ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2015
Tên công trình:
« Mối quan hệ tương tác giữa những người cao tuổi sinh sống tại mái ấm »
(Điển cứu: Mái ấm tình thương Chùa Diệu Pháp, 188 Nơ Trang Long, Phường 13,
Quận Bình Thạnh, TP.HCM)
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Trần Nguyễn Thái Thanh, lớp K06, 2012 - 2016
Thành viên: Đặng Thị Mỹ Dung, lớp K06, 2012 - 2016
Võ Thị Hà, lớp K06, 2012 - 2016
Lê Hoài Thanh Tâm, lớp K06, 2012 – 2016
Nguyễn Trang Anh, lớp K06, 2012 - 2016
Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Thị Thanh Tùng
Khoa Công tác xã hội
MỤC LỤC
ĐỀ MỤC
TRANG
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu..........................................................1
3. Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài............................1
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu..........................................1
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài........................1
6. Đóng góp mới của đề tài......................................................................1
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn....................................................1
7. Kết cấu nghiên cứu...............................................................................1
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết
1.1. Tháo tác hóa khái niệm.....................................................................14
1.2. Các tiếp cận và lý thuyết ứng dụng...................................................16
1.3. Câu hỏi nghiên cứu............................................................................19
1.4. Khung phân tích................................................................................20
1.5. Khái quát quá trình nghiên cứu.........................................................20
Chương II: Kết quả nghiên cứu
2.1. Thực trạng mối quan hệ tương tác của những NCT ở mái ấm..27
2.2. Những cản trở trong việc gây dựng mối quan hệ thân thiết với nhau giữa
những NCT tại mái ấm........................................................................34
2.3. Lợi ích của việc xây dựng mối quan hệ tương giữa những NCT tại mái ấm.
...............................................................................................................38
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................39
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC BẢN CÂU HỎI PHỎNG VẤN SÂU
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Vấn đề người cao tuổi (NCT) là một vấn đề có nhiều người quan tâm, trong
nước hiện tại có khá nhiều đề tài về NCT. Số lượng NCT ở Việt Nam có số lượng gia
tăng gần đây. Tuy nhiên, khi tìm hiểu về đời sống tinh thần của NCT có thể nhận thấy
những NCT ở các mái ấm vẫn chưa được quan tấm đúng cách. Con người con cần có
những mối quan hệ xã hội chủ đích, NCT sống cùng người thân có mối quan hệ xã hội
chủ đạo với gia đình, vậy NCT tại mái ấm thì như thế nào? Có được đẩy mạnh thiết
lập như những NCT khác không. Do đó, đề tài hướng tới nghiên cứu và tìm ra nguyên
nhân của những mối quan hệ tương tác không tốt của NCT để hỗ trợ việc chăm sóc và
đáp nhu cầu cho NCT tại mái ấm.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài:
Như chúng ta biết NCT đã góp một phần không nhỏ trong đời sống văn hóa –
xã hội. Tuy nhiên cuộc sống có nhiều bất cập nên đời sống của những NCT, đặc biệt là
những người NCT neo đơn sinh sống tại các viện dưỡng lão, các mái ấm tình thương
càng có nhiều vấn đề cần được quan tâm hơn. Để làm rõ cũng như hướng đến tìm hiểu
mối quan hệ tương tác giữa những NCT sống tại mái ấm, chúng tôi đã tiếp cận các
nguồn kênh thông tin là các sách, đề tài nghiên cứu, bài báo, tập chí về NCT và các
nguồn kênh có thông tin nghiên cứu liên quan.
Ngoài nước:
Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 3/2/2004 cho biết biết kết quả của viện nghiên
cứu pháp (INED), thực hiện các nước thành viên Châu âu (EU) bao gồm Bồ Đào Nha,
Cộng Hòa Séc, Hà Lan, Đức, Italia,… người già ở phía nam EU thì thích sống với
những người thân trong gia đình. Các nước phía bắc EU thì tình trạng người cao tuổi
sống tại các trung tâm dưỡng lão đang có xu hướng ngày càng tăng. Ví dụ : Hà Lan,
chỉ có 8% số người già trên 75 tuổi đã ly hôn, góa bụa, hoặc độc thân sống chung với
các thành viên khác trong gia đình, số còn lại sống trong cơ sở xã hội. cộng hòa Séc và
Bồ Đào Nha có đến 50 % người sống chung với người thân. Đức và Hà Lan rất nhiều
người sống một mình trong nhà của họ vì các dịch vụ tạo điều kiện chăm sóc tại nhà
tương đối phát triển. Sự khác biệt trong cách chọn nhà của người già ở nước EU là do
chuẩn mực về văn hóa, lý do về kinh tế, chính sách xã hội của từng quốc gia là khác
nhau. kết quả nghiên cứu của INED cho thấy ngày càng có nhiều người trên 75 tuổi
sống trong các cơ sở xã hội. (theo chương lão hóa và người lớn tuổi của John
J.Macionis, XHH năm 2004)
Chương “Lão hóa và người lớn tuổi” của John J.Macionis trong tác phẩm “Xã
hội học” (2004) đã trình bày rõ thực trạng người cao tuổi đang gặp phải ở các nước,
các nền văn hóa khác nhau. Tác giả đã phân tích và lí giải dưới nhiều góc độ khác
nhau về hiện trạng số lượng người cao tuồi ờ Mỹ thêm đông. Tác phẩm đã làm rõ được
vấn đề tình trạng người cao tuổi ở các nước phát triển đang phải đối mặt như: phân
biệt đối xử và định kiến xã hội trong vần đề nghèo đói. Sự cô lập của xã hội đang dần
trở thành nổi lo âu của hàng triệu người cao tuổi, trong đó nữ giới chiếm số đông. Một
thống kê của Mỹ vào năm 1985 cho thấy, khoảng 40% sống một mình so với nam giới
chiếm đến 14%, tỷ lệ sống với người thân chiếm 17,8 % đối với nữ và 7,4 % đối với
nam hay sống trong nhà dưỡng lão nữ 3,7 % nam là 1,3 %.
Căn cứ vào những thông tin và chỉ báo ta thấy rằng, số lượng người cao tuổi
sống tại các trung tâm đang có dấu hiệu tăng dần. Nguyên nhân chủ yếu là họ không
có gia đình hoặc con cái không muốn sống chung với họ, tuy nhiên tùy thuộc vào quan
điểm và cách sống của mỗi quốc gia mà thực trạng này diễn ra nhiều hay ít. Người cao
tuổi khi được đưa vào viện dưỡng lão để chăm sóc đã ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần
và tâm lí họ, bởi vì đặc điểm tâm lí người cao tuổi khi về già muốn được sống bên con
cháu và người thân tron gia đình, họ muốn chia sẻ những kinh nghiệm mà minh đã
từng trải cho con cháu thông qua việc hồi tưởng quá khứ. Do đó, chúng ta cần phải
quan tâm và cải thiện mối quan hệ giữa các thành viên trong trung tâm để học có một
cuộc sống ý nghĩa hơn, có động lực đế tiếp tục cuộc sống.
Trong nước:
Theo bài viết của Tiến sĩ Hoàng Mộc Lan (Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn) “Đời sống tinh thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay” Đứng
trên góc độ phân tích của một nhà tâm lí học. Theo tác giả, NCT ở Việt Nam hiện nay
vấn đề được cho là đáng quan tâm ở khía cạnh đời sống tinh thần là: việc làm, thu
nhập và nhu cầu lao động, sức khỏe và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe, quan hệ xã
hội và nhu cầu được quan tâm, tôn trọng.
Xét về hoạt động lao động và nhu cầu lao động, NCT thu nhập dựa trên ba
nguồn:
“- Từ lao động sản xuất hàng ngày của người cao tuổi;
- Tích lũy từ lao động của người cao tuổi lúc còn trẻ dưới dạng bảo hiểm hưu trí, tiết
kiệm hoặc vật chất khác;
- Từ nguồn trợ cấp của con cái hoặc trợ cấp của Nhà nước (cho các cụ già cô đơn
không nơi nương tựa).”
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng phân tích về thu nhập của NCT neo đơn
không nơi nương tựa. Tác giả cho biết, những nguồn thu nhập của đối tượng này
thường từ việc buôn bán hàng rong, hưởng các chế độ chính sách, trợ cấp dành cho
người già hoặc từ chính quyền địa phương, các cơ sở, tổ chức xã hội. Phân bố người
cao tuổi không đồng đều, và nguyện vọng lớn nhất của NCT là được quan tâm, chăm
sóc. Bên cạnh đó, bài viết còn phân tích về mặt sức khỏe của NCT, những chứng bệnh
NCT hay mắc phải. Đề cập đến mối quan hệ xã hội và nhu cầu quan tâm, tôn trọng.
Tác giả đã làm những khảo sát tại các vùng thuộc các tỉnh phía Bắc và rút ra kết luận:
“Hoạt động xã hội của người cao tuổi hiện nay co lại trong phạm vi gia đình, thân tộc
nhiều hơn. Các hoạt động xã hội rộng lớn, mang tính cộng đồng làng, xã còn rất
nghèo nàn. Nếu tình trạng này kéo dài sẽ dẫn đến lạc hậu về thời cuộc và cô đơn
trong cuộc sống của người cao tuổi.”
Tác giả cũng đã đưa ra được những trách nhiệm của gia đình, xã hội đối với đời
sống tinh thần của người cao tuổi. Bài viết đã nêu lên được phần nào các khía cạnh đời
sống tinh thần của NCT, tuy nhiên, bài nghiên cứu của TS. Hoàng Mộc Lan còn đi
chung chung và không nhấn mạnh quá nhiều đến các mối quan hệ tương tác giữa
những NCT với nhau. Đưa ra được mức độ quan hệ xã hội của NCT chỉ ở mức khá,
nhưng chưa nêu lên đặc điểm tâm lí tương quan. Chúng tôi sử dụng những nhận định
và kết quả phân tích về mối quan hệ xã hội và nhu cầu của NCT neo đơn trong bài
nghiên cứu để làm cơ sở và nhận định cho mối tương quan giữa NCT neo đơn như thế
nào.
Công trình nghiên cứu “Một số vấn để cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam
giai đoạn 2011 - 2020” của Ts. Lê Ngọc Lân - Viện nghiên cứu Gia đình và giới Viện Khoa học xã hội Việt Nam. Đề tài đã đề cập tới một số nội dung như: khái niệm,
các tiếp cận nghiên cứu về người cao tuổi, kinh nghiệm nghiên cứu người cao tuổi ở
các nước và quan điểm của Đảng về người cao tuổi, một số vấn đề cơ bản về đời sống
của người cao tuổi hiện nay, một số vấn đề trong chăm sóc người cao tuổi trong các
gia đình, cộng đồng và xã hội. Đồng thời, đề tài cũng là cơ sở thực tiễn để điều chỉnh
chính sách nhằm phát huy hơn nữa vai trò của người cao tuổi và chăm sóc người cao
tuổi tốt hơn trong giai đoạn 2011 – 2015.
Theo tạp chí Dân số và Phát triển (số 5/ 2006), website Tổng cục dân số và Kế
hoach hóa Gia đình, đề tài “Nghiên cứu đặc trưng của người cao tuổi Việt Nam và
đánh giá mô hình chăm sóc người cao tuổi đang áp dụng” là đề tài đề cập đến các
đặc trưng cơ bản về người cao tuổi ở Việt Nam, so sánh với thế giới và các nước trong
khu vực; khảo sát nghiên cứu chuyên sâu các đặc trưng kinh tế - xã hội của người cao
tuổi ở vùng đực trưng, người cao tuổi có hoàn cảnh đặc biệt. Đồng thời, lựa chọn được
những tác động, can thiệp phù hợp.
Đề tài “Tìm hiểu mức độ trầm cảm ở người già sống trong trung tâm bảo
trợ xã hội thành phố Đà Nẵng” của hai sinh viên Nguyễn Thị Hoa và Nguyễn Thị
Sánh lớp 06CTL – Khoa Tâm lí - Giáo dục đã cho chúng ta thấy được mức độ trầm
cảm và những yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm ở người già sống trong Trung tâm bảo
trợ xã hội Đà Nẵng, giúp ban quản lý trung tâm nói riêng, cộng đồng người dân nói
chung hiểu rõ và sâu sắc hơn về vấn đề trầm cảm, đặc biệt là trầm cảm ở người già
sống trong các trung tâm bảo trợ xã hội. Từ đó có các biện pháp ngăn ngừa và chữa trị
phù hợp, các mô hình hỗ trợ có hiệu quả đối với những người già ở hoàn cảnh này.
Theo kết quả nghiên cứu về “Nhu cầu tinh thần của người cao tuổi tại các cơ
sở xã hội Tp.HCM” của nhóm Sinh viên Ngô Ngọc Mị nghiên cứu. Đề tài đã nêu lên
được nguyên nhân và thực trạng của vấn đề đời sống tinh người cao tuổi việt nam
hiện nay tại hai mái ấm chùa Lâm Quang và nhà dưỡng lão Tân Thông Hội, nghiên
cứu đã làm nỗi bật lên được tâm lí, nhu cầu và sự đáp ứng từ xã hội, những khó khăn
trung tâm đang gặp phải trong quá trình đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi. Tuy
nhiên, nhiên cứu chưa làm rõ được mối quan hệ của những người cao tuổi và nhân
viên tại trung tâm.
Công trình nghiên cứu “Xây dựng trung tâm tư vấn miễn phí cho người cao
tuổi” của nhóm sinh viên Lê Thị Hồng Phúc. Bài nghiên cứu đã nói lên dược nhu cầu
của người cao tuổi như về sức khỏe, tâm lý, chỗ ở và việc làm, thực trạng người cao
tuổi hiện nay tại các trung tâm nuôi dưỡng và bảo trợ. Bên cạnh đó bài nghiên cứu còn
đi sâu vào phân tích nhu cầu của người cao tuổi trong việc đáp ứng nhu cầu bản thân
trong cuộc sống. Ngoài ra, bài nghiên cứu còn làm cho thấy rõ sự quan tâm của mọi
người xung quanh đến người cao tuổi tại trung tâm. Xây dựng được các mô hình tư
vấn miễn phí cho người cao tuổi .Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ làm rõ mối quan tâm
của mọi người xung quanh đối với người cao tuổi chứ không đề cập đến mối quan hệ
tương tác giữa người cao tuổi tại trung tâm với nhau. Mặt khác mối quan tâm của mọi
người xung quanh đối với người cao tuổi vẫn chưa được làm rõ cụ thể.
Theo tác phẩm “Tiếp cận văn hóa người cao tuổi” của Tiến sĩ Nguyễn
Phương Lan: “Người cao tuổi chuyển đổi từ môi trường hoạt động tích cực sang môi
trường nghĩ ngơi hoàn toàn. Với thời gian rỗi qua nhiều trong khi sức khỏe ngày càng
kém đi đã khiến cho họ rơi vào trạng thái tâm lí cô lập vớ thế giới xung quanh, đòi hỏi
cần có nhu cầu giao tiếp mãnh liệt. Do kinh nghiệm sống của các cụ nhiều khi hơn lớp
trẻ, được tiếp xúc với nhiều nên văn hóa mang tính truyền thống. Khác với lớp trẻ văn
hóa của người cao tuổi không chỉ có đơn thuần là giao tiếp xã hội mà mang tính
truyền thống với ba loại giao tiếp cơ bản:
Giao tiếp với tự nhiên, với thế giới xung quanh.
Giao tiếp với thần linh, lực lượng siêu nhiên.
Giao tiếp với xã hội, con người”.
Tác giả đã nhận định đối với các cụ trong đời sống hiện nay thì nhu cầu giao
tiếp xã hội, với con người ta là quan trọng nhất. Vì khi về tuổi già họ luôn có xu hướng
mặc cảm bản thân, chán nản, hay giận dỗi không kiềm nén được cảm xúc bản thân…
do đó ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa mọi người xung quanh. Dựa trên đặc
điểm này ta có thề tìm ra các biện pháp can thiệp để cải thiện tình trạng giao tiếp theo
chiều hướng tốt nhất.
Đề tài nghiên cứu khoa học: “Nhu cầu quan hệ của người già cô đơn, không
nơi nương tựa tại trung tâm bảo trợ xã hội và vai trò can thiệp của nhân viên
công tác xã hội” Khoa Xã hội học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà
Nội. Đề tài đã đề cập đến người già cô đơn, không nơi nương tựa tại Trung tâm bảo trợ
xã hội IV, Ba Vì – Hà Nội được thu nhận và nuôi dưỡng, sống cách biệt về địa lí với
gia đình, người thân và thế giới bên ngoài. Do đó, người già ở các trung tâm thường
hạn chế về các mối quan hệ xã hội bên ngoài. Kèm theo đó là thiếu thốn về nhu cầu
quan hệ tình cảm khi sống trong môi trường nuôi dưỡng của trung tâm. Nhu cầu tình
cảm và các mối quan hệ của người già cô đơn đã được đề tài thể hiện rõ ràng. Đề tài
nghiên cứu đưa ra thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, giải pháp về vấn đề hạn chế các
mối quan hệ ở người cao tuổi ở trung tâm bảo trợ xã hội và đi vào đưa ra hướng giải
quyết.
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu các mối quan hệ giữa những người già cô dơn,
không nơi nương tựa với gia đình, người thân, bạn bè và các tổ chức xã hội, cùng với
mối quan hệ với cán bộ, nhân viên cơ sở, người nuôi dưỡng và môi trường sống tại
trung tâm. Bên cạnh đó còn nêu lên mối quan hệ khác giới giữa người già với nhau
trong trung tâm. Nhóm nghiên cứu đã khai thác tất cả rõ tất cả các mối quan hệ của
những người cao tuổi tại trung tâm, chỉ ra cho chúng ta thấy nhiều mặt của các mối
quan hệ này đồng thời cũng là để hiểu rõ thêm về tâm lí người cao tuổi.
Đồng thời đề tài cũng đi vào tìm hiểu về nhu cầu quan hệ của người già cô đơn,
đặc biệt là nhu cầu quan hệ về mặt tình cảm, tìm ra những trở ngại và khó khăn trong
việc đáp ứng nhu cầu quan hệ của người già. Từ đó đưa ra giải pháp can thiệp hỗ trợ
cho nhân viên cơ sở và đội ngũ nhân viên công tác xã hội.
Cẩm nang “Sức khỏe người cao tuổi” của Ban công tác Câu lạc bộ Hội người
cao tuổi Việt Nam - Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia cung cấp những kiến thức cần
thiết về việc chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe thể chất cho người cao tuổi.
Người cao tuổi thường có thói quen ít đi lại. Sự giảm hoạt động này là một trong
những nguyên nhân dẫn đến các rối loạn chức năng và bệnh lý của cơ thể mà chủ yếu
là các bệnh về xương khớp. Ngoài ra, ở người cao tuổi thường xuất hiện các bệnh như:
Huyết áp cao, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến,… Vì thế việc rèn luyện
thể lực là rất cần thiết.
Cẩm nang gồm 4 phần lớn, nghiên cứu những vấn đề xoay quanh việc chăm sóc
sức khỏe thể chất cho người cao tuổi. Trong phần I, Cẩm nang hướng dẫn cách tự
chăm sóc như việc rèn luyện thể lực, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và hình thức hoạt động
để người lớn tuổi luôn khỏe mạnh, đẩy lùi được bệnh tật và kéo dài tuổi thọ “Không
nên giận dỗi; không nên sống cô độc mà phải biết thăm hỏi kết thân với bạn bè và
những người xung quanh, luôn cởi mở, rộng lượng, vị tha với mọi người; không nên
sống quá nghiêm túc, nghiêm khắc với bản thân ,với những người xung quanh; không
nên có tâm lý tự ti, bi quan; tránh sống xa lánh mọi người , mà phải luôn giữ mối
tương quan tốt và thân thiết với mọi người, lắng nghe những ý kiên và lời khuyên của
mọi người. Tinh thần và thể chất luôn có mối tương quan chặt chẽ, đời sống tinh thần
thoải mái, vui vẻ thì sức khỏe sẽ theo đó tốt lên”.
Đối với phần II, III và IV, Cẩm nang đề cập đến những yếu tố bên ngoài có tác
động đến sức khỏe thể chất cùa người cao tuổi. Bên cạnh đó, cẩm nang còn trình bày
các lời khuyên dành cho giấc ngủ, cách bố trí phòng ngủ, chữa bệnh mất ngủ và một
số bài thuốc, vị thuốc có tác dụng chữa trị một số chứng bệnh thường gặp. Cẩm nang
này đề cập đến những cách phòng, chữa bệnh cho người cao tuổi. Một số cách và
phương pháp làm cho cơ thể thoải mái để phòng chữa bệnh. Ngoài ra, còn nói đến
cách ăn ngủ ở người cao tuổi như thế nào là tốt, một số thức ăn tốt cho cơ thể và
những bài thuốc quý dành chữa bệnh cho người cao tuổi.
Tuy nhiên, trong cuốn sách cẩm nang vẫn chưa nói đến các bệnh mà người cao
tuổi thường gặp. Bên cạnh đó, chưa nói tới vấn đề dinh dưỡng cho người cao tuổi.
Sách chưa đề cập đến một số phương pháp để người cao tuổi ở tại các cơ sở mái ấm
không thể vận động được có cách chăm sóc sức khỏe mình tốt hơn. Cuối cùng cuốn
sách đã nhắc đến vấn đề tinh thần nhưng chưa đi sâu vào cách chăm sóc đời sống tinh
thần như thế nào phù hợp.
“Tìm hiểu đời sống người cao tuổi ở Mái ấm tình thương Chùa Diệu
pháp”, đăng trên website chuadieuphap.com.vn là một đề tài gần gũi nhất với đề tài
mà chúng tôi đang nói đến. Đề tài đã cho chúng ta thấy được thực trạng đời sống của
người cao tuổi tại Mái ấm tình thương Chùa Diệu Pháp trên tất cả các mặt: chế độ dinh
dưỡng, chế độ sinh hoạt, điều kiện chăm sóc sức khỏe, sự quan tâm của cán bộ quản
lý, của nhân viên phục vụ. Ngoài ra đề tài còn đề cập đến một số đặc điểm tâm lý điển
hình của những người cao tuổi đang sống tại Mái ấm. Từ đó, đề tài đưa ra những giải
pháp thiết thực để cải thiện đời sống tinh thần cho các cụ.
Qua các đề tài nghiên cứu trên chúng tôi thấy phần lớn các đề tài đều chú trọng
đến nghiên cứu những đặc trưng xoay quanh tâm lý của người cao tuổi cũng như đánh
giá các mô hình áp dụng đối với đối tượng người cao tuổi. Đề tài “Tìm hiểu đời sống
người cao tuổi ở Mái ấm tình thương Chùa Diệu Pháp” đã có đề cập đến vấn đề đời
sống tinh thần nhưng mức độ tiếp cận còn ít. Chính vì vậy nhóm chúng tôi rất muốn đi
sâu tìm hiểu đời sống tinh thần của những người già tại các mái ấm tình thương, cái
mà rất ít đề tài đề cập đến.
3. Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
Lý do chọn đề tài:
Người cao tuổi nước ta giữ vai trò quan trọng trong việc kết nối các các giá trị
truyền thống về đạo đức, lịch sử, văn hóa giữa các thời đại, là lớp người đã từng trải
qua hai cuộc kháng chiến gian khổ. Ngày nay, trong đời sống xã hội vai trò của người
cao tuổi lại càng được thể hiện rõ nét. Họ là một trong những lực lương nòng cốt trong
xã hội và là tấm gương nuôi dạy con cháu trong mỗi gia đình. Hiện nay, người cao tuổi
trên thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng đang có xu hướng tăng nhanh, và
là mối quan tâm của nhiều quốc gia. Sau Tổng điều tra Dân số năm 2009 1, các nhà
khoa học đã dự báo đến năm 2017 Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn già hóa dân số
nhưng năm 2011, tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên là 7%, Việt Nam đã chính thức bước
vào giai đoạn “già hóa dân số”, sớm hơn 6 năm so với dự báo. Nguyên nhân là tuổi
thọ người dân tăng nhanh, làm tăng số lượng và tỷ lệ người cao tuổi; đồng thời do làm
tốt công tác giảm sinh nên số lượng và tỷ lệ trẻ em cũng giảm mạnh.
1
/>
Tỷ trọng dân số cao tuổi tăng lên, dẫn đến gia tăng chỉ số già hóa (tỷ số giữa
nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên so với nhóm dân số dưới 15 tuổi tính theo phần trăm) từ
16% năm 1979 lên 24,3% năm 1999 và 42,7 năm 2012 – cao hơn mức trung bình của
Đông Nam Á (30%). Như vậy, nếu năm 1989, khoảng 6 trẻ em có 1 người già thì đến
năm 2012, khoảng 2,3 trẻ em có một người già.
Tính toán thống kê theo số liệu của Đỗ Hoài Nam, cho thấy người cao tuổi ở
các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi trong vòng 25 năm, tới đạt 850 triệu người
vào năm 2025, chiếm 12% tổng số dân các nước và đến năm 2030 người cao tuổi sẽ
tăng lên 2 tỉ người.
Theo báo cáo của Quỹ dân số Liên hợp quốc (UNFPA) 2, trên thế giới, cứ một
giây qua đi, lại có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có
gần 58 triệu người tròn 60 tuổi. Hiện nay, toàn thế giới cứ chín người lại có một người
từ 60 tuổi trở lên. Con số này dự tính đến năm 2050 sẽ tăng tới mức cứ năm người sẽ
có một người trên 60 tuổi. Như vậy, già hóa dân số thế giới là một vấn đề không thể bỏ
qua. Vấn đề này đang diễn ra trên tất cả các khu vực và quốc gia với các tốc độ khác
nhau, đặc biệt tốc độ nhanh ở các nước đang phát triển. Hiện nay, 7 trong số 15 nước
có hơn 10 triệu người già là thuộc các nước đang phát triển.
Ở Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang già hóa dân
số với tốc độ nhanh, theo kết quả điều tra của hội người cao tuổi thành phố thì tổng số
người cao tuổi của thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 là 469.353 người, chiếm tỉ lệ
6,06% dân số. Theo Trưởng phòng Bảo trợ xã hội (Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội thành phố) Lê Chu Giang, xã hội càng phát triển thì nhiều người cao tuổi có nhu
cầu muốn vào trung tâm dưỡng lão, vì con cháu quá bận bịu với công việc không có
thời gian chăm sóc hay chỉ vì muốn giáo dục con tính tự lập không dựa dẫm vào cha
mẹ. Nhu cầu đáp ứng các dịch vụ để chăm sóc cho những người già trong trung tâm
dưỡng lão càng ngày càng được quan tâm hơn, nhưng hiện nay các trung tâm cung cấp
dưỡng lão còn rất ít. Mặt khác, đa phần các viện dưỡng lão hay trung tâm bảo trợ xã
hội nhận nuôi dưỡng, chăm sóc những người cao tuổi thuộc diện gia đình chính sách
hay có công với cách mạng. Thành phần những người cao tuổi lang thang không nơi
nương tựa, hoặc có con cái nhưng không thể phụng dưỡng, hoặc bị con cái ngược đãi
2
/>
có dự liệu gia tăng. Tuy nhiên, chính quyền địa phương, các nhà chức năng lại không
đáp ứng đủ so với nhu cầu, dẫn đến những tổ chức thiện nguyện thuộc tôn giáo ra đời.
Và Mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp là một trong những cơ sở có xuất phát tôn
giáo.
Theo như bài viết của Tiến sĩ Hoàng Mộc Lan trong bài nghiên cứu “Đời sống
tinh thần của người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay”, ở NCT có rất nhiều đòi hỏi về
mặt tinh thần, đặc biệt với NCT neo đơn còn cần nhiều hơn. Việc thiết lập và duy trì
các mối tương quan giữa những NCT với nhau cũng là một trong những đều được
quan tâm. Với đặc tính tâm lí lứa tuổi, việc kết thân giữa những NCT tuổi dựa trên rất
nhiều yếu tố. Mặt khác, trong môi trường là những không quen biết nhiều, có khác biệt
nhiều về văn hóa mối tương quan giữa những NCT với nhau hẳn có nhiều vấn đề.
Tuy biết rằng có rất nhiều đề tài nghiên cứu về NCT nói chung cũng như NCT
sống tại các mái ấm nói riêng. Nhưng nét khác biệt mà chúng tôi có là ở việc nghiên
cứu mối quan hệ tương tác giữa những NCT với nhau, thay vì tìm hiểu về nhiều khía
cạnh của đời sống tinh thần hay vật chất.
Từ những lí do trên, nhóm nghiên cứu quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ
tương tác giữa những người cao tuổi sinh sống tại mái ấm” làm mục tiêu nghiên
cứu. Điển cứu tại Mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp, 188 Nơ Trang Long, phường
13, quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
Mục tiêu của đề tài:
Mục tiêu tổng quát: Tìm hiểu về mối tương tác giữa những người cao tuổi sinh
sống tại mái ấm.
Mục tiêu cụ thể:
Thông qua khảo sát thực tế tại mái ấm, đề tài nghiên cứu thực hiện các mục tiêu
cụ thể sau:
- Xác định được mối quan hệ tương tác hiện tại của NCT sống tại mái ấm.
- Tìm hiểu những cản trở trong việc gây dựng mối quan hệ thân thiết với nhau
giữa những người cao tuổi tại mái ấm.
- Nhận định những những giá trị lợi ích nhất định cho đời sống tinh thần thêm
phong phú giữa những NCT với nhau.
Nhiệm cụ của đề tài:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về mối quan hệ tương tác giữa những NCT tại mái
ấm. Tìm hiểu mối quan hệ tương tác giữa những NCT. Trình bày một số giải pháp để
phát huy ưu điểm trong các mối quan hệ tương tác giữa những NCT.
Trong đó, nhiệm vụ chính yếu mà bài viết tập trung làm sáng tỏ là nhiệm vụ:
tìm hiểu mối quan hệ tương tác giữa những NCT.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu dựa trên các tham khảo từ chính các bài
nghiên cứu, thông tin, bài viết liên quan đến NCT. Vận dụng các thuyết nhu cầu,
thuyết hành động xã hội và hành vi… Các mẫu phỏng vấn mà đề tài có những phân
tích để đưa ra kết quả.
Phương pháp nghiên cứu:
Vì tính chất của đề tài nghiên cứu, có liên quan đến những khía cạnh đời sống
riêng của NCT, nên chúng tôi chọn phương pháp nghiên cứu định tính. Thêm vào đó,
để tránh trường hợp các cụ không biết chữ, hoặc khó đọc, và để tạo mối quan hệ tin
cậy với khách thể của mình, sử dụng phương pháp này, chúng tôi sẽ có được những
thông tin vừa có tính xác thực cao, vừa sinh động và mang nhiều ý nghĩa.
Qua các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi sẽ có cơ hội quan sát, cảm nhận nhiều
hơn về khách thể nghiên cứu của mình. Bởi vì, với đề tài nghiên cứu khoa học, mục
tiêu không chỉ là những thông tin, những kết luận có tính khám phá, mà quan trọng
hơn là những thông tin có ý nghĩa nhân văn và truyền tải được thông điệp của những
người nghiên cứu. Do vậy, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính là chính
với công cụ là phỏng vấn sâu.
Chúng tôi dự định tiến hành 15 cuộc phỏng vấn sâu:
- 10 cuộc phỏng vấn khách thể trực tiếp: NCT sống tại mái ấm.
- 5 cuộc phỏng vấn khách thể gián tiếp: Người quản lý và nhân viên tại mái ấm;
khách đến thăm hỏi NCT.
Ngoài ra đề tài còn kết hợp phân tích tư liệu sẵn có như sách, báo, internet và
quan sát NCT trong mái ấm giao tiếp với nhau như thế nào.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới hạn của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu:
Mối quan hệ tương tác giữa những NCT sinh sống tại Mái ấm tình thương Chùa
Diệu Pháp - 188 Nơ Trang Long, phường 13, Quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
Mái ấm tình thương Chùa Diệu Pháp, 188 Nơ Trang Long, phường 13, Quận
Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
Giới hạn của đề tài:
Đề tài chỉ nghiên cứu một phần của góc độ tâm lý của NCT, chúng tôi chỉ quan
tâm đến khía cạnh xây dựng cũng mối quan hệ tương giữa những NCT với nhau. Đồng
thời, cũng tìm hiểu thêm một phần mối quan hệ xã hội của NCT tại mái ấm.
6. Đóng góp mới của đề tài:
Đề tài nhằm hướng giúp tìm hiểu thêm một phần của đời sống tinh thần của
NCT đặc biệt là những NCT sống tại mái ấm. Bên cạnh đó, còn tìm ra được nguyên
nhân cũng như có những góp góp để cải thiện mối quan hệ của những NCT với những
người xung quanh.
7.
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn:
Ý nghĩa lý luận:
Đề tài là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu sau này, về vấn đề mối
quan hệ tương tác giữa những NCT sinh sống tại mái ấm. Ngoài ra còn làm rõ hơn
việc xây dựng mối quan hệ tương tác giữa những người cao tuổi nói chung và người
cao tuổi sống tại các mái ấm tình thương nói riêng. Từ đó góp phần làm sáng tỏ hơn
các lý thuyết xã hội học: thuyết nhu cầu, thuyết hành động xã hội, thuyết năng động
tâm lý.
Ý nghĩa thực tiễn:
Tìm hiểu về mối quan hệ tương tác giữa những NCT ở mái ấm nói riêng và đại
biểu cho những người cao tuổi sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn đúng hơn về mối quan
hệ tương tác giữa những NCT. Từ đó, để mọi người trong xã hội hướng đến các nhu
cầu NCT trong đời sống tình cảm.
8. Kết cấu của đề tài:
Để đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ tương tác giữa những người cao tuổi sinh
sống tại mái ấm” được rõ ràng, mạch lạc và đi theo một kết cấu nhất định, đảm bảo
đầy đủ nội dung, bài báo cáo được chia làm các phần cụ thể như sau:
Thứ nhất, Phần mở đầu bao gồm các nội dung như: Tính cấp thiết của đề tài:
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài; Lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ của đề
tài; Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, giới
hạn của đề tài; Đóng góp mới của đề tài; Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn; Kết cấu
của đề tài. Tất cả các nội dung nêu trên, như là cơ sở ban đầu, hướng đi cho toàn bài
viết. Đồng thời, phần dẫn nhập trú trọng làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. Đây
được xem như nội dung, công việc có tính nền tảng để đề tài nghiên cứu được tiến
hành đúng hướng và khoa học. Do vậy, khi xác định mục tiêu, nhiệm vụ cần được xây
dựng một cách kỹ lưỡng vừa mang tính thực tế vừa mang tính khoa học.
Thứ hai, Phần nội dung, bao gồm hai chương:
Chương I: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết: Nội dung nghiên cứu
cũng được phân mục cụ thể thành các phần nhỏ, giúp người đọc dễ dàng nắm bắt đề
tài: Các khái niệm có liên quan; Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng; Câu hỏi nghiên
cứu; Khung phân tích.
Chương II: Kết quả nghiên cứu: đây là phần phân tích những thông tin, mẫu
phỏng vấn thu được qua quá trình khảo sát thực tế. Từ đó làm sáng rõ mục tiêu, nhiệm
vụ mà đề tài nêu ra và đối chiếu kết quả thu được với mục tiêu; ghi nhận những cái
làm được, chưa làm được. Đồng thời, phần kết quả nghiên cứu còn giải đáp những câu
hỏi, giả thuyết mà chính nhóm nghiên cứu đặt ra trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Thứ ba, Phần kết luận, đây là bước tổng kết lại toàn bộ nội dung của bài
nghiên cứu một cách ngắn gọn, cô đọng và nhấn mạnh lại những gì đã đạt được trong
quá trình nghiên cứu, những bài học kinh nghiệm. Ngoài ra, đề tài có thể đề cập đến
những ý kiến sáng tạo dựa trên những kết quả đã phân tích để làm khuyến nghị cho đề
tài.
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: Cơ sở lý luận và hướng tiếp cận lý thuyết
1. Thao tác hóa khái niệm
1.1. Người cao tuổi
Người cao tuổi: hay còn gọi người cao niên hay người già là những người lớn
tuổi, thường có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên. Pháp lệnh người cao tuổi ở Việt Nam (số
23/2000/PL-UBTVQH, ra ngày 28/04/2000) nhận định: "người cao tuổi có công sinh
thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai trò quan trọng trong gia
đình và xã hội".3
Không có định nghĩa khái niệm riêng biệt cho mối quan hệ tương tác, tuy nhiên
chúng tôi tìm được những khái niệm có tính liên quan với khái niệm trên.
1.2. Mối quan hệ xã hội
“Mối quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người hình thành trong
quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa,...
Trong toàn bộ các quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất là quan hệ có vai trò quyết định.
Những quan hệ xã hội khác (chính trị, văn hóa, pháp luật, đạo đức, tôn giáo,...) là
những quan hệ phụ thuộc nhưng cũng có tác động tích cực trở lại đối với quan hệ sản
xuất. Việc nhận thức mối liên hệ biện chứng ấy giữa các quan hệ xã hội là chỗ dựa cho
việc giải thích một cách khoa học về quy luật phát triển của xã hội. Vì vậy, khái niệm
về một mối quan hệ xã hội, trong thực tế có thể tham khảo một hoặc nhiều các loại
tương tác xã hội, có thể quy định tiêu chuẩn của xã hội, giữa những người có một vị trí
xã hội và thực hiện một vai trò xã hội.”4
1.3. Tương tác xã hội
Tương tác xã hội: có nhiều định nghĩa nhưng chúng tôi xin trích hai định nghĩa
dưới đây với hai nguồn sau:
3
Theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia Tiếng Việt
Trang từ điển học và Bách khoa toàn thư của Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam
( />TuKhoa=quan%20h%E1%BB%87%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i
4
“Tương tác xã hội là sự tác động qua lại chi phối phụ thuộc lẫn nhau giữa các
chủ thể hành động trong việc thoả mãn vì nhu cầu xã hội căn bản của con người (Quá
trình thông tin và giao tiếp). Không đơn giản chỉ là hành động và sự phản ứng mà là
quá trình tương tác gián tiếp của ít nhất hai chủ thể hành động có sự thích ứng lẫn
nhau của các chủ thể. Tương tác xã hội diễn ra ở cả hai cấp độ vi mô và vĩ mô.” 5
“Tương tác xã hội là hình thức giao tiếp xã hội hay trao đổi giữa xá nhân và các
cộng đồng, trong đó mối quan hệ qua lại của chúng được thưc hiện, hành động xã hội
được diễn ra và được sự thích ứng của một hành động này với một hành động khác,
qua đó cũng tìm thấy cái chung trong sự hiểu biểt tình huống, ý nghĩa hành động,
nhằm đạt được mức độ hợp tác nhất định hoặc sự đồng tình giữa chúng.” 6
Phân loại tương tác xã hội gồm:
+ Dựa vào mối liên hệ XH giữa các chủ thể hành động:
- Sự tiếp xúc không gian
- Sự tiếp xúc tâm lý
- Sự tiếp xúc XH
- Sự tương tác
- Quan hệ XH
+ Theo các dạng hoạt động chung
- Hoạt động cá nhân cùng nhau
- Hoạt động tiếp nối cùng nhau
- Hoạt động tương hỗ cùng nhau
+ Theo chủ thể hành động trong tãơng tác
- Tương tác liên cá nhân
- Tương tác cá nhân-xã hội
- Tương tác nhóm xã hội
- Tương tác nhóm-nhóm
- Tương tác nhóm-xã hội
- Tương tác giữa những cá nhân với tư cách là đại diện các nhóm khác nhau.
- Tương tác gián tiếp
1.4. Mái ấm tình thương
Không có định nghĩa chính xác cho khái niệm này, tuy nhiên có thể theo cách
đơn giản là: nơi dành cho những người cơ nhỡ như, trẻ em, NCT… sinh sống.
2. Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng
2.1. Lý thuyết hành động xã hội7
5
6
7
Theo định nghĩa Tương tác xã hội trên trang web Kilobooks.com.
Theo định nghĩa Tương tác xã hội trên trang web Tailieuontap.com
TS. Trần Thị Kim Xuyến (Chủ biên), ThS.Nguyễn Thị Hồng Xoan (2009), Nhập môn Xã hội học, Nxb Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, tr. 100 – 105.
Theo Max Weber, hành động xã hội khi xuất hiện khi hành động mang tư duy,
tình cảm của con người trong đó. Để có được một hành động xã hội, cá nhân phải xuất
phát từ nhu cầu, từ ý nghĩa của hành động đó đối với bản thân, với người khác chứ
không đơn thuần là những phản ứng có điều kiện trước những tác động bên ngoài của
hoàn cảnh (điều kiện sống). Có bốn loại hành động gồm Hành động do cảm xúc, Hành
động mang tính truyền thống, Hành động hợp lý vế giá trị và hành động hợp mục đích.
Hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân cũng như các khuôn
mẫu quan hệ được cấu trúc hóa bên trên các nhóm, tổ chức, thiết chế và xã hội. Một
thực tế có thể quan sát được trong mọi tình huống cá nhân và công cộng hàng ngày là
hành động xã hội của con người diễn ra theo những quy tắc nhất định và trong những
hình thái nhất định, những quy tắc và hình thái này có một sứ bất biến tương đối. Đối
với các cá nhân, những điều trên là rõ ràng và hiển nhiên, dựa trên nhận thức và kinh
nghiệm thực tiễn. Nhưng xã hội học vượt qua nhận thức hàng ngày đó, đặt ra câu hỏi
về cơ sở và điều kiện của những hành động như vậy.
Cũng là lý thuyết hành động xã hội nhưng G.H. Mead lại chú trọng nhiều hơn
đến việc hành động xã hội được hình thành từ mối quan hệ liên cá nhân (người –
người). Ông cho rằng tương tác xã hội là rất quan trọng để con người được phát triển
nhân cách. Thuyết hành động của ông chú trọng vào hành động giao tiếp giữa người
với người.
2.2. Thuyết nhu cầu
Thuyết nhu cầu của Maslow nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con
người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh
và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về
những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu.
Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó
và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về
nhu cầu của con người từ thấp đến cao.
Nhu cầu về sinh lý (physiological needs): Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì
cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thoả mãn về
tình dục,… Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không tồn tại được.
Nhu cầu về an toàn (safety needs): Khi con người đã được đáp ứng các nhu
cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ
nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn
và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự
bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm.
Nhu cầu về xã hội (social needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong
muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó (belonging needs) hoặc nhu cầu về
tình cảm, tình thương (needs of love). Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp
như việc tìm kiếm và kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia cộng đồng nào đó,
đi làm việc, đi chơi….
Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): Nhu cầu này còn được gọi là nhu
cầu tự trọng (self esteem needs) vì nó thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý
mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng
chính bản thân, danh tiếng của mình.
Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs): Maslow mô tả nhu cầu
này như sau: nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm
những cái mà mình sinh ra để làm. Nói một cách đơn giản hơn, đây chính là nhu cầu
được sử dụng hết khả năng, tiềm năng của mình để tự khẳng định mình, để làm việc,
đạt các thành quả trong xã hội và được mọi người công nhận.
Sau đó, vào những năm 1970 và 1990, sự phân cấp đã được Maslow hiệu chỉnh
thành 7 bậc và cuối cùng là 8 bậc: Nhu cầu cơ bản (basic needs), nhu cầu về an toàn
(safety needs), nhu cầu về xã hội (social needs), nhu cầu về được quý trọng (esteem
needs), nhu cầu về nhận thức (cognitive needs), nhu cầu thẩm mỹ (aesthetic needs),
nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs), sự siêu nghiệm (transcendence).
Theo Maslow thì các nhu cầu của con người phải thỏa mãn các trình tự thang
bậc mà ông đưa ra. Ông cho rằng mỗi cá nhân sau khi đạt một nhu cầu căn bản nào đó
thì mới tiếp tục hành động để thỏa mãn những nhu cầu tiếp theo.8
Thuyết nhu cầu của A. Maslow là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng
các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung. Cho đến nay, chưa có thuyết nào thay
thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng có khá nhiều “ứng cử viên" có ý định thay thế.
Theo thuyết A. Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang
bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự
tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã
hội.
Nhóm áp dụng lí thuyết này vào cho thấy nhu cầu xây dựng mối quan hệ tương
tác cũng là một trong những nhu cầu phải có của con người. Đồng thời, nhu cầu này ở
bật thứ 3 của tháp. Qua lý thuyết này, nhóm sẽ nhận định được nguyên nhân dẫn đến
mối quan hệ tương tác của NCT.
2.3. Thuyết hành vi
8
Trích: Ts.Trần Thị Kim Xuyến (chủ biên). Ths. Nguyễn Thị Hồng Xoan. Nhập môn
xã hội học. Nxb Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Lý thuyết hành vi có nguồn gốc từ Nga với những thực nghiệm của Pavlov,
gồm quá trình thực nghiệm điều kiện hóa phản ứng của con chó để đáp ứng (tiết nước
bọt) khi nghe tiếng chuông chứ không phải khi nhìn thấy thức ăn, nhưng việc áp dụng
lý thuyết hành vi trong tâm lý trị liệu chỉ được bắt đầu vào mãi thời gian sau này chứ
không phải ngay thời điểm đó. Pavlov chỉ cho ta thấy rằng tất cả chúng ta đều được
điều kiện hóa để hành động theo một cách khác nếu chúng ta muốn có những thay đổi
hiệu quả.
Thuyết hành vi Watson (1912) đã dấy lên một làn sóng lớn ở Mỹ về quan niệm
hành vi. Theo ông, tâm lí học hành vi không mô tả, không giảng giải các trạng thái ý
thức, mà quan tâm đến hành vi của tồn tại người. Các sự kiện quan sát thấy đều được
lý giải theo nguyên tắc: khi có một kích thích nào đó tác động vào cơ thể tạo ra một
phản ứng nhất định. Do đó, mọi hành vi do có thể tạo ra đều được biểu đạt theo công
thức kích thích – phản ứng (S - R), và hành vi chỉ còn lại là các cử động bề ngoài,
hoàn toàn không liên quan gì với ý thức được coi là cái bên trong.
Skinner là một lớp học tâm lý học hành vi người Mỹ, ông là người tiếp nối tư
tưởng của Watson. Lý thuyết này đơn giản như sau: loại trừ hoặc dập tắt hành vi
không mong muốn bằng cách loại bỏ những yếu tố củng cố và thay thế nó bằng một
hành vi mong muốn và hỗ trợ để đạt được nó. Thay đổi hành vi được dùng để thay đổi
rất nhiều loại hành vi khác nhau từ nghiện đến nhút nhát, đến tự kỷ, và thậm chí đến
những bệnh lý nghiêm trọng trong tâm thần như tâm thần phân liệt. Nó tỏ ra rất hiệu
quả đối với trẻ em có rối loạn chống đối. Skinner xây dựng thuyết hành vi xã hội.
Thuyết này xây dựng trên nguyên tắc phản ứng, lấy các khái niệm củng cố, thích nghi,
cân bằng với môi trường làm các khái niệm cơ bản.
Áp dụng thuyết: chúng tôi muốn thấy được sự thay đổi hành vi của người cao
tuổi trong những hoàn cảnh thiếu thốn về đời sống tinh thần. Yếu tố hành vi có tác
động như thế nào đến tâm lý những người cao tuổi?
3. Câu hỏi nghiên cứu
Làm đề tài này chúng tôi đặt ra những câu hỏi như sau:
- Mối quan hệ tương tác của NCT tại mái ấm như thế nào?
- Những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc xây dựng mối quan hệ thân thiết của NCT?
- Lợi ích của việc xây dựng mối quan hệ tương tác giữa NCT là gì?
4. Khung phân tích
Bản thân
NCT
Người tới
thăm mái ấm
NCT trong
mái ấm
Quản lý, nhân
viên mái ấm
Mối quan hệ tương tác giữa
những NCT với nhau
Mối quan hệ tương
tác lẫn nhau giữa
các cụ trong hiện
tại.
Nguyên nhân ảnh
hưởng đến thiết lập
mối quan hệ tương
tác giữa những
NCT với nhau.
Lợi ích của việc xây
dựng mối quan hệ
tương tác giữa NCT
5. Khái quát quá trình nghiên cứu
5.1. Khái quát tình hình quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh
Quận Bình Thạnh có diện tích: 2076 ha, dân số: 464397 người. Gồm 21 dân tộc
sinh sống, đa số là người Kinh.
Quận Bình Thạnh nằm về phía Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, ở vị trí cửa
ngõ thành phố, là vùng đất có một vị trí chiến lược quan trọng. Phía Đông Bắc giáp
với quận 2 và Thủ Đức; ở phía Nam, Bình Thạnh và quận 1 cách nhau bởi con rạch
Thị Nghè; về phía Tây - Tây Bắc giáp với quận Gò Vấp và Phú Nhuận. Quận Bình
Thạnh có sông Sài Gòn bao quanh mạn Đông Bắc.
Quận Bình Thạnh được xem là một nút giao thông quan trọng của thành phố Hồ
Chí Minh bởi vì Bình Thạnh là điểm đầu mối gặp gỡ các quốc lộ: Quốc lộ 1, Quốc lộ
13; là cửa ngõ đón con tàu thống nhất Bắc Nam qua cầu Bình Lợi vào ga Hòa Hưng và
lại có Bến xe khách Miền Đông.
Bình Thạnh là một trong những khu vực có người cư trú khá cổ xưa của thành
phố, nơi qui tụ của nhiều lớp cư dân qua các thời kỳ lịch sử hình thành Thành phố Hồ
Chí Minh ngày nay. Ở Bình Thạnh, cho đến nay, hầu như có mặt nhiều người từ Bắc,
Trung, Nam đến sinh sống lập nghiệp .Chính vì vậy mà các hoạt động văn hóa vừa
phong phú vừa đa dạng. Những lớp dân cư xưa của Bình Thạnh đã đến đây khai phá,
sinh nhai, trong hành trang của mình, văn hóa như một nhu cầu quan trọng để sống và
tồn tại. Mặt khác, trong buổi đầu chinh phục vùng đất Bình Thạnh hôm nay, những
người Bình Thạnh xưa đã phải chống chọi với bao nổi gian nguy, khắc nghiệt của
thiên nhiên, sinh hoạt văn hóa đã trở nên chỗ dựa cần thiết. Bên cạnh nền văn hóa vốn
có, những lớp dân cư xưa ấy đã có thêm những nét văn hóa mới nảy sinh trong công
cuộc khai phá, chinh phục thiên nhiên và rồi để truyền lại cho con cháu hôm nay như
một truyền thống văn hóa.
Tại quận Bình Thạnh, có nhiều các cơ sở tôn giáo làm các hoạt động tương trợ
xã hội, trong đó, Mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp là điểm đến của những người mộ
đạo đi hành hương lễ Phật, cúng dường làm phúc.
5.2. Tổng quan Mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp
Mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp do cố hòa thượng Thích Tâm Khai sáng
lập vào đầu năm 1990 để nuôi dưỡng, cưu mang những người già yếu, bệnh tật không
con cháu hoặc bị con cháu bỏ rơi, có hoàn cảnh neo đơn, không nơi nương tựa. Cơ sở
vật chất ban đầu chỉ là một gian nhà lá mộc mạc vỏn vẹn vài chục mét vuông nằm
cạnh điện thờ, mái tường bị nứt do sạt lỡ đất, chỉ nuôi dưỡng và người.
Mái ấm chùa Diệu Pháp là nơi nương tựa của các cụ già neo đơn, tàn tật, nhiều
cụ còn bị mắc bệnh hiểm nghèo, sức khỏe yếu, mọi sinh hoạt đều phải nhờ đến sự trợ
giúp của người khác. Các cụ đến từ khắp ba miền Bắc, Trung, Nam với nhiều hoàn
cảnh khác nhau, người không con, không cháu, cô đơn không nơi nương tựa, người bị
con cháu ruồng bỏ, người thì con cháu không nuôi nổi nên cũng xin vào mái ấm.
Ngày 14 tháng 7 năm 2007, chùa Diệu Pháp đã khánh thành cơ sở bảo trợ xã hội mái
ấm tình thương mới rộng hơn 300 mét, gồm một trệt, hai lầu, sức chứa tối đa 100
người, với những trang thiết bị cơ bản phục vụ đời sống người già, bệnh tật.
Thời gian đầu, số lượng các cụ già ở mái ấm tình thương chùa Diệu Pháp chỉ độ
hơn 10 người nhưng về sau các cụ tìm về ngày một đông; năm 2011 đã có 55 cụ và
hiện tại bây giờ thì số lượng chỉ còn 38 người do các cụ bệnh tật nhiều, sức lại yếu.
Bây giờ Chủ nhiệm chính của mái ấm là thầy Thích Nhuận Quang.
Từ tháng 8 năm 2012, NCT tại cơ sở xã hội được trung tâm đáp ứng nhiều mặt
để nâng cao đồi sống tinh thần. Đặc biệt là về mặt tâm linh, nhiều cụ tại trung tâm
thường xuyên được theo đoàn xe của chùa đến tham quan học hỏi tại các cơ sở phật
giáo khác nhau.
Đồng thời bên cạnh đó cơ sở còn liên kết với các bác sỉ tình nguyện tại thành
phố Hồ Chí Minh để khám chữa bệnh và cấp phát thuốc miên phí. Theo dõi sức khỏe
hàng tháng cho các cụ, để đảm bảo rằng các cụ tại trung tâm có một sức khỏe dồi dào
sống một cuộc sống hạnh phúc cùng mọi người tại trung tâm.
Vào những dịp lễ như Vu Lan báo hiếu, tết Trung Thu hằng năm, các ngày lễ
khác, cơ sở xã hội cùng với cac mạnh thường quân tại chùa tiến hành tổ chức các sự
kiện thiện nguyện nhằm giúp đở những người khó khăn. Trong các ngày này, cơ sở tạo
điều kiện cho các cụ hoạt động cùng mọi người đề không cảm thấy cô đơn và thấy
rằng cuộc sống của mình ý nghĩa hơn.
Song song các hoạt động đó, cơ sở xã hội chùa Diệu Pháp còn kết hợp với các
sinh viên tình nguyện tại các trường đại học trên địa bàn thành phố thường xuyên đến
thăm hỏi, trò chuyển cùng các cụ, tổ chức tư vấn sức khỏe và hướng dẫn các cụ cách
chăm sóc bản thân, các hoạt động vận động cơ thể và trí não thu hút được sự tham gia
nhiệt tình của các cụ tại trung tâm.
Những hoạt động mà cơ sở xã hội chùa Diệu Pháp đang thực hiện có nghĩa rất
lớn về mặt an sinh xa hội, chăm lo cho cuộc sống người cao tuồi có hoàn cảnh khó
khăn, là tiềm năng động lực thúc đẩy cái nhìn của xã hội về thực trạng người cao tuổi