BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN THỊ HOA THƠM
THÕ GIíI H×NH ¶NH TRONG TH¥ VI THïY LINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đặng Thu Thủy
HÀ NỘI – 2015
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới cô
giáo, TS. Đặng Thu Thủy – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho em
trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, ban Chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, các thầy cô giáo bộ môn đã tham gia
giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý kiến quý
báu và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tại trường cũng như quá trình
thực hiện luận văn.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ, động
viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tôi hoàn thành tốt chương
trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Hoa Thơm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Là loại hình văn học sớm nhất của nhân loại, thơ ca là tiếng nói cất lên
từ tâm hồn con người trước những niềm vui, nỗi buồn, trước những xúc cảm
do cuộc sống mang lại. Để làm được điều đó, thơ đã lấy ngôn ngữ làm chất
liệu cho mình. Tuy nhiên, khác với văn xuôi, ngôn ngữ thơ ca chắt lọc, tinh
chất, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, cô đọng và khúc
chiết. Để làm được điều này, thơ biểu hiện bằng biểu tượng mang nghĩa, các y
tượng, hình ảnh có ngụ y nảy sinh nhờ sức liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo
mạnh mẽ của các nhà thơ. Vì “thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng
một vũ trụ qua trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có y
nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là
điều kiện của thơ, ly do tồn tại của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Nhà thơ Chế Lan
Viên cũng cho rằng: “Thơ nghĩ bằng hình ảnh”. Như vậy có thể khẳng định,
hình ảnh là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong thơ.
1.2.Việc “lựa chọn” và “kết hợp” những hình ảnh trong thơ thể hiện cách
cảm nhận riêng của mỗi tác giả trước cuộc đời. Ví như đọc thơ Chế Lan Viên ta
thấy được thế giới hình ảnh đặc sắc, vận động và biến đổi cùng với sự vận động
và biến đổi của cái tôi trữ tình. Thế giới hình ảnh thuở Điêu tàn ảm đạm lạnh lẽo
mà ghê rợn, đầy rẫy những sọ dừa, xương máu cùng yêu ma đến thời kháng
chiến chống Mỹ lại gắn với hàng loạt những hình ảnh tươi sáng, kỳ vĩ, mỹ lệ,
hoành tráng. Trong thơ Xuân Diệu - ông hoàng của thơ tình Việt Nam, những
hình ảnh chủ đạo là hình ảnh căng tràn sức sống, rạo rực, đắm say, đầy xuân sắc,
xuân tình. Tuy nhiên, hình ảnh thơ không phải là tổng số của nhiều hình ảnh mà
chính sự chọn lọc những hình ảnh có giá trị biểu cảm, có tính hàm súc, tạo hiệu
ứng nghệ thuật cao, thể hiện tư tưởng, tinh thần lập ngôn và cá tính sáng tạo của
người nghệ sĩ. Trong số những nhà thơ trẻ hiện đại khẳng định được bản lĩnh, nỗ
lực cách tân thơ Việt phải kể đến Vi Thùy Linh.
4
1.3. Vi Thùy Linh là một hiện tượng của thơ Việt Nam hiện đại. Sinh
năm 1980, bắt đầu làm thơ và được in báo năm 15 tuổi, trải qua hành trình
sáng tác với những nỗ lực cách tân thơ Việt, ViLi đã khẳng định được vị trí
của mình trên thi đàn và đặc biệt trong lòng độc giả. Thơ Vi Thùy Linh khi
xuất hiện đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của độc giả và giới phê bình. Có
nhiều y kiến khác nhau về thơ Vi Thùy Linh song không ai có thể phủ nhận
những đóng góp của Linh cho thơ ca. Trong khoảng 15 năm sáng tác với 6 tập
thơ đủ khẳng định những nỗ lực của Linh. Và cho đến thời điểm này, chúng ta
đã có một khoảng thời gian để đánh giá công tâm về thơ Vi Thùy Linh. Có rất
nhiều những lời nhận xét ưu ái cho nữ nhà thơ trẻ. TS Chu Văn Sơn mệnh
danh Vi Thùy Linh là “thi sĩ ái quyền” còn nhà văn Nguyễn Huy Thiệp gọi
những sáng tác của nhà thơ trẻ này là “hiện tượng Vi Thùy Linh” trong khi
tác giả Văn Giá gọi thơ Vi Thùy Linh là “những trận bạo động chữ”… Bên
cạnh những thành công của Linh về nội dung tư tưởng, thể thơ… là hình ảnh
trong thơ. Đọc thơ Linh, người đọc choáng ngợp bởi tầng lớp những hình ảnh
sống động và giàu sức gợi cảm. Trong những bài phê bình, những công trình
nghiên cứu, các học giả đã đề cập đến nhiều vấn đề xung quanh thơ Vi Thùy
Linh như: Thế giới nghệ thuật trong thơ Vi Thùy Linh, Tiếng nói nữ quyền…
Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu về thế giới hình ảnh trong thơ
Vi Thùy Linh, vốn là một đặc điểm quan trọng trong việc tìm hiểu về những
tác giả thơ nói chung và Vi Thùy Linh nói riêng. Vì vậy, chọn vấn đề nghiên
cứu: “Thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh”, chúng tôi mong muốn sẽ
giúp nhận diện rõ hơn về bản chất thơ ViLi.
2. Lịch sử vấn đề
Ngay khi xuất hiện, thơ Vi Thùy Linh đã được sự quan tâm của giới
nghiên cứu và độc giả. Một số các nhà phê bình ghi nhận đóng góp của Linh,
động viên, ngợi ca, tôn vinh thơ Vi Thùy Linh như: Nguyễn Trọng Tạo (cuối
5
tập Khát, tái bản 2007), Nguyễn Huy Thiệp (Hiện tượng Vi Thùy Linh), Trần
Đăng Khoa (Đọc lại Vi Thùy Linh), Vũ Mão (Lời giới thiệu Đồng Tử), Phạm
Xuân Nguyên (Người “tận lực tham ô tuổi trẻ” để sống thơ), Thanh Thảo
(Một ước mơ dữ dội: làm mẹ), Dương Tường (Nhận định đầu tập Đồng Tử),
Nguyễn Việt Chiến (Thơ Vi Thùy Linh cơn cuồng lưu từ những mê-lộ-chữ),
Nguyễn Đăng Điệp (Màu yêu trong đồng tử thơ Linh), Lưu Khánh Thơ (Vi
Thùy Linh phiêu du cùng “Phim đôi tình tự chậm”), Chu Văn Sơn (Vi Thùy
Linh - thi sĩ ái quyền), Văn Giá (Vi Thùy Linh - Những trận bạo động chữ),
Thụy Khê (Vi Thùy Linh, nhục cảm sáng tạo), Trần Thiện Khanh (Vili là ai?),
Nguyễn Thanh Tâm (Vi Thùy Linh - giữa những quyền lực của lời). Nhìn
chung, những bài viết này ghi nhận, khích lệ những nỗ lực đóng góp của Vi
Thùy Linh trong nền thơ đương đại Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác giả đã góp
phần “phác thảo” diện mạo thơ ViLi: một nhà thơ “sinh ra đã có gương mặt
riêng, tiếng nói riêng… Nghĩ theo cách riêng của mình. Rồi cất lên tiếng nói
cũng của chính mình” (Trần Đăng Khoa); “Cô gái mới 20 tuổi đã có những
khát khao dữ dội về chức năng làm mẹ, và nghĩ một cách thâm trầm, sâu sắc
đến không ngờ về thiên chức người mẹ trong thế giới. Bằng cú pháp thơ già
dặn, cách nói thơ đơn giản và trực diện, bài thơ của Vi Thùy Linh như hồ nước
chứa những cơn sóng ngầm từ bên dưới” (Thanh Thảo); “Vẫn một niềm khao
khát của Linh như ngày nào, khao khát vừa ngây thơ vừa đau đớn mà hạnh
phúc. Ta gặp lại ở đây những dục vọng cháy bỏng và thăng hoa trong thơ Linh
về tình yêu” (Phạm Xuân Nguyên); “Ở Vi Thùy Linh, chất hiện đại và truyền
thống hòa quyện. Truyền thống không chỉ là biểu hiện về hình thức mà truyền
thống là y thức mạnh mẽ về nữ tính và thiên chức của người phụ nữ Việt Nam”
(Vũ Mão); “Vi Thùy Linh là một biểu tượng giải phóng phụ nữ trong thơ”
(Dương Tường); “Ý thức về ái quyền, ca tụng và đấu tranh cho ái quyền, đó là
nguồn cảm hứng sôi nổi nhất trong hồn thơ Linh” (Chu Văn Sơn)…
6
Bên cạnh những “kẹo ngọt”, Vi Thùy Linh cũng phải chịu không ít
“đòn roi” từ dư luận. Đó chính là sự phủ nhận, phê phán, thậm chí tẩy chay
thơ Vi Thùy Linh. Có thể gặp những bài viết của Trần Mạnh Hảo (Từ “thơ
vọt trào” đến hội chứng khen trào vọt: “Cứ tiếp tục đanh đá, lắm lời, cứ xổ
hết ra đi!”), Chu Thị Thơm (Khi nhục cảm đã vượt qua con chữ - GD&TĐ số
27 ngày 3 - 3 - 2001), Nguyễn Thanh Sơn (Linh ơi), Nguyễn Hoàng Đức (Sự
khả tín, khả ngờ về “hiện tượng thơ mới - trẻ thứ thiệt), Nguyễn Trọng Bình
(Văn chương trẻ - rất cần một chiều sâu và tầm nhìn văn hóa; Thơ Vi Thùy
Linh - “Những trận bạo động… tình; Thử bàn về trách nhiệm của “người đi
trước” qua trường hợp Vi Thùy Linh... Ngoài ra cũng có thể kể đến một số
bài viết của Lê Thị Huệ, Nguyễn Mạnh Trinh, Hoàng Anh Tuấn… Những đại
diện này đã phê phán, phủ định thơ Vi Thùy Linh. Theo Nguyễn Thanh Sơn,
trong thơ Linh đầy những từ ngữ to tát, những đại ngôn, hàm ngôn, những
diễn dịch tối nghĩa. Đó là sản phẩm của “mặc cảm chưa thành người lớn”.
Nguyễn Thanh Sơn quả quyết: “Dù rằng ngôn ngữ có vẻ hiện đại, chất đầy
những phần mềm, cập nhật, mã hoá, nhưng không vì thế mà rõ ràng hơn, và
nhất là, hay hơn”. Hoàng Xuân Tuyền phán: “Chúng tôi không coi những ghi
chép lộn xộn đó là thơ”, còn Nguyễn Thanh Sơn thì cho rằng, đó chỉ là “một
món - nộm - thơ nhạt nhẽo”…
Hai thái độ trái ngược trước vấn đề thơ Vi Thùy Linh dù thế nào đi nữa
cũng cho thấy sự quan tâm, chú y của độc giả, giới phê bình dành cho Linh. Mặt
khác, nó cũng cho thấy những phát ngôn, nhận xét của các nhà phê bình dành
cho những hiện tượng văn học (bên cạnh những đánh giá khách quan, công tâm)
thì còn không ít những đánh giá chủ quan, cảm tính. Thời gian là thước đo khách
quan nhất về “sự sống” của tác phẩm. 25 năm đã trôi qua kể từ khi Linh xuất
hiện với tập thơ đầu tay, chúng ta đã có độ lùi thời gian để đánh về thơ ViLi và
không thể phủ nhận những nỗ lực cách tân thơ của nữ nhà thơ trẻ này.
7
Thơ Vi Thùy Linh cũng nhận được sự quan tâm của giới nghiên cứu.
Có thể kể đến một số công trình luận văn thạc sĩ nghiên cứu xung quanh vấn
đề thơ Vi Thùy Linh như: “Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh và Phan
Huyền Thư dưới góc nhìn so sánh” - Trần Thị Cúc; “Thế giới nghệ thuật thơ
Vi Thùy Linh” - Đỗ Thị Huệ; “Cái tôi trữ tình trong thơ Vi Thùy Linh” Nguyễn Thị Thùy Linh; “Dấu ấn nữ quyền trong thơ Dư Thị Hoàn, Lê Khánh
Mai, Vi Thùy Linh” - Lê Thùy Nhung; “Động từ yêu trong thơ Vi Thùy Linh” Nguyễn Thị Thu Hương. Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những
vấn đề có tính khái quát trong thơ Vi Thùy Linh. Công trình nghiên cứu “Thế
giới nghệ thuật trong thơ Vi Thùy Linh” của Đỗ Thị Huệ đã nhìn nhận tổng
quan thế giới nghệ thuật thơ Vi Thùy Linh từ hệ thống hình tượng và phương
thức thể hiện. Nguyễn Thị Thùy Linh đi tìm “Cái tôi trữ tình trong thơ Vi
Thùy Linh”, trong khi đó Trần Thị Cúc nhìn dưới góc nhìn so sánh cái tôi trữ
tình trong thơ Vi Thùy Linh và Phan Huyền Thư. Có thể thấy rằng, những
nghiên cứu trên đã đề cập đến những khía cạnh quan trọng góp phần tìm hiểu,
nhận diện bản chất thơ Vi Thùy Linh. Tuy nhiên chưa có công trình nào
nghiên cứu về thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh, vốn là một đặc điểm
quan trọng trong việc tìm hiểu về những tác giả thơ nói chung và Vi Thùy
Linh nói riêng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu thế giới hình ảnh
trong thơ Vi Thùy Linh để thấy được đặc điểm hình ảnh, nghệ thuật kiến tạo
hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh mà rộng hơn chính là phong cách thơ Vi
Thùy Linh.
Phạm vi nghiên cứu: Cho đến nay, Vi Thùy Linh đã cho ra đời 6 tập
thơ. Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu thế giới hình ảnh trong thơ Linh
qua 5 tập thơ:
8
Khát (1999) - NXB Hội nhà văn
Linh (2000) - NXB Phụ nữ
Đồng tử (2005) - NXB Văn nghệ TP HCM
ViLi in Love (2008) - NXB Văn nghệ TP HCM
Phim đôi - tình tự chậm (2011) - NXB Thanh niên
Riêng tập thơ “Chu du cùng ông nội” (2011) - NXB Kim Đồng là tập
thơ thiếu nhi có cảm hứng khác với các tập thơ trên, xin dành để nghiên cứu ở
một đề tài khác.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với đề tài “Thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thuỳ Linh”, chúng tôi xác
định luận văn này có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu vai trò của hình ảnh trong thơ – Khái quát về hình ảnh trong
thơ Vi Thùy Linh
- Đặc điểm thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh
- Nghệ thuật kiến tạo hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, chúng tôi vận dụng một số
phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp thống kê, phân loại: khảo sát, thống kê các hình ảnh
trong thơ Vi Thùy Linh để từ đó phân loại theo một số tiêu chí nhất định.
- Phương pháp phân tích: phân tích qua các tác phẩm thơ Vi Thùy Linh
để từ đó khái quát thành những luận điểm.
- Phương pháp so sánh: so sánh sự vận động hình ảnh thơ qua các
chặng đường sáng tác của chính tác giả cũng như so sánh với các tác giả khác
để thấy được nét riêng biệt, độc đáo trong thơ Vi Thùy Linh.
- Phương pháp liên ngành: Vận dụng kiến thức từ loại hình nghệ thuật
điện ảnh để thấy Vi Thùy Linh đã vận dụng các kĩ thuật điện ảnh khi xây
dựng hình ảnh trong thơ.
9
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, phần
nội dung của luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Vai trò của hình ảnh trong thơ – Khái quát về hình ảnh
trong thơ Vi Thùy Linh
1.1. Vai trò của hình ảnh trong thơ
1.2. Kháiquát về thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh
Chương 2: Thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh phong phú, đa dạng
2.1. Thế giới dưới nhãn quan của một công dân
2.2. Thế giới dưới nhãn quan nữ giới
2.3. Thế giới dưới nhãn quan của một người tình
Chương 3: Nghệ thuật kiến tạo hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh
3.1. Sử dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp tu từ
3.2. Vận dụng chất liệu dân gian
3.3. Vận dụng các kĩ thuật điện ảnh
10
Chương 1
VAI TRÒ CỦA HÌNH ẢNH TRONG THƠ - KHÁI QUÁT VỀ
HÌNH ẢNH TRONG THƠ VI THÙY LINH
1.1.
Vai trò của hình ảnh trong thơ
Hình ảnh trong thơ là những sự vật, hiện tượng được gợi lên sinh động
và giàu sức gợi tả. Có thể khẳng định, hình ảnh là một yếu tố không thể thiếu
trong thơ. Vì “thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua
trung gian biểu tượng một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có y nghĩa trong tính
cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng hình ảnh là điều kiện của thơ,
ly do tồn tại của thơ” (Huỳnh Phan Anh). Xuân Diệu khi trò chuyện với
những người làm thơ trẻ đã quan niệm: “Hình ảnh tác động tới con mắt, nhất
là động tới nhận thức, tới trí tuệ, lại có hình ảnh dùng trong cục bộ của đoạn
thơ, câu thơ. Thơ nói bằng nhạc điệu và hình ảnh, mà tôi xin nhắc lại, theo y
tôi, hình ảnh là mãnh liệt nhất” (Nguyễn Đăng Mạnh, Các nhà văn nói về nhà
văn). Nhà thơ Chế Lan Viên cũng cho rằng: “Phải viết những hình ảnh có y
tưởng, hay phải diễn tả những y tưởng dính hình ảnh, bằng hình ảnh… Đó là
hai mặt của một việc làm là làm thơ, như bật ngọn lửa lên vừa có một hình ảnh
sáng, vừa có một sức nóng, không thể bảo cái nào có trước, cái nào có sau
được”. Như vậy, có thể khẳng định hình ảnh là một yếu tố rất quan trọng trong
thơ.Thơ nghĩ bằng hình ảnh nên hình ảnh chính là ngôn ngữ, là phương tiện
chuyển tải của thơ. Bất cứ bài thơ nào cũng đều có hình ảnh nhưng không phải
nhà thơ nào cũng tạo dựng được cho mình một thế giới hình ảnh đặc sắc mang
phong cách riêng mình. Để làm được đều đó phải là những nhà thơ có tài năng.
Vì vậy, khi nghiên cứu về thế giới hình ảnh thơ của một tác giả cũng chính là
nghiên cứu về một trong những phương diện hình thành phong cách nghệ thuật
của tác giả ấy.
11
Không ai có thể phủ nhận vai trò tái hiện cuộc sống của hình ảnh trong
thơ. Phan Ngọc đã dịch lại lời phát biểu của Hê - ghen trong cuốn sách “Mỹ
học”: “Bất kỳ nội dung gì, sự vật gì - dù là vật chất hay tinh thần, bất kỳ biến
cố, hành động, lịch sử, hoàn cảnh, trạng thái bên ngoài hay bên trong gì gì đi
nữa cũng đều bị gộp vào lĩnh vực của thơ và bị thơ nhào nặn” [9, 873]. Có sự
vật, hiện tượng, trạng thái gì mà ta không thể tìm thấy trong thơ đâu? Từ
những hình ảnh kì vĩ, lớn lao như đất nước, cuộc kháng chiến trường kì, thần
thánh của dân tộc, vũ trụ… đến những hình ảnh nhỏ bé, bình dị như chiếc lá
xa cành vào một ngày thu, một tiếng gà trưa xao xác, hương ổi phả trong gió
se, ngõ trúc quanh co… cho đến cả những cảm xúc, tâm trạng khó diễn đạt
thành lời cũng được đưa vào trong thơ. Đọc những bài thơ của Tố Hữu, người
đọc thấy những bước đi của dân tộc qua những sự kiện có y nghĩa lịch sử. Chỉ
qua những câu thơ:
“Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
Quân đi đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay
Nghìn đêm thăm thẳm sao dày
Ngày mai bật sáng như ngày mai lên”
(Việt Bắc)
Ta cảm nhận đường hình ảnh cả dân tộc hành quân với một khí thế và
sức mạnh hào hùng. Những đoàn quân “điệp điệp trùng trùng” ra trận nối dài
vô tận. Bên cạnh đó là hình ảnh dân công cũng vào trận đầy khí thế. Những
đoàn xe chở đạn dược vũ khí nối đuôi nhau, đèn pha bật sáng trưng như ánh
sáng ban ngày. Bức tranh không chỉ làm sống dậy một thời kỳ hào hùng của
dân tộc ở căn cứ địa Việt Bắc mà còn đem lại cho ta niềm tin yêu quê hương
cách mạng anh hùng.
12
Đôi khi những hình ảnh nhỏ bé, bình dị lại gợi lên những cảm xúc thân
thương. Bài thơ “Tiếng gà trưa” của Xuân Quỳnh là bài thơ như thế:
“Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ
Cục, cục tác, cục ta
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ…”
Chỉ một tiếng gà trưa bất chợt nghe thấy khi “dừng chân bên xóm nhỏ”
là đã gợi dậy cả một trời thương nhớ. Tiếng gà nhảy ổ làm xao động nắng trưa
và cũng làm xao xuyến hồn người. Hình ảnh đó thật gần gũi, thân thương.
Nghe tiếng gà trưa mà như nghe thấy tiếng gọi quê hương.
Điều đặc biệt là cùng một hình ảnh, các tác giả có thể thể hiện rất nhiều
y tưởng và ngược lại, một y tưởng có thể được diễn đạt bằng nhiều hình
ảnh. Đọc thơ Chế Lan Viên, người đọc nhận ra nhiều hình ảnh xuất hiện với
tần số lớn trong thơ ông, ví như hình ảnh “hoa”: hoàng thảo hoa vàng, hoa
giấy, hoa sữa, hoa chạc chìu, hoa gạo đỏ, hoa quỳnh, hoa nhài, sen trắng, sen
hồng, hoa súng tím, phượng đỏ, bằng lăng, hoa lau, hoa mai, hoa dẻ vàng, hoa
đỏ màu yên chi, hoa hồng vàng... Theo y nghĩa chung thường có, hoa vốn là
hiện thân cho cái đẹp:
“Đã hoa nhài trắng còn sen trắng
Mùa hè ơi, sao người khéo đa tình
13
Đầy đường phượng đỏ, bằng lăng tím”
(Hoa trắng)
Khi thì hoa xuất hiện để chỉ một khái niệm thời gian:
“Gặp nhau như mùa sen
Thoáng chốc mùa thu đến
Tàn sắc trắng im lìm
Những đài hoa bịn rịn”
(Sen)
Thoáng đọc độc giả sẽ lầm tưởng đây là bài thơ viết về hoa sen. Không
có một chi tiết cụ thể nào về cuộc gặp gỡ. Nhưng người đọc vẫn có thể hình
dung ra một cuộc gặp thật ngắn ngủi như mùa sen chẳng kéo dài, thoáng chốc
thu đã đến, sen tàn.
Như vậy, cùng một hình ảnh “hoa”, Chế Lan Viên đã diễn tả không chỉ
một mà nhiều y tưởng khác nhau. Ngược lại, trong thơ ca, cùng một y tưởng
các tác giả có thể diễn tả bằng nhiều hình ảnh. Trong “Truyện Kiều” - Nguyễn
Du đã tạo sáng tạo những hình ảnh mới lạ, những hình ảnh đôi khi không có
trong thực tế mà nảy sinh trong tâm tưởng và để chỉ một đối tượng, nhà thơ đã
sử dụng nhiều hình ảnh khác nhau. Ví như nói tới giọt nước mắt, Nguyễn Du
sử dụng hình ảnh: giọt ngọc (Nàng càng giọt ngọc như chan), giọt hồng (Nhìn
càng lã chã giọt hồng), giọt lệ (Rưới xin giọt lệ cho người thác oan)... Khi khóc
cho số phận tủi nhục phải bán mình chuộc cha thì giọt nước mắt của nàng
Kiều: “Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” và “Áo đầm giọt tủi tóc se mái
14
đầu”. Và đây là giọt nước mắt của cuộc chia tay giữa Thúy Kiều và Thúc Sinh:
“Giọt châu lã chã khôn cầm
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương
Khi Thúy Kiều khóc cho Từ Hải: “Dòng thu như xối cơn sầu”
Có thể thấy hình ảnh trong thơ biến hóa đa dạng nhờ vào tài năng, sự
liên tưởng sáng tạo của người nghệ sĩ.
Thơ ca nói riêng và văn học nói chung luôn vận động, phát triển cùng
với sự phát triển của hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội. Trong đó, hình ảnh là
yếu tố thay đổi mạnh mẽ nhất. Những hình ảnh trong thơ thể hiện khác nhau
qua từng giai đoạn lịch sử. Trong văn học trung đại ta bắt gặp những hình ảnh
có tính ước lệ, tượng trưng. Hình ảnh ước lệ là hình ảnh có tính chất qui ước
thường được dùng trong văn chương cổ. Ví như dùng hình ảnh “tuyết rơi” để
tả mùa đông, “lá vàng rụng” để chỉ mùa thu, “giọt châu” để chỉ giọt nước mắt,
“làn thu thuỷ” để chỉ ánh mắt của người con gái. Trong khi đó, hình ảnh
tượng trưng là lấy một hình ảnh cụ thể để diễn đạt cái trừu tượng. Hình ảnh
“cây trúc” tượng trưng cho người quân tử, “cây tùng” tượng trưng cho nhân
cách cứng cỏi, vững vàng, “tuyết” tượng trưng cho tâm hồn trong sáng, “cây
liễu” tượng trưng cho người con gái mảnh mai… Trong văn học trung đại,
hình ảnh ước lệ, tượng trưng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực, là thước đo cho
mọi vẻ đẹp. Đại thi hào Nguyễn Du đã vẽ bức chân dung hai chị em Thúy
Kiều và Thúy Vân:
“Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
15
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”
Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh của hai người con gái xinh đẹp. Dáng
vẻ của họ thanh tú như cây mai, tâm hồn trong trắng như tuyết. Cả hai đều
đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” nhưng trong mỗi người lại có vẻ đẹp
riêng. Qua nhiều hình ảnh ước lệ “khuôn trăng”, nét ngài”, “ngọc”, “mây”,
“tuyết”, Thúy Vân hiện lên với vẻ đẹp “trang trọng, đầy đặn” “nở nang, đoan
trang”. Vẻ đẹp ấy làm cho “mây thua, tuyết nhường”. Vân hiện lên với chân
dung một cô gái đoan trang, phúc hậu. Khi tả Thúy Kiều, Nguyễn Du cũng
dùng những hình ảnh ước lệ quen thuộc “làn thu thuỷ”, “nét xuân sơn” để chỉ
ánh mắt, lông mày. Tuy nhiên, khác với Thúy Vân là vẻ đẹp hòa hợp với các
yếu tố xung quanh thì nhan sắc Thuy Kiều vượt lên sự bình thường, làm cho
tạo hóa cũng phải hờn ghen: “hoa ghen, liễu hờn”. Đó là vẻ đẹp “sắc sảo, mặn
mà” và ngầm dự báo cuộc đời đầy sóng gió.
Tính ước lệ của văn học trung đại còn được thể hiện ở việc sử dụng
điển tích điển cố trong tác phẩm. Chỉ trong một đoạn trích “Nỗi sầu oán của
16
người cung nữ” (trích “Cung oán ngâm”), lượng điển tích được sử dụng khá
nhiều: “giấc mai, hồn bướm, dương xa, nguyệt lão”. Việc sử dụng điển tích,
điển cố vừa thể hiện tính uyên thâm, trình độ học vấn của tác giả (theo quan
niệm của những người cầm bút trong văn học trung đại) vừa diễn tả được nỗi
lòng oán hận, khát vọng bứt phá của người cung nữ:
“ Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không
Dang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”
(Cung oán ngâm - Nguyễn Gia Thiều)
Đến thời kì văn học đầu những năm 30 của thế kỷ XX, đặc biệt là sự
xuất hiện của Thơ mới vốn đề cao cái tôi cá nhân đã xuất hiện những hình ảnh
tươi mới giàu cảm xúc của những cái tôi thơ Mới. Mỗi gương mặt Thơ mới
tiêu biểu là một phong cách sáng tạo đặc sắc làm nên diện mạo phong phú của
cả một thời đại thi ca rực rỡ hiếm thấy trong lịch sử văn học dân tộc. Thế Lữ
đưa ta đến với núi rừng hùng vĩ, cao cả, với những bến sông văng vẳng khúc
hát, những bãi biển lồng lộng gió… Lưu Trọng Lư lại dẫn ta vào khu rừng thu
xào xạc lá vàng khô, có con nai vàng ngơ ngác, vào thế giới của những suối
mây, hoa cỏ, những mối tình mơ mộng… Xuân Diệu “mang theo một nguồn
sống rạt rào chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này” (Hoài Thanh) đã
đưa ta vào một thế giới đầy xuân sắc xuân tình. Với sự xuất hiện của thế hệ
thi sĩ Thơ mới, với Xuân Diệu, lần đầu tiên có hình ảnh xuân rạo rực, say đắm
như thế này:
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật,
Này đây hoa của đồng nội xanh rì,
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si…”
17
(Vội vàng)
Ong bướm đang trong tuần mật ngọt, đồng nội xanh rì, cành tơ phơ
phất, chim yến anh ca hát khúc tình yêu làm hiện lên trước mắt người đọc một
vườn xuân trẻ tươi, ngọt ngào. Trong khi đó, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên,
Bích Khê… sừng sững một phương trời để làm nên trường thơ loạn với
những hình ảnh thơ siêu thực. Hàn Mặc Tử ấn tượng người đọc với vẻ đẹp
tình khiết, trắng trong, với trăng sao, ánh sáng, nguồn thơm. Chế Lan Viên
với tập thơ “Điêu tàn” dẫn người đọc vào một thế giới đổ nát đến rùng rợn với
những cổ tháp, khí tanh, huyệt ứ, não trắng, xương khô, sọ người… Bên cạnh
đó, Thơ mới đã đem đến những cảm xúc thiết tha, trong sáng về quê hương
đất nước. Hình ảnh những vùng quê đất Việt với vẻ đẹp, cuộc sống riêng hiện
lên khá sinh động trong thơ của Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… và
đặc biệt qua những trang thơ của Nguyễn Bính. Đó là những hình ảnh quen
thuộc của nông thôn Việt Nam: vườn cau, vườn trầu, hoa chanh, đồi chè,
giếng khơi, ao bèo, bướm… Chúng ta cảm nhận được một cuộc sống giản dị,
yên bình và thơ mộng:
“Sáng giăng chia nửa vườn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau”
(Thuở trước)
Một hình ảnh làng quê gắn liền với những sinh hoạt văn hóa làng:
“Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay”
(Mưa xuân)
Nền thơ ca cách mạng trong ba mươi năm, từ 1945 đến 1975 đã phát
triển và trưởng thành trong sự gắn bó mật thiết với các chặng đường cách
18
mạng, đặc biệt là với hai cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc. Không còn
cái tôi cô đơn, lạc lõng của Thơ mới, các nhà thơ thời kì này đã cùng hòa vào
những bước đi của dân tộc để khắc họa những hình ảnh về quê hương đất
nước, về cuộc kháng chiến và những con người trong kháng chiến. Ta luôn
bắt gặp trong thơ những từ ngữ, hình ảnh về đất nước với niềm tự hào, hân
hoan. Chế Lan Viên tự hào khẳng định tầm vóc của Tổ quốc:
“Tên Tổ quốc vang xa ngoài bờ cõi
Ta đội triệu tấn bom mà hái mặt trời hồng
Ta mọc dậy trước mắt nhìn nhân loại
Hai tiếng Việt Nam đồng nghĩa với anh hùng”
(Thời sự hè 72, bình luận)
Tổ quốc chính là đỉnh núi, bờ sông, là dòng máu chảy trong trái tim
mỗi con người:
“Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi, bờ sông
Những lúc tột cùng là dòng huyết chảy”
(Xuân Diệu)
Đất nước cũng ở ngay trong những sự vật gần gũi, thân thuộc trong:
“Miếng trầu bây giờ bà ăn, đất nước có từ khi cái kèo cái cột thành tên, hạt
gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng” (Nguyễn Khoa Điềm). Bên
cạnh đó, thơ ca giai đoạn này đã xây dựng được nhiều hình tượng đẹp về con
người Việt Nam. Đó là những người mẹ, người cha, người chị, những cô gái
thanh niên xung phong… Rất nhiều bài thơ đã ghi lại được hình ảnh chân
thực mà cảm động của những con người ấy. Trong bài thơ “Đất quê ta mênh
mông” của Dương Hương Ly, tác giả đã vẽ lên chân dung một người mẹ Việt
Nam với công việc đào hầm từ thuở tóc xanh đến khi mái đầu bạc trắng:
“Mẹ đào hầm từ thuở tóc còn xanh
Nay mẹ đã phơ phơ đầu bạc
19
Mẹ vẫn đào hầm dưới tầm đại bác
Bao đêm rồi tiếng cuốc vọng năm canh”
Người mẹ hiện lên với công việc thầm lặng, bền bỉ và chính nhờ công
việc ấy đã che chở cho những đứa con chiến sĩ.
Các nhà thơ người lính cũng đưa vào trong thơ nhiều chân dung thế hệ
trẻ với những chi tiết chân thực, sinh động và đặc sắc về cuộc sống chiến
trường, chiến đấu và sinh hoạt của người lính. Người đọc không thể quên với
những hình ảnh những chiếc xe không kính của Phạm Tiến Duật, những cô
gái thanh niên xung phong trẻ trung, hồn nhiên, tinh nghịch mà hiên ngang,
dũng cảm trên tuyến đường Trường Sơn, người lính bộ binh trong thơ Nguyễn
Đức Mậu, người chiến sĩ giải phóng hi sinh trong thư thế nổ súng tiến công
trong thơ Lê Anh Xuân, mái tăng “bầu trời vuông” của Nguyễn Duy, chùm
hoa bưởi tỏa hương lặng lẽ mà nồng nàn trong thơ Phan Thị Thanh Nhàn…
Từ những năm 80 đến nay, văn học mở rộng biên độ phản ánh cuộc sống.
Không chỉ phản ánh những bề nổi mà các tác giả phản ánh ở bề sâu, bề xa.
Những hình ảnh trên trang thơ là những tái hiện phong phú của đời sống dịch
chuyển theo hướng cái nhìn thế sự với nhiều cảm hứng khác nhau. Đặc biệt, ở
một số các nhà thơ hướng sự tìm tòi, cách tân thơ mà chủ yếu vào hình ảnh,
ngôn từ thơ như Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường… “Lê Đạt tả những cái thực
bằng một ngôn ngữ dồn nén, đầy tỉnh lược, liên tưởng xa, đầy ấn tượng. Tả bèo
dâu: Mộng hoa dâu lum lúm má sông đào. Tả quả vải chín: Tuổi vào ga mùa ủ
lửa má vừa. Tả cô gái đánh đàn: Sóng tháp bút bước mở trầm âm lắng, Mưa búp
măng lưng phím nắng dạo ngần. Tả tóc con gái bay trên phố chiều: Gáy nê ông
chiều lả liễu lam bay” (Lê Lưu Oanh, Thơ trữ tình Việt Nam 1975 – 1990). Các
nhà thơ này không nhìn và miêu tả thế giới theo lô gíc thông thường, kinh
nghiệm. Ngôn ngữ, hình ảnh thơ ấn tượng, biến ảo, có sự liên tưởng trùng phức.
Những đổi mới ấy đã đưa thơ vượt ra khỏi khuôn khổ và thói quen cũ, mở ra
những con đường phát triển mới của thơ ca. Tuy nhiên, việc chìm sâu vào cõi vô
20
thức khiến thơ không còn hoặc rất ít mối liên hệ với đời sống.
Thế kỉ XXI xuất hiện những cây bút trẻ “đình đám”như Nguyễn Vĩnh
Tiến, Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Lệ Bình Quan, Nguyễn
Phong Việt, Du Nguyên, Nồng Nàn Phố, Trần Việt Anh, Lương Đình Khoa,
September Rain… Hầu hết các tác giả này đều hướng ngòi bút của mình tới
những vấn ðề quen thuộc, gần gũi nhất của con ngyời, ấy là tình yêu nam nữ
trên phương diện cảm xúc, là những tình cảm muôn đời như tình cha con, tình
mẹ con, tình cảm với một miền quê thân thuộc, cảm xúc tuổi trẻ trước những
đổi thay của cuộc sống… Ngôn ngữ thơ giản dị và đầy cảm xúc:
“Đời mỗi người chỉ có một gia đình
Để học cách yêu và học cách đau
Như trái tim con lúc này
Quả sung non tứa nhựa vặt lìa khỏi cây
Con cá mắc lưỡi câu, giãy giụa hoài, miệng càng thêm rách toác
Cánh cò mềm ngã gục vào đêm đen
(…) Con mất mẹ rồi, tháng Mười mồ côi”
(Mỗi người chỉ có một gia đình để học cách yêu và học cách
đau- Lương Đình Khoa).
Với cách nói như thủ thỉ, tâm tình, hình ảnh thơ gần gũi và đầy cảm
xúc, những vần thơ giản dị, trữ tình như thế đã chiếm được tình cảm trong
lòng bạn đọc.
Không chỉ vận động theo mỗi thời kì lịch sử, các hình ảnh trong thơ
cũng thay đổi theo từng chặng đường sáng tác của mỗi tác giả thể hiện sự vận
động của tư duy nghệ thuật. Xuân Diệu thuộc thế hệ thi sĩ sống qua hai chế
độ, sáng tác ở hai giai đoạn lịch sử khác nhau. Trước cách mạng tháng Tám,
Xuân Diêu là một thi sĩ lãng mạn đắm say giữa mảnh vườn tình ái. Thế giới
tình yêu trong thơ Xuân Diệu hiện lên với đầy đủ cung bậc cảm xúc với
những hình ảnh rạo rực đắm say. Không chỉ con người mà cả hoa lá thiên
21
nhiên cũng say sưa trong men say ái tình:
“Đây chùm mong nhớ, khóm yêu đương
Đây nụ mơ mòng đợi ánh sương,
Đây lá bâng khuâng run trước gió,
Đây em, cành thẹn lẫn cành thương”.
(Dâng)
Sau cách mạng tháng Tám, từ mảnh vườn tình ái, Xuân Diệu đi lên đại
lộ của đất nước, nhân dân sôi nổi lao động, chiến đấu trong những năm tháng
sôi nổi, hào hùng. Từ tình yêu lứa đôi, yêu thiên nhiên thì nay tình yêu cụ thể
hơn, yêu đất nước, yêu cuộc sống, con người. Bài thơ “Trở về” viết nhân kỷ
niệm Cách mạng tháng Tám mang không khí yêu đời với những hình ảnh
thiết tha, tươi thắm:
“Cũng bởi vì tôi nhớ, tôi mong
Một sớm mai hồng tôi sẽ lên đường trở lại
Giữa vũ trụ nhân gian trong gia đình xã hội
Giữa quốc gia nhân loại trong thế giới hòa bình
Một sớm mai hồng, vắng một bình minh
Xanh mắt trẻ em
Hồng môi thiếu nữ.
…Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên
Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ”.
(Trở về)
Lẽ tất nhiên, thơ Xuân Diệu trước và sau Cách mạng có nội dung cảm
xúc khác nhau. Lòng yêu cuộc sống được mở rộng biên độ, không còn là cảm
xúc tình yêu cô đơn, xót xa mà đầm ấm, gắn với đời thường với những hình
ảnh gần gũi, tươi tắn của cuộc sống.
1.2. Khái quát về thế giới hình ảnh trong thơ Vi Thùy Linh
22
1.2.1.Ý thức tự giác trong việc lựa chọn thế giới hình ảnh trong thơ
Vi Thùy Linh là một trong số những nhà thơ trẻ đã tạo dựng được cho
mình một thế giới hình ảnh đặc sắc. Linh y thức rất rõ tầm quan trọng của tư
duy nghệ thuật. Điều đó trước hết được thể hiện trong việc y thức về sự lựa
chọn hình ảnh trong thơ. Vi Thùy Linh đã nhắn gửi đến bạn đọc: “Bí mật lớn
nhất trong những bài thơ - những trường đoạn phim mà người xem sẽ tìm
thấy sau chuỗi hình ảnh” (Lời tỏ tình trong ViLi in love). Dâng đến cho mọi
người những câu thơ, hình tượng đẹp chính là hạnh phúc của Vi Thùy Linh.
Cô gái ViLi cũng từng khẳng định: “Bản chất của Sáng tạo là Mới và Đẹp.
Với quan niệm ấy, bằng sự thành thật nhất, tôi đã dùng hết sinh lực để góp
phần đổi mới thi ca Việt Nam, với tư duy hình ảnh, ngôn ngữ, tạo ra sự độc
đáo trong hình tượng qua sự phong nhiêu, tươi trẻ của từ”(Vi Thùy Linh và
đôi điều tâm sự).
Một nhà thơ chuyên nghiệp trước khi cầm bút viết luôn phải có sự định
hình về việc lựa chọn viết như thế nào. Vi Thùy Linh hướng đến sự chuyên
nghiệp trong thơ và vì thế cô đặc biệt chú trọng đến cách dùng ngôn ngữ thơ
trong các tác phẩm của mình. Trong lần nói chuyện với nhà phê bình Thụy
Khuê, Linh bày tỏ: “Khi cảm xúc đến, đầu tiên là tôi nghĩ đến việc triển khai
bằng ngôn ngữ và hình ảnh gì, vì mình không thể lập lại bản thân và càng
không thể nạp đúc người khác”. Như vậy, việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh
trong thơ là do y thức của nhà thơ. Linh cho rằng, những cảm xúc bộc trực,
bản năng, thậm chí yếu đuối không thể là một lượng của cải, một lượng vốn
để đi dài. Ý thức về việc sáng tạo ngôn ngữ và hình ảnh để “không thể lập lại
bản thân và càng không thể nạp đúc người khác” đã giúp Linh tạo ra những
câu thơ xuất thần, những hình ảnh thơ độc đáo:
“Cắn giập cuống chiều
Bốn bề gió thốc
Nắng đen mặt người
23
Đất như ngừng thở”
(Nhật thực)
Một hình ảnh lạ lùng: “Cắn giập cuống chiều”. Nhà phê bình Thụy
Khuê đã cho rằng: “Tất cả sức mạnh của câu thơ nằm trong chữ giập và tất cả
bao la của câu thơ nằm trong chữ chiều, táo bạo khác thường”. Một hình ảnh
siêu thực tuyệt đẹp.
Bài thơ “Người dệt tầm gai” cũng có những câu thơ thật hay:
“…Em nghe thấy nhịp cánh êm ái ân
Một làn gió thổi sương thao thác
Đêm run theo tiếng nấc
Về đi anh!
Cài then tiếng khóc của em bằng đôi môi anh
Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn, trĩu nặng
Ngày nối ngày bằng hi vọng
Em là người dệt tầm gai…”
Trong số những hình ảnh độc đáo, người đọc ấn tượng với hình ảnh
“người dệt tầm gai”. Cây tầm gai còn gọi là cây tầm ma, một loài cây gai góc,
xù xì, thô ráp. Hình ảnh ấy gợi nhắc ta đến cây chuyện về nàng Li - dơ trong
truyện cổ tích đã cần mẫn đêm ngày dệt tầm gai thành áo cho các anh trai của
nàng. Dệt tầm gai không phải là công việc dễ dàng, gai của cây tầm gai cứa
xước bàn tay rớm máu, “tưởng chừng không vượt nổi cái lạnh, em đã khóc
trên hai bàn tay trầy xước” nhưng bằng trái tim yêu, khát khao hạnh phúc,
những cô gái như Vi Thùy Linh đã vượt qua và tìm thấy hạnh phúc của mình.
Để viết nên những câu thơ giàu hình ảnh, bên cạnh tài năng của Linh
còn là sự nỗ lực, lao động nghệ thuật bền bỉ và nghiêm túc. Trong bài thơ
“Những câu thơ mang vị mặn”, Linh viết:
“Em hằng thức trong những câu thơ buồn
Em hằng đau trong nhiều đêm không ngủ
24
Em tỏa nhiệt vào thơ bất kể mùa nóng, lạnh”.
(Những câu thơ mang vị mặn)
Qua sự giãi bày của nữ sĩ, người đọc hình dung một Vi Thùy Linh
“hằng thức”, “hằng đau”, luôn trăn trở trước những vấn đề mình viết. Đặc
biệt, cô gái ấy luôn “tỏa nhiệt vào thơ bất kể mùa nóng, lạnh”. Đó là nhiệt
huyết của tuổi trẻ, lòng nhiệt thành của một người yêu thơ và có mong muốn
đổi mới nền thơ ca nước nhà. Đã hơn một lần trong các cuộc trò chuyện,
phỏng vấn hay tâm sự, Linh đã tự nhận mình là người “tận lực tham ô tuổi
trẻ”, đã cắt sức khỏe và giấc ngủ cho Thơ, mệt lả mà đầy mãnh liệt trước
trang giấy.
Đọc thơ Vi Thùy Linh, người đọc ấn tượng trước những trang thơ tràn
ngập hình ảnh. Tác giả Chu Văn Sơn gọi ViLi là “thi sĩ mắn chữ”, còn Văn
Giá thì cho rằng mỗi bài thơ của Linh đều là “những cuộc bạo động của chữ”.
Những thước phim về cuộc sống lần lượt được trình chiếu trên những tác
phẩm của Linh nhờ sự chuyển động của những hình ảnh tuôn trào như thế.
Người đọc ấn tượng trước khung cảnh thiên nhiên tràn trề sức sống:
“Kìa loài bướm trắng rợp miền hoa cải trắng nở mịt mùng sương trắng,
kiếp tằm ngắn nhả đời vào lụa óng
…Con cá có mang, vượt qua bụng em, về trời đêm thạch đen
Bầy bầy ong làm ngọt đời hoa
Phấn hoa bay không ngừng, những cơn lốc sinh nở
Không đếm xuể bao vỏ trứng ung dung nở những đàn gà
Và đàn đàn chim vừa bay vừa kêu trên vòm trời mịn màng
Tất cả đang truyền đời, tất cả đều tìm cho mình một sự sống khác”
(Sức sống)
Một khung cảnh thiên nhiên đẹp và đầy sức sống hiện ra với hàng loạt
những hình ảnh hiện ra cùng một lúc. Những hình ảnh tiếp nối nhau tuôn trào
25