Tải bản đầy đủ (.pptx) (39 trang)

Giới Monera, giới Protista và Virus

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.23 MB, 39 trang )

Bài thuyết trình nhóm 4

Giới Monera, giới Protista và virus


I Giới Monera
II Virus
III Giới Protista


I Giới Monera

Đặc điểm cấu tạo: Là một giới
lỗi thời trong hệ thống năm giới
của phân loại sinh học.Nó là
những sinh vật có kích thước
hiển vi (từ 1-3μm) cấu tạo bởi
các tế bào nhân sơ, là những
sinh vật cổ sơ nhất xuất hiện
khoản 3,5 tỷ năm trước
đây.Chúng sống khắp nơi,trong
đất,nước,không khí.


Bacteria

Giới Monera

Archaea



 Bacteria


vi sinh vật nhân sơ đơn bào có kích thước rất nhỏ; một số

thuộc loại ký sinh trùng. Vi khuẩn là một nhóm sinh vật
đơn bào, có kích thước nhỏ (kích thước hiển vi) và thường có
cấu trúc tế bào đơn giản không có nhân, bộ khung tế bào
(cytoskeleton) và các bào quan như ty thể và lục lạp

Tế bào Escherichia coli phóng lớn gấp 25.000 lần




Vi khuẩn có nhiều hình dạng
khác nhau. Các tế bào vi khuẩn
chỉ bằng 1/10 tế bào của
sinh vật nhân chuẩn và dài
khoảng 0,5–5,0 micromet

Vi khuẩn có nhiều hình dạng khác nhau:
A. Hình que - trực khuẩn (Bacillus)
B. Hình cầu (coccus) tạo thành chuỗi (strepto-) - liên cầu khuẩn (Streptococcus).
C. Hình cầu tạo đám (staphylo-) - tụ cầu khuẩn (Staphylococcus).
D. Hình tròn sóng đôi (diplo-) - song cầu khuẩn (Diplococcus).
E. Hình xoắn - xoắn khuẩn (Spirillum, Spirochete).
F. Hình dấu phẩy - phẩy khuẩn (Vibrio).





Quá trình trao đổi chất

 Các vi khuẩn có rất nhiều kiểu trao đổi chất khác nhau. Vi khuẩn dị dưỡng (heterotroph) phải dựa
vào nguồn cacbon hữu cơ bên ngoài, và tất cả các vi khuẩn gây bệnh đều là các vi khuẩn dị dưỡng.
Trong khi các vi khuẩn tự dưỡng (autotroph) có khả năng tổng hợp chất hữu cơ từ CO2 và nước.

 Những kiểu trao đổi chất dựa vào nguồn năng lượng (quang dưỡng hay hóa dưỡng), nguồn chất khử
(vô cơ dưỡng hay hữu cơ dưỡng) và nguồn cácbon (tự dưỡng hay dị dưỡng) có thể được kết hợp
khác nhau trong từng tế bào, và nhiều loài có thể thường xuyên chuyển từ kiểu trao đổi chất này sang
kiểu trao đổi chất khác.


Nhóm vi khuẩn thật(Eubacteria) bao gồm các ngành:
- Vi khuẩn lam (Cyanobacteria)
- Xoắn khuẩn (Spirochetes)
- Vi khuẩn Gram (–) ,Vi khuẩn Gram ( + )
- Proteobacteria




Vi khuẩn lam (Cyanobacteria)

 Vi khuẩn lam có thể được tìm thấy gần như trong mọi
môi trường sống trên đất liền và trong môi trường nước
- như trong các đại dương, môi trường nước ngọt, đất
hay đá ẩm thấp vĩnh cửu hay tạm thời (kể cả trong các
hoang mạc), đất và đá trọc (thậm chí kể cá các loại đá

tại châu Nam Cực). Chúng có thể xuất hiện như là các tế
bào phiêu sinh hay tạo ra các
màng sinh học quang dưỡng

Nảy nở tươi tốt của vi khuẩn lam tại khu vực gần Fiji.


Cấu tạo tế bào

Cấu tạo tế bào

Khuẩn lam (tỉ lệ)

Vi khuẩn (tỉ lệ)

Nhân

32%

29%

Không bào

45%

49%

Vách tế bào

99%


89%

Chất tế bào

71%

62%

Màng sinh chất

12%

7%

Bào quan chứa chất diệp lục

98%

1%

Khuẩn lam có tỉ lệ nhiều hơn vi khuẩn 224%.




Một số hình ảnh vi khuẩn lam


Xoắn khuẩn




Xoắn khuẩn là những vi khuẩn hình sợi lượn sóng và di động, chiều dài
trung bình từ 12-20mm, có thể dài tới 30mm, thường gặp 3 loại:

- Xoắn khuẩn uốn thành từng khúc cong không đều nhau như xoắn khuẩn
sốt hồi quy

- Xoắn khuẩn với những vòng xoắn hình sin đều nhau như xoắn khuẩn
giang mai.

- Xoắn khuẩn có những vòng xoắn không đều nhau và 2 đầu cong luôn
cử động


Nhuộm Gram

Nhuộm Gram là một phương pháp thực nghiệm
nhằm phân biệt các loài vi khuẩn thành 2 nhóm
(Gram dương và Gram âm) dựa trên các đặc tính hoá
lý của thành tế bào.

Vi khuẩn bệnh than nhuộm Gram dương (hình que màu tím) trong mẫu dịch não tuỷ. (Các tế bào khác là bạch
cầu.)


Cơ chế

Vi khuẩn Gram dương có thành tế bào dày, dạng lưới

cấu tạo bởi peptidoglycan, chất này có khả năng giữ
phức hợp tím tinh thể-iot. Trong khi đó, lớp thành tế
bào peptidoglycan của các vi khuẩn Gram âm thì
mỏng hơn và thường có thêm lớp màng
lipopolysaccharide (LPS) bên ngoài.

Lậu cầu (Neisseria gonorrhoeae) nhìn dưới kính hiển vi sau khi nhuộm Gram


Vi khuẩn Proteobacteria

 Nhóm vi khuẩn phụ đường ruột: bao gồm các vi khuẩn dị dưỡng Gram
(-) sống hiếu khí hay kị khí đường ruột.

 Nhóm vi khuẩn hóa tự dưỡng: là các vi khuẩn Gram (-) lấy năng lượng
từ các chất khoáng bằng cách oxy hóa các chất hóa học có trong các
khoáng này.

 Nhóm phụ vi khuẩn cố định nitơ : vi khuẩn Gram (-) sống cộng sinh ở
các nốt sản cây họ đậu

Escherichia coli

Rhizobium bacteria




Archaea(vi khuẩn cổ)


Vi khuẩn cổ hay cổ khuẩn (

danh pháp khoa học: Archaea) là một
nhóm các vi sinh vật đơn bào nhân sơ.
Chúng không có nhân tế bào hay bất cứ
bào quan nào trong tế bào chất

Dây NRC-1 của Halobacteria, mỗi tế bào dài khoảng 5 μm.


Môi trường sống

 Vi khuẩn cổ phân bố ở hàng loạt môi trường sống, và là một phần chính của các

hệ sinh thái toàn cầu, có thể chiếm tới gần 20% sinh khối của Trái Đất. Những vi
khuẩn cổ đầu tiên được phát hiện là các loài sống ở môi trường khắc nghiệt.Thực tế,
một số vi khuẩn cổ tồn tại được ở nhiệt độ cao, thường trên 100 °C (212 °F), được
tìm thấy ở các mạch nước phun, các "ống khói đen" (black smoker) ở các
miệng thủy nhiệt và các giếng dầu. Những ổ sinh thái khác bao gồm những môi
trường sống rất lạnh và có độ mặn, tính axít hoặc tính kiềm cao

Hình ảnh sinh vật phù du (xanh lá cây nhạt) trong các đại dương; vi khuẩn cổ là một
phần chính trong sự sống ở đại dương.


Vi khuẩn cổ chia thành 3 nhóm chính


Nhóm sinh metan: sống môi trường không có oxy và sinh khí metan ví dụ: các loài sinh metan cư
trú trong ruột người và động vật nhai lại, có số lượng lớn trợ giúp tốt cho tiêu hóa. Các vi khuẩn

cổ sinh metan thường được ứng dụng trong sản xuất biogas và xử lý nước thải, và các enzyme từ
các vi khuẩn cổ sống nơi khắc nghiệt, có thể chịu được nhiệt độcao và các dung môi hữu cơ, được
khai thác trong ngành công nghệ sinh học.



Nhóm ưa nhiệt và acid: sống ở các suối acid nóng, quanh miệng núi lửa , Vi khuẩn cổ ưa muối (
Halobacteria) sử dụng ánh sáng mặt trời làm nguồn năng lượng và các loài vi khuẩn cổ khác có
thể cố định cacbon



Nhóm ưa muối :gồm các vi khuẩn cổ sống ở các vùng nước cực mặn như biển chết...

Vi khuẩn cổ lần đầu được khám phá ở những môi trường cực đoan, như suối nước nóng
trên miệng núi lửa


Sự phân loại hiện nay

Một số loài mới phát hiện khác lại chỉ có
mối quan hệ xa với các ngành trên, như
các vi sinh vật nano ARMAN, được tìm
thấy năm 2006 và là một vài trong số
những sinh vật nhỏ nhất được con người
biết đến.

ARMAN là nhóm vi khuẩn cổ mới được phát hiện gần đây ở nước axít mỏ.



II Virus











Không có cấu tạo tế bào
Ký sinh nội bào bắt buộc
Chỉ mang một loại acid nucleic (DNA hoặc RNA)
Không có hệ thống sinh tổng hợp protein, không có khả năng trao đổi chất do không có hệ thống biến dưỡng riêng
Không tạo màng lipid riêng. Một số virus biến đổi màng của tế bào chủ tạo thành màng bao của chính nó.
Không chịu tác động bởi các thuốc kháng sinh ở mức độ tế bào
Phương thức vận chuyển duy nhất là khuyếch tán
Không tăng trưởng về khối lượng và kích thước
Virus được hình thành trọn vẹn được gọi là virion, bộ gen của nó được gói trong vỏ protein và bên ngoài có thể có màng bao (envelop)


Cấu tạo của virus

Lớp vỏ protein: CAPSID
Lớp vỏ bọc bên ngoài (envelop)
Bộ gene của virus



Lớp vỏ protein: CAPSID

- CAPSID là lớp vỏ protein của virus bao bọc nucleic acid và được cấu thành từ các đơn
vị cấu trúc (structure units).

- Các đơn vị cấu trúc là đơn vị cấu tạo nhỏ nhất của lớp vỏ với chức năng kiến tạo tương
đồng.
- CAPSOMER là các đơn vị hình thái quan sát được trên bề mặt của các hạt virus tương
ứng với tập hợp các đơn vị cấu trúc.
- Các CAPSID và nucleic acid được "gói" bên trong gọi là các NUCLEOCAPSID.
- NUCLEOCAPSID có thể được "khoác" một lớp vỏ bọc (envelop) mang các vật liệu có
nguồn gốc từ tế bào chủ cũng như từ bản thân virus.
- Các virion là các hạt virus hoàn chỉnh và có khả năng nhiễm vào tế bào chủ

Chức năng của CAPSID:
- Bảo vệ nucleic acid của virus không chịu sự tác động của các enzyme
- Các vị trí đặc biệt trên lớp vỏ cho phép các virion gắn vào tế bào chủ
- Cung cấp các protein tạo điều kiện để virion thâm nhập qua màng tế bào chủ. Trong một
số trường hợp, lớp vỏ có tác dụng đưa nucleic acid của virus vào tế bào chủ

Capsid hình khối đa diện của virus


Lớp vỏ bọc bên ngoài (envelop)


Nhiều virus còn có lớp vỏ glycoprotein bao bọc bên ngoài Capsid. Lớp vỏ bọc này được tạo thành từ hai lớp lipid xen kẽ với các
phân tử protein (lipoprotein bilayer).




Các protein do virus tổng hợp để tạo thành lớp màng này gồm hai loại chính:

(1) Matrix protein liên kết với phần capsid bên trong;
(2) Glycoprotein nằm xuyên qua màng, gồm hai loại:



+ Glycoprotein ngoài (external glycoprotein) có phần lớn nằm bên ngoài màng tạo thành các "gai" (spike) quan sát được trên bề
mặt virus bằng kính hiển vi điện tử. Phần nằm bên trong tạo thành chiếc "đuôi" ngắn. Loại protein này là thành phần kháng
nguyên chính của lớp vỏ virus.



+ Protein tạo các kênh vận chuyển (transport channel) mang nhiều cấu trúc kỵ nước và nằm xuyên qua màng tạo các kênh (ví dụ
các kênh ion: ion-channels) giúp cho virus có khả năng thay đổi tính thấm của màng.

Lớp màng ngoài (envelop) với các "gai" glycoprotein


Bộ gene của virus:

Bộ máy di truyền có thể là DNA mạch kép (double-stand DNA: dsDNA) hay DNA mạch đơn
(single-stand DNA: ssDNA), RNA mạch kép (dsRNA) hay RNA mạch đơn (ssRNA). DNA
hoặc RNA virus có dạng thẳng hay dạng vòng. Virus có thể có từ vài gene đến vài trăm gene.


Các bệnh do virus gây ra

Trùng roi


Virus Ebola


×