Tải bản đầy đủ (.pdf) (47 trang)

Nhân giống loài lan kim tuyến (anoectochilus roxburghii) bằng phương pháp nuôi cấy in vitro

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (356.08 KB, 47 trang )

LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhịêm khoa Công
nghệ sinh học và Công nghệ thực phẩm em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nhân
giống loài lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng phương pháp nuôi cấy in
vitro”.
Qua thời gian làm việc tại phòng nuôi cấy mô khoa Công nghệ sinh học và
Công nghệ thực phẩm đến nay em đã hoàn thành đề tài. Để đạt được kết quả như
ngày hôm nay em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm
khoa cùng các thầy cô giáo trong bộ môn đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt
thời gian qua.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Nguyễn Thị Tình đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong thời gian thực hiện đề tài.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã hết lòng động viên,
giúp đỡ tạo điều kiện về vất chất và tinh thần cho em trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Do trình độ và thời gian thực hiện đề tài có giới hạn nên đề tài không thể
tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô
và các bạn để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 02 năm 2013
Sinh viên thực hiện

Hoàng Thị Hiên


DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
ADN

: Acid deoxyribonucleic

B1



: Thiamin

B3

: Nicotinic acid

B5

: Gamborg’s

B6

: Pyridoxine

BA

: 6-Benzylaminopurine

CV

: Coefficient of Variation

Đ/C

: Đối chứng

IAA

: Indol axetic acid


Kinetin

: 6-Furfurylaminopurine

LSD

: Least Significant Difference Test

MS

: Murashige and Skoog’s

NAA

: α - Naphlene axetic acid

TN

: Thí nghiệm


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của môi trường MS, B5 đến khả năng tái sinh chồi lan
Kim Tuyến .................................................................................................26
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh chồi lan Kim
Tuyến..........................................................................................................28
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của nồng độ BA kết hợp với Kinetin đến khả năng nhân
nhanh chồi lan Kim Tuyến.........................................................................29

Bảng 4.4. Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của lan Kim Tuyến
....................................................................................................................31
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của nồng độ NAA kết hợp với IAA đến khả năng ra rễ của
lan Kim Tuyến ...........................................................................................33


DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của môi trường MS, B5 đến khả năng tái
sinh chồi lan Kim Tuyến ............................................................................26
Hình 4.2. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh
chồi lan Kim Tuyến....................................................................................28
Hình 4.3. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ BA và Kinetin đến khả năng
nhân nhanh chồi lan Kim Tuyến ................................................................30
Hình 4.4. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của
lan Kim Tuyến ...........................................................................................32
Hình 4.5. Biểu đồ thể hiện ảnh hưởng của nồng độ NAA và IAA đến khả năng
ra rễ của lan Kim Tuyến.............................................................................33


MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU...............................................................................................1
1.1. Đặt vấn đề........................................................................................................1
1.2. Mục đích của đề tài .........................................................................................2
1.3. Yêu cầu của đề tài ...........................................................................................2
1.4. Ý nghĩa của đề tài ............................................................................................2
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ...................................................................3
2.1. Giới thiệu chung về hoa lan ............................................................................3

2.1.1. Nguồn gốc ....................................................................................................3
2.1.2. Hình thái .......................................................................................................3
2.2. Giới thiệu về cây lan Kim Tuyến ....................................................................7
2.2.1. Phân loại .......................................................................................................7
2.2.2. Đặc điểm hình thái .......................................................................................7
2.2.2.1. Đặc điểm nhận dạng..................................................................................7
2.2.2.2. Đặc điểm thân rễ .......................................................................................7
2.2.2.3. Đặc điểm của rễ.........................................................................................8
2.2.2.4. Đặc điểm của lá .........................................................................................8
2.2.2.5. Đặc điểm của hoa ......................................................................................8
2.2.3. Đặc điểm phân bố.........................................................................................8
2.2.4. Số lượng quần thể ........................................................................................9
2.2.5. Giá trị của lan Kim Tuyến............................................................................9
2.2.5.1. Giá trị kinh tế.............................................................................................9
2.2.5.2. Giá trị dược liệu ........................................................................................9
2.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật .....................................................10
2.3.1. Lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật ..........................................................10
2.3.2. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật.......................................12


2.3.2.1. Tính toàn năng (Totipence ) của tế bào thực vật.....................................12
2.3.2.2. Sự phân hóa và phản phân hóa................................................................12
2.4. Các chất điều hòa sinh trưởng nuôi cấy mô tế bào thực vật .........................13
2.4.1. Auxin ..........................................................................................................13
2.4.2. Cytokinin ....................................................................................................14
2.4.3. Gibberelin ...................................................................................................15
2.4.4. Ethylen .......................................................................................................15
2.5. Tình hình sản xuất và sử dụng lan Kim Tuyến ở Việt Nam .........................15
2.6. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước ........................................16
2.6.1. Tình hình nghiên cứu lan Kim Tuyến trên thế giới ...................................16

2.6.2. Tình hình nghiên cứu lan Kim Tuyến ở Việt Nam ....................................17
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
....................................................................................................................19
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................19
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................................19
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu....................................................................................19
3.2. Địa điểm, thời gian nghiên cứu .....................................................................19
3.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu ..........................................................19
3.3.1. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................19
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................20
3.3.2.1. Phương pháp tái sinh in vitro ..................................................................20
3.3.2.2. Phương pháp nhân nhanh in vitro ...........................................................21
3.3.2.3. Phương pháp tạo cây hoàn chỉnh in vitro................................................22
3.3.2.4. Chỉ tiêu theo dõi, đánh giá ......................................................................23
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...............................25
4.1. Ảnh hưởng của môi trường MS, B5 đến khả năng tái sinh chồi lan Kim
Tuyến..........................................................................................................25
4.2. Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng (BA, Kinetin) đến khả năng nhân
nhanh chồi lan Kim Tuyến................................................................................. 27


4.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanh chồi lan Kim Tuyến .27
4.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ BA kết hợp với Kinetin đến khả năng nhân
nhanh chồi lan Kim Tuyến.........................................................................29
4.3. Ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA) đến khả năng ra
rễ của lan Kim Tuyến .................................................................................31
4.3.1. Ảnh hưởng của nồng độ NAA đến khả năng ra rễ của lan Kim Tuyến ....31
4.3.2. Ảnh hưởng của nồng độ NAA kết hợp với IAA đến khả năng ra rễ của lan
Kim Tuyến .................................................................................................33
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ..........................................................35

5.1. Kết luận .........................................................................................................35
5.2. Đề nghị ..........................................................................................................35
TÀI LIỆU THAM KHẢO.................................................................................36


TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP CƠ SỞ

- Tên đề tài:“Nhân giống cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng phương
pháp in vitro”

- Mã số: SV2012-08
- Chủ nhiệm đề tài: Hoàng Thị Hiên
- Tel: 01649712287

E-mail:

- Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Cá nhân phối hợp thực hiện: ThS. Nguyễn Thị Tình-Khoa CNSH&CNTP-Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Thời gian thực hiện: từ 3/2012 đến 3/2013
1. Mục tiêu
Nhân giống cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng phương pháp in
vitro.

2. Nội dung chính
- Xác định ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy (MS, B5) đến khả năng tái
sinh chồi lan Kim Tuyến.
- Xác định ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng (BA, Kinetin) đến khả
năng nhân nhanh chồi lan Kim Tuyến.

- Xác định ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA) đến khả
năng ra rễ của lan Kim Tuyến.
3. Kết quả chính đạt được (khoa học, ứng dụng, đào tạo, kinh tế – xã hội, v.v…)
- Sản phẩm đào tạo: 1 đề tài sinh viên
- Sản phẩm khoa học: 1 báo cáo khoa học
- Sản phẩm ứng dụng: Quy trình nhân giống lan Kim Tuyến


SUMMARY

- Research Project Title: ‘’Breeding Jewel Orchid

Kim Tuyen (Anoectochilus

roxburghii) by in vitro methods’’.
- Code number: SV2012-08
- Coordinator: Hoang Thi Hien
- Tel: 01649712287

Email:

- Implementing Institution: Thai Nguyen University of Agriculture and Foresrtry
- Cooperating Institution(s): Msc. Nguyen Thi Tinh-Faculty of biotechnology and
food technology, Thai Nguyen University of Agriculture and forestry.
- Duration: from 3/2012 to 3/2013
1. Objectives
Breeding Jewel Orchid Kim Tuyen (Anoectochilus roxburghii) by in vitro
methods.
2. Main contents
- Identify the influence of culture media (MS, B5) to regenerate shoots

spread Kim Tuyen.
- Determine the effect of growth stimulants (BA, Kinetin) the ability to rapid
multiplication shoot spread Kim Tuyen.
- Determine the effect of growth stimulants (NAA, IAA) the ability of the
roots spread Kim Tuyen.
3. Results obtained
- The result of education: a article of scientific research
- The result of science: a report of scientific research
- The result of application: Breeding Jewel Orchid Kim Tuyen by in vitro
methods.


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Họ lan (Orchidaceae) là họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam, với
tổng số 865 loài thuộc 154 chi. Thông thường lan được sử dụng làm cảnh.
Ngoài ra, có nhiều loài lan còn được sử dụng làm thuốc. Lan Kim TuyếnAnoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl thuộc họ Lan - Orchidaceae, có phân
bố rộng ở hầu hết các tỉnh Việt Nam. Chi lan Kim Tuyến Anoectochilus ở
Việt Nam hiện thống kê được 12 loài, trong đó có loài lan Kim Tuyến
Anoectochilus roxburghii được biết đến nhiều không những bởi giá trị làm
cảnh, mà bởi giá trị làm thuốc. Lan Kim Tuyến là loài dược liệu quý, ít gặp
thuộc loại hiếm dùng để điều trị các bệnh về tim mạch, bồi bổ sức khỏe cho
phụ nữ sau khi sinh. Đặt biệt dược liệu lan Kim Tuyến có khả năng tiêu diệt
các khối u.
Hiện nay với nhu cầu sử dụng ngày càng tăng và việc khai thác liên tục
trong nhiều năm không chú ý tới bảo vệ, tái sinh cộng với nạn khai thác rừng
bừa bãi làm lan Kim Tuyến vốn phân bố khá phổ biến ở các tỉnh miền núi

phía Bắc và một số tỉnh miền Nam hiện đang bị suy giảm nghiêm trọng. Lan
Kim Tuyến được cấp báo trong Nghị định số 32/2006/NĐ – CP thuộc nhóm
IA, nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại và trong sách đỏ
Việt Nam (2007), phân hạng EN A1a,c,d [2], [3].
Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật việc ứng dụng
nuôi cấy mô tế bào thực vật trong nhân giống đã trở nên phổ biến. Nuôi cấy
mô tế bào tạo ra những cây trồng sạch bệnh, chất lượng tốt, độ đồng đều cao,
hệ số nhân lớn và giữ được đặc tính di truyền của cây mẹ. Nhận thức được
vấn đề bảo tồn và phát triển loài dược liệu quý - lan Kim Tuyến, chúng tôi
tiến hành đề tài “Nhân giống cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii)
bằng phương pháp in vitro”.


2

1.2. Mục đích của đề tài
Nhân nhanh cây lan Kim Tuyến (Anoectochilus roxburghii) bằng
phương pháp in vitro.
1.3. Yêu cầu của đề tài
Xác định ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy (MS, B5) đến khả năng
tái sinh chồi lan Kim Tuyến.
Xác định ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng (BA, Kinetine)
đến khả năng nhân nhanh lan Kim Tuyến.
Xác định ảnh hưởng của chất kích sinh trưởng (NAA, IAA) đến khả
năng ra rễ của lan Kim Tuyến.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đưa ra biện pháp nhân nhanh chồi lan
Kim Tuyến bằng phương pháp in vitro phục vụ cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá lại kiến thức đã học vào

nghiên cứu khoa học.
- Biết được phương pháp nghiên cứu một vấn đề khoa học, xử lý, phân
tích số liệu, trình bày một bài báo cáo khoa học.
Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất được quy trình nhân nhanh giống lan Kim Tuyến bằng
phương pháp nuôi cấy in vitro, để đảm bảo cung cấp số lượng lớn cây giống
có chất lượng cao, đồng đều cho sản xuất.


3

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Giới thiệu chung về hoa lan
2.1.1. Nguồn gốc
Lan (Orchidologia) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại. Theo Phrastus
(370-285 trước công nguyên) là người đầu tiên dùng danh từ orchis trong tác
phẩm “ Nghiên cứu về thực vật” để chỉ một loài lan [6].
Lobelius (1539-1616) trong nghiên cứu về thực vật của mình đã nêu ra
những nhận xét về cây cỏ và xếp thành các họ đơn giản, trong đó có họ lan [6].
Đến năm 1753, Linnaeus đã dùng danh từ orchis trong cuốn thảo mộc
Specles Platarum để chỉ các loài lan. Năm 1836, John Lindely dùng danh từ
orchid dịch danh chung cho các loài lan. Còn chữ orchis dùng chỉ một loài địa
lan ở châu Âu [6].
Ngày nay, các loài lan đã được xếp thành một họ trong hệ thống phân
loại chung gọi là Orchidaceae, lan rừng đã xác định được khoảng 750 giống
và hơn 25.000 loại và có hơn 30.000 loại lan lai [6].
2.1.2. Hình thái
Họ lan (Orchidaceae) thuộc lớp một lá mầm, thân thác sống trên mặt
đất (địa lan), trên kẽ đá (thạch lan) hoặc sống trên những cây gỗ lớn với bộ rễ

khí sinh (phong lan).
Cây lan có thể xếp thành hai nhóm:
- Nhóm đa thân (Sympodial) bao gồm các giống như Dendrobium,
Cymbidium, Cattleya... Cơ thể là một hệ thống nhiều nhánh, sống lâu năm, bộ
phận nằm ngang của chúng tạo nên thân, rễ. Các loài nằm trong nhóm này
thường không tăng trưởng liên tục và có thời gian nghỉ sau mùa tăng trưởng.
Căn cứ vào cách ra hoa, nhóm này chia thành hai nhóm phụ.
+ Nhóm phụ ra hoa bên nách lá như các giống: Dendrobium,
Oncidium, Phajus.
+ Nhóm phụ ra hoa ở đỉnh như Cattleya, Laelia.


4

- Nhóm đơn thân (Monopolial), hiếm, một số loài sinh trưởng chậm,
cây nhóm này tăng trưởng mạnh theo chiều cao và chia thành hai nhóm phụ:
+ Nhóm phụ lá mọc đối, ví dụ như giống Phalaenopsis.
+ Nhóm phụ lá dẹp phẳng hay tròn như một số loài thuộc giống Vanda
Luisia [6].
* Thân
Thân của lan biến động từ 0,1-0,2m đến 3-4m.
Thân lan có ở các loài đơn thân và một số loài vừa có thân vừa có giả
hành (thân giả)-các loài lan vừa có thân thường không có bộ phận dự trữ nước
và các chất dinh dưỡng.
Thân mang rễ và lá, như các loài lan thuộc nhóm đơn thân, rễ và lá mọc
theo hai chiều thẳng góc, phát hoa mọc trên thân ở các nách lá và song song
với lá, thẳng góc với rễ [6], [7].
* Thân giả
Thân giả của lan có ở các loài lan thuộc nhóm đơn thân, thân giả của các
loại lan khác giống cũng như cùng một giống, hình dạng rất khác nhau. Thân

giả rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây. Thân giả có chứa diệp
lục, dự trữ nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trong quá trình sinh trưởng,
phát triển và cả khi cây lan ra hoa vào thời kỳ nghỉ. Thân giả còn có chức năng
giữ nước duy trì cho sự sống của cây lan trong điều kiện khô hạn.
Thân giả có thể hình thoi, hoặc hình trụ hoặc hình dẹp, hoặc hình tháp.
Có những loài lan thân giả bị thu bé lại, rất khó nhận biết. Cũng có loài vừa
có thân thật, vừa có thân giả.
Thân giả của cây lan có kích thước rất khác nhau, có loại thân giả chỉ
bằng đinh ghim, nhưng cũng có loài thân giả dài đến 7,8m [6], [7].
* Lá
Lá của lan là lá đơn nguyên, độ dày mỏng của lá rất khác nhau và cứng
hoặc mềm, ít khi có cuống và thường có bẹ. Lá thường có dạng bầu dục hay
hình giáo thuôn dài. Một số loài có dạng lá hình trụ đầu nhọn hay phiến lá dày
có rãnh. Có loài lá biến đổi thành vẩy hay hoa biến hoàn toàn.


5

Màu lá thường xanh bóng, đậm và nhẵn. Tuy nhiên cũng có loài lá có
điểm vàng hoặc xanh nhạt hoặc có nhiều đường màu sặc sỡ.
Gốc lá nhiều loài lan phình to tạo thành củ giả, xếp đều hay xếp chồng
lên nhau tạo nên sự mọc cách của lá [6].
* Hoa
Tập trung thành cụm, cụm hoa của lan xuất hiện sau hoặc trước đồng
thời với sự hình thành củ giả và lá.
Các loài lan đa thân, cụm hoa thường sinh ra từ vách lá. Kiểu chính của
cụm hoa đặc trưng cho lan là chùm với hoa ở nách các lá bắc. Cụm hoa chùm
biến đổi nhiều dạng. Ví dụ như dạng tán giả do trụ bị rút ngắn, dạng bông khi
thu ngắn cuống hoa mà không rút ngắn trụ, dạng cụm hoa hình đầu khi trụ
ngắn và hoa dày, cụm hoa dạng xoắn ốc, khi trụ nặn xoắn [6].

* Cấu tạo hoa
- Đài hoa: có 3 cánh đài thường có màu xanh, và tùy loài lan, đài có
những màu sắc khác nhau, cánh đài có nhiều hình dạng, dạng tròn (như
Vanda), dạng nhọn (Cattleya), có những loài cánh đài lớn như cánh tràng bên
hay cánh đài dưới dính lại sau cánh môi.
- Cánh tràng: Cánh tràng hoa lan có 3 chiếc, hai cánh tràng bên thường
có màu sắc như cánh đài hoặc thay đổi ít nhiều. Còn cánh tràng giữa biến đổi
hoàn toàn và gọi là cánh môi.
Cánh tràng là bộ phận quan trọng nhất tạo nên vẻ đẹp của hoa lan. Cánh
tràng có ý nghĩa quyết định đẹp hay xấu của một loài hoa lan. Cánh môi trong
cấu trúc hoa lan, cánh môi không những với chức năng đặc biệt trong thụ
phấn đồng thời nó là một bộ phận vô cùng quan trọng tạo nên vẻ đẹp của hoa
lan. Cánh môi thường có màu sắc sặc sỡ, và thường lớn hơn các cánh khác
của hoa. Nó có thể nguyên, có thể chia thùy, có thể khía răng cưa hoặc bị chia
cắt thành nhiều tua sợi mảnh.
Cánh môi thường phân thành ba phần khác nhau, tùy theo hình dạng đó
là cánh môi ngoài, cánh môi giữa và cánh môi dưới. Bề mặt của cánh môi có
thể nhẵn hoặc có nhiều mấu lồi. Ở gốc cánh môi thường có một cựa mang
tuyến mật, cánh môi có hình dạng và kích thước biến động rất lớn, cánh môi


6

đạt đến sự phát triển cao, ví dụ các giống Rhynchostylis,Cyptipedium, có dạng
hình trụ giống như Cattleys, hoặc có diện tích rộng với chỗ nối phức tạp như
giống Oncidium, các loài sâu bọ thường đi theo cánh môi vào lấy mật [6], [7].
Cấu tạo của cánh môi độc đáo đến nỗi làm cho một số nhà khoa học cho
rằng nó có nguồn gốc phức tạp bởi sự kết hợp các phần tử khác nhau của hoa.
Năm 1892, E. Darwin đã nhận định cánh môi được tạo nên bằng cách
kết hợp một cánh hoa với hai nhị hình cánh hoa ở vòng ngoài [6].

E. Nelson (1967) cho rằng chính cánh hoa giữa của cánh tràng đã rơi
rụng, còn cánh môi là kết quả kết hợp của ba bộ phận của bộ nhị ở những
vùng khác nhau [6].
* Nhị, nhụy
Cột nhị, nhụy của hoa lan ở ngay lối vào của cửa mật. Nhiều loài lan
nguyên thủy có 3 nhị, một ở vòng ngoài và hai là của vòng trong hoặc chỉ còn
hai nhị hữu thụ ở vòng trong. Các loài lan khác hoa chỉ có cấu tạo bởi 1 nhị
vùng ngoài hoạt động.
Ở những loài lan 1 nhị, nhị này kết hợp với vòi và núm nhụy thành cột
nhị nhụy. Những loài lan nguyên thủy hơn nhị và vòi kết hợp chưa hoàn toàn
tạo nên những mảnh nhỏ rời nhau.
Hoa lan có hạt phấn dính lại với nhau tạo thành khối phấn, phía ngoài
khối phấn thường có tinh bột, sáp hoặc có chất sừng cứng, lượng khối phấn
biến động có khi chia thành 2 đôi 4, 6 hoặc 8. Khối phấn nằm trong khoảng
nhỏ của cột nhụy. Mỗi khối phấn có hàng trăm nghìn hạt phấn. Vòi nhụy dính
liền với nhị đực và có 3 đầu nhụy, trong đó có hai đầu bên làm nhiệm vụ sinh
sản, bầu lan thuộc bầu hạ, ở lan một nhị bầu ở đỉnh noãn bên, còn các loài lan
là sự vặn xoắn một góc 1800 làm cho môi trong nụ hướng về trục cụm hoa
phía dưới và chìa ra ngoài thuận lợi cho sự thụ phấn của côn trùng. Có nhiều
loài lan không cần vặn xoắn [6].
* Quả
Quả lan thuộc loại quả nang mở bằng 3 hay 6 khe nứt dài theo hai bên
đường của giá noãn. Một số loài quả nang chỉ mở theo hai hoặc thậm chí theo
một khía, có trường hợp hạt chỉ được ra khỏi vỏ khi vỏ quả nang đã bị mục [6].


7

* Hạt
Hạt lan cần trải qua từ 2 đến 18 tháng mới chín. Hạt nhỏ, nhiều phôi chưa

phân hóa, đó cũng là đặc điểm riêng của lan. Nhiều giống lan hạt còn có một lớp
vỏ màng lưới xốp, chứa đầy không khí. Hạt lan được gió mang xa như hạt bụi,
phần lớn hạt bị chết vì hạt muốn nảy mầm phải có nấm cộng sinh [6].
2.2. Giới thiệu về cây lan Kim Tuyến
2.2.1. Phân loại
Theo hệ thống thực vật [5] thì lan Kim Tuyến được phân loại như sau:
Giới (regnum)

: Plantae

Ngành (Phylum)

: Magnoliophyta

Lớp (Class)

: Liliospida

Bộ (ordo)

: Asparagales

Họ (Family)

: Orchidaceae

Chi (genus)

: Anoectochilus


Loài (species)

: roxburghii

2.2.2. Đặc điểm hình thái
2.2.2.1. Đặc điểm nhận dạng
Cây thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài trên mặt đất mọng nước và có
nhiều lông mềm, mang 2-4 lá mọc xòe sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc,
chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3-4 x 2-3cm, có màu khác nhau với dạng
gân thường nhạt hơn (màu lục sẫm với mạng gân màu lục nhạt hay màu nâu
đỏ với mạng gân màu vàng lục hay hồng) cuống lá dài 2-3cm [2].
2.2.2.2. Đặc điểm thân rễ
Thân rễ nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài. Chiều dài
thân rễ từ 5-12cm, trung bình là 7,87cm. Đường kính thân rễ từ 3-4mm, trung
bình là 3,17mm. Số lóng trên thân rễ từ 3-7 lóng, trung bình là 4,03 lóng.
Chiều dài của lóng từ 1-6cm, trung bình là 1,99cm. Thân rễ thường có màu
xanh trắng, đôi khi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông [8].


8

2.2.2.3. Đặc điểm của rễ
Rễ được mọc ra từ các mấu trên thân rễ. Đôi khi rễ cũng được hình
thành từ thân khí sinh. Rễ thường đâm thẳng xuống đất. Thông thường mỗi
mấu chỉ có một rễ, đôi khi có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên
thân rễ. Số lượng và kích thước rễ cũng rất thay đổi tuỳ theo cá thể. Số rễ trên
một cây thường từ 3-10 rễ, trung bình là 5,4 rễ. Chiều dài của rễ thay đổi từ
0,5-8cm, rễ dài nhất trung bình là 6,07cm và ngắn nhất trung bình là 1,22cm,
chiều dài trung bình của các rễ trên một cây là 3,82cm [8].
2.2.2.4. Đặc điểm của lá

Lá mọc cách xoắn quanh thân, xoè trên mặt đất. Lá hình trứng, gần tròn
ở gốc, đầu lá hơi nhọn và có mũi ngắn, thường dài từ 3-4cm, trung bình là
4,03cm và rộng từ 2-3cm, trung bình là 3,12cm. Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên
và phủ lông mịn như nhung. Hệ gân lá mạng lưới lông chim, thường có 5 gân
gốc. Các gân này thường có màu hồng ở mặt trên và nổi rất rõ. Đôi khi gân ở
giữa có màu vàng nhạt. Mặt dưới lá có màu nâu đỏ nhạt, nhẵn với 5 gân gốc
nổi rõ. Các gân bên ở phía rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá mặt dưới không rõ.
Cuống lá dài 0,6-1,2cm, thường nhẵn và có màu trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía
ở bẹ lá. Bẹ lá nổi rõ và nhẵn. Số lá trên một cây thay đổi từ 2-6, thông thường
có 4 lá. Kích thước của lá cũng thay đổi, các lá trên một cây thường có kích
thước khác nhau rõ rệt [8].
2.2.2.5. Đặc điểm của hoa
Cụm hoa dài 10-15cm, mang 4-10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, hoa
thường màu trắng, dài 2,5-3cm, các mảnh bao hoa dài khoảng 6mm, môi dài
1,5cm, ở mỗi bên gốc mang 6-8 dải hẹp, chóp phiến rộng, chẻ hai sâu, hốc chứa
mật dài 7mm, bầu dài 1,3cm màu lục có nhiều lông mềm [2],[ 8].
2.2.3. Đặc điểm phân bố
Lan Kim Tuyến thường mọc ở dưới tán rừng nguyên sinh, hầu hết là
nguyên thủy, rậm thường xanh, nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng trên sườn núi
đá granit, riclit, phiến sét, ở độ cao 500–1600m rải rác thành từng nhóm vài
ba cây trên đất ẩm rất giàu mùn và lá cây rụng [2].
Ở Việt Nam, lan Kim Tuyến có phổ phân bố khá rộng bao gồm: Lào Cai
(Sa Pa, Liêm Phá), Hà Tĩnh, Quảng Trị, Kom Tum, Lâm Đồng, Đắk Lăk [2].


9

Thế giới: Ấn Độ, Nepan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào,
Campuchia, Malaixia, Indonexia [2].
2.2.4. Số lượng quần thể

Chi lan Anoectochilus có khoảng 30-40 loài phổ biến rộng khắp các
vùng nhiệt đới từ Ấn Độ thông qua dãy Hymalaya tới các dãy núi ở Đông
Nam Á, Nhật Bản, Indonexia và một số đảo ở Thái Bình Dương bao gồm cả
Đài Loan [14], [21].
2.2.5. Giá trị của lan Kim Tuyến
2.2.5.1. Giá trị kinh tế
Nhờ quý hiếm, có tính dược liệu và làm cây cảnh nên giá cây lan Kim
Tuyến tươi được bán trên thị trường thế giới từ 200-300USD/kg (thân, rễ, lá,
hoa), cây khô có giá từ 3.200USD/kg, nếu thu hái trong tự nhiên giá cao gấp 3
lần hoặc nhiều hơn nữa [16], [20], [23]. Trung Quốc, Đài Loan, Nhật đã trồng
và xuất khẩu lan Kim Tuyến mang lại nguồn thu lớn, tiềm năng sản xuất và
xuất khẩu cây lan này rất lớn nếu được đầu tư đúng mức.
2.2.5.2. Giá trị dược liệu
Lan Kim Tuyến là một loại thảo dược có giá trị cao, chứa axit 4hydroxycinnamic, β-sitosterol, β-D-glucopyranoside, 3-glucosides butanoic
axit, kinsenoside cho mục đích y tế [20], [23] như có tác dụng giảm huyết áp
cao [14], [22] điều trị chống viêm, xơ vữa động mạch, tiểu đường, chứng rối
loạn gan, lá lách, tim, bệnh phổi [14], [16], [22] bảo vệ gan và sử dụng để
chữa bệnh viêm gan [18], [24] viêm thận [20] rắn cắn [14], [20] chống khối u,
ung thư và tính chống vi-rus [20], [22] ngoài ra dẫn xuất của lan Kim Tuyến
còn có tác dụng điều trị hen phế quản, chống loãng xương, chống mệt mỏi
[15]. Lan Kim Tuyến chứa các nguyên tố vi lượng (Fe, Co, Cu, Mn, Zn, Cr)
đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả chống lão hóa, chuỗi
polysaccharide nâng cao hiệu lực của miễn dịch trong cơ thể con người [18].
Hiện nay, rất nhiều người đã trồng loài lan này để làm thuốc sử dụng
cho gia đình và trồng quy mô lớn để bán lan Kim Tuyến thương phẩm cho các
Công ty sản xuất Dược phẩm và xuất khẩu sang Trung Quốc với giá rất cao
(1,5-2 triệu đồng/1kg).


10


2.3. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.3.1. Lịch sử nuôi cấy mô tế bào thực vật
Gottlieb Haberlandt (1902), nhà thực vật học người Đức, đã đặt nền
móng đầu tiên cho nuôi cấy mô tế bào thực vật. Ông đưa ra gỉa thuyết về tính
toàn năng của tế bào trong cuốn sách “ Thực nghiệm về nuôi cấy tế bào tách
rời”. Theo ông, mỗi tế bào bất kì cơ thể nào đều mang toàn bộ lượng thông tin
di truyền của cơ thể đó và có khả năng phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh khi
gặp điều kiện thuận lợi. Tuy nhiên những thí nghiệm với các tế bào mô mềm,
biểu bì đã bị thất bại, do chúng không thể phân chia được [12].
Năm 1922, Kotte người Mỹ (học trò cũ của Haberlandt và Robbins) đã
lặp lại thí nghiệm của Haberlandt với đỉnh sinh trưởng tách từ đầu rễ của một
cây hòa thảo. Trong môi trường lỏng có chứa muối khoáng và đường Glucose
đầu rễ sinh trưởng khá mạnh tạo thành một hệ rễ nhỏ [12].
Năm 1934, bắt đầu giai đoạn thứ hai trong lịch sử nuôi cấy mô thực vật,
khi White (Mỹ), nuôi cấy thành công trong một thời gian dài đầu rễ cà chua
với môi trường lỏng chứa muối khoáng, glucosse, và nước chiết nấm men.
Sau đó ít lâu, White chứng minh là có thể thay thế nước chiết nấm men bằng
hỗn hợp 3 loại vitamin nhóm B: Thiamin (B1), Nicotinic acid (B3) và
Pyridoxine (B6). Từ đó, việc nuôi cấy đầu rễ trong thời gian vô hạn đã được
tiến hành trên nhiều cây khác nhau. Cũng trong thời gian này, Gautheret ở
Pháp đã tiến hành các nghiên cứu nuôi cấy mô tượng tầng một số cây thân gỗ.
Sau khi Went & Thimann phát hiện chất điều hòa sinh trưởng đầu tiên, acid B - indolacetic (IAA), và kết tinh được chất này, Gautheret xác nhận tác dụng
của chất kích thích sinh trưởng mô sẹo của IAA và nhóm 3 vitamin do White
đề nghị. Cùng với Nobercourrt, năm 1939, Gautheret đã thành công trong việc
duy trì sự sinh trưởng của cà rốt trong thời gian dài [12].
Năm 1941, Overbeck (Hoa Kỳ), chứng minh tác dụng kích thích sinh
trưởng của nước dừa trong nuôi cấy phôi cây họ cà. Sau đó, năm 1948,
Steward xác nhận tác dụng của nước dừa lên trên mô sẹo cà rốt. Trong thời
gian này, nhiều chất sinh trưởng nhân tạo thuộc nhóm auxin đã được nghiên

cứu và tổng hợp hóa học thành công. Chất α - Naphyl acetic acid (NAA) và
chất 2,4 - Dichlopheloxy acetic acid (2,4D) được bắt đầu sử dụng để trừ cỏ lá


11

rộng trong nông nghiệp. Nhiều tác giả nhận thấy cùng với nước dừa, 2,4D và
NAA đã giúp tạo mô sẹo, gây phân chia tế bào thành công ở nhiều đối tượng
thực vật trước đó rất khó nuôi cấy [12].
Năm 1954, Skoog phát hiện chế phẩm thủy phân của tinh dịch cá bẹ có
tác dụng kích thích sinh trưởng rõ rệt trong nuôi cấy các mảnh mô thân cây
thuốc lá. Ông cho rằng chất có hoạt tính là sản phẩm phân giải và một năm
sau, chất đó được tổng hợp thành công, được Skoog gọi là Kinetin do có tác
dụng kích thích sự phân bào. Việc phát hiện ra NAA, 2,4D, Kinetin cùng với
các loại vitamin và nước dừa là những bước tiến có ý nghĩa trong giai đoạn
thứ 2 của nuôi cấy mô tế bào thực vật [12].
Năm 1957, Skoog và Miller công bố các kết quả nghiên cứu về ảnh
hưởng của tỷ lệ Kinetin/auxin trong môi trường nuôi cấy đối với sự hình
thành cơ quan của mô sẹo thuốc lá. Khi giảm thấp tỷ lệ Kinetin/auxin, mô sẹo
có khuynh hướng tạo rễ, ngược lại nếu tăng tỷ lệ Kinetin/auxin, mô sẹo có
khuynh hướng tạo chồi. Hiện tượng này được xác nhận trên nhiều cây khác
nhau và đóng góp rất lớn vào điều khiển sinh trưởng, phát triển, phát sinh cơ
quan của mô tế trong nuôi cấy. Thành công của Skoog & Miller dẫn đến
nhiều phát hiện quan trọng khác, mở đầu cho giai đoạn thứ 3 của lịch sử nuôi
cấy mô thực vật [12].
Năm 1960, Morel đã tạo ra được các protocorm từ địa lan. Khi để trong
điều kiện nhất định, các protocorm có thể phát triển thành cây lan con và hoàn
toàn sạch bệnh [12].
Cũng trong năm 1960, Cocking ở trường Đại học Tổng hợp Nottingham
đã thu được các tế bào trần (protoplast) dùng cho nuôi cấy mô tế bào thực vật

được xử lý với enzyme xellulaza [12].
Năm 1966, Guha và cộng sự đã tạo được cây đơn bội từ nuôi cấy túi
phấn của cây cà độc dược (Datura inoxia) [12].
Năm 1967 - 1968 lần lượt Nichko Nakato và cộng sự tạo ra được cây
đơn bội từ bao phấn thuốc lá [12].
Năm 1970, các nhà khoa học đã chú ý vào triển vọng của kỹ thuật nuôi
cấy protoplast, khi 2 tác giả người Nhật Bản là Nagata và Takebe đã thành
công trong việc làm cho protoplast thuốc lá tái tạo được xellulozo [12].


12

Năm 1971, Takebe tái sinh thành công cây thuốc lá từ tế bào trần [12].
Năm 1972, Carlson và cộng sự lần đầu tiên thực hiện lai tế bào soma
giữa các loài, tạo được cây từ dung hợp tế bào trần của hai loài thuốc lá
Nicotiana glauca và N langsdorfi [12].
Năm 1977, ML chers lai thành công tế bào soma cây cà chua và cây
khoai tây. Đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử chọn tạo giống cây
trồng bởi với kỹ thuật lai hữu tính cổ điển thì đây là một việc không thể thực
hiện được [12].
Năm 1978, Melchers và cộng sự đã lai tạo thành công protoplast của cà
chua với protoplast của khoai tây, mở ra một triển vọng mới trong lai xa ở
thực vật. Ngoài ra, trong những điều kiện nhất định, các protoplast có khả
năng hấp thụ các phân tử lớn, hoặc các cơ quan tử từ bên ngoài, do đó chúng
là những đối tượng lí tưởng cho các nghiên cứu về di truyền thực vật [12].
2.3.2. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.3.2.1. Tính toàn năng (Totipence ) của tế bào thực vật
Nguyên lí cơ bản của nhân giống nuôi cấy mô tế bào là tính toàn năng của
tế bào thực vật. Mỗi tế bào bất kì của cơ thể thực vật đều mang toàn bộ lượng
thông tin di truyền của toàn bộ cơ thể. Trong điều kiện thích hợp mỗi tế bào

đều có thể phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Tính toàn năng của tế bào
là cơ sở khoa học của phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật. Hiện nay,
người ta đã thực hiện được khả năng tạo ra một cơ thể hoàn chỉnh từ một tế
bào riêng rẽ [4].
2.3.2.2. Sự phân hóa và phản phân hóa
Cơ thể thực vật hình thành là một chính thể thống nhất bao gồm nhiều cơ
quan chức năng khác nhau, được hình thành từ nhiều loại tế bào khác nhau. Tuy
nhiên tất cả các loại tế bào đó đều bắt nguồn từ một tế bào đầu tiên (tế bào hợp
tử). Ở giai đoạn đầu, tế bào hợp tử tiếp tục phân chia hình thành nhiều tế bào
phôi sinh chưa mang chức năng riêng biệt (chuyên hóa). Sau đó, từ các tế bào
phôi sinh này chúng tiếp tục được biến đổi thành các tế bào chuyên hóa đặc hiệu
cho các mô, cơ quan có chức năng khác nhau [4].
Sự phân hóa tế bào là sự chuyển các tế bào phôi sinh thành các tế bào mô
chuyên hóa, đảm bảo các chức năng khác nhau. Quá trình phân hóa tế bào có thể
biểu thị:


13

Tế bào phôi sinh → Tế bào dãn → Tế bào phân hoá có chức năng riêng biệt
Tuy nhiên, khi tế bào đã phân hóa thành các tế bào có chức năng chuyên,
chúng không hoàn toàn mất khả năng biến đổi của mình. Trong trường hợp cần
thiết, ở điều kiện thích hợp, chúng có thể trở về dạng tế bào phôi sinh và phân
chia mạnh mẽ. quá trình đó gọi là phản phân hóa tế bào, ngược lại với sự phân
hóa tế bào.
phân hóa tế bào
tế bào phôi sinh

tế bào dãn


tế bào chuyên hóa

phản phân hóa tế bào
Về bản chất thì sự phân hóa và phản phân hóa là một quá trình hoạt hóa,
ức chế các gen. Tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá thể, có
một số gen được hoạt hóa (mà vốn trước nay bị ức chế) để cho ta tính trạng
mới, còn một số gen khác lại bị đình chỉ hoạt động. Điều này xảy ra theo một
chương trình đã được mã hóa trong cấu trúc của phân tử ADN của mỗi tế bào
khiến cho quá trình sinh trưởng phát triển của cơ thể thực vật luôn được hài
hòa. Mặt khác, khi tế bào nằm trong một khối mô của cơ thể thường bị ức
chế bởi các tế bào xung quanh. Khi tách riêng từng tế bào hoặc giảm kích
thước của khối mô sẽ tạo điều kiện cho sự hoạt hóa các gen của tế bào [4].
2.4. Các chất điều hòa sinh trưởng nuôi cấy mô tế bào thực vật
2.4.1. Auxin
Chất auxin tự nhiên được tìm thấy nhiều ở thực vật là indol axetic acid
(IAA). IAA có tác dụng kích thích sinh trưởng kéo dài tế bào và điều khiển sự
hình thành rễ. Ngoài IAA, còn có các dẫn xuất của nó là naphthalene axetic
acid (NAA) và 2,4 - diclophenoxy acid (2,4 D). Các chất này cũng đóng vai trò
quan trọng trong sự phân chia của mô và trong quá trình hình thành rễ. NAA
được Went và Thimann (1937) phát hiện, chất này có tác dụng tăng hô hấp của
tế bào và mô nuôi cấy, tăng hoạt tính enzym và ảnh hưởng mạnh đến trao đổi


14

chất của nitơ, tăng khả năng tiếp nhận và sử dụng đường trong môi trường.
NAA là auxin nhân tạo, có hoạt tính mạnh hơn auxin tự nhiên IAA, NAA có
vai trò quan trọng đối với phân chia tế bào và tạo rễ [1], [13].
Trong cây auxin được tổng hợp ở các mô non đặc biệt là lá đang phát
triển và vùng đỉnh chồi. Từ những vùng này auxin được chuyển xuống các

phần phía dưới của cây [1].
2.4.2. Cytokinin
Cytokinin là chất điều hoà sinh trưởng có tác dụng làm tăng sự phân
chia tế bào. Các cytokinin thường gặp là kinetin, 6 - benzyl aminopurin (BA).
Kinetin được Skoog phát hiện ngẫu nhiên trong chiết xuất acid nucleic.
Kinetin thực chất là một dẫn xuất của bazơ nitơ adenine. BA là cytokinin tổng
hợp nhân tạo nhưng có hoạt tính mạnh hơn nhiều kinetin. Kinetin và BA cùng
có tác dụng kích thích phân chia tế bào kéo dài thời gian hoạt động của tế bào
phân sinh và làm hạn chế sự già hoá của tế bào. Ngoài ra các chất này có tác
dụng lên quá trình trao đổi chất, quá trình tổng hợp ADN, tổng hợp protein và
làm tăng cường hoạt tính của một số enzym. Cơ chế tác dụng của auxin ở
mức độ phân tử trong tế bào thể hiện bằng tác dụng tương hỗ của cytokinin
với các nucleoprotein làm yếu mối liên kết của histon với ADN, tạo điều kiện
cho sự tổng hợp ADN [1], [13].
Những nghiên cứu của Miller và Skoog (1963) đã cho thấy không phải
các chất kích thích sinh trưởng ngoại sinh tác dụng độc lập với hoocmon sinh
trưởng nội sinh. Phân chia tế bào, phân hoá và biệt hoá được điều khiển bằng
sự tác động tương hỗ giữa các hoocmon ngoại sinh và nội sinh. Tác động phối
hợp của auxin và cytokinin có tác dụng quyết định đến sự phát triển và phát
sinh hình thái của tế bào và mô. Những nghiên cứu của Skoog cho thấy tỷ lệ
auxin/cytokinin cao thì thích hợp cho sự hình thành rễ, và thấp thì thích hợp
cho quá trình phát sinh chồi. Nếu tỷ lệ này ở mức độ cân bằng thì thuận lợi
cho phát triển mô sẹo (callus). Das (1958) và Nitsch (1968) khẳng định rằng
chỉ khi tác dụng đồng thời của auxin và cytokinin thì mới kích thích mạnh mẽ
sự tổng hợp ADN, cảm ứng cho sự phân chia tế bào. Theo Dmitrieva (1972)
giai đoạn đầu của quá trình phân bào được cảm ứng bởi auxin còn giai đoạn
tiếp theo thì cần tác động tổng hợp của cả hai chất kích thích. Skoog và Miller


15


(1957) đã khẳng định vai trò của cytokinin trong quá trình phân chia tế bào cụ
thể là cytokinin điều khiển quá trình chuyển pha trong mitos và giữ cho quá
trình này diễn ra một cách bình thường. Cytokinin được tổng hợp bởi rễ và
hạt đang phát triển [1], [13].
2.4.3. Gibberelin
Gibberellin được phát hiện đầu tiên bởi nhà nghiên cứu người Nhật
Kurosawa (1920) khi nghiên cứu bệnh ở mạ lúa do nấm G. Fujikuroi gây ra.
Năm 1939 đã tách chiết được gibberellin từ nấm G. Fujikuroi và được gọi là
gibberellin A. Gibberellin có tác dụng kéo dài tế bào, nhất là thân và lá vì vậy
khi xử lý với các cây đột biến lùn và các cây này có thể khôi phục lại bình
thường. Về sau, các nghiên cứu khám phá ra là trong cơ thể thực vật cũng có
các chất giống như Gibberellin cả về cấu tạo và tác dụng. Những chất này đặt
tên theo thứ tự là A1, A2, A3, A4... Do gibberellin tồn tại trong thực vật, nó
tham gia vào các quá trình sinh trưởng và phát triển trong sự tương tác với các
chất điều hoà sinh trưởng khác [1], [13].
2.4.4. Ethylen
Ethylen là chất điều hoà sinh trưởng dạng khí. Ethylen có rất nhiều tác
dụng đối với hoạt động sinh lý và trao đổi chất ở thực vật. Đã từ lâu vai trò
của ethylen đối với việc làm tăng hô hấp trong thời gian quả chín đã được ứng
dụng nhiều. Trong những năm gần đây đã xem xét tác dụng của ethylen lên sự
kéo dài thân và rễ, kích thích tế bào phát triển về bề ngang, kích thích nảy
mầm, tạo lông rễ, tạo hoa ở dứa và lan, ức chế vận chuyển ngang và xuống
của Auxin [1], [13].
2.5. Tình hình sản xuất và sử dụng lan Kim Tuyến ở Việt Nam
Việt Nam đã tìm thấy 12 loài lan Anoectochilus roxborghii phân bố rải
rác tại Kon Tum, Cúc Phương, Kẽ Bàng, Lai Châu, Tam Đảo, Sapa… Tuy
nhiên, đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá nào về mặt dược liệu. Vài
năm gần đây, nhiều người dân một số tỉnh Tây Nguyên đã và đang tìm kiếm,
tận thu cây lan Kim Tuyến bán cho thương lái đưa qua Trung Quốc, nhiều học

sinh thôn bản nghỉ học săn tìm vì mức giá hấp dẫn, giá thu mua ban đầu
600.000 đồng/kg tăng lên vài triệu đồng/kg. Bị săn tìm quá mức, loại lan này
gần như cạn kiệt ngoài tự nhiên.


16

Theo thông tin từ người dân ở Hà Giang, từ 1993-1994 đến nay, các tư
thương người Trung Quốc đến tìm mua loại lan Kim Tuyến về làm thuốc.
Điều đáng nói là không chỉ có Xín Chải, các xã như Thanh Đức, Lao Chải,
Cao Bồ...của Vị Xuyên cũng đều có lan Kim Tuyến. Được biết, vào tháng
9/2007, Kiểm lâm tỉnh Quảng Trị cũng đã phát hiện được loài lan Kim Tuyến
quý hiếm ở Đakrông, loại cây này có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam.
Nhận thức được tiềm năng, giá trị kinh tế của loài lan này, Công ty Cổ
Phần công nghệ cao Bắc Nam đang xúc tiến đầu tư trồng lan Kim Tuyến theo
hướng dược liệu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu, hiện đã hoàn thành quy trình
nhân giống và chuẩn bị triển khai sản xuất quy mô công nghiệp. Các địa bàn
tiềm năng triển khai là Kon Tum, Lâm Đồng.
2.6. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
2.6.1. Tình hình nghiên cứu lan Kim Tuyến trên thế giới
Lazarus Agus Sukamto và cs (2011) [20], đã so sánh sự khác nhau giữa
Anoectochilus setaceus và Anoectochilus formosanus khi sử dụng TDZ trong
nuôi cấy in vitro, họ đã tìm ra môi trường nuôi cấy A. setaceus tốt nhất với
TDZ là 0,1 mg/l, A. formosanus với TDZ là 0,5 mg/l. Số lá cao nhất của
A.setaceus với TDZ 0,001 mg/l, còn A. formosanus với hàm lượng TDZ là
0,005mg/l. Số chồi được tạo ra trên TDZ đối với loài A. setaceus là 0,01mg/l
còn với A. formosanus là 0,05mg/l. Số rễ cao nhất của A. setaceus trên TDZ là
0,001 mg/l trong khi của A. formosanus là 0,005mg/l.
C-C.Hsieh và cs (2010) [15], khi nghiên cứu về Anoectochilus
formosanus, đã thấy rằng dịch chiết của Anoectochilus formosanus có thể làm

giảm đáng kể sự phân cực Th2 sau khi xâm nhập vào mô hình chuột thí
nghiệm. Kết quả này cho thấy rằng Anoectochilus formosanus điều chỉnh
tiết cytokinine trong hen suyễn dị ứng. Điều chế tiết tự nhiên các tế bào T
(CD25+CD4+Treg) tăng miễn dịch điều trị viêm phổi dị ứng và điều chỉnh
viêm đường hô hấp thâm nhiễm bạch cầu ái toan và đại thực bào. Cuối
cùng làm giảm tiết đường hô hấp chống IgE chuột mô hình và giảm viêm
đường hô hấp.


×