl coumarin,
4-aryl chroman đều được chứng minh bằng thực nghiệm do các chất flavonoid này ức
chế con đường sinh tổng hợp prostagladin.
16



Người ta đã sử dụng rutin, citrin, leucodelphinidin, quercetin, catechin để điều trị ban đỏ,
viêm da, tổn thương da và màng nhầy trong trường hợp xạ trị.
Trên hệ tim mạch, nhiều flavonoid thuộc nhóm flavonol, flavan-3-ol, anthocyanin như
quercetin, rutin, myricetin, pelargonin, hỗn hợp catechin của trà có tác dụng làm tăng
biên độ co bóp và tăng thể tích phút của tim, thí nghiệm làm hồi phục tim khi bị ngộ độc
bởi CHCl3, quinin, methanol, bình thường lại sự rối loạn nhịp.
Cao chiết từ lá cây bạch quả - Ginko biloba chứa các dẫn chất 3-rutinosid của
kaempferol, quercetin và isorhammetin (trong lá già đã vàng thì chứa ginkgetin và
isoginkgetin) đã được một số hãng của Pháp bào chế thành biệt dược ví dụ "Ginkogink",
"Tanakan" có tác dụng tăng tuần hoàn máu trong động mạch, tĩnh mạch và mao mạch.
Thuốc dùng cho những người có biểu hiện lão suy: rối loạn trí nhớ, khả năng làm việc
bằng trí óc sút kém, mất tập trung tư tưởng, hay cáu gắt.
Trên hệ thần kinh, một số C-Flavon glycosid của hạt táo - Ziziphus vulgaris var. spinosus
(chứa spinosin, swertisin và các dẫn chất acyl của spinosin) có tác dụng an thần rõ rệt.
Một số tài liệu gần đây có nói đến tác dụng chống ung thư của một số chất như
leucocyanidin, leucopelargonidin, leucodelphinidin và tác dụng kháng HIV của một số
dẫn chất thuộc nhóm flavon như chrysin, acacetin 7-O-β-D-galactopyranosid.
Các dẫn chất thuộc nhóm isoflavonoid có tác dụng estrogen ví dụ genistein (=5,7,4'
trihydroxyisoflavon) daizein (= 7,4' dihydroxyisoflavon). Tác dụng này được giải thích
do sự gần nhau về cấu trúc với diethylstilboestrol.

17


Một số flavonoid khác thuộc nhóm rotenoid như chất rotenon có trong dây mật - Derris
ellipticaBenth thì tác dụng diệt côn trùng đã được biết và đã được ứng dụng từ lâu.
2.2.2.2.


Tanin

Đối vơi thực vật, tanin tham gia vào quá trình trao đổi chất, các quá trình oxy hóa khử.
Là những chất polyphenol có vị chát, tanin cũng là những chất bảo vệ cho cây chống lại
sự xâm hại của vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh, côn trùng và các gia súc ăn cỏ.
Dung dịch tanin kết hợp với protein, tạo thành màng trên niêm mạc nên ứng dụng làm
thuốc săn da. Tanin còn có tác dụng kháng khuẩn nên dùng làm thuốc súc miệng khi bị
viêm loét niêm mạc miệng, họng, hoặc bôi, rửa chỗ loét khi nằm lâu. Tanin có thể dùng
trong để chữa viêm ruột, chữa tiêu chảy.
Tanin kết tủa với kim loại nặng và với alcaloid nên dùng chữa ngộ độc đường tiêu hóa
gây ra bởi các chất trên.
Tanin có tác dụng làm đông máu nên dùng đắp lên vết hương để cầm máu, chữa trĩ, rò
hậu môn.
Một số ellagitanin được nghiên cứu thấy có tác dụng chống ung thư, ví dụ một số chất có
trong ba cây thuộc họ Hoa Hồng sau đây: gemin A trong cây Geum japonicum,
agrimoniin trong rễ cây Agrimonia pilosa, rugosin D có trong hoa Rosa rugosa đều có tác
dụng kháng Sarcoma 180 trên chuột. Alnusiin có trong quả cây Alnus sieboldia
(Betulaceae) cũng có tác dụng kháng ung thư.
Nhiều chất tanin có tác dụng chống oxy hóa, loại các gốc tự do trong cơ thể, giúp làm
chậm quá trình lão hóa.
Trong công nghiệp, tanin chủ yếu được dùng để thuộc da. Hàng trăm ngàn tấn tanin dưới
dạng cao chiết thực vật được tiêu thụ mỗi năm.

18


PHẦN 3. CÔNG DỤNG CỦA LÁ CHÈ DUNG - DỰ KIẾN DẠNG
BÀO CHẾ
1. Công dụng:
-


Tăng cường chức năng tiêu hóa cho cơ thể
Giúp tiêu hóa tốt, kích thích hệ tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng hơn
Chữa bệnh tiêu hóa kém, đau bụng, đầy bụng không tiêu
Thanh lọc cơ thể, tiêu độc, tiêu mỡ (hỗ trợ giảm cân)
Hỗ trợ điều trị viêm dạ dày

• Đối Tượng nên sử dụng:
- Người suy giảm chắc năng tiêu hóa
- Người ăn uống khó tiêu, kém ăn, đau bụng, đầy hơi
- Người mắc bệnh đại tràng, viêm nhiễm đường tiêu hóa
- Người mắc bệnh viêm dạ dày

2. Dự kiến dạng bào chế: Trà túi lọc
Quy trình sản xuất trà túi lọc

Rửa
nguy
ên
liệu

Diệt
men

Nấu
lần 1

Nấu
lần 2



cao

Sấy
bã

Vò,
sàng

Tẩm
trà

Sấy
trà

Đóng
gói

 Rửa nguyên liệu

Mục đích:
Làm sạch nguyên liệu, chuẩn bị cho quá trình chế biến
19


 Diệt men

Mục đích:
- Sử dụng nhiệt độ cao để phá hủy hệ thống enzym có trong nguyên liệu. Do đó, đình chỉ
sự oxy hóa các chất, nhất là tanin, giữ màu xanh tự nhiên và vị chát của nguyên liệu.

- Làm bay hơi đi một phần nước của nguyên liệu, làm giảm áp lực trương nở của tế bào,
do đó lá trở nên mềm dịu, thuận lợi cho quá trình vò.
- Làm bay đi mùi hăng ngái của nguyên liệu, bước đầu tạo hương thơm cho trà.

 Nấu và cô cao

Mục đích:
Chiết hoạt chất có trong lá (Flavonoid, Tanin…)
 Vò, sàng

Mục đích:
- Vò để làm dập tế bào của lá làm dịch chè thoát ra bề mặt để sau khi sấy sẽ làm cho cánh
chè bóng hơn và sau khi pha nước, dịch trà chuyển vào nước pha dễ dàng hơn.
- Vò làm cho cánh chè xoăn chặt và giảm thể tích.
- Sàng để tránh cho chè khỏi vón cục và còn có tác dụng làm nguội, tránh quá trình oxy
hóa có thể xảy ra.

 Tẩm trà

Mục đích:
Khi sử dụng trà, hoạt chất nhanh chóng được hòa tan vào nước

 Sấy trà

Mục đích:

20


Nguyên liệu sau khi vò được đưa vào sao lăn để sao đến khô. Mục đích của sao lăn là vừa

làm giảm lượng nước trong trà vừa làm cho trà xoăn chặt, có ngoại hình đẹp, màu nước
xanh và hương thơm dễ chịu. Thời gian sao lăn từ 15-20 phút, nhiệt độ 150 – 200 0C. Sau
đó giảm nhiệt độ xuống còn 120 0C trong khoảng thời gian 20 phút. Sau đó tiếp tục giảm
nhiệt độ xuống còn 80-90 0C. Sau đó tiếp tục sao cho đến khi trà khô giòn. Trà thành
phẩm phải đạt độ ẩm trong búp chè còn 3-5%.

21


PHẦN 4. DỰ KIẾN BAO BÌ ĐÓNG GÓI
Theo kết quả điều tra thị trường của chúng tôi, một số lượng lớn khách hàng từ 25 tuổi
trở lên thích kiểu trà truyền thống, mong muốn được thưởng thức trà với sự ấm nóng
nhưng không biết cách pha chế hoặc có quá ít thời gian cho việc này. Sản phẩm trà Bảo
Bảo sẽ được tung ra thị trường đúng vào dịp thời tiết bắt đầu chuyển lạnh, đặt biệt mùa
Tết năm nay, hy vọng sẽ đem lại sự ấm áp cho quý khách hàng.
Sản phẩm của chúng tôi bao gồm 2 hình thức là: Trà túi lọc (Sắp tung ra thị trường)và Trà
đóng chai (Đang trong quá trình nghiên cứu)

1. Trà túi lọc:
Phù hợp với đối tượng thích thưởng thức trà theo cách truyền thống, dùng khi uống trà tại
nhà hoặc cơ quan, khi tiếp khách, đặc biệt trong những ngày mùa đông.
Hình ảnh sản phẩm :

22


Chỉ với một ít nước nóng và một chiếc cốc hay ấm nhỏ bạn có thể tự tạo cho mình một
tách trà Bảo Bảo ấm nóng ngay tại nhà.

2. Trà đóng chai (sản phẩm đang trong quá trình nghiên cứu)


23


Trà đóng chai nhưng vẫn giữ được hương vị truyền thống, phù hợp với mọi đối tượng
khách hàng ở mọi tầng lớp khác nhau. Chai nhỏ gọn, mọi người có thể mang theo mình
khi đi làm, đi chơi,…thưởng thức mọi lúc mọi nơi.

24


PHẦN 5. MARKETING SẢN PHẨM
Giữa cuộc sống công nghiệp hiện nay, con người luôn phải tiếp xúc với những
thức ăn, nước uống không đảm bảo chất lượng cũng như rất nhiều hóa chất độc hại
được sử dụng lén lút trong thực phẩm. Do đó, các bệnh về đường tiêu hóa ngày một
nhiều hơn, khó kiểm soát hơn. Rất nhiều người trong mỗi chúng ta phải sống hàng
tháng hàng năm với căn bệnh đau dạ dày, đau đại tràng mãn tính. Chúng ảnh hưởng
không nhỏ đến nề nếp, thói quen sinh hoạt, thời gian và quan trọng hơn là sức khỏe
của mỗi cá nhân, đặc biệt đối với lứa tuổi từ 25 trở đi. Với những nghiên cứu trong
thời gian dài về lá chè Dung, chúng tôi đã cho ra đời sản phẩm trà thanh nhiệt giải
độc Bảo Bảo. Đơn giản và tiện dụng, hợp lý về giá cả, bây giờ bạn có thể cảm nhận
được hương vị vừa truyền thống vừa mới mẻ ở bất kỳ đâu, bất kỳ thời gian nào bên
cạnh khách hàng, bạn bè và người thân!
Thế mạnh của trà Bảo Bảo:
-

Chống oxy hóa, chống gốc tự do
Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, đột quỵ
Củng cố hệ thống miễn dịch
Chống ung thư….


Chính vì những tính năng đa dạng như vậy, chúng tôi tin sản phẩm trà Bảo Bảo khi được
tung ra thị trường sẽ chiếm được lòng tin từ người tiêu dùng, đặc biệt là trong bối cảnh
cuộc sống hiện nay, sức khỏe của con người luôn tiểm ẩn nguy cơ bị tấn công bởi các
chất phụ gia trong thực phẩm, các độc tố vô định hình.

Nghiên cứu thị trường:
Mục tiêu:
-

Tìm hiểu nhu cầu khách hàng, mức độ hiểu biết của khách hàng về sản phẩm

25


×