VIỆN HẦN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ VĂN TUYẾN
PHƯƠNG THỨC MƯU SINH CỦA CƯ DÂN Ở XÃ
NGHI SƠN, HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Nhân học
Mã số
: 62 31 03 02
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NHÂN HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại
Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đính
Phản biện 1: GS.TS. Hoàng Nam
Phản biện 2: TS. Đậu Tuấn Nam
Phản biện 3: GS.TS. Nguyễn Ngọc Cơ
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện
họp tại Học viện Khoa học Xã hội vào hồi …giờ … phút, ngày …
tháng… năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện: Thư viện Quốc Gia,
Hà Nội hoặc Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ
1. Vũ Văn Tuyến (2016), Quan hệ trong đánh bắt hải sản của ngư
dân xã đảo Nghi Sơn, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 385 (7/2016).
2. Vũ Văn Tuyến (2016), Tri thức dân gian liên quan đến đánh bắt và
chế biến hải sản của ngư dân xã đảo Nghi Sơn, huyện Tĩnh Gia, tỉnh
Thanh Hóa, Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, số 4(42) 2016.
3. Vũ Văn Tuyến (2016), Biến đổi hình thức đánh bắt hải sản của
ngư dân xã đảo Nghi Sơn, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 387
(9/2016).
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Đề tài về biển và hải đảo hàm chứa nhiều nội dung nghiên
cứu dưới nhiều chuyên ngành khác nhau. Dưới góc độ Nhân học, một
trong những vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu là thích ứng với môi
trường biển, đảo, thể hiện ở phương thức mưu sinh của các cộng
đồng cư dân thuộc các dạng cảnh quan khác nhau.
1.2. Nghiên cứu phương thức mưu sinh của các cộng đồng cư
dân ven biển và hải đảo để thấy được nhận thức, cách ứng xử của con
người đối với môi trường biển, đảo. Gắn với các phương thức mưu
sinh này là các thiết chế xã hội và quan hệ xã hội, các phong tục tập
quán, các tín ngưỡng và kiêng kỵ...
1.3. Nghi Sơn trước đây là một làng cổ với tên gọi Biện Sơn. Cư
dân ở đây chủ yếu làm nghề chài lưới và tham gia bảo vệ an ninh trên
đảo. Ngày nay, Nghi Sơn không chỉ có tiềm năng kinh tế, mà còn có
một vị trí chiến lược trên vùng biển cực Nam của tỉnh Thanh Hóa.
Trong chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh Thanh Hóa, xã đảo Nghi
Sơn được quy hoạch nằm trong khu kinh tế Nghi Sơn - khu kinh tế
trọng điểm của tỉnh Thanh Hóa và khu vực Bắc miền Trung. Vì vậy,
nghiên cứu sinh kế của xã đảo Nghi Sơn để giúp cho cộng đồng cư
dân ở đây phát triển bền vững.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ các phương thức mưu sinh hiện nay của cư dân ở xã đảo
Nghi Sơn (cơ sở ra đời, tồn tại, cách thức tổ chức, vai trò của các
hình thức mưu sinh), cùng các yếu tố xã hội và văn hóa liên quan đến
hoạt động mưu sinh;
1
- Chỉ ra những vấn đề đang đặt ra về mưu sinh của cộng đồng cư
dân trên đảo, tạo cơ sở khoa học cho việc đề ra các giải pháp giúp cư
dân xã đảo Nghi Sơn phát triển bền vững.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu về phương thức mưu
sinh của cư dân biển và hải đảo nói chung và cư dân đảo Nghi Sơn
nói riêng;
- Khảo sát thực tế để thu thập các nguồn tư liệu về phương thức
mưu sinh của cư dân xã đảo Nghi Sơn hiện nay trong mối quan hệ
với các yếu tố truyền thống;
- Trên cơ sở làm rõ các khái niệm có liên quan, lựa chọn khung
lý thuyết phù hợp làm cơ sở cho việc luận giải những khía cạnh liên
quan đến phương thức mưu sinh của cư dân xã đảo Nghi Sơn;
- Nêu một số vấn đề đặt ra từ nghiên cứu phương thức mưu sinh
đối với cư dân Nghi Sơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án là các khía cạnh của
phương thức mưu sinh cùng các khía cạnh có liên quan đến mưu sinh
hiện nay của cư dân xã đảo Nghi Sơn.
- Phạm vi nghiên cứu của luận án, về không gian là xã đảo Nghi
Sơn. Về thời gian, luận án tập trung nghiên cứu phương thức mưu
sinh hiện nay của cư dân Nghi Sơn trong sự so sánh với các yếu tố
mưu sinh truyền thống.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Phương pháp luận
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
Luận án sử dụng phương pháp thu thập các tài liệu thứ cấp;
Phương pháp điền dã Dân tộc học với các thao tác: quan sát, tham dự
2
phỏng vấn, điều tra hồi cố, thảo luận nhóm và các thao tác phụ trợ
khác để thu thập các nguồn tư liệu.
Luận án sử dùng tổng hợp các phương pháp: phân tích, diễn giải,
nghiên cứu so sánh và phương pháp thống kê, tham khảo ý kiến
chuyên gia để lý giải các nội dung đặt ra.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về phương thức mưu
sinh của cư dân trên một xã đảo cụ thể; chỉ ra những yếu tố tác động đến
mưu sinh, đặc trưng về mưu sinh trước môi trường biển đảo; các khía
cạnh xã hội và văn hóa liên quan đến mưu sinh.
- Luận án nêu chỉ ra khó khăn và thách thức về mưu sinh của cư dân
xã đảo Nghi Sơn, tạo cơ sở khoa học để cấp ủy, chính quyền địa phương
tham khảo trong việc đề ra các giải pháp giúp cộng đồng cư dân xã đảo
khắc phục khó khăn, phát huy thuận lợi, phát triển bền vững.
- Luận án góp thêm tư liệu vào việc nghiên cứu những vấn đề lý
luận về phương thức mưu sinh, về ngư dân, làng xã người Việt.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án góp phần chỉ ra cơ sở hình thành, tồn tại và biến đổi của
phương thức mưu sinh; mối quan hệ của phương thức mưu sinh với các
yếu tố môi trường, văn hóa, xã hội… qua thực tế địa bàn nghiên cứu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Nêu những vấn đề đang đặt ra đối với phương thức mưu sinh của
cư dân xã đảo Nghi Sơn, tạo cơ sở khoa học cho các cấp, các ngành có
liên quan đề ra các chính sách phát triển đối với xã đảo.
- Là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học và
sinh viên nghiên cứu về cư dân vùng biển đảo.
3
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận
án được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết
và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Các hình thức đánh bắt hải sản
Chương 3: Các hình thức mưu sinh khác
Chương 4: Các yếu tố xã hội và văn hóa liên quan đến hoạt động
mưu sinh.
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU,
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phương thức
mưu sinh của cư dân biển và hải đảo
Những nghiên cứu của các học giả nước ngoài
Các tác giả đã đề cập đến các khía cạnh như quy mô nghề cá, sự
quản lý của nhà nước đối với nguồn lợi biển; cũng như đưa ra những
hoạch định để phát triển bền vững nghề cá ở các cộng đồng ngư dân
ở nhiều quốc gia khác nhau; song chưa phản ánh hết yếu tố đặc trưng
trong việc khai thác nguồn lợi biển của từng cộng đồng ngư dân.
Nghiên cứu của các học giả trong nước
Trước những năm đổi mới, nghiên cứu về ngư dân ở Việt Nam
còn lẻ tẻ, chưa nhiều, không gian nghiên cứu chủ yếu ở miền Bắc.
4
Từ những năm 1990 trở đi, nghiên cứu về cộng đồng ngư dân ở
Việt Nam được đẩy mạnh, nhiều công trình nghiên cứu về biển và
cộng đồng ngư dân được xuất bản; tập trung những vấn đề sau:
- Quá trình chiếm lĩnh vùng ven biển cùng quá trình hình thành
của cộng đồng cư dân ven biển, trong đó có các cộng đồng ngư dân ở
Việt Nam.
- Các bộ phận ngư dân khác nhau sinh sống trong các dạng môi
trường cảnh quan khác nhau, có các hoạt động mưu sinh khác nhau là
yếu tố có ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống ngư dân; trong đó có
khía cạnh xã hội (tập trung vào thiết chế tổ chức) và văn hóa (chủ yếu
là tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hóa).
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên tập trung chủ yếu vào
các vấn đề truyền thống, chưa lưu tâm đến các vấn đề của xã hội
đương đại, nhất là những bức xúc của ngư dân trong bối cảnh kinh tế
- xã hội hiện nay.
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về xã đảo Nghi Sơn
Các công trình đề cập đến làng đảo Biện Sơn còn ít và chỉ dừng
lại ở việc giới thiệu về địa lý tự nhiên, hành chính và vẻ đẹp cảnh
quan của làng đảo này. Trong khi, vấn đề thích ứng, phương thức
mưu sinh của cộng đồng cư dân với môi trường biển đảo chưa được
quan tâm nghiên cứu.
1.2. Cơ sở lý thuyết của luận án
1.2.1. Các khái niệm dùng trong luận án
Luận án làm rõ các khái niệm “Phương thức mưu sinh (trong
Dân tộc học/Nhân học đồng nghĩa hay tương đương với các thuật
ngữ như hoạt động kinh tế, kinh tế tộc người, sinh kế tộc người, tập
quán mưu sinh, văn hóa sản xuất hay phương cách sinh tồn); Biến
5
đổi và biến đổi sinh kế; Ngư dân và cộng đồng ngư dân; Ngư cụ;
Làng đảo và xã đảo…
1.2.2. Một số lý thuyết áp dụng
Luận án nghiên cứu các phương thức mưu sinh của cư dân Nghi
Sơn dưới góc độ Nhân học văn hoá, xem xét các hoạt động kinh tế
trong bối cảnh văn hoá - xã hội của tộc người và từ đó, tìm ra mối
quan hệ giữa các hoạt động mưu sinh với những đặc trưng văn hoá
tộc người. Trong luận án này, chúng tôi áp dụng ba lý thuyết và cách
tiếp cận của Dân tộc học - Nhân học là thuyết Sinh thái văn hóa; Vốn
xã hội và Phát triển bền vững.
1.3. Khái quát địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Điều kiện tự nhiên
1.3.1.1. Đặc điểm địa lý
Nghi Sơn là một xã nằm trọn trên một hòn đảo ngoài biển phía
Đông Nam huyện Tĩnh Gia. Phía Bắc, phía Nam và phía Đông, xã
đều giáp Biển Đông, phía Tây giáp xã Hải Hà và xã Hải Thượng
cùng thuộc huyện Tĩnh Gia.
Về địa hình, Nghi Sơn là hòn đảo sát bờ nên các khu đất dân cư
và bãi bồi có độ cao so với mực nước biển từ 1,0 đến 4,65m.
Về hệ thống thủy văn: vùng biển Nghi Sơn chịu tác động của chế
độ nhật triều (một ngày có một lần nước lên, một lần nước xuống).
Độ lớn của nhật triều biển động từ 1,5-2,5m. Ở khu vực gần đảo,
Nghi Sơn có mặt nước nuôi trồng thủy sản, diện tích 7,72 ha.
1.3.1.2. Đặc điểm khí hậu
Nghi Sơn chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính, đó là gió mùa
Đông Bắc và gió Tây Nam.
6
- Gió mùa Đông Bắc, thường xuất hiện vào đầu tháng 10 đến
tháng 3 năm sau, mang theo mưa phùn, nhiệt độ xuống thấp, gió rét,
ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống,
- Gió Tây Nam, xuất hiện khoảng cuối tháng 4 đến tháng 9 mang
theo không khí khô nóng.
Những tháng cuối năm thường có bão, gió mùa Đông Bắc gây
mưa to, gió lớn, ảnh hưởng đến việc khai thác hải sản của ngư dân.
1.3.2. Dân cư và lịch sử hình thành xã đảo
Xã Nghi Sơn ngày nay được hình thành gắn liền với quá trình
khai hoang đất đai dưới thời Lê Đại Hành (cuối thế kỷ X). Tổ tiên
của người Nghi Sơn ngày nay là những lưu dân vùng Nghệ Tĩnh và
đồng bằng Bắc Bộ di dân vào.
Về mặt hành chính, từ năm 1954, Nghi Sơn là một thôn thuộc xã
Hải Thượng, huyện Tĩnh Gia. Ngày 14 tháng 12 năm 1984, Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Quyết định số 163 chia Hải Thượng
thành 3 xã: Nghi Sơn, Hải Thượng và Hải Hà. Xã Nghi Sơn được
hình thành và ổn định về địa giới hành chính từ đó cho tới ngày nay.
Hiện nay, xã đảo Nghi Sơn được chia thành 4 thôn: Bắc Sơn,
Trung Sơn, Thanh Sơn và Nam Sơn. Diện tích toàn xã là 354,22ha,
trong đó vụng biển có diện tích 7,72 ha, còn lại là đất ở, trồng rừng
và đất chuyên dùng; dân số có 2.394 hộ, 8.724 nhân khẩu; trong đó
có 420 hộ là giáo dân/713 hộ ở thôn Bắc Sơn.
1.3.3. Đặc điểm kinh tế
Phần lớn thu nhập của toàn xã Nghi Sơn từ hoạt động ngư nghiệp
(năm 2015 chiếm 66,6%), số còn lại từ các ngành thương mại -dịch
vụ và tiểu thủ công nghiệp. Nhìn chung kinh tế địa phương những
năm gần đây có mức tăng trưởng khá, tổng giá trị sản xuất năm 2013
đạt 96 tỷ đồng, năm 2014 là 119 tỷ và năm 2015 đạt 198 tỷ đồng.
7
Tiểu kết Chương 1
Trong luận án này, khái niệm “Phương thức mưu sinh” được
hiểu là những cách thức, phương cách kiếm sống nhằm thỏa mãn các
nhu cầu vật chất: ăn, mặc, ở và sinh hoạt của con người, của cộng
đồng và của các tộc người.
Các lý thuyết về Sinh thái văn hóa, Vốn xã hội và Phát triển bền
vững được chúng tôi áp dụng trong nghiên cứu này.
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản trong
nghiên cứu dân tộc học và nhân học như điền đã, mô tả, phân tích,
thống kê, kế thừa tài liệu thứ cấp và tài liệu đã công bố… Trong quá
trình nghiên cứu điền dã, tác giả áp dụng các thao tác quan sát, chụp
ảnh, ghi chép các hiện tượng “tai nghe, mắt thấy” của các cộng đồng
ngư dân; tham dự một số công việc lao động sản xuất, sinh hoạt trong
gia đình (chế biến món ăn), các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của
ngư dân, để kết hợp quan sát, ghi chép mô tả lại các hoạt động này;
phỏng vấn và điều tra hồi cố ngư dân…
Chương 2
CÁC HÌNH THỨC ĐÁNH BẮT HẢI SẢN
2.1. Các hình thức đánh bắt gần bờ
2.1.1. Phương tiện đánh bắt
*Thuyền, tàu là phương tiện quan trọng bậc nhất, không chỉ giúp
cho ngư dân di chuyển trên mặt nước mà còn tham gia vào hoạt động
đánh bắt. Theo số liệu thống kê trong năm 2014, toàn xã Nghi Sơn có
184 chiếc (so với năm 2013 giảm 8 chiếc), tổng công suất 20,492
CV, trong đó tàu thuyền có công suất từ 90 CV trở lên có 129 chiếc
*Thúng nan cũng là một phương tiện đi lại và tham gia vào hoạt
động đánh bắt.
8
2.1.2. Công cụ, đối tượng và tổ chức đánh bắt
*Nghề lưới
- Lưới giã làm bằng chất liệu cước, có chiều dài 20m, chiều rồng
13m. Lưới có cấu tạo 3 phần, gồm miệng lưới, thân lưới và túi lưới.
Đối tượng đánh bắt của nghề lưới giã là cá, tôm, mực, ghẹ; ngoài
ra, còn bắt cả cá màng màng, cá cò, cá thửng (cá mối)... Một tàu làm
nghề lưới giã cần từ 3-5 lao động. Một thành viên lái tàu cố định, các
thành viên còn lại làm nhiệm vụ thả lưới, kéo lưới và phân loại sản
phẩm để đưa vào ngăn lạnh bảo quản.
- Lưới ghẹ có chiều dài từ 2- 3,6km, chiều cao 1,5m. Kích thước
mắt lưới là 8-10 cm. Nghề lưới ghẹ thường đánh bắt ở trong lộng,
cách bờ khoảng 10-15km. Thời gian đánh bắt hiệu quả trong năm của
nghề lưới ghẹ là tháng Bảy và tháng Tám. Ngư dân bắt đầu thả lưới
từ 2 giờ đến 4 giờ chiều, sau đó đợi đến 6h sáng hôm sau thì bắt đầu
kéo lưới lên và thu gom sản phẩm. Ghẹ được ngư dân nuôi sống và
mang về cảng cá bán cho các chủ buôn.
- Lưới bát quái khung hình chữ nhật, bằng sắt, có lưới bao quanh.
Đối tượng đánh bắt chính của lưới bát quái là tôm, cua, ghẹ, mực.
Thời gian đánh bắt quanh năm, chỉ nghỉ vào tháng Chạp, tháng
Giêng (nghỉ lễ tết) để sửa sang ngư lưới cụ. Về tổ chức đánh bắt,
nghề lưới bát quái có lợi thế là ít lao động, một tàu đánh bắt chỉ cần
từ 3 đến 4 lao động, trong đó phân công nhiệm vụ cụ thể: một người
tời bóng, một người kéo bóng, một người phân loại cá cho vào các
khay và một người xếp bóng.
*Nghề bẫy
- Bóng (lồng) mực có kết cấu khung làm bằng tre, chiều dài
khoảng 1,2m, chiều cao khoảng 60cm, xung quanh bọc lưới, hình
9
bán nguyệt, bên trên bóng phủ một lớp lá để làm cho lồng có bóng
râm, dễ thu hút mực. Mùa đánh bắt từ tháng Giêng đến tháng Sáu.
- Lờ ghẹ có dạng hình tròn, chiều cao khoảng 20cm, đường kính
khoảng 60cm, kết cấu khung được làm bằng sắt. Ngư trường đánh
bắt thuận lợi nhất là ở gần bờ, với độ sâu từ 25 - 35m nước (ngoài
khơi cũng có thể khai thác được, nhưng ngư dân ít sử dụng), chủ yếu
là các loại hải sản ở tầng đáy như ghẹ, mực…
*Nghề câu
Là hình thức đánh bắt thụ động, cũng làm lôi cuốn, dụ dỗ các loại
hải sản di chuyển đến nơi đã bố trí lưỡi câu. Do sự hấp dẫn của con
mồi (có thể tự nhiên hoặc nhân tạo), hải sản dễ dàng bị mắc lưỡi câu
khi cố gắng ăn mồi. Ở Nghi Sơn hiện nay có nhiều hình thức câu,
vùng gần bờ có câu cần, câu tay… Những hình thức đánh bắt trên
đều có ưu điểm đầu tư vốn không nhiều, khoảng 50 - 70 triệu đồng,
ngư dân có thể sắm được ngư lưới cụ và các trang bị khác. Thời gian
đánh bắt cũng diễn ra trong ngày.
2.2. Các hình thức đánh bắt xa bờ
2.2.1. Phương tiện đánh bắt
Phương tiện đánh bắt xa bờ cũng giống như đánh bắt gần bờ, đều
dùng tàu thuyền. Tuy nhiên tùy ngư trường, mỗi phương thức đánh
bắt mà tính chất và mức độ sử dụng của các loại phương tiện cũng
khác nhau.
2.2.2. Công cụ, đối tượng và quy trình đánh bắt
Nghề câu vàng là một trong những hình thức đánh bắt chủ yếu ở
ngoài khơi xa. Nghề câu vàng khai thác được quanh năm, không phụ
thuộc vào tính mùa vụ. Đối tượng đánh bắt chủ yếu là cá thu, cá
lưỡng, cá mú…, trong đó cá thu chiếm tỉ lệ cao nhất, tiếp đến là cá
mú, cá lưỡng… Cá thu khai thác từ tháng Giêng đến tháng Mười
10
(vào mùa trăng câu được nhiều cá hơn), thời gian câu từ 16 giờ đến
22 giờ đêm (đầu trăng).
Nghề mành chụp dựa trên nguyên tắc lọc nước bắt hải sản, khi
đánh bắt, thả lưới chụp từ trên xuống, các loại hải sản bị giữ lại trong
lưới bởi sự gom tụ của giềng chì. Lưới chụp sử dụng nguồn ánh sáng
để thu hút và lùa hải sản về một điểm. Đối tượng đánh bắt chủ yếu là
mực và cá. Nghề mành chụp có thể khai thác quanh năm, chỉ nghỉ ở
nhà vào mùa trăng từ 13 đến 19 hàng tháng (âm lịch) hoặc khi thời
tiết không thuận lợi.
2.3. Những yếu tố tác động đến hoạt động khai thác hải sản
2.3.1. Ngư trường
Ngư dân Nghi Sơn, xưa nay họ quan niệm vùng ven bờ và lộng
cách bờ 15 km, có nghĩa là từ khu vực đảo Mê trở vào; còn từ khu
vực đảo Mê trở ra là là khu vực khơi.
2.3.2. Thủy triều, biên độ sóng
Ở Nghi Sơn, trong một ngày có một lần triều lên và một lần triều
xuống. Để nhận biết được thủy triều lên hay xuống, ngư dân dựa vào sự
hoạt động của mặt trăng. Khi trăng lên, nước xuống; trăng lặn, nước lên.
Nghi Sơn là vùng biển bãi ngang, nằm trọn trên một hòn đảo nên
biên độ dao động của sóng hoạt động thường rất mạnh. Vào mùa
mưa bão, vùng gần bờ hay có hiện tượng sóng bạc đầu, với mật độ
sóng dày và sức xô vào bờ rất mạnh, độ cao của sóng có lúc đạt 2m.
2.3.3. Đặc điểm hoạt động của các loài hải sản ở ngư trường Nghi
Sơn
Để hoạt động đánh bắt đạt năng suất cao, ngư dân phải nắm bắt
đươc quy luật hoạt động, không gian cư trú của các loài hải sản, có
như vậy, họ mới chuẩn bị từng loại ngư cụ thích ứng với từng đối
tượng cụ thể.
11
2.4. Một số nhận xét về các hình thức đánh bắt hải sản
2.4.1. Mặt thuận lợi
Đối với các hình thức đánh bắt gần bờ: do là ngư trường quen
thuộc từ bao đời nay nên ngư dân Nghi Sơn có nhiều kinh nghiệm
trong việc đánh bắt, thông thuộc địa hình. Họ còn có khả năng dự
báo và đoán định thời tiết, lịch con nước, đàn cá di chuyển...
Đối với các hình thức đánh bắt xa bờ: hiện nay, chính quyền địa
phương đang vận động, khuyến khích ngư dân đóng mới và cải hoán
tàu thuyền vươn khơi đến những vùng biển xa hơn.
2.4.2. Những mặt còn hạn chế
Tàu thuyền của ngư dân Nghi Sơn nhìn chung có công suất thấp,
đã qua sử dụng lâu ngày, nhiều tàu thuyền còn thiếu trang thiết bị an
toàn hàng hải, chưa áp dụng công nghệ về bảo quản sản phẩm. Dịch
vụ sửa chữa tàu thuyền còn nhiều hạn chế. Trong xã cũng chưa có cơ
sở đóng mới tàu thuyền và buôn bán ngư lưới cụ cho ngư dân.
Hiện tượng khai thác không đúng ngư trường, không tuân theo
quy hoạch mùa vụ còn xảy ra.
Ngoài tình trạng vi phạm ngư trường thì việc sử dụng thuốc nổ
trong đánh bắt cũng đang diễn ra khá phổ biến ở Nghi Sơn.
Bên cạnh đó, hoạt động đánh bắt ngoài khơi thường gặp nhiều rủi
ro do ảnh hưởng của thiên tai như bão, áp thấp nhiệt đới, lốc xoáy, sự
cố, hỏng máy…, gây những thiệt hại nghiêm trọng về người và tài
sản của ngư dân.
Tiểu kết Chương 2
Ngư dân Nghi Sơn hiện nay sống bằng nhiều hình thức đánh bắt
hải sản ở gần bờ hay ngoài khơi, với kỹ thuật và ngư cụ khác nhau.
Ngư trường khai thác gần bờ có lợi thế là vốn đầu tư thấp, thời gian
đánh bắt ngắn ngày, số lượng lao động ít nên các thành viên trong gia
12
đình có thể tự tổ chức đánh bắt. Ngư trường đánh bắt xa bờ có năng
suất cao nhưng đổi lại ngư dân phải có sự đầu tư vốn lớn để mua sắm
ngư lưới cụ, đóng tàu thuyền công suất lớn.
Bên cạnh những vấn đề thuận lợi, hiện nay ở Nghi Sơn còn nhiều
bất cập trong hoạt động đánh bắt hải sản như tình trạng bất hợp lý
trong việc khai thác, nhiều tàu thuyền có công suất lớn nhưng lại lấn
sân đánh bắt ở khu vực gần bờ.
Chương 3
CÁC HÌNH THỨC MƯU SINH KHÁC
3.1. Các hình thức mưu sinh gắn với đánh bắt hải sản
3.1.1. Các nghề chế biến hải sản
Hiện nay, Nghi Sơn có trên 50 hộ dân có thu nhập khá nhờ làm
cá khô biển. Mỗi năm giúp giải quyết cho gần 200 lao động, thu nhập
mỗi hộ từ 40 triệu đồng/năm trở lên, những hộ phơi với số lượng lớn
thu nhập hàng trăm triệu đồng.
Phơi cá khô tập trung vào các đợt tháng Tư, Năm và tháng Chín,
Mười; các tháng còn lại số lượng không đáng kể.
Công việc phơi cá khô biển khá đơn giản. Nguyên liệu chỉ cần
rửa sạch bằng nước ngọt, sau đó phơi nắng cho khô. Nếu thời tiết
thuận lợi nắng tốt, chỉ cần phơi 2 ngày là thành sản phẩm cá khô;
đem bán cho các đại lý hoặc khách du lịch, người quen đặt hàng.
Nghề làm nước mắm của ngư dân xã đảo Nghi Sơn có từ xa xưa
và trở thành một nghề truyền thống được nhiều hộ gia đình trong xã
duy trì. Loại cá được sử dụng làm mắm là cá cơm, cá đốm, cá lâm…
nhưng ngon nhất là cá cơm than (cá có sọc đen).
Nghề làm nước mắm diễn ra quanh năm, song từ tháng Tư đến
tháng Tám, các hộ làm nhiều nhất.
13
Nghề lằm mắm thủ công truyền thống vừa cho thu nhập ổn định,
mặt khác giải quyết được nguồn hải sản không tiêu thụ hết.
3.1.2. Thu mua hải sản
Hiện nay toàn xã có 16 hộ chuyên thu mua hải sản và bán đi các
địa phương khác. Các chủ thu mua lớn trong xã đều bỏ trước ra một
số tiền, gọi là ăn ứng cho các tàu thuyền đi đánh bắt để mua lại hải
sản của ngư dân.
3.1.3. Các hoạt động phục vụ đánh bắt hải sản
Sửa chữa tàu thuyền: trên địa bàn xã Nghi Sơn có hai cơ sở sửa
chữa tàu thuyền hoạt động khá hiệu quả; được chính quyền xã tạo
điều kiện để đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng quy mô sản xuất nhằm
đảm bảo nhu cầu hoạt động của đội tàu thuyền đánh bắt trong xã.
Nghề đá lạnh: xã hiện có 8 cơ sở sản xuất đá lạnh phục vụ các
tàu thuyền đánh bắt hải sản và các hộ thu mua hải sản ướp lạnh. Giá
một cây đá (bao gồm cả xay và vận chuyển xuống tận tàu thuyền của
ngư dân) là 25 nghìn đồng.
Nghề cung cấp xăng dầu: xã có 7 hộ đầu tư tàu chuyên chở dầu
ra bơm trực tiếp cho tàu cá đậu giữa cảng. Các chủ tàu bán dầu
thường cung cấp dầu ổn định thường xuyên cho một số tàu thuyền
đánh bắt trong xã, thường từ 5 - 15 tàu.
3.1.4. Dịch vụ làm thuê liên quan đến đánh bắt, buôn bán hải
sản
Đội ngũ làm thuê chủ yếu là phụ nữ, thuộc các hộ gia đình không
có điều kiện để mua sắm tàu thuyền và ngư lưới cụ. Các công việc họ
thường làm là đóng hộp xốp và bốc cá lên xe; ghánh cá từ bãi lên
cảng hoặc từ cảng về nhà; rửa cá nước ngọt; đập xôm… Các công
việc này không cố định về thời gian mà phụ thuộc vào các chuyến
đánh bắt của ngư dân.
14
3.2. Nuôi trồng hải sản
Nghề nuôi trồng hải sản đã phát triển mạnh tại Nghi Sơn trong 10
năm trở lại đây, trở thành một phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế,
đóng góp một phần quan trọng trong tổng thu nhập toàn xã và cải
thiện đời sống cho một bộ phận hộ gia đình trong xã. Nếu thời tiết và
môi trường nước thuận lợi, mỗi năm việc nuôi cá có thể cho thu nhập
100 - 120 triệu đồng.
Hiện nay, toàn xã đã có 84 hộ nuôi với diện tích lồng cá gần 2ha.
Các loại cá được nuôi nhiều nhất là cá mú, cá giò, cá song, cá hồng...
cho sản lượng và giá thành cao.
3.3. Dịch vụ, buôn bán nhỏ
Những mặt hàng cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của
người dân như gạo, thịt, hàng tạp hóa… được bán dọc trục giao
thông chính của xã. Theo thống kê, trong toàn xã có khoảng 30 hộ
cung cấp các mặt hàng này. So với trong xã, đây là những hộ có thu
nhập không cao nhưng đều đều, ở mức trung bình khá (khoảng từ 5
đến 7 triệu đồng/tháng).
3.4. Làm công nhân tại khu kinh tế Nghi Sơn
Theo thống kê sơ bộ, hiện nay toàn xã có khoảng hơn một nghìn
lao động nam, nữ trong xã đang làm việc cho nhà máy lọc hóa dầu
Nghi Sơn. Thu nhập bình quân của lao động phổ thông làm việc tại
nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn dao động từ 250 - 350 nghìn đồng
một ngày; nếu tăng ca làm thêm giờ, thu nhập sẽ cao hơn. Do thu
nhập cao và ổn định hơn so với đi biển nên thời gần đây đang xảy ra
hiện tượng không chỉ các hộ đánh bắt thua lỗ mà cả các hộ bình
thường bán thuyền để chuyển sang làm công nhân tại khu kinh tế
Nghi Sơn.
15
Tiểu kết Chương 3
Bên cạnh đánh bắt hải sản trên biển, cư dân Nghi Sơn còn có các
phương thức mưu sinh khác như làm mắm, phơi cá khô, sửa chữa tàu
thuyền, thu mua hải sản... Các nghề này đã tạo công ăn việc làm cho
hàng trăm lao động trong xã, góp phần không nhỏ vào tăng trưởng tỷ
trọng kinh tế của địa phương.
Trong gần 10 năm trở lại đây, nghề nuôi trồng hải sản phát triển
mạnh, tạo công ăn việc làm cho một bộ phận lớn người dân trong xã.
Ngoài ra, hiện nay ở Nghi Sơn còn xuất hiện một bộ phận khá đông
ngư dân bỏ nghề biển chuyển sang làm công nhân tại khu kinh tế
Nghi Sơn.
Chương 4
CÁC YẾU TỐ XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA
LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG MƯU SINH
4.1. Các yếu tố xã hội
4.1.1. Quan hệ gia đình, dòng họ
*Quan hệ vợ - chồng
Trong gia đình làm nghề đánh bắt ở Nghi Sơn, người chồng luôn
có vai trò quyết định, chỉ đạo việc làm nghề. Ngoài việc nhà cửa, bếp
núc, quản lý các con khi còn nhỏ, người vợ còn đảm nhận các công
việc như lo đồ nghề, bán sản phẩm do chồng đi đánh bắt về cho các
chủ buôn và chuẩn bị thực phẩm, nước uống và đá lạnh cho chuyến
đi đánh bắt tiếp theo, trực tiếp lo tiền để cho chồng mua sắm, sửa
sang đồ nghề đánh bắt. Tuy nhiên, người vợ không có quyền quyết
định chi tiêu các khoản lớn của gia đình.
*Quan hệ bố mẹ - con cái
16
Bố mẹ có trách nhiệm nuôi con, truyền đạt cho con kinh nghiệm
lao động, lo dựng vợ gả chồng cho con cái. Khi con trai lấy vợ, bố
mẹ cho đất làm nhà ra ở riêng. Tuy nhiên, với những gia đình không
có điều kiện, sau khi cưới, vợ chồng con trai vẫn sống với bố mẹ và
làm chung. Con gái khi đi lấy chồng được bố mẹ cho của hồi môn
bằng tiền hoặc vàng.
*Quan hệ dòng họ
Các hình thức đánh bắt hải sản gồm nhiều công đoạn với công
việc nặng nhọc nên ngư dân luôn có sự đùm bọc, giúp đỡ nhau trong
làm nghề. Nhiều gia đình trong các dòng họ còn góp vốn, sắm ngư
lưới cụ để cùng nhau đi đánh bắt.
4.1.2. Quan hệ làng xã và ngoài làng
Quan hệ chủ thuyền - bạn thuyền
Đây là hình thức quan hệ giữa chủ thuyền với những người làm
thuê (gọi là bạn thuyền). Chủ thuyền là những người có điều kiện về
kinh tế, mua hoặc đóng mới tàu, sắm ngư lưới cụ. Họ gọi bạn thuyền
đi đánh bắt cùng và chia sản phẩm đánh bắt theo thỏa thuận, thường
theo các hình thức đánh bắt và tập quán chung của địa phương
Ở Nghi Sơn, các chủ tàu và bạn thuyền hầu hết có quan hệ họ
hàng. Trường hợp không có anh em đi đánh bắt cùng, chủ thuyền
mới gọi đến người làng xóm.
Quan hệ chung thuyền - chung lưới
Đây là kiểu quan hệ các ngư dân cùng góp vốn để cùng nhau sở
hữu một phương tiện (tàu và bộ ngư lưới cụ), cùng nhau đánh bắt và
chia sản phẩm. Hình thức liên kết làm ăn này phù hợp với điều kiện
và nguyện vọng của ngư dân, bởi một gia đình không đủ sức để sắm
bộ ngư lưới cụ, tàu thuyền, trang thiết bị.
17
Hầu hết những người chung vốn mua tàu thuyền là anh em trong
gia đình hoặc là anh em cọc chèo, cũng có thể là mẹ vợ và con rể.
Tùy điều kiện kinh tế từng gia đình mà có lượng vốn góp khác nhau;
được chia sản phẩm theo cổ phần đóng góp.
Quan hệ giữa các thuyền viên trên một con thuyền
Đánh bắt hải sản là một trong những nghề có tính chất nguy
hiểm, luôn rình rập những khó khăn bất trắc có thể xảy đến bất cứ lúc
nào. Đứng trước biển cả bao la, con người dường như bé nhỏ, sức
người thì có hạn… Bởi vậy, họ phải đoàn kết, tương trợ vào nhau, để
cùng hoàn thành công việc.
Quan hệ giữa các thuyền với nhau
Ngoài quan hệ giữa các thuyền viên trên tàu, các tàu thuyền còn
giao lưu, quan hệ với các tàu thuyền khác, có thể cùng địa phương
hoặc ở địa phương khác hoạt động cùng tọa độ. Họ kết nghĩa, cùng
nhau giúp đỡ khi tham gia đánh bắt trên biển. Tàu thuyền nào phát
hiện ra nơi có nhiều cá thì cùng chia sẽ thông tin cho các tàu khác
cùng đến khai thác, hay chẳng may các tàu khác bị hỏng máy, bị tai
nạn… những tàu trên cùng tọa độ sẽ giúp đỡ đưa vào bờ.
Quan hệ giữa người làm nghề đánh bắt với người tiêu thụ sản phẩm
Người đánh bắt cần có nơi tiêu thụ ổn định, giá cả hợp lý; người
mua cần có sản phẩm nên giữa họ nảy sinh các quan hệ làm ăn.
Nhiều tàu thuyền không đủ vốn để duy trì hoạt động đánh bắt nên đã
ứng trước tiền (khoảng 20 - 30 triệu đồng) của các chủ thu mua hải
sản. Tàu thuyền nào công suất lớn có thể ứng tối đa là 50 triệu đồng.
Quan hệ giữa người làm nghề đánh bắt với người cung cấp
nguyên vật liệu
Để có lượng tiền mặt lớn để đầu tư nguyên vật liệu, lương thực
thực phẩm… cho đánh bắt, ngoài vay mượn của người thân quen trong
18
thôn, các chủ tàu phải ăn ứng (ứng tiền trước) của các chủ cung cấp
nguyên vật liệu (trả lãi suất từ 20 - 40%, tùy thời gian vay dài hay
ngắn); cũng có khi phải bán lại sản phẩm đánh bắt cho họ với giá rẻ
hơn giá thị trường, tùy từng loại hải sản. Đến hẹn là các chủ tàu thuyền
đánh bắt chủ động đến thanh toán nợ cũ, ít có hiện tượng chủ tàu phá
vỡ giao kèo và chuyển sang mua của các hộ kinh doanh khác.
4.1.3. Phân hóa giàu nghèo của cộng đồng cư dân
Với sự nỗ lực của bà con cùng các chủ trương, chính sách của
Nhà nước trong những năm qua, đến nay, số hộ nghèo toàn xã chỉ
còn 14,45% (năm 2015), hơn 90% nhà cửa đã được kiên cố hóa.
4.2. Các yếu tố văn hóa
4.2.1. Tri thức dân gian về môi trường biển
Trong quá trình làm nghề, ngư dân luôn tích lũy được vốn tri
thức kinh nghiệm về các hiện tượng mang tính quy luật của tự nhiên
để ứng phó trong tổ chức hoạt động đánh bắt. Đó là các tri thức về
các thời điểm chuyển mùa, các biểu hiện về thời tiến biển xấu…
Cùng với việc xác định ngư trường đánh bắt, ngư dân cũng hình
thành nhiều phương thức khai thác hải sản phong phú với lịch đánh
bắt trong năm, như ở trong lộng, thường phát triển nghề bẫy như lồng
mực, bóng ghẹ… Còn ở ngoài khơi, thường dùng các hình thức lưới
và câu để đánh bắt cá.
4.2.2. Các kiêng kỵ, nghi lễ trong mưu sinh
Các nghi lễ của ngư dân rất đa dạng, như lễ phạt mộc khi đóng
thuyền, lễ hạ thuyền khi đóng xong thuyền, lễ cúng nhật trình trước
mỗi chuyến ra khơi, lễ cúng ở các cửa biển... Ngoài ra còn có lễ đan
lưới, phơi lưới, nhuộm lưới.
Ngư dân có nhiều kiêng kỵ để việc đánh bắt không gặp rủi ro,
như không nhắc tên các con vật vào buổi sáng sớm, kiêng các thuyền
19
viên đến khu vực khoang lái của thuyền trưởng; kiêng vịn vào vai
phải khi đang ngồi câu cá mực; hay đi vệ sinh ở bên trái và phía
trước mạn thuyền; đặc biệt là những kiêng kỵ liên quan đến phụ nữ.
Tuy nhiên, các kiêng kỵ, nghi lễ trong đánh bắt chỉ được lương dân
tin và thực hành.
4.2.3. Tín ngưỡng, tôn giáo trong hoạt động mưu sinh
Cuộc sống vất vả, phải ứng phó với những nguy hiểm nơi biển cả
mênh mông nên cư dân Nghi Sơn tin tưởng vào sự che chở của thần
linh. Điều đó tạo nên tín ngưỡng, một số phong tục của ngư dân.
Những hình thức tín ngưỡng chủ đạo liên quan đến hoạt động mưu
sinh của cư dân là thờ Tứ vị Thánh Nương, thờ thần quan sát hải, thờ
vua Bà Trần Quý Phi.
4.2.4. Tín ngưỡng của khối cư dân Công giáo
Giáo dân không có các lễ nghi như lương dân, song khi đóng mới
tàu thuyền, cũng tiến hành nghi lễ làm phép; trước mỗi chuyến đánh
bắt, giáo dân đến nhà thờ làm lễ với ước muốn Chúa sẽ phù hộ để họ
gặp nhiều may mắn và đánh bắt được nhiều cá tôm.
4.3. Những thuận lợi, khó khăn của cư dân xã đảo Nghi Sơn trong
giai đoạn hiện nay
4.3.1. Thuận lợi
Hiện nay, các cấp chính quyền đã có nhiều chính sách hỗ trợ ngư
dân như: ở cấp trung ương, có một số chính sách tiêu biểu như Quyết
định số 48/2010/QĐ-TTg ngày 13/7/2010; Nghị định số 67/2014/NĐCP của Thủ tướng Chính phủ.
Về phía chính quyền địa phương có Nghị quyết số 06/NQ-HĐND
huyện Tĩnh Gia, ngày 05/01/2012 về việc thông qua đề án phát triển
kinh tế thủy sản giai đoạn 2011 - 2015. Theo đó, nếu ngư dân đóng mới
tàu thuyền có công suất máy trên 200CV sẽ được hỗ trợ 100 triệu đồng.
20
4.3.2. Khó khăn
*Vấn đề vốn: một trong những vấn đề nan giải nhất đối với ngư
dân Nghi Sơn hiện nay là vấn đề vốn, tức là nguồn lực tài chính để
ngư dân đầu tư đóng mới hay nâng cấp hoặc mua lại phương tiện
đánh bắt, sắm mới hoặc nâng cấp ngư lưới cụ.
*Nguồn lợi hải sản ven bờ ngày càng cạn kiệt, một phần do sự
tác động của môi trường, biến đổi khí hậu mặt khác do khai thác quá
mức, đặc biệt là do tác động của khu kinh tế Nghi Sơn.
*Lực lượng lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao; mặt bằng
trình độ dân trí của ngư dân còn thấp, làm việc chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm, được đào tạo theo phương thức "cha truyền con nối".
Ngoài ra là những khó khăn từ thiên tai liên tục xảy ra, vấn đề an
ninh, an toàn của ngư dân và phương tiện đánh bắt trên biển.
Tiểu kết Chương 4
Việc đánh bắt hải sản đòi hỏi nguồn vốn lớn, đánh bắt ở ngư
trường xa đầy bất trắc, hiểm nguy, may rủi cũng đòi hỏi sự hợp sức
của cộng đồng ngư dân, là điều kiện để nảy sinh ra các mối quan hệ
xã hội, sự tương trợ giúp đỡ trong nghề nghiệp như quan hệ giữa các
thuyền viên trên một con tàu, quan hệ của các tàu thuyền đánh bắt.
Bên cạnh đó, ngư dân Nghi Sơn cũng rất quan tâm đến những yếu tố
tâm linh, đặc biệt là những kiêng kỵ liên quan đến nghề biển.
Các yếu tố xã hội và văn hóa trên đây giúp cho ngư dân vượt qua
được những thử thách hiểm nguy qua mỗi lần đi biển, để ngư dân
kiên cường bám trụ biển khơi.
KẾT LUẬN
1. Biển và hải đảo là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa
học khác nhau. Nhân học biển nghiên cứu tất cả các hiện tượng hay
các sự kiện về sinh học, văn hóa sinh học và văn hóa, liên hệ đến các
21
hoạt động của con người (trực tiếp hay gián tiếp) gắn liền với biển
cả. Một trong những vấn đề cần được đi sâu nghiên cứu là thích ứng
với môi trường biển, đảo, thể hiện ở phương thức mưu sinh của các
cộng đồng cư dân thuộc các dạng cảnh quan khác nhau.
Luận án của chúng tôi nghiên cứu dưới góc độ Nhân học hoạt
động mưu sinh của cư dân xã đảo Nghi Sơn - một trong những hòn
đảo lớn của huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, có cư dân định cư sớm.
Dựa vào các lý thuyết: Sinh thái văn hóa, Vốn xã hội, Phát triển
bền vững; trên cơ sở nguồn tư liệu thu thập được bằng phương pháp
điền dã Dân tộc học cùng các phương pháp phân tích, phương pháp
thống kê, luận án đã làm rõ cơ sở ra đời, tồn tại, cách thức tổ chức,
vai trò của các hình thức mưu sinh cùng các yếu tố xã hội và văn hóa
liên quan đến hoạt động mưu sinh của cư dân xã đảo Nghi Sơn.
2. Luận án khẳng định, hoạt động khai thác hải sản là phương
thức mưu sinh chính của cư dân Nghi Sơn, hình thành từ lâu đời.
Trước đây, cư dân trên đảo chỉ làm nghề đánh bắt cá biển, chủ yếu sử
dụng công cụ lao động là thuyền, bè, lưới, rùng, câu… Ngày nay,
ngư dân Nghi Sơn đã tiếp thu nhiều hình thức đánh bắt mới, có năng
suất cao, phù hợp với điều kiện ngư trường xa bờ và những quy định
về đánh bắt hải sản của nhà nước như nghề câu vàng, mành chụp…
cho thu nhập cao hơn, giúp ngư dân nâng cao mức sống.
Gắn với hoạt động đánh bắt hải sản trên biển, nhiều hình thức
mưu sinh ra đời như chế biến hải sản (làm mắm, phơi cá khô), thu
mua hải sản; dịch vụ hậu cần nghề cá (sửa chữa tàu thuyền, làm đá
lạnh, cung cấp xăng dầu) đã tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động
ở địa phương. Trong khoảng 10 năm trở lại đây, nghề nuôi trồng hải
sản phát triển mạnh… Các nghề này đã tạo ra một khối lượng lớn
22