Tải bản đầy đủ (.docx) (118 trang)

MỘT số dấu HIỆU HIỆN SINH TRONG SÁNG tác NGUYỄN QUỲNH TRANG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (538 KB, 118 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

TRẦN THỊ NGÁT

MỘT SỐ DẤU HIỆU HIỆN SINH TRONG
SÁNG TÁC NGUYỄN QUỲNH TRANG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam hiện đại
Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Đỗ Hồng Đức


HÀ NỘI - 2015

LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo TS. Đỗ Hồng Đức - người
hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viên em trong suốt
quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn - trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận
lợi cho chúng em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới phòng Sau Đại học, Thư viện
trường, Thư viện khoa - trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện
giúp đỡ và cung cấp cho em nguồn tài liệu quý giá.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, người thân đã tạo
điều kiện, động viên giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn



Trần Thị Ngát


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu........................................................................................2
3. Mục đích nghiên cứu.....................................................................................9
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.................................................................9
5. Phương pháp nghiên cứu.............................................................................10
6. Cấu trúc của luận văn..................................................................................10
Chương 1: NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ
NHỮNG DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN XUÔI ĐƯƠNG ĐẠI
VIỆT NAM.....................................................................................................11
1.1. Khái lược về chủ nghĩa hiện sinh..........................................................11
1.2. Một số dấu hiệu của chủ nghĩa hiện sinh
trong văn xuôi sau năm 1975....................................................17
1.2.1. Những tiền đề dẫn đến sự kiến tạo hiện sinh....................................17
1.2.2. Biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong một số hiện tượng văn
xuôi đương đại.............................................................................................23
Chương 2: MỘT SỐ CHỦ ĐỀ HIỆN SINH TRONG NỘI DUNG
TÁC PHẨM NGUYỄN QUỲNH TRANG..................................................31
2.1. Những trạng thái phi lý của thực tại....................................................31
2.1.1. Quan hệ gia đình lỏng lẻo, rạn nứt...................................................31
2.1.2. Khơng gian nhà trường với những tiêu cực, bất cập........................38
2.1.3. Không gian công cộng xô bồ, hỗn tạp...............................................46
2.2. Những âm bản của nhân vị....................................................................51
2.2.1. Tình trạng mất bản sắc......................................................................52
2.2.2. Trạng thái cơ đơn..............................................................................58

2.2.3. Nỗi niềm mất tự do............................................................................62


2.3. Khát khao tìm kiếm bản thể..................................................................65
2.3.1. Tìm lại giới tính.................................................................................66
2.3.2. Tìm lại tình u..................................................................................72
2.3.3. Tìm lại giá trị cá nhân.......................................................................75
Chương 3: MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT TƯƠNG ỨNG..........80
3.1. Kết cấu ghép mảnh..................................................................................80
3.1.1. Lắp ghép các sự kiện.........................................................................80
3.1.2. Đa phương hóa điểm nhìn trần thuật................................................87
3.2. Đặc sắc ngơn từ.......................................................................................92
3.2.1. Gia tăng lớp từ diễn đạt cảm giác.....................................................92
3.2.2. Tạo dựng câu văn đặc biệt................................................................96
3.2.3. Những sắc thái giọng điệu................................................................99
KẾT LUẬN..................................................................................................107
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................109


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở nước Đức cuối thế kỉ XIX và nở rộ sau thế
chiến lần thứ hai ở Pháp, tạo nên sự ảnh hưởng to lớn và sâu sắc tới nhiều
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Các nhà hiện sinh không dành
trọng tâm cho việc nghiên cứu những lẽ huyền vi của tạo hóa, cội nguồn của
nhân loại. Vấn đề trọng tâm đặt ra trong triết học hiện sinh đó là con người và
sự tồn tại của con người như một nhân vị. Vì thế nó trở thành trào lưu in dấu
ấn nổi bật nhất thế giới thế kỉ XX.
Với công chúng Việt Nam, triết học hiện sinh có phần xa lạ. Cho đến
những năm 50 của thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện sinh mới được truyền bá vào

miền Nam; sau chiến tranh được quảng bá rộng rãi hơn ở miền Bắc. Cho đến
nay triết thuyết hiện sinh thực sự gần gũi hơn với chúng ta. Nhưng đối với các
nhà nghiên cứu lý luận, phê bình đặc biệt các nhà văn thì chủ nghĩa hiện sinh
đã để lại ấn tượng. Triết thuyết hiện sinh tác động sâu sắc đến thế giới quan,
cách nhìn cuộc sống và những trải nghiệm phong phú của giới văn nghệ sĩ.
Người viết văn có cơ hội tiếp xúc với hệ tư tưởng của chủ nghĩa hiện sinh
thông qua sách báo, công nghệ thơng tin và thấy được ở đó những giá trị nhân
văn. Hiện tượng hiện sinh truyền bá vào Việt Nam tạo nền tảng tri thức hữu
dụng để con người đương đại thể nghiệm suy tư về cuộc sống.
Văn xuôi đương đại đang diễn ra nhiều trải nghiệm, tìm tịi, nhận thức
mới mẻ hơn về con người, về nghệ thuật. Khát vọng đổi mới là động lực thúc
đẩy các nhà văn tìm kiếm những nội dung và hình thức thể hiện mới. Các thế
hệ nhà văn đã tích cực đóng góp cơng sức làm giàu có thêm cho nền văn học
dân tộc. Ngay từ khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay 1981, Nguyễn Quỳnh Trang
đã gây được sự chú ý đối với bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình. Nhiều
đánh giá lạc quan trên tinh thần cổ vũ hoạt động sáng tác của chị. Những vấn
1


đề văn chương tác giả mang lại có tính thời sự sâu sắc. Đó là những con
người mang tâm trạng cô đơn, lo âu và hoang mang trước thực tại, trạng thái
mất bản sắc, ý thức tìm lại bản thể. Nhà văn trẻ viết về đời sống của thế hệ
trẻ. Tác phẩm của Nguyễn Quỳnh Trang là tiếng nói của con người đương
đại, tiếng nói của thời kì mới.
Với đề tài “Một số dấu hiệu hiện sinh trong sáng tác Nguyễn Quỳnh
Trang”, chúng tơi sẽ cố gắng tìm hiểu một phương diện nội dung nổi bật trong
sáng tác của Nguyễn Quỳnh Trang. Từ góc nhìn này, chúng tơi hi vọng rằng
sẽ đánh giá được những nỗ lực sáng tạo của một cây bút trẻ. Đồng thời quan
sát được diện mạo của văn học đương đại.
Việc lựa chọn đề tài này một phần xuất phát từ tình cảm cá nhân. Nhà

văn đã bày tỏ những cảm nhận rất thành thực và tinh tế về đời sống của những
người trẻ tuổi. Và vì thế mà trở thành nhà văn được giới trẻ u thích. Bên
cạnh đó việc thực hiện đề tài này cịn là một cơ hội để chúng tơi vận dụng
những tri thức đã học vào việc thẩm định một giá trị văn chương vào một hiện
tượng văn học đương đại.
Vấn đề nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi đương đại khơng
mới nhưng hồn tồn khơng phải là một vấn đề dễ dàng. Tư tưởng của chủ
nghĩa hiện sinh ngày càng gần gũi với con người Việt Nam hôm nay nhưng
tinh thần hiện sinh trong văn học chưa phải là một chủ đề được lý giải thuyết
phục. Chính vì thế đây thực sự là một thử thách to lớn đối với người viết đồng
thời cũng là một cơ hội để người viết thể hiện những nỗ lực học hỏi và tình
yêu đối với văn chương.
2. Lịch sử nghiên cứu
Cho đến nay việc nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh trong văn học vẫn
cịn là một vùng đất chưa có nhiều cơng trình khảo cứu kĩ lưỡng.

2


Cơng trình nghiên cứu triết học hiện sinh đầu tiên có thể kể đến là
“Triết học Nietzche” của Nguyễn Đình Thi xuất bản năm 1942 tại nhà xuất
bản Tân Việt. Mặc dù chưa phải là nghiên cứu khoa học chuyên sâu, nhưng
cơng trình đã đem đến những gợi mở có tính tiên phong về triết thuyết
Nietzche ở Việt Nam.
Ở miền Bắc những năm 1955 – 1975, triết học hiện sinh được giới
thiệu trong một phạm vi rất hẹp ở các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Còn ở
miền Nam văn giới quan tâm nhiều hơn tới những vấn đề này.
Giáo sư Trần Thái Đỉnh đã giới thiệu cuốn Triết học hiện sinh năm
1967. Cuốn sách chia thành hai phần: ba chương đầu giải mã triết thuyết
hiện sinh, bảy chương sau nhận thức cụ thể về bảy nhà hiện sinh tiêu biểu:

Kierkegaard, Nietzche, Husserl, Jaspers, Marcel, Sartre và Heidegger. Bỏ
qua những bề nổi, những bộn bề gắn với: lối sống hiện sinh, ý thức “xuống
đường” và những kẻ ăn theo..., triết học hiện sinh vẫn giữ được những tư
tưởng có giá trị với một số đề tài: tự do, tự quyết, vươn lên, dấn thân và
hành động.
Nhà nghiên cứu Lê Thành Trị cho xuất bản cuốn sách Hiện tượng luận
về hiện sinh năm 1974, đã cung cấp một lượng kiến thức hữu dụng về chủ
nghĩa hiện sinh. Tác giả chỉ ra ý nghĩa tổng quan của triết thuyết này: Hãy trở
về với con người cụ thể, lịch sử để biết mình là gì, là ai với tất cả những tâm
tư, cố hữu và riêng biệt. Đồng thời tác giả cũng đưa ra những tri thức có tính
khái qt nhằm cung cấp những thông tin, thỏa mãn nhu cầu của bạn đọc về
một số tác giả hiện sinh tiêu biểu.
Sau 1975, trong điều kiện lịch sử văn hóa mới, triết học hiện sinh đã
được giới thiệu nhiều hơn với công chúng Việt Nam qua một số cơng trình
nghiên cứu của Nguyễn Tiến Dũng: cuốn Chủ nghĩa hiện sinh: lịch sử, sự
hiện diện ở Việt Nam xuất bản năm 1999, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí
3


Minh; bài viết “Nhân vị - một thành tố của chủ nghĩa Hiện sinh”, Tạp chí triết
học (6);...
Với những tác động của triết học hiện sinh đến đời sống văn học đương
đại, một số nhà nghiên cứu đã chú ý quan sát hiện tượng này.
Nhà nghiên cứu Thái Phan Vàng Anh trong bài viết “Khuynh hướng
hiện sinh trong tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986” có những nhận định sâu
sắc về ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện sinh trong đời sống văn học hiện đại.
Bài viết khẳng định văn học hiện sinh đã có sự trở lại đầy ấn tượng sau những
bước thăng trầm: “e dè” xuất hiện trở lại văn đàn vào cuối thế kỉ XX và “nở
rộ” những năm đầu thế kỉ XXI; khuynh hướng hiện sinh xuất hiện và tồn tại
như một dòng chảy liền mạch trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” [2]. Bài

viết cũng đã trình bày khái lược một số dấu hiệu hiện sinh trong tiểu thuyết
Việt Nam đương đại. Thứ nhất: con người là một nhân vị hiện hữu trong
khoảnh khắc của hiện tại. Thứ hai: ý thức mô tả kiểu nhân vật lạc lõng, cơ
đơn giữa thế giới phi lí. Thứ ba: con người dấn thân vào hành trình truy tìm
bản thể. Thứ tư: bi kịch của con người khắc khoải lựa chọn song lại bị mắc
kẹt trong sự lựa chọn tưởng như đem đến tự do. Thứ năm: con người nổi loạn,
dấn thân nhưng không dễ chạy trốn khỏi nỗi cô đơn và lo âu về thân phận.
Thứ sáu: hiện sinh tính dục, đặc biệt là tính dục lệch pha trở thành điểm nổi
bật của các tác giả trẻ. Bài viết là gợi mở thú vị cho chúng tôi quan tâm tới
vấn đề hiện sinh trong văn học đương đại và trong các sáng tác của thế hệ trẻ.
Ở khoa Ngữ văn trường Đại học sư phạm Hà Nội đã có một số luận văn
Thạc sĩ khoa học nghiên cứu về hiện sinh trong văn học:
Vũ Thị Hằng thực hiện luận văn “Con người hiện sinh trong “Biên niên
ký chim vặn dây cót” của Murakami Haruki”, đã đề cập đến một hiện tượng văn
học độc đáo đối với nước Nhật và cả thế giới. Luận văn đã thực hiện tiếp cận tác
phẩm theo lý thuyết hiện sinh và chỉ ra một xã hội tầm thường, quẩn quanh, đầy
4


bất an trong tác phẩm. Đồng thời, luận văn cũng nêu ra hai phương diện sống
của nhân vật: một là con người luôn cảm thấy cô đơn, bất an, ám ảnh bởi cái
chết; hai là con người biết vươn lên tìm kiếm bản thể, khẳng định nhân vị độc
đáo của mình. Luận văn cũng phân tích một cách cụ thể một số nét nghệ thuật
tiêu biểu của nhà văn nhằm miêu tả con người hiện sinh: kết cấu nghệ thuật, thế
giới biểu tượng và biểu tượng con người (đặc biệt biểu tượng giấc mơ).
Luận văn “Dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của Duyên Anh” của Vũ
Thị Hải đã đem đến trải nghiệm mới cho một vấn đề đã từng tồn tại trong quá
khứ đó là: chất hiện sinh trong sáng tác của một nhà văn thuộc giai đoạn văn
học miền Nam những năm giữa thế kỉ XX. Tác giả thể hiện những am hiểu cơ
bản về chủ nghĩa hiện sinh: khái niệm, phạm trù cơ bản, sự tồn tại hiện sinh

trong văn học giai đoạn đó. Soi chiếu trong hệ thống lớn các tác phẩm của
Duyên Anh, cụ thể hơn ở một số tác phẩm tiêu biểu (Luật hè phố, Ảo vọng
tuổi trẻ, Ngày xưa còn bé...), luận văn nhận diện dấu ấn hiện sinh trong sáng
tác của Duyên Anh đó là con người khao khát những yêu thương vì bị bỏ rơi;
can đảm đấu trạnh đạt cái mình muốn; hoài niệm quá khứ... Duyên Anh được
đánh giá là nhà văn có chỗ đứng cao trong văn học nghệ thuật Việt Nam với
sức sáng tác dồi dào chưa từng có. Luận văn đã thực hiện một hướng nghiên
cứu mới về dấu ấn hiện sinh trong tác phẩm văn xuôi.
Nguyễn Phương Hảo với luận văn “Màu sắc hiện sinh trong sáng tác
của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài”, đã đề cập tới hai nhà văn được
đánh giá là tiêu biểu cho những đổi mới của văn xuôi sau cách mạng. Luận
văn chỉ ra một số tư tưởng cơ bản của triết thuyết hiện sinh và hoàn cảnh xã
hội nước ta dẫn tới sự tái hợp của chủ nghĩa này. Xuất phát từ tiền đề lý
thuyết đó, tác giả nhận diện hai kiểu hiện thực trong sáng tác của hai tác giả.
Xã hội “mê lộ” (Phạm Thị Hoài) nổi lên với những mê cung, những mờ ảo,
nhòe nhoẹt. Xã hội “khơng có vua” (Nguyễn Huy Thiệp) là kiểu xã hội chứa
5


đầy những xáo trộn, bất ổn, lệch pha. Sau khi chỉ ra cảm quan về tính phi lý,
bất ổn của đời sống thực tại, luận văn đề cập tới sự cơ đơn tha hóa, dễ nổi
loạn của con người hiện sinh. Đồng thời tác giả cũng nêu lên đặc sắc của
phương thức huyền thoại và nghệ thuật thể hiện cái phi lý (nghệ thuật mô tả
cái vắng mặt và thể hiện những giấc mơ) trong các sáng tác của hai tác giả.
Ở luận văn “Cảm quan hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Nguyên
Phước, Đoàn Minh Phượng, Mai Ninh”, tác giả Hà Thị Mỹ Dung đã làm sáng
tỏ một số vấn đề chung về cảm quan hiện sinh và chủ nghĩa hiện sinh trong
văn học. Đồng thời luận văn cũng đã chỉ ra nhân vật trong các sáng tác của
Đoàn Minh Phượng cảm nhận về một thế giới “dở dang”, “đổ vỡ”. Đó là thế
giới hỗn độn khi đan xen giữa sự sống và cái chết, thực và ảo, thật và giả. Thế

giới trong các sáng tác của Mai Ninh là thế giới của hồi ức, quá khứ, những
va chạm đồng cực như các “electron đồng dấu”. Bởi lẽ “Vạn vật hút nhau bởi
cùng dấu” nên tình u đồng tính tạo ra một sự giao hòa “yên thắm”[14;51].
Nguyễn Nguyên Phước lại để nhân vật tự nhận thức về thế giới nghĩa là thế
giới như thế nào là do chính con người nhận thức, cái con người nghĩ mới là
sự thật, là chân lý. Đi liền với đó là trạng thái đổ vỡ của con người trước hiện
sinh: “hoang mang”, “lo âu”, “ám ảnh” bởi sự “vong thân”... Mỗi nhà văn
mang lại một cảm quan khác nhau về thế giới và con người hiện sinh tuy
nhiên họ gặp nhau ở nhận thức về sự phi lý của thế giới và trạng thái đổ vỡ
của con người. Mặc dù là những kiến giải ban đầu nhưng luận văn cũng đã
cung cấp nhiều ý kiến có tính gợi mở cho chúng tơi để thực hiện đề tài.
Ở luận văn “Cảm thức về cái phi lý trong sáng tác của Tạ Duy Anh”
Cao Tố Nga chỉ ra Tạ Duy Anh nhận thức sự phi lý của xã hội làm nảy sinh
phi lý trong thân phận làm người. Các thế hệ nhà văn từ chiến trường trở về
đời sống thực tại mang một cảm quan về một xã hội nghịch lý. Ở xã hội đó
mọi giá trị bị đảo lộn, con người bị cầm tù trong những vỏ bọc giả dối, dẫn
6


đến tình trạng đánh mất nhân vị, sống vơ cảm như đồ vật và không khỏi rơi
vào trạng thái cô đơn, lo sợ. Cái phi lý khơng là tồn bộ nội dung của chủ
nghĩa hiện sinh, nhưng là một thành tố quan trọng của triết thuyết. Luận văn
đã cung cấp nhiều kiến thức nền tảng, giúp chúng tơi có thêm những kiến
thức về cả lý thuyết hiện sinh và văn xuôi đương đại.
Về nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang, cây bút trẻ này cũng gây được sự
chú ý ngay từ tiểu thuyết đầu tay 1981. Là cây bút trẻ, bản thân tác phẩm của
nhà văn còn mới mẻ đối với nhiều đối tượng bạn đọc. Hơn nữa văn chương
Nguyễn Quỳnh Trang thuộc về cái “đương đại chưa hoàn thành” như cách nói
của M.Bakhtin cho nên chưa thể có những đánh giá đầy đủ.
Nhà nghiên cứu Thái Phan Vàng Anh nhận định: “Hiện sinh tính dục,

đặc biệt là tính dục lệch pha, trở thành một điểm nổi bật” ở nhiều tác phẩm
của các nhà văn trẻ trong đó có tiểu thuyết 1981. Nhà nghiên cứu cũng chỉ ra
nỗi đau của người đồng tính trong 1981 khi phải che giấu giới tính thật của
mình: “Nhiều nhân vật mang vác trên số phận mình nỗi đau giới, bản năng
lệch”. Theo nhà nghiên cứu điều đáng chú ý là khi khai thác tính dục lệch
pha, Nguyễn Quỳnh Trang cũng như những nhà văn trẻ khác “khơng nhìn nó
từ góc nhìn xã hội học về giới mà đi sâu vào những trạng thái tâm hồn con
người, niềm đam mê bản năng, nỗi cô đơn, mặc cảm thân xác, sự tìm kiếm
bản ngã qua hoạt động kết giao bản ngã” [2] .
Nhà báo Hà Linh dẫn lời nhà văn Phong Điệp bàn về thế giới người
đồng tính trong 1981: “Chuyện đồng tính trong 1981 - nếu nhìn thật thấu đáo
- dường như chỉ là cái cớ để tác giả trình bày một cách tiếp cận và khám phá
bản thể: Sự mạnh mẽ hay yếu đuối nhu nhược; những khát khao muốn phá
tung mọi lề thói ấu trĩ và nặng nề; những cơn điên rồ muốn bỏ trốn; những
khao khát bản năng; những nỗi hoang mang của tuổi trẻ...”. Hà Linh tiếp tục
dẫn lời nhà văn Phạm Ngọc Tiến nói về tiến bộ của Nguyễn Quỳnh Trang:
7


“bứt ra khỏi dòng 8x chung chung bằng sự khai phá bản thể và những nỗ lực
về hình thức văn bản” [36].
Năm 2014, Nguyễn Thị Thanh thực hiện luận văn “Cảm thức cô đơn
trong tiểu thuyết 1981 (Nguyễn Quỳnh Trang) và Người ăn chay (Han Kang).
Luận văn thực hiện công việc nghiên cứu và so sánh một vấn đề mới của hai
tác giả trẻ (Nguyễn Quỳnh Trang và Han Kang), ở hai quốc gia (Việt Nam và
Hàn Quốc). Tác giả chỉ ra điểm tương đồng trong thế giới quan giữa hai nhà
văn đó là cảm thức mang tính cơ đơn trong con người hiện hữu. Cô đơn gắn
liền với hoang mang và lạc lõng. Tác giả cụ thể hóa con người cô đơn đặt
trong bối cảnh sống quá nhiều những hiểm họa và phi giá trị truyền thống.
Đồng thời cũng gợi dẫn một số luận điểm về hành trình nỗ lực của nhân vật

trong quá trình truy tìm bản thể. Cô đơn được xem là phạm trù lớn của triết
thuyết hiện sinh. Luận văn gợi dẫn cho chúng tôi nhiều ý kiến hay về cách
nhìn cuộc sống của nhân vật trong sáng tác Nguyễn Quỳnh Trang.
Hiền Đỗ - tác giả bài viết “9x’09 - tiểu thuyết về giới trẻ đương đại”
đăng trên báo Vn Express cho rằng: “Dường như các nhân vật trong bốn tiểu
thuyết của Nguyễn Quỳnh Trang đều in hằn sự cô đơn và dằn vặt trong câu
hỏi “Tơi là ai?” khi tìm kiếm bản ngã của mình”. Bên cạnh đó, tác giả cịn
dẫn lời nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đánh giá văn chương Nguyễn
Quỳnh Trang là có trách nhiệm với xã hội: “Ở mỗi cuốn tiểu thuyết Nguyễn
Quỳnh Trang đều trăn trở, thao thức với khía cạnh nào đó của đạo đức, nhân
sinh”[22]. Nhân sinh hay chính cuộc sống sinh tồn của con người hiện tại, con
người hướng trọng tâm về chính bản thể người, tự soi thấu mình trong kiếp
nhân sinh.
Nhà văn Lê Minh Khuê trong buổi tọa đàm văn chương Nguyễn Quỳnh
Trang đánh giá cao những đổi mới của chị. Nhà văn cho rằng: “Viết từ những
ấn tượng về cuộc sống cùng với việc bỏ qua yếu tố thời gian khiến nhân vật
8


có sức sống và dịng chảy nội tâm mạnh mẽ, Trang đã tạo ra được một không
gian cho tác phẩm của mình” [58]. Theo đó, Nguyễn Quỳnh Trang cùng với
việc đặt trọng tâm xây dựng những mảng không gian nghệ thuật là sự lược
bớt vai trò của yếu tố thời gian. Hay chính nhà văn đã khơng gian hóa thời
gian nghệ thuật.
Như vậy dấu hiệu hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Quỳnh Trang là
một trong những vấn đề đáng chú ý mà văn giới đã nhận biết. Tuy nhiên, các
bài viết hướng đến mục tiêu khác dẫn đến các tác giả chưa có sự khảo sát kĩ
càng. Nhưng đó cũng là những gợi dẫn q báu, là mơ hình nghiên cứu để
chúng tôi thực hiện đề tài này như một phương diện làm nên đặc điểm và giá
trị của cây bút Nguyễn Quỳnh Trang.

3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng tới luận giải những khía cạnh sau:
Khảo sát, nhận diện và lý giải một cách có hệ thống những dấu hiệu hiện
sinh trong sáng tác Nguyễn Quỳnh Trang, nhìn nhận chủ đề này như một đặc
điểm nội dung nổi bật trong sáng tác làm nên những thành tựu của tác giả trẻ.
Đặt Nguyễn Quỳnh Trang trong tiến trình vận động của văn chương
đương đại, góp phần khảo chứng diện mạo của văn xuôi đương đại Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để triển khai đề tài này chúng tôi thực hiện khảo sát, đánh giá một số
sáng tác của nhà văn Nguyễn Quỳnh Trang bao gồm:
- 1981, Nxb Văn học, 2012
- Nhiều cách sống, Nxb Hội nhà văn, 2014
- Mất kí ức, Nxb Hội nhà văn, 2012
- Tập truyện ngắn 24h, Nxb Thời đại, 2012
-

9x’09, Nxb Hội nhà văn, 2014
9


5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Chúng tơi sử dụng phương pháp này
để có thể dễ dàng hơn trong việc nhận diện, đánh giá những biểu hiện hiện
sinh trong sáng tác của Nguyễn Quỳnh Trang
- Phương pháp lịch sử: Với mục đích nhằm đối chiếu thế giới nghệ
thuật của nhà văn trong mối quan hệ với hiện thực, đồng thời thấy được vai
trò của lịch sử chi phối đến sáng tạo của nhà văn.
- Phương pháp so sánh: Chúng tôi sử dụng phương pháp này trong việc
tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt của nhà văn nữ Quỳnh Trang đặt
trong hệ thống lớn những cây bút văn xi trẻ cùng thời về chính vấn đề hiện

sinh được bàn tới.
- Phương pháp hệ thống: Chúng tôi coi những tác phẩm của Nguyễn
Quỳnh Trang là một hệ thống và tác phẩm của nhà văn lại là một hệ thống
trong văn học đương đại. Qua đó thấy được sự gắn bó chặt chẽ của tác phẩm
với hệ thống chính.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành ba chương. Mỗi chương gắn với một mục
đích nghiên cứu cụ thể và khoa học:
Chương 1: Nhận thức về chủ nghĩa hiện sinh và những dấu ấn hiện
sinh trong văn xuôi Việt Nam sau năm1975
Chương 2: Một số chủ đề hiện sinh trong nội dung tác phẩm Nguyễn
Quỳnh Trang
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật tương ứng

10


Chương 1
NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ
NHỮNG DẤU ẤN HIỆN SINH TRONG VĂN XUÔI
ĐƯƠNG ĐẠI VIỆT NAM
1.1. Khái lược về chủ nghĩa hiện sinh
Bước sang thế kỉ XX, thế giới như được “lột xác” sau cả thời kì dài
chuyển mình với những bước tiến chậm chạp. Thế kỉ này có sự nở rộ của tri
thức, khoa học cơng nghệ và thương mại... Thế kỉ XX cũng chứng kiến những
biến động to lớn làm nảy sinh hai cuộc chiến tranh thế giới cướp đi sinh mạng
của hơn tám mươi triệu người. Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai lực lượng Mĩ
và Liên Xô đe dọa nguy cơ thế chiến thứ ba dẫn tới tình trạng khủng hoảng
tinh thần sâu sắc: thái độ lo lắng bất an, mối nghi ngờ về chính khả năng của
con người. Thêm vào đó, lý trí đã trở nên bất lực trước những hiện thực

không thể giải thích được của xã hội như: chiến tranh, sự suy đồi tinh thần, xã
hội phát triển không đồng nhịp... Do đó, con người nhận ra rằng khơng gì
quan trọng với con người bằng chính con người nên các nhà triết học hướng
cái nhìn trở về bản thể. Chủ nghĩa hiện sinh ra đời trong hồn cảnh đó và đã
trở thành trào lưu triết học phát triển mạnh mẽ, có sức lan tỏa sâu rộng suốt
những năm 50, 60 của thế kỉ XX.
Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh được hình thành từ nhiều nhà
triết học. Triết gia Soren Kierkerggard quan niệm “Triết học hiện sinh cũng thực
sự mọc lên trong đống đổ nát nhưng là đổ nát tinh thần”. Ơng giải thích căn
ngun của hiện sinh xuất phát từ những bại hoại tinh thần, những hoài nghi,
những vong thân trước hiện thực tàn khốc của các cuộc chiến tranh. Theo ông
nhiệm vụ của triết học chỉ là “mơ tả” cuộc sống như nó đang tồn tại và “mỗi con
người là một hiện sinh độc đáo” cắt đứt với mọi quan hệ xã hội. Đây cũng chính
là một trong số những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hiện sinh sau này.
11


Nit-sơ (Nietzche) được mệnh danh là ông tổ của hiện sinh vơ thần. Ơng
đảo lại tất cả các giá trị truyền thống, thẳng tay phê bình các giá trị đó: “Đó là
một tư tưởng khơng hương vị, khơng màu sắc, vơ hồn và vơ hình” [20;123].
Hiện tại, chỉ có đời sống là giá trị duy nhất; tất cả những gì xung quanh nó chỉ
có giá trị tùy theo chúng có “thơng phần” vào giá trị căn bản đó khơng. Con
người đặt mình làm trung tâm với ý thức tự quyết và độc đáo, ln có hướng
vươn lên bằng chính sự tự giác của mình.
Triết gia hiện sinh người Đức Martin Hiedegger quan niệm con người
như một hữu thể hiện sinh và hiện hữu. Ông cho rằng “Hiện sinh là tồn tại,
mà sự tồn tại mãi chính là cái tơi”. Hiện sinh của ông mang khuynh hướng
thức tỉnh nhân loại hãy hướng trọng tâm tới con người hiện hữu chứ không
phải một khoa học xa xơi nào đó.
Jean Paul Sartre nối tiếp và phát triển tư tưởng của Heidegger dựa trên

nguyên lí cụ thể hóa hơn nữa con người hiện sinh. Ơng cho rằng “dựa vào cái
mình có để khơng ngừng nâng cao mình lên”, để “tự do sáng tạo ra mình
bằng mỗi hành động của mình” [38;75]. Khơng những hướng trọng tâm vào
việc thể hiện con người nhân sinh, ông còn cho thấy khả năng vươn lên bằng
hành động của con người, để có thể tái tạo ra một bản thể mới hồn thiện hơn.
Albert Camus thì khơng tự nhận mình là một nhà hiện sinh nhưng các
tác phẩm của ông thấm đẫm triết lý hiện sinh. Tư tưởng hiện sinh của ông
xoay quanh hai khái niệm mấu chốt: cái phi lý và sự nổi loạn. Tính phi lý nằm
ở chỗ một bên là cuộc đời đầy rẫy những trái ngang khó chấp nhận, một bên
lại địi hỏi phải rạch rịi. Đứng trước bản chất vơ nghĩa của cuộc đời, con
người phải cố gắng tìm cho mình một thái độ sống phù hợp: sống hết mình,
tận hưởng mọi niềm vui đang hiện hữu hay nổi loạn để phản lại cái phi lý, bảo
vệ giá trị con người.
Dù có những khác biệt, các nhà hiện sinh đều đồng thuận với thái độ
tơn vinh con người. Có thể xem hiện sinh chính là sự trả lại cho con người
12


quyền hạn tối ưu, thức tỉnh con người, tập trung thể hiện con người cụ thể như
nó vốn có. Con người là gốc của mọi phẩm giá và là giá trị cao cả nhất. Đặt
con người trong hoàn cảnh cụ thể để biết con người là ai với tất cả những tâm
tư cố hữu riêng biệt. Ở phương diện này chủ nghĩa hiện sinh đã giao thoa với
chủ nghĩa Mac. Theo J.P. Sartre: “chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa hiện sinh
cùng hướng đến một đối tượng là con người, do đó chúng khơng mâu thuẫn
mà bổ sung cho nhau” [11;47-50].
Tuy nhiên, hệ thống quan niệm về triết học hiện sinh có sự di chuyển
đến các quốc gia, gây tác động sâu rộng tới đời sống xã hội của mỗi vùng văn
hóa. Ở đó việc tiếp nhận ln ln xảy ra trạng thái diễn giải trong sự dung
hợp với lịch sử văn hóa mỗi khu vực. Việt Nam cũng tiếp nhận chủ nghĩa
hiện sinh theo quy luật này.

Trong cuốn Triết học hiện sinh của Trần Thái Đỉnh, tác giả đã thuyết
giải chủ nghĩa hiện sinh một cách kỹ lưỡng, hiện sinh chính là: “ý nghĩa của
đời sống; người ta chỉ vươn tới hiện sinh khi nào người ta đã ý thức được
rằng mình sống để làm gì, sống để thể hiện cái định mệnh cao q và độc đáo
của mình, khơng sống để mà sống: đó là hiện sinh” [20;207].
Trần Thái Đỉnh cũng đã diễn giải quan niệm về thực trạng đời sống
hiện sinh của con người như sau: “Cuộc đời của đa số người ta đều mang vẻ
tầm thường, buồn nơn”; vì thế “cần thiết chúng ta phải tỉnh ngộ; ý thức về
giá trị cao quý của nhân vị mình: do đó sinh ra ưu tư”; ngồi ra “cuộc đời là
một thử thách, đòi ta phải sáng suốt để quyết định, tự quyết”; thành thử “con
người tự cảm thấy cô đơn, một mình gánh vác định mệnh của mình, khơng ai
sống thay và chết thay ta được” [20; 35].
Trần Thái Đỉnh khái lược những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hiện
sinh ở một số luận điểm sau:
Thứ nhất. Chủ nghĩa hiện sinh cho rằng con người tỏ thái độ “Buồn
nơn” trước cuộc sống của chính con người. Vậy “buồn nơn” là gì? Theo GS
13


Trần Thái Đỉnh “buồn nôn là cảnh sống của những con người chưa vươn lên
tới mức đích thực, cịn cam sống như cây cỏ và động vật” [20;36]. Buồn nôn
là trạng thái tinh thần của con người, như một sự thức tỉnh của lương tâm khi
con người ý thức được địa vị, giá trị và thiên chức làm người. Khi ấy con
người tỏ ra nôn nao trước đời sống hời hợt, bất cần, vụ lợi của mình trước kia.
Thứ hai. “Buồn nơn” là gốc của “phi lí”. Phi lí gắn liền với hoàn cảnh
lịch sử ở các thảm họa do chủ nghĩa phát xit gây ra, con người không thể giải
thích cuộc sống khi trước mắt họ là những đổ nát hoang tàn. Phi lí là trạng
thái con người thấy khơng hiểu nổi đời sống, thấy khơng thể hịa nhập cũng
như khơng chấp nhận được nó; dẫn đến thái độ “đứng ngồi cuộc chơi”.
Trong tác phẩm Buồn nơn J.P. Sartre viết “Thế giới của giải thích hay của

những lý do không phải là thế giới hiện sinh”. Theo ông, phi lí là “khơng thể
chứng minh, thất bại khơng lý do; khơng có chuẩn đích và khơng dựa trên
ngun lý nào hết” [20;344]. Camus định nghĩa phi lý là “vực thẳm không thể
vượt qua nằm giữa con người và thế giới, giữa những khát vọng của con
người và sự dửng dưng của thế giới” [38;410]. Như vậy, cảm giác phi lí tồn
tại một cách rất phổ biến và thường xuyên trong cuộc sống mỗi người, đó là
lúc con người cảm thấy khơng giải thích được cảnh đời xung quanh, khơng
chấp nhận được những sự việc đó.
Thứ ba. Con người hiện sinh là con người nhập thế. Điều đó tạo nên
tính độc đáo của nhân vị: suy tư, lo âu, tự do, dấn thân hành động và cô đơn.
* Con người sống trong trạng thái “buồn nơn” đã có ý thức vùng dậy để
vươn lên tới thiên chức làm những nhân vị tự do. Trong sự vùng lên ấy con
người lại chưa thật sự là mình, đã đánh mất mình. Nói khác đi đó chính là sự
đánh mất bản sắc, đánh mất nhân vị - một hoạt động phóng thể. Đó là tình
trạng của con người chưa ý thức được mình là một nhân vị độc đáo, suy tôn
một thứ đạo đức giả hoặc mất đi chính kiến và sáng kiến trước tập thể. Tất cả
14


đã làm cho con người tự thỏa mãn với sự mất tự do, sống im lặng trong tình
trạng sự vật.
* Con người không thể vĩnh cửu ở mãi trạng thái tinh thần ấy. Con
người hơn động vật là ở chỗ biết ưu tư. Khi con người ưu tư là khi họ đã tỉnh
ngộ và suy nghĩ. Hay nói khác đi con người thức tỉnh thì khơng thể khơng
trong trạng thái ưu tư. Nó cũng chính là dấu hiệu chứng tỏ con người bắt đầu
vươn lên phía trước. Con người hiện sinh khơng chấp nhận cuộc sống phi lí
trong q khứ nhưng lại băn khoăn trước tương lai. Họ tỏ ra có ý thức về một
tương lai đầy “huyền nhiệm”, băn khoăn suy nghĩ về những điều sẽ đến với
mình và mình sẽ thực hiện chúng ra sao.
Đi liền với sự ưu tư, người ta tìm thấy ở đó sự lo âu kéo dài. Lo là “ở

trong một trạng thái phải bận tâm, khơng n lịng về một việc gì đó vì cho
rằng có thể xảy ra điều khơng may” Lo âu là lo đến mức thường xuyên và sâu
sắc. Con người lo về một tương lai đầy biến động, lại phải mang trách nhiệm
với bản thân. Cuộc sinh tồn là cả quá trình nên lo âu là bạn đồng hành của con
người. Và khi lo âu kéo dài khơng có đường giải thốt thì con người rơi vào
tuyệt vọng, con đường trước mắt là hư vô, là đường cụt.
* “Tự do” được xem là lí thuyết có tính chất quyết định trong học
thuyết của J.P Sartre. Ông cho rằng tự do không phải là thứ tự do trừu tượng,
mà là tự do cụ thể của con người trong xã hội, là thứ tự do để hành động: “Tự
do chính là khắc khoải lựa chọn”. Mỗi người là một thực thể độc lập trong
suy nghĩ và hành động nên có tự do trong sinh hoạt, trong lao động và cả
trong tình yêu... Tự do hoạt động đi liền với sự tự chịu trách nhiệm. Tuy vậy
tự do của con người lại liên quan tới sự phát triển biện chứng trong thực tiễn
cá nhân của anh ta. Cũng chính tác giả của Tự do và hư vơ đã nhận thấy tính
duy lý trong quan điểm lúc đầu của mình về tự do. Sau này ông đã đặt tự do
15


gần hơn với thực tiễn hoạt động của con người. Và tự do khơng cịn là tuyệt
đối, nó mang tính phụ thuộc. Tự do sinh ra tự quyết.
Theo GS Trần Thái Đỉnh “Tự quyết là tự chọn mình: chọn làm người tự
do mà cực khổ hơn là làm người nô lệ để sướng cái thân”. Vì con người là một
hiện tồn tự do, độc đáo nên không thể hành động theo ý của người khác. Chính
kiến của anh ta là điều duy nhất chỉ đạo hành động của anh ta. Nô lệ là khổ, nô
lệ tinh thần lại càng khổ. Do đó chủ nghĩa hiện sinh quan niệm: chấp nhận tất
cả để được tự quyết. Quyết định đó của tơi sẽ vẫn là của tơi dù đúng hay sai. Lí
thuyết tự quyết này mang tính tất yếu và trở thành giá trị sống. Chính những sự
lựa chọn hành động hướng tới tự do chứng tỏ con người đã thoát khỏi đời sống
sự vật, đang trên đà vươn lên trở thành cái mình muốn.
* Dấn thân và hành động. Kierkeggard đã từng phản đối những hình

thức tơn giáo trưởng giả vì chúng ru ngủ con người, bỏ mất hiện sinh trung
thực của đời người, biến họ thành thứ máy móc, thụ động, nương nhờ vào
một thế lực siêu nhiên, đánh mất bản ngã của mình. Để thốt khỏi tình trạng
này thì con người chỉ cịn cách vươn lên bằng lí thuyết dấn thân hành động.
Chủ nghĩa hiện sinh cổ vũ con người dấn thân trong mọi lĩnh vực bằng hành
động nhằm tạo ra sự thay đổi thế giới. Dấn thân đạt lấy tự do, đạt lấy cái mình
muốn trở thành, hồn thành sứ mệnh độc đáo của mình. Hành động vì con
người muốn khẳng định bản thể, khẳng định bản sắc độc đáo.
* Sự cô đơn thường trực. Cô đơn là đặc trưng cuối cùng của thân phận
con người. Cả K.Kafka và Camus đều chấp nhận sự cô đơn cố hữu trong mỗi
bản thể. Tồn tại trong trạng thái tự do, con người cảm thấy cô đơn, lạc lõng
trước cuộc đời. Sự phi lí của cuộc đời càng đẩy con người tới cảm giác cô
đơn. Con người hiện sinh dường như tách bạch với xã hội xung quanh, tỏ thái
độ thờ ơ, vô cảm trước những biến động của những người xung quanh. Cô
16



×