Tải bản đầy đủ (.pdf) (844 trang)

100 năm KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC hội (1916 2016)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.1 MB, 844 trang )

100 NĂM KHỞI NGHĨA
VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI
(1916-2016)





LỜI GIỚI THIỆU

N

hững năm đầu thế kỷ XX, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
đã tạo ra những biến đổi trên cả bình diện kinh tế, chính trị, xã
hội và văn hóa mà những yếu tố này đều có những tác động nhất định
đến phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam chống lại
ách cai trị thực dân. Dựa trên những nền tảng kinh tế, xã hội mới với
sự xuất hiện của những giai tầng xã hội mới cũng như sự du nhập của
những trào lưu tư tưởng mới mang sắc thái dân chủ tư sản từ các quốc
gia khác, phong trào yêu nước đi từ phạm trù phong kiến bắt đầu
chuyển hướng sang màu sắc dân chủ tư sản với hai dòng chủ đạo là
canh tân và vũ trang bạo động. Tuy vậy, cho đến trước năm 1914, các
con đường cứu nước theo khuynh hướng này vẫn không mang lại kết
quả cuối cùng và vũ trang bạo động với các cuộc đấu tranh theo
những khuynh hướng khác nhau vẫn là khuynh hướng chủ đạo. Nổi
lên trong giai đoạn này là các hoạt động yêu nước dưới ngọn cờ của
Việt Nam Quang phục hội ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Hội kín ở Nam
Kỳ. Vào lúc đó, Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất (1914-1918) diễn
ra đã lôi cuốn hàng loạt quốc gia vào vòng xoáy, trong đó có nước
Pháp. Như một tất yếu, để phục vụ cho cuộc chiến tranh, Pháp đã huy
động sức người, sức của từ khắp các thuộc địa của mình dưới nhiều


hình thức và bằng mọi biện pháp. Điều này đã gây nên sự oán thán,
phẫn uất trong nhân dân mà biểu hiện cụ thể của sự phản ứng chính là
các cuộc nổi dậy đấu tranh chống Pháp của các tầng lớp nhân dân.
Trong bối cảnh đó, cuộc vận động khởi nghĩa ở Nam Trung Kỳ
diễn ra vào tháng 5.1916 với mục tiêu đánh Pháp, giành độc lập cho
đất nước và thành lập một chính phủ mới; tuy nhiên, ngay trước khi
bắt đầu, cuộc khởi nghĩa đã bị thực dân Pháp đàn áp dập tắt.


 

Cuộc khởi nghĩa thất bại do nhiều nguyên nhân, nhưng xét trong
tổng thể tiến trình vận động của cách mạng thời kỳ cận đại, cuộc vận
động khởi nghĩa ở Quảng Nam - Đà Nẵng và các tỉnh Nam Trung Kỳ
vào năm 1916 giữ một vị trí quan trọng. Trước hết, cuộc khởi nghĩa là
sự tiếp nối các hoạt động đấu tranh yêu nước chống thực dân Pháp
liên tục của nhân dân ta từ giữa thế kỷ XIX, thể hiện tinh thần yêu
nước của nhân dân Trung Kỳ cũng như khích lệ phong trào đấu tranh
cách mạng chung của cả dân tộc. Cuộc khởi nghĩa cũng đồng thời cho
thấy đấu tranh bằng con đường vũ trang vẫn là xu hướng chủ đạo của
phong trào cứu nước của thời kỳ này. Mặt khác, cũng trong trong tiến
trình đó, cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 còn là hoạt động đấu
tranh yêu nước cuối cùng ít nhiều mang màu sắc phong kiến thể hiện
ở nền tảng tư tưởng, lực lượng tham gia, lực lượng lãnh đạo và chính
thể thành lập. Nói cách khác, từ sau cuộc khởi nghĩa này, phong trào
yêu nước dưới ngọn cờ của các sĩ phu phong kiến đã chính thức chấm
dứt. Không chỉ vậy, so với các phong trào khác cùng thời kỳ, đây là
một trong số ít các cuộc đấu tranh có địa bàn hoạt động trải rộng trên
nhiều tỉnh Trung Kỳ, từ Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng
Nam tới Quảng Ngãi, đặc biệt là Quảng Nam - Đà Nẵng là địa bàn

quan trọng của cuộc khởi nghĩa. Chính vì vậy, cuộc vận động khởi
nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916 là một mốc son quan
trọng trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược của dân
tộc Việt Nam.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm khởi nghĩa Việt Nam Quang phục
hội (1916-2016), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam,
Sở Văn hóa Thể thao thành phố Đà Nẵng đã tổ chức một số hoạt động
có ý nghĩa như viếng hương mộ Thái Phiên - Trần Cao Vân tại Huế,
phối hợp với Viện Sử học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
tổ chức Hội thảo khoa học “100 năm khởi nghĩa Việt Nam Quang
phục hội ở Phủ Tam Kỳ (1916-2016)” với sự tham gia hưởng ứng
viết bài tham luận rất nhiệt tình của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
lịch sử từ các cơ quan Trung ương, các Viện nghiên cứu, các trường


Đại học, Hội khoa học lịch sử, Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật và
một số trường trung học phổ thông chuyên... ở Hà Nội, Thanh Hóa,
Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình
Định, Phú Yên, Gia Lai, Lâm Đồng - Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí
Minh, Bình Dương và Cần Thơ... Với số lượng phong phú, đa dạng,
trong đó có không ít những bài viết được dựa trên nguồn tài liệu hoàn
toàn mới, cũng như góc nhìn mới để nhận định, đánh giá về một sự
kiện lịch sử đã diễn ra cách đây đúng 100 năm, mang đến những luận
cứ khoa học mới, qua đó góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều vấn đề lịch
sử liên quan đến cuộc khởi nghĩa.
Với mục đích ôn lại truyền thống đấu tranh yêu nước, cách
mạng của nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng, góp phần nâng cao nhận
thức, tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất
khuất, quyết tâm đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, Sở Văn
hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam phối hợp Sở Văn hóa và

Thể thao thành phố Đà Nẵng tuyển chọn và xuất bản công trình sách
“100 năm khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội (1916-2016)”.
Tập sách này là một công trình có giá trị, là nén tâm nhang
tưởng niệm các chí sĩ yêu nước, đông đảo quần chúng nhân dân đã
tham gia, hy sinh trong cuộc khởi nghĩa vừa tròn 100 năm.
Trân trọng giới thiệu bạn đọc.
PGS.TS. Đinh Quang Hải
Viện trưởng Viện Sử học
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam


 


DƯỚI GÓC NHÌN SỬ HỌC



CUỘC KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI
TRONG PHONG TRÀO CHỐNG PHÁP Ở
QUẢNG NAM ĐẦU THẾ KỶ XX
PGS.TS. NGUYỄN DUY BÍNH*
ThS.NCS. TRỊNH THỊ HƯỜNG**

uảng Nam là vùng đất có truyền thống lịch sử xa xưa, là quê
Qhương
của nhiều danh nhân nổi tiếng. Ít nhất lịch sử đã nhắc
nhiều đến địa danh Quảng Nam từ thời vua Lê Thánh Tông, khi đặt
Thừa Tuyên Quảng Nam1 (1471), sau đến thời chúa Nguyễn Hoàng
đặt làm dinh Quảng Nam (1602), đến thời vua Minh Mạng đặt làm

tỉnh Quảng Nam2 (1832). Do nằm ở vị trí sát với Kinh đô Huế, khi
thực dân Pháp xâm lược nước ta, Quảng Nam - Đà Nẵng là nơi đầu
tiên chúng chọn để đánh chiếm. Ngay từ những ngày đầu Pháp xâm
lược, nhân dân Quảng Nam đã nổi dậy, các phong trào chống Pháp
nửa cuối thế kỷ XIX ở trên cả nước nói chung và Quảng Nam nói
riêng đều chưa thành công. Dù vậy, Quảng Nam vẫn là tỉnh có điều
kiện thuận lợi cho các văn thân, sĩ phu, quan lại có tư tưởng chống
Pháp hoạt động để cứu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX. Bài
viết của chúng tôi cố gắng phác thảo “Cuộc khởi nghĩa Việt Nam
Quang phục hội trong phong trào chống Pháp ở Quảng Nam đầu thế
kỷ XX”.
1. Vài nét về phong trào yêu nước chống Pháp ở Quảng Nam
hồi cuối thế kỷ XIX
Cùng với phong trào chống Pháp trên cả nước sau khi triều đình
                                                            
*

Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
1
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép năm Tân Mão (1471), “Tháng 6, lấy đất Chiêm Thành
đặt làm thừa tuyên Quảng Nam”. Xem thêm: Phan Du, Quảng Nam qua các thời đại (quyển
thượng), Cổ học Tùng thư in lần thứ nhất, Đà Nẵng, 1974.
2
Tỉnh Quảng Nam thống hạt tỉnh Quảng Ngãi, đặt chức Nam Ngãi Tuần phủ. Đến năm
Thiệu Trị thứ 7 đặt chức Nam Ngãi Tổng đốc.
**


12 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 

 

Nguyễn ký hiệp ước Patenôtre năm Giáp Thân (1884), nhân dân
Quảng Nam đã không chịu khuất phục trước những hiệp ước bất bình
đẳng, nước ta trở thành thuộc địa của Pháp. Phong trào yêu nước,
chống Pháp, chống triều Nguyễn liên tục nổ ra. Theo chính sử triều
Nguyễn chép sự kiện tháng 8 năm Ất Dậu (1885): “Thân hào Quảng
Nam kết đảng làm hội nghĩa (Sơn phòng sứ là Trần Văn Dữ3làm chủ
việc ấy), tụ họp dân chúng bức giữ tỉnh thành, bọn Tuần phủ là
Nguyễn Ngoạn, Bố chính Bùi Tiến Tiên, Án sát Hà Thúc Quán đều
chạy trốn, nước Đại Pháp tiến quân đến đánh đuổi...”4, “Ngay sau khi
vua Hàm Nghi bỏ kinh thành ra sơn phòng, truyền hịch Cần Vương
thì toàn tỉnh Quảng Nam nổi dậy do sơn phòng sứ là Trần Văn Dữ
cầm đầu chống giữ tỉnh thành. Quân Pháp ở Đà Nẵng tiến đánh,
nghĩa quân bị bức phải rút ra khỏi thành, nhưng địch chưa dám vào
sâu trong nội địa”5, tới tháng 12, Nguyễn Học và văn thân Quảng
Nam lại nổi dậy hoạt động ở “Các phủ, huyện: Điện Bàn, Thăng
Bình, Quế Sơn, Hà Đông, Duy Xuyên, hằng tuần đều bị đốt phá, toàn
hạt Quảng Nam lại nhiễu loạn lớn (nguyên Thương biện Nguyễn Học
làm chủ)”6.
Sự kiện tháng Giêng năm Bính Tuất (1886), nghĩa quân ở
Quảng Nam đã giết viên tri huyện Hòa Vinh là Trần Bấn Ứng nhân
khi có tên Quan ba và 6 tên lính Pháp đến trạm Nam Chân xem sửa
đường sá. Tới tháng hai, nghĩa quân còn đánh úp tỉnh thành Quảng
Nam. Nghĩa quân giành được một số thắng lợi ở Bình Sơn và một số
nơi khác, quan quân trong tỉnh vây đánh nhưng vẫn không thắng
được. Sau đó Nguyễn Thân lúc ấy là kiêm lý Quảng Ngãi quân vụ
sang giải vây, nghĩa quân mới chịu rút lui.
Tháng 9, Bính Tuất (1886) quân Pháp đóng ở Quảng Nam đi
                                                            

3

Đúng ra là Trần Văn Dư, có thể do Sử gia chép nhầm, hoặc dịch sai tên. Trần Văn Dư
(1839-1885), người làng An Mỹ Tây, tổng Chiên Đàn Trung, huyện Hà Đông (nay là xã
Tam An, huyện Phú Ninh, Quảng Nam).
4
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập Chín, NXB. Giáo dục, 2007, tr.181.
5
Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng, quyển thứ ba: Phong trào Cần Vương, trong Giáo sư
Trần Văn Giàu tổng tập, NXB. Quân đội nhân dân, 2006, tr. 527.
6
Đại Nam thực lục, tập Chín, Sđd, tr.213.


(1916 - 2016) | 13

tuần, tấn công căn cứ của nghĩa quân ở Trung Lộc, Quế Sơn, Quảng
Nam, nghĩa quân thua trận, thiệt hại không nhỏ. Đến tháng 3 năm
Đinh Hợi (1887), quân Pháp và quan quân triều Nguyễn (quân Pháp
gồm có 2 đạo binh: lính Pháp 2 đội, lính tập một đội, mỗi đội 200 tên)
tiến hành càn quét ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định7 để nhanh
chóng bình định vùng này.
Mặc dù quân Pháp và quân triều Nguyễn liên tục đàn áp các
cuộc nổi dậy của nghĩa quân, nhưng phong trào chống Pháp, chống
phong kiến vẫn diễn ra rộng khắp trong tỉnh, “Tháng 2 và tháng
3.1887, tên quan năm Pháp là Boilever đem một tiểu đoàn lên vùng
tây bắc Quảng Nam, vùng Ái Thìa, hợp với tiểu đoàn của quan năm
Brasany vây đánh 2.000 nghĩa quân tụ họp ở Ái Thìa. Tháng 5, nghĩa
quân Quảng Nam giáp chiến với Pháp rất dữ dội ở sông Thu Bồn. Từ
tháng 10.1886 đến tháng 6.1887, riêng đồn Trường Phọc của địch bị

nghĩa quân tấn công 13 lần, địch và ta ở vùng này đánh nhau tất cả 37
trận”8. Hoạt động của nghĩa quân Nguyễn Duy Hiệu ở sơn phận An
Lâm (Quảng Nam), tên việt gian thân Pháp Nguyễn Thân9 phải mang
quân đi đánh dẹp, tới tháng 8 (1887) mới bắt được Nguyễn Hiệu thủ
lĩnh nghĩa quân10.
Chỉ trong vòng từ tháng 8 đến tháng 10 năm Đinh Hợi
(9.11.1887), số thân hào Nghĩa hội Quảng Nam ra đầu thú có tới cả
                                                            
7

Đại Nam thực lục, tập Chín, Sđd, tr.315.
Trần Văn Giàu, Chống xâm lăng trong Giáo sư Trần Văn Giàu tổng tập, Sđd, tr.527.
9
Nguyễn Thân là cộng sự đắc lực của chính quyền thuộc địa ở Đông Dương. Giữ chức Tiễu
phủ sứ Sơn phòng Nghĩa Định. Tới trước năm 1892 làm Khâm sai đại thần Quảng Nam
Quảng Ngãi Bình Định. Sau đó được Toàn quyền Đông Dương là Lannessan nhắc lên chức
Thượng thư Bộ công vào tháng 3 năm Nhâm Thìn (1892).
10
Đại Nam thực lục, tập Chín, Sđd, tr.357. Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), quê Diên Phước,
phủ Điện Bàn, Quảng Nam. Ngày 14 tháng 8 năm Đinh Hợi (tức ngày 30.9.1887), bản án
xử ông được đưa lên cho vua Đồng Khánh phê chuẩn và ông đã bị châu phê án chém, thi
hành ngay. Sau đó một ngày, đúng ngày rằm tháng 8, lãnh tụ nghĩa hội Quảng Nam Nguyễn
Duy Hiệu đã thung dung ra pháp trường chịu chém với một nụ cười. Đầu của ông bị thực
dân Pháp cho tay sai dùng ngựa trạm đặc biệt hỏa tốc đưa ngay về Quảng Nam, phủ Điện
Bàn là chính quê hương của ông, bêu lên cho dân chúng dọc đường thấy. (Baille:
L’exécution eut lieu le lendemain matin. Hieu subit la mort presque en souriant… dẫn theo
Nguyễn Sinh Huy, Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (lịch sử Cần vương tại Quảng Nam),
NXB. Đà Nẵng, 1996, tr.303).
8



14 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

trăm, chức vụ từ tán tương, tham tán, bang biện trở xuống đến hương
binh. Nguyễn Thuật, làng Hà Lam, Thăng Bình, Quảng Nam lúc ấy
được giữ chức Tuyên úy xử trí đại thần được giao xét việc ở Quảng
Nam. Nguyễn Thuật tư cho Viện Cơ mật, “Hạt Quảng Nam từ khi
ngụy Hiệu gây ra quấy rối, trong tỉnh đều bị dây dưa, trong đó kẻ
cam tâm giúp hắn bạo ngược không đến một hai phần mười, còn thì
đều bị hiếp bách, tới khi quan quân tiến đánh, lẩn trốn bị bắt cũng có,
hiện sung làm khổ sai và còn giam chưa kết án, hạng ấy rất nhiều…
Còn như hạt Quảng Nam trước bị nguỵ Hiệu bức bách, ngay bấy giờ
tỉnh, phủ, huyện cũng không trị nổi…”11.
Đồng bào các dân tộc ít người thiểu số phía tây của tỉnh Quảng
Nam cũng nổi dậy chống Pháp mạnh mẽ. Vì vậy mà viên quan tỉnh
Quảng Nam phải dâng bản tập tâu lên triều đình để xin thêm quân và
súng ống, khí giới “Năm Quý Tỵ Thành Thái thứ 5 (1893), tháng
giêng. Nguyên quan tỉnh Quảng Nam Huỳnh Vĩ dâng tập tâu nói xã
dân ở ba tổng Tiên Giang, Đức Hòa, Phước Lợi huyện Hà Đông
thuộc tỉnh ở gần núi nhiều lần bị ác Man quấy nhiễu, xin rút tinh binh
về chước lượng cấp súng ống khí giới, tập hợp dân binh, chước lượng
đặt quản mục cùng Phó tổng tuần tiễu tra xét những nơi quan yếu ở
thượng du”12.
Như vậy, Quảng Nam là một trong những cái nôi diễn ra nhiều
phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX. Các phong trào
yêu nước chống Pháp theo ngọn cờ Cần vương, theo khuynh hướng
phong kiến đều thất bại, nhưng nó mãi là những phong trào khích lệ
nhân dân tiếp tục đứng lên chống Pháp mãnh liệt hơn ở đầu thế kỷ
XX.

2. Phong trào chống Pháp ở Quảng Nam đầu thế kỷ XX
Vào những năm đầu thế kỷ XX, Quảng Nam là vùng đất tốt cho
các nhà yêu nước hoạt động. Chính vì vậy mà phong trào yêu nước
diễn ra ở Quảng Nam khá mạnh mẽ và sôi nổi. Nhiều hoạt động của
                                                            
11

Đại Nam thực lục, tập Chín, Sđd, tr. 372-373.
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên, Người
dịch: Cao Tự Thanh, NXB. Văn hóa - Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2011, tr.171.

12


(1916 - 2016) | 15

các danh nhân tên tuổi xuất thân từ Quảng Nam hoặc hoạt động tại
Quảng Nam, như: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý
Cáp, Thái Phiên, Trần Cao Vân… đã góp phần vào phong trào đấu
tranh chung của dân tộc. Tiêu biểu nhất là các phong trào Duy tân,
Đông du, và đặc biệt là chống thuế ở Trung Kỳ 1908.
Đầu thế kỷ XX, ngọn cờ quân chủ trung quân, ái quốc không
còn tập hợp được quần chúng như trước, một bộ phận đã ra hợp tác
với thực dân Pháp. Trong lúc đó, những trào lưu tư tưởng mới vào
Việt Nam, các cuộc Duy tân Mậu Tuất ở Trung Quốc (1898), việc
Nhật Bản thắng Nga Hoàng đã như một trong những luồng gió mới
về những tư tưởng của thế giới dội vào, đã tác động đến tinh thần yêu
nước của các sĩ phu tiến bộ. Họ đã tiếp nhận tư tưởng tư sản như một
luồng gió mới qua tân thư, tân văn. Qua tân thư, tân văn như một hồi
chuông “tỉnh mộng” đối với sĩ phu yêu nước lúc bấy giờ. Chí sĩ

Huỳnh Thúc Kháng, người con của quê hương Quảng Nam đã viết:
“được đọc loại sách báo trên, như trong buồng tối, bỗng chợt thấy tia
sáng lọt vào, những học thuyết mới… một tiếng sét nổ đùng, có sức
kích thích mạnh nhất, thấm vào tâm não người Việt Nam”13.
Tác động bởi những tư tưởng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX,
Phan Châu Trinh đã hô hào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”,
mà Quảng Nam là cái nôi của xu hướng yêu nước duy tân (Quảng
Nam là nơi khởi phát của 2 phong trào: Phong trào Duy tân do Phan
Châu Trinh khởi xướng và thành lập Duy tân hội), và cũng là cái nôi
của phong trào yêu nước diễn ra mạnh mẽ trong 20 năm đầu thế kỷ
XX.
Từ ảnh hưởng của tình hình thế giới và sự vận động tìm đường
cứu nước của các sĩ phu yêu nước, năm 1904, Duy tân hội được thành
lập. Giữa tháng 5 năm 1904, tại nhà Tiểu La Nguyễn Thành (huyện
Thăng Bình, Quảng Nam) đã diễn ra hội nghị thành lập một Hội đảng
bí mật, lấy tên là Duy tân hội, Cường Để được cử làm Hội chủ. Tham
gia Duy tân hội có nhiều người là con em của Quảng Nam như: Phan
Châu Trinh (Tam Kỳ), Đỗ Đăng Tuyển (Đại Lộc), Châu Thượng Văn
                                                            
13

Huỳnh Thúc Kháng, Bức thư bí mật, NXB. Anh Minh, Huế, 1957, tr.36.


16 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

(Hội An), Trần Quý Cáp (Điện Bàn), Thái Phiên14... Quảng Nam
chẳng những là địa bàn đứng chân mà còn là nơi cung cấp về nhân sự
cho Duy tân hội. Về sự kiện này, sử triều Nguyễn có nói tới và sự

tham gia của Cường Để là người trong Hoàng tộc đã rời bỏ kinh
thành đưa vợ con đi mưu trốn ra nước ngoài (Nhật Bản) cùng Phan
Bội Châu: “Năm Bính ngọ Thành Thái thứ 18 (1906), tháng hai:
Nguyên Kỳ Ngoại hầu Cường Để trốn đi. Cường Để là người coi việc
tế tự phòng Anh Duệ hoàng thái tử cùng nguyên Cử nhân sinh viên
học trường Giám Phan Bội Châu người Nghệ An đồng mưu trốn ra
nước ngoài. Để mang theo một bức chân dung của Anh Duệ hoàng
thái tử, một đạo sách văn và đưa vợ con cùng đi. Chú là Trợ quốc
khanh Anh Nghi cáo giác, Phủ Tôn nhân xét ra quả đúng bèn tâu lên
tham hặc,… cấp hạn một tháng buộc Anh Nghi phải tìm kiếm khắp
nơi, cốt phải bắt được. Lại bàn với Tòa sứ gởi điện văn đi khắp Nam
Bắc hai kỳ bí mật truy nã, chờ bắt được sẽ nghĩ xử (về sau hai tỉnh
Khánh Hòa Bình Định tư nói Đốc học Đàm Liêm, Giáo thụ An Nhơn
Nguyễn Liêu đều nhận được một phong thư của Bội Châu muốn
khuyên người trong nước du học, ba tỉnh Thanh Hóa, Quảng Nam,
Quảng Ngãi và Sở Điện báo ở kinh đều đệ một phong thư kính cáo
của Cường Để, cùng đóng triện riêng là kiềm nhỏ khắc hai chữ “Duy
tân”, đều dùng mực son, nhưng đối chiếu với triện gốc thì dấu triện
không phù hợp)”15.
Phong trào cứu nước của Duy tân hội, nổi bật nhất là phong trào
Đông du bước đầu thu được những dấu hiệu khả quan và còn nhiều
hứa hẹn phía trước. Ở trong nước Đông kinh nghĩa thục được thành
lập và đang lan rộng ra cả nước. Ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, Quảng Nam,
phong trào Duy tân đã thu được một số thành quả. Lo sợ trước ảnh
hưởng của Duy tân hội chính quyền thuộc địa đã câu kết với Chính
phủ Nhật, để đóng cửa và giải tán các tổ chức Đông du, trục xuất học
sinh, cả Phan Bội Châu và Cường Để cũng phải rời khỏi Nhật Bản.
                                                            
14


Nội tổ ông vốn người tỉnh Bình Định ra lập nghiệp tại làng Nghi An, huyện Hòa Vang,
tỉnh Quảng Nam (Nguyễn Q. Thắng, Quảng Nam đất nước và nhân vật, NXB. Văn hóa
Thông tin, 2001, tr.585.
15
Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên, Sđd, tr.455.


(1916 - 2016) | 17

Sau thất bại của phong trào Đông du, Duy tân hội cũng tự tan rã. Dù
chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng Duy tân hội đã có ảnh hưởng
nhất định trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ
XX.
Ở Quảng Nam các hội: Hội buôn, hội nông, trường học… đã
phát triển rầm rộ. Quảng Nam có gần 40 trường dân lập đa số ở nông
thôn, góp phần thay đổi dân trí… Chính trong không khí bí mật của
Duy tân hội và công khai của phong trào Duy tân mà Quảng Nam…
nơi phát khởi một phong trào quần chúng rộng lớn suốt 10 tỉnh miền
Trung đó là Phong trào chống thuế 190816.
Phong trào chống thuế (còn gọi là phong trào dân biến) ở Trung
Kỳ là phong trào chống sưu cao, thuế nặng, chống bắt đi phu (ở miền
Nam gọi là đi Xâu). Quảng Nam là quê hương và nơi khởi phát của
phong trào vào năm 1908. Phong trào bắt đầu từ huyện Đại Lộc, sau
đó lan ra khắp 7 phủ, huyện (Hội An, Điện Bàn, Thăng Bình, Tam
Kỳ, Hòa Vang, Duy Xuyên…) trong toàn tỉnh. Sau đó phong trào còn
lan rộng ra hầu khắp các tỉnh Trung Kỳ. Phan Châu Trinh cũng có
những ghi chép về đầu đuôi của Phong trào dân biến ở Trung Kỳ
“Năm 1908, dân tỉnh Quảng Nam, nhân việc làm xâu gây biến, lan ra
khắp các tỉnh Trung Kỳ”17. Phong trào đã buộc nhà cầm quyền thực
dân và phong kiến phải điều đình, nhân nhượng. Ngoài việc đàn áp dã

man những nơi phong trào lên cao, thì chúng còn áp dụng chính sách
“be bờ” để cho phong trào không lan sang các địa phương khác.
Triều đình Huế, cũng cùng với thực dân ra sức chặn đứng phong
trào. Sử triều Nguyễn chép: “Năm Mậu Thân, Duy Tân thứ 2 (1908),
tháng 2, sai Phụ chính đại thần Trương Như Cương, Lê Trinh tới
Quảng Nam khám xét tình hình (lúc bấy giờ dân hạt Quảng Nam tụ
họp xin sưu, tình hình không yên nên có mệnh ấy). Chuẩn tạm đặt
chức Thương biện Quảng Nam, lấy nguyên Tri phủ Tuy An Hậu bổ là
Nguyễn Trọng Hàm (tên cũ là Khải) sung vào. Lúc bấy giờ dân
                                                            
16

Quảng Nam - Đà Nẵng xưa và nay, NXB. Đà Nẵng, 1996, tr.94.
Tây Hồ Phan Châu Trinh, Trung Kỳ dân biến thỉ mạt, Lê Ấm, Nguyễn Q. Thắng, dịch và
giới thiệu, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa xuất bản, 1973, tr.27.

17


18 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

Quảng Nam xin sưu náo loạn, phủ huyện cơ hồ không thể chế ngự,
Tổng đốc Nam Ngãi Hồ Đắc Trung xin tạm đặt chức Thương biện để
giúp đỡ hiểu dụ trấn áp, nên có lời chuẩn ấy”18.
Phong trào chống sưu thuế diễn ra hàng tháng trời, mà dân
Quảng Nam vẫn chưa chịu giải tán, đã làm lan rộng tới các tỉnh khác.
Lo sợ mầm mống biến loạn thực dân Pháp đã chĩa mũi nhọn vào tầng
lớp thân sĩ (những người đỗ đạt làm quan, quan về hưu, những người
thi đậu và thi hỏng ở các thôn xã). Nhiều người bị kết án tử hình,

trong đó có chí sĩ Trần Quý Cáp (xử tử tại Nha Trang), Ông Ích
Đường (Quảng Nam)… Hàng trăm người bị đày đi Côn Đảo, trong đó
có Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Trần
Cao Vân (Quảng Nam)…”19.
Phong trào chống thuế diễn ra mạnh nhất ở Quảng Nam, sau lan
ra nhiều tỉnh Trung Kỳ, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Huế, Nghệ
An, Hà Tĩnh… Tuy phong trào cuối cùng bị giải tán, và bị đàn áp do
thiếu một đội ngũ lãnh đạo, tổ chức thống nhất, phong trào còn mang
tính tự phát. Nhưng đây là cuộc vùng lên mãnh liệt của nông dân
trong buổi đầu thiết lập nền thống trị dân sự của thực dân Pháp ở Việt
Nam. Không có một tổ chức chính trị nào được ghi chép đứng ra lãnh
đạo phong trào, nhưng thực chất được dấy lên bởi những tư tưởng dân
tộc, dân quyền, do các sĩ phu duy tân đầu thế kỷ XX truyền bá,
“Chính các cuộc vận động duy tân đã gieo rắc các mầm mống cách
mạng về sau. Việc chống nộp thuế đi phu cũng nằm trong ảnh hưởng
của cuộc vận động đó”20.
Phong trào chống thuế năm 1908 ở Quảng Nam chỉ kéo dài hơn
một tháng, nhưng đã thể hiện được tinh thần quật khởi của nhân dân
nơi đây. Với sức mạnh toàn dân, với hình thức đấu tranh mới, nhân
dân Quảng Nam đã tấn công vào ách áp bức, bóc lột của thực dân
                                                            
18

Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ, Sđd, tr. 497.
Chương Thâu, Hồ Song, Ngô Văn Hòa, Nguyễn Văn Kiệm, Đinh Xuân Lâm, Lịch sử Việt
Nam 1897-1918, NXB. Khoa học xã hội, 1999, tr.202.
20
Phạm Văn Sơn (cb), Quân dân Việt Nam chống Tây xâm lược (1847-1945), Bộ Tổng
tham mưu Sài Gòn xuất bản, 1971, tr.338.
19



(1916 - 2016) | 19

Pháp và phong kiến Nam triều, mở ra cao trào chống sưu cao, thuế
nặng rầm rộ trên hầu khắp Trung Kỳ21.
3. Khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội đỉnh cao của phong
trào chống Pháp ở Quảng Nam những năm đầu thế kỷ XX
Sau khi phong trào Đông du tan rã, cộng với tình hình trong
nước sau các vụ chống thuế ở Trung Kỳ, đầu độc Hà Thành, Đông
Kinh nghĩa thục, thực dân Pháp tăng cường đàn áp làm cho phong
trào đang trong khí thế sôi nổi bị xẹp xuống. Các yếu nhân của các
phong trào trên bị xử án, tù đày, một số tản mát sang Trung Quốc, số
sang Xiêm, một bộ phận ở trong nước. Đúng lúc đó tình hình thế giới
có những biến chuyển đặc biệt là cuộc Cách mạng Tân Hợi ở Trung
Quốc năm 1911, đã đem lại cho Phan Bội Châu và các đồng chí một
nguồn phấn khởi và tin tưởng mới; họ tìm thấy ở đây một cơ hội hoạt
động mới.
Ở trong nước mặc dù bị bọn thống trị bưng bít nhưng “Phong
trào Trung Hoa cách mệnh thành công, ảnh hưởng với nước ta hung
lắm. Nhiệt tình người nước ta so với trước kia lên gấp bội. Nếu ở
nước ngoài có cái gì làm tiên thanh, thì khí thế ở trong nước khắc
sống lại”22.
Trước tình hình đó, hội viên Duy tân hội và những người Đông du
còn lại trên dưới 100 người, từ Xiêm đến, Nhật Bản về, ở trong nước
sang đã họp hội nghị thành lập Việt Nam Quang phục hội và quyết định
thủ tiêu Duy Tân hội vào thượng tuần tháng 5, năm Nhâm Tý23 (1912),
tại từ đường Lưu Vĩnh Phúc ở Sa Hà, Quảng Đông (Trung Quốc). Với
mục đích là “Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước
Cộng hòa Dân quốc Việt Nam”24. Cường Để được cử làm Hội trưởng,

Phan Bội Châu được cử làm Tổng lý.
                                                            
21

Bùi Xuân, Về diễn biến phong trào chống thuế năm 1908 ở Quảng Nam, Tạp chí Nghiên
cứu Lịch sử, số 2 (273), 1994, tr.88.
22
Lời của Nguyễn Trọng Thường, con thứ hai của Nguyễn Thiện Thuật, khi từ Hà Nội sang
cho biết tình hình, được chép trong Phan Bội Châu Toàn tập, tập 6, NXB. Thuận Hóa, Huế,
tr.210-211.
23
Cuộc đời cách mạng Cường Để (Hồi ký), In tại nhà in Tôn Thất Lễ, Sài Gòn, 1957, tr.54.
24
Lịch sử Việt Nam 1897-1918, Sđd, tr.226.


20 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

Sau khi thành lập Việt Nam Quang phục hội đã tiến hành một
số hoạt động để gây tiếng vang trong nước, như: Ám sát Tuần phủ
Thái Bình Nguyễn Duy Hàn (1913), Vụ ném tạc đạn ám sát các sĩ
quan Pháp tại khách sạn Hà Nội, và nhiều cuộc bạo động khác… Các
hội viên của Việt Nam Quang phục hội được phái về nước đã thiên về
hoạt động ám sát để gây tiếng vang “kinh thiên động địa”, để có
những dấu hiệu “gọi tỉnh hồn nước” trong dân chúng. Sau hàng loạt
các hoạt động ở trong nước của Việt Nam Quang phục hội chính
quyền thực dân Pháp đã tìm cách bắt Cường Để, sau khi bị bắt Cường
Để đã tìm cách bỏ trốn sang châu Âu. Thực dân Pháp câu kết với đế
quốc Anh và Tổng đốc Quảng Đông là Long Tế Quang bắt giam Phan

Bội Châu25 vào cuối năm 1913 và đến tháng 2.1917 mới được thả.
Chấm dứt thời kỳ hoạt động sôi nổi của Phan Bội Châu, những người
chủ chốt, các cơ sở của Việt Nam Quang phục hội ở Trung Quốc và
Việt Nam đều bị đàn áp.
Ở trong nước, từ sau năm 1913, hoạt động của Việt Nam Quang
phục hội tuy yếu đi và chỉ hoạt động tập trung ở một số nơi, nhưng
ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội cũng tác động nhất định tới
tình hình trong nước, mà đỉnh điểm là Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam
Quang phục hội diễn ra tại Quảng Nam. Cuộc khởi nghĩa Việt Nam
Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ năm 1916, còn được gọi là Cuộc
khởi nghĩa Thái Phiên - Trần Cao Vân, Cuộc khởi nghĩa Duy Tân, do
có sự tham gia của vua Duy Tân, tuy nhiên xét trên thực tế vai trò,
ảnh hưởng và sự tham gia của vua Duy Tân không nhiều và không
phải ngay từ đầu, do vậy gọi là cuộc Khởi nghĩa Duy tân là không
hoàn toàn chính xác.
Về nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang
phục hội, do tình hình thế giới trong Thế chiến thứ nhất, nước Pháp
tham chiến và bọn thực dân ở Đông Dương bắt binh lính Việt ra chiến
trường làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp, cùng với đó là những
khoản thuế má nặng nề, công trái để phục vụ cho chiến tranh. Tình
                                                            
25

Thế Nguyên, Phan Bội Châu thân thế và thi văn (1867-1940), Nhà in Tân Việt, 1956,
tr.30.


(1916 - 2016) | 21

trạng này đã gây nên sự căm giận và xao xuyến trong nhân dân và

binh lính, nhất là những tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế là những
tỉnh có tầm quan trọng về chính trị và quân sự. Trong tình hình ấy các
sĩ phu yêu nước ở Trung Kỳ, nhất là các tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngãi đã quyết định xúc tiến một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn để cứu
nước và cứu dân đang bị dồn vào con đường cùng. Ngoài ra, còn có
một nguyên nhân khác nữa là người Đức muốn giúp đỡ cuộc khởi
nghĩa, nhằm làm suy yếu Pháp, vì Pháp là nước tham chiến trong
cuộc chiến tranh thế giới đang diễn ra tại châu Âu.
Sự hoạt động của Việt Nam Quang phục hội ở trong nước đã
làm cho thực dân và phong kiến đề phòng, đoạn sử sau đây nói về phê
chuẩn yêu cầu Phủ Phụ chính thông tư cho các địa phương cho biết:
“Năm Quý Sửu Duy Tân thứ 7 (1913), tháng 3. Chuẩn cho Phủ phụ
chính thông tư cho quan các tỉnh mật sức cho các phủ huyện gia tâm
kiểm soát hiện tình, lại thỉnh thoảng đích thân đi tuần sát hiểu dụ, có
việc gì lạ thì một mặt điện báo, một mặt bàn với Trú sứ trù tính (lúc
bấy giờ Trú sứ Bình Thuận kiểm soát bắt được kiếm vàng ấn vàng,
Trú sứ Quảng Nam gởi giao trái phiếu và phương lược của Quang
phục quân, quan tỉnh Thái Bình ở Bắc Kỳ bị tạc đạn giết chết, hiện tại
Hải Dương dò thám được nhiều tạc đạn, các thành phố Sài Gòn, Chợ
Lớn ở Nam Kỳ cũng thu được rất nhiều tạc đạn chưa nổ nên quý Tòa
mật tư cho Chính phủ gởi điện văn thông sức cho các địa phương biết
để tuân hành)”26.
Ở Quảng Nam trong các năm 1914-1915, sự hoạt động mạnh
của các chí sĩ, sĩ phu yêu nước, trong đó có những người mới ra tù,
đặc biệt nổi lên vai trò của Thái Phiên và Trần Cao Vân27, làm cho
tình hình ở Quảng Nam thêm sục sôi khí thế cách mạng. Các nhân sĩ
yêu nước thường xuyên gặp gỡ nhau bàn kế hoạch khởi nghĩa và vẫn
trông đợi sự hỗ trợ của Việt Nam Quang phục hội từ bên ngoài: “Đã
nhiều lần sĩ phu yêu nước Trung Kỳ cử người sang Quảng Đông và
                                                            

26

Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ, Sđd, tr. 574-575.
Trần Cao Vân (1866-1916), quê làng Tư Phú, tổng Đa Hòa, phủ Điện Bàn (nay là xã
Điện Thọ, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).
27


22 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

Xiêm để đặt kế hoạch phối hợp. Khi được biết thực trạng của Quang
phục hội, các ông đành phải hoạt động độc lập”28. Ngay cuộc họp ở
Đà Nẵng do Thái Phiên cùng với Lê Ngung đứng ra tổ chức đầu năm
1914, đã gấp rút và phân công người chuẩn bị khởi nghĩa. Trần Cao
Vân khi đó đang bị quản thúc tại Vĩnh Điện đã đề nghị với Thái Phiên
mời vua Duy Tân tham gia, do vua Duy Tân có tư tưởng bài Pháp.
Cuối năm 1915, tình hình thế giới chiến tranh, nhiều tin tức
không hay của binh lính người Việt bên Pháp đưa về, càng thúc đẩy
nhóm những người lãnh đạo phong trào ở Quảng Nam nôn nóng
muốn khởi nghĩa ngay. Tháng 9.1915, Thái Phiên đã triệu tập cuộc
họp các nhà yêu nước để bàn về khởi nghĩa. Dự họp có sự tham gia
của Thái Phiên, Trần Cao Vân, Đỗ Tự, Phan Thành Tài (Quảng
Nam), Lê Ngung, Nguyễn Công Phương (Quảng Ngãi), Đoàn Bổng
(Thừa Thiên), Nguyễn Chanh (Quảng Bình)… Các báo cáo cho biết
các địa phương ở Trung Kỳ cũng đang gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa
nhưng chưa đầy đủ. Hội nghị đã quyết định chính thức mời vua Duy
Tân tham gia khởi nghĩa, giao cho Thái Phiên và Trần Cao Vân lo
gặp mặt (tới tận đầu năm 1916 trước khi khởi nghĩa nổ ra mấy tháng
vua Duy Tân mới tham gia với vai trò “mời vua ra để yên lòng dân”).

Tháng 2.1916, Thái Phiên mời các chí sĩ yêu nước về Huế để
họp hội nghị và nhất trí khởi nghĩa ngay. Hội nghị đi tới quyết định
cuối cùng sau khi khởi nghĩa thành công, sẽ chọn chính thể quân chủ
lập hiến với đa số tán thành. Chỉ huy cuộc khởi nghĩa là Thái Phiên,
Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Đỗ Tự, Lê Ngung… Đỗ Tự và một
số đồng chí phụ trách cuộc khởi nghĩa ở Quảng Nam. Vua Duy Tân
cho biết đến 10.5.1916, thì 2500 lính mộ tập trung tại Huế sẽ phải
sang Pháp nên phải khởi sự ngay. Cuối cùng Thái Phiên và Trần Cao
Vân đã quyết định khởi nghĩa vào tối mùng 3 rạng sáng ngày
4.5.1916.
Cuộc khởi nghĩa sắp nổ ra thì kế hoạch bị lộ, thực dân Pháp
nắm được kế hoạch khởi nghĩa đã định từ hai ngày trước, nên có kế
hoạch ngăn chặn: “Gần đến ngày khởi sự thì việc tuyên truyền trong
                                                            
28

Lịch sử Việt Nam 1897-1918, Sđd, tr.301.


(1916 - 2016) | 23

binh lính không được thận trọng. Vợ con lính tập rời về quê gây ra
một không khí khác thường làm cho giặc Pháp sinh nghi. Chúng tung
mật thám đi dò manh mối. Đầu tháng 5.1916, chúng điều tra thấy một
số người trong đó có cả Trần Cao Vân đã liên lạc từ Huế vào Quảng
Nam, Quảng Ngãi. Đồng thời Công sứ Quảng Nam cũng khám phá ra
vụ âm mưu cướp đồn Tam Kỳ và đồn Quảng Nam…
Trong lúc chúng đang ráo riết đề phòng, thì chiều 3.5, Trần
Quang Trữ29 phản bội báo cho Khâm sứ Huế biết ngày giờ khởi
nghĩa. Ở Quảng Nam cũng chiều hôm đó một lính khố xanh đã sơ

xuất nói với bạn câu chuyện khởi nghĩa, tin đó dần dần lan đến tai Án
sát Phạm Liệu là một tay sai trung thành của giặc…”30. Vì thế, ở
Quảng Nam, Quảng Ngãi và các vùng lân cận thực dân Pháp đã ra
lệnh giới nghiêm, tước vũ khí, đóng chặt cửa thành… Mặc dù vậy ở
một số nơi cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra.
Tới ngày gần khởi nghĩa vua Duy Tân cho đúc ấn để giao cho
các địa phương, vua Duy Tân còn xuống Chiếu kêu gọi khởi nghĩa, tờ
chiếu lưu tại Trung tâm lưu trữ hải ngoại tại Pháp, nội dung chiếu có
đoạn: “Thuận theo ý Trời, Trẫm công bố Chiếu chỉ Phục quốc. Tình
yêu Tổ quốc khiến Trẫm không đội trời chung với kẻ thù… Tạo dựng
một Nhà nước lập hiến… Ngay sau khi sự nghiệp hoàn thành, tất cả
những ai có cống hiến sẽ được nhận những phần thưởng xứng đáng…
Nay báo!”31. Ngoài ra vua Duy Tân còn bổ nhiệm 4 chức vụ cao nhất,
được ghi ở cuối bức Chiếu: Trần Cao Vân, làm Tể tướng trong Chính
phủ mới; Thái Phiên làm Tổng đốc Hoàng thành…
Trong các địa phương của tỉnh Quảng Nam và trong các tỉnh
Nam Trung Kỳ chỉ duy nhất ở phủ Tam Kỳ là đã xảy ra cuộc khởi
nghĩa thực sự. Nhân dân phủ Tam Kỳ đã bí mật ủng hộ nghĩa quân
của Việt Nam Quang phục hội và tham gia nghĩa quân. Các sĩ phu
                                                            
29

Có sách chép là Trứ, chúng tôi để nguyên văn tài liệu trích dẫn.
Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Phan Khôi, Văn Tạo, Tài liệu tham khảo lịch sử
Cách mạng cận đại Việt Nam, tập III, Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa xuất bản, 1955, tr.99.
31
Tôn Thất Thọ, Về cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân, Tạp chí Xưa Nay, số 469, tháng 32016, tr.11-12. Toàn văn bức chiếu được Nguyễn Trương Đàn công bố trên báo Đà Nẵng
cuối tuần số ra ngày 13.5.2011.
30



24 | 100 NĂM KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI 
 

yêu nước ở các làng Tân An Tây, Tam Mỹ, Ngọc Mỹ, Khương Mỹ,
Trường Xuân, Ngọc Thọ, Thọ Khương, Vân Trai, Quý Thượng,
Quảng Phú, Trung Đàn Thượng, Phú Lâm, Cây Cốc, An Hòa, Kim
Đái, Thạnh Bình… đã bí mật thành lập các đội nghĩa binh. Nghĩa
binh phủ Tam Kỳ được các tầng lớp nhân dân ủng hộ về lương thực,
tài chính, giúp đỡ về hậu cần. Các hào phú trong phủ Tam Kỳ như Lê
Khâm Duy (tức Bát Kiện) ở Hòa Hạ, Bá Ba ở Thanh Lâm… là những
người đóng góp tiền bạc và lúa gạo nhiều nhất cho nghĩa quân. Một
nhóm phụ nữ là thợ dệt, thợ may ở các vùng Tam Kỳ, Bãi Dương,
Cầu Duối… đã bí mật dùng thuyền rớ, thuyền đăng, ghe chở hàng
đậu dọc sông Ba Kỳ ở vùng Phú Ninh, Trường Cửu dệt vải may quân
phục, túi rết; các nhóm thợ rèn ở nhiều nơi được huy động đến phối
hợp với xóm lò rèn ở Xuân Trung để rèn giáo, gươm trang bị cho
nghĩa quân32.
Các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Huế công việc chuẩn bị khởi
nghĩa diễn ra đúng kế hoạch. Ở Quảng Nam dân quân ở ngoại thành
đã chuẩn bị dây và thang trèo vào thành. Người chỉ huy là Trần
Chương (cháu Trần Cao Vân) đã trèo vào trước đốt một cái nhà làm
hiệu. Nhưng tin tức bại lộ và lính tập bị thu hết súng, dân binh phải
giải tán. Riêng ở phủ Tam Kỳ vì được tin muộn, nên quân khởi nghĩa
đã giết 3 tên giặc, cướp dinh nhà một tên quan lại thì quân Pháp kéo
tới, một dân quân đảng trèo lên cột cờ để hạ lá cờ tam tài xuống và
thay vào đó là cờ mới thì bị trúng đạn giặc. Cuộc khởi nghĩa không
thành công được33.
Ở Huế và các tỉnh lân cận, kế hoạch bị bại lộ nên cuộc khởi
nghĩa cũng không nổ ra theo dự báo. Vì đến giờ khởi sự mà vẫn im

hơi lặng tiếng. Tiếng súng thần công, tiếng voi gầm cũng không có,
lửa đốt ở đèo Hải Vân cũng không. Đêm mùng 3.5.1916, vua Duy
Tân, Thái Phiên và Trần Cao Vân ra khỏi thành, chờ đến sáng nhìn về
kinh đô không thấy động tĩnh gì, biết việc không thành, Trần và Thái
                                                            
32

Nguyễn Phước Tương, Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ năm
1916, Tạp chí Xưa & Nay, số 335, 2009, tr. 25-27.
33
Tài liệu tham khảo lịch sử Cách mạng cận đại Việt Nam, tập III, Sđd, tr.100.


(1916 - 2016) | 25

trù tính đưa nhà vua về Nam Ngãi… mấy hôm sau chúng mới tìm
được tung tích (nhà vua) tại một ngôi chùa bên núi Ngũ Long cách
Huế 5km… nhà vua bị kết tội “nghe lời xu nịnh, làm cho xã tắc
khuynh nguy” rồi bị đày đi đảo Réunion34.
Kết quả, cuộc khởi nghĩa đã thất bại, không gây được cho thực
dân Pháp những thiệt hại nào đáng kể. Ngược lại chúng đã đàn áp, bắt
bớ, chém giết và đưa đi tù đày nhiều chí sĩ yêu nước. Những yếu nhân
của cuộc khởi nghĩa như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phạm Thành
Chương, Phan Thành Tài (Quảng Nam), Phó Bẻm (Tam Kỳ) đều bị án
chém ngay. Lê Đình Dương, Đỗ Tự bị tù ở Khánh Hòa, Lê Cơ bị tù ở
Lao Bảo… phần lớn các nhân sĩ đều là người quê Quảng Nam, đã thể
hiện tinh thần yêu nước xả thân vì dân tộc.
Sự kiện Việt Nam Quang phục hội đã được sử triều Nguyễn
chép, nói đến việc nhân dân Quảng Nam khởi nghĩa và Toàn quyền
Đông Dương chọn người kế vị thay của Duy Tân: “Năm Bính Thìn

Khải Định thứ 1 (1916), tháng 4. Phủ Toàn quyền gửi điện văn tới,
đại lược nói “… nhân dân và lính tập ở hai tỉnh Quảng Nam, Quảng
Ngãi đều coi việc vua Duy Tân rời ngôi là thông đồng với bọn giặc
trốn núp ở nước ngoài, về việc vua Duy Tân phản đối Bảo hộ,… Duy
Tân cứ tạm lưu ở đài Trấn Bình rồi sẽ an trí ngoài đất Đông Pháp”35.
Như vậy, rõ ràng tuy không tham gia từ đầu nhưng vua Duy Tân, tới
lúc bị bắt khi tham gia khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội vẫn
thể hiện là một ông vua yêu nước, không chịu làm bù nhìn cho Pháp
giật dây.
3. Một vài nhận xét
Quảng Nam là vùng đất có truyền thống bất khuất đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lược ngay từ khi chúng đặt chân lên nước
ta. Cuộc đấu tranh diễn ra liên tục trong suốt nửa thế kỷ nửa cuối thế
kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Các hoạt động vận động yêu nước đầu thế
                                                            
34

Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Hoàng Văn Lân, Nguyễn Văn Sự, Đặng Huy Vận, Lịch
sử cận đại Việt Nam, tập III, NXB. Giáo dục, 1961, tr.309.
35
Quốc Sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ, Người dịch: Cao
Tự Thanh, NXB. Văn hóa - Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 2012, tr.82.


×